1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiến thức, thực hành về phòng tránh và xử trí bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi ở xã minh đạo, huyện tiên du, tỉnh bắc ninh năm 2011

93 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiến thức, thực hành về phòng tránh và xử trí bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi ở xã Minh Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2011
Tác giả Nguyễn Xuân Trịnh
Người hướng dẫn PGS.TS. Vũ Xuân Phú
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu với mục tiêu: Mô tả kiến thức, thực hành về phòng và xử trí bệnh NKHHCT của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi và xác định một số yếu tố liên quan

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN XUÂN TRỊNH

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ PHÕNG TRÁNH VÀ XỬ TRÍ BỆNH NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI Ở XÃ MINH ĐẠO, HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH

NĂM 2011

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.76

Hà Nội, 2012 HUPH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN XUÂN TRỊNH

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ PHÕNG TRÁNH VÀ XỬ TRÍ BỆNH NHIỄM KHUẨN HÔ HẤP CẤP TÍNH CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON DƯỚI 5 TUỔI Ở XÃ MINH ĐẠO, HUYỆN TIÊN DU, TỈNH BẮC NINH

NĂM 2011

MÃ SỐ: 60.72.76

Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Xuân Phú

Hà Nội, 2012 HUPH

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 2

DANH MỤC CÁC BẢNG 3

TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 5

ĐẶT VẤN ĐỀ 6

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 8

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 9

CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

1 Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu 25

2 Phương pháp nghiên cứu 25

2.1 Nghiên cứu định lượng 25

2.2 Nghiên cứu định tính 27

3 Các biến số nghiên cứu 28

4 Một số chỉ tiêu đánh giá 31

5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 32

6 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số: 33

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34

1 Kết quả nghiên cứu định lượng 34

2 Kết quả nghiên cứu định tính 48

CHƯƠNG IV BÀN LUẬN 57

CHƯƠNG V KẾT LUẬN 66

CHƯƠNG VI KHUYẾN NGHỊ 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

PHỤ LỤC 72

Phụ lục 1 Cây vấn đề 72

Phụ lục 2 Phiếu phỏng vấn kiến thức, thực hành về phòng và xử trí trẻ mắc NKHHCT của bà mẹ 73

Phụ lục 3 Hướng dẫn thảo luận nhóm/phỏng vấn sâu 79

Phụ lục 4 Những khái niệm trong nghiên cứu 83

Phụ lục 5 Phân bố mắc NKHHCT từ 2009 đến 31/6/2011 huyện Tiên Du 89

Phụ lục 6 Tóm tắt phân loại và xử trí ho hoặc khó thở ở trẻ dưới 2 tháng tuổi 90

Phụ lục 7 Tóm tắt phân loại và xử trí ho hoặc khó thở ở trẻ từ 2 tháng đến dưới 5 tuổi 91

HUPH

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

(Acute Respiratory infection)

NKHHCT: Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính

(Odds Ratio)

TCYTTG: Tổ chức Y tế thế giới

(World Health Organization)

HUPH

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1: Phân bố tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, kinh tế gia đình của bà mẹ 34

Bảng 2: Tỷ lệ bà mẹ biết về các dấu hiệu bệnh 35

Bảng 3: Tỷ lệ bà mẹ biết về các dấu hiệu nguy hiểm của NKHHCT 35

Bảng 4: Tỷ lệ bà mẹ xử trí đúng khi trẻ bị bệnh 36

Bảng 5: Tỷ lệ bà mẹ biết tác hại của việc dùng kháng sinh không hợp lý 36

Bảng 6: Tỷ lệ bà mẹ hiểu biết về chăm sóc trẻ bị bệnh 37

Bảng 7: Tỷ lệ bà mẹ biết về các yếu tố nguy cơ gây mắc NKHHCT 37

Bảng 8: Tỷ lệ bà mẹ hiểu biết về phòng bệnh 38

Bảng 9: Đánh giá kiến thức của bà mẹ về phòng bệnh NKHHCT 39

Bảng 10: Đánh giá kiến thức xử trí, chăm sóc của bà mẹ có con bị bệnh 39

Bảng 11: Đánh giá chung về kiến thức của bà mẹ về NKHHCT 39

Bảng 12: Thực hành của bà mẹ trong nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ 40

Bảng 13: Đánh giá thực hành phòng bệnh của bà mẹ về NKHHCT 40

Bảng 14: Tỉ lệ trẻ dưới 5 tuổi mắc bệnh trong 2 tuần 41

Bảng 15: Tỉ lệ bà mẹ đưa trẻ đi khám khi trẻ mắc NKHHCT 41

Bảng 16: Thời gian đi khám tính từ khi trẻ mắc NKHHCT 41

Bảng 17: Nơi bà mẹ đưa con đi khám 42

Bảng 18: Lý do lựa chọn nơi bà mẹ đưa con đi khám 42

Bảng 19: Thực hành về xử trí của bà mẹ khi con có ho, sốt đơn thuần 42

Bảng 20: Thực hành về chăm sóc của bà mẹ khi trẻ mắc NKHHCT 43

Bảng 21: Đánh giá thực hành phòng bệnh của bà mẹ về NKHHCT 44

Bảng 22: Đánh giá thực hành xử trí, chăm sóc của bà mẹ về NKHHCT 44

Bảng 23: Mối liên quan giữa trình độ học vấn với kiến thức của bà mẹ về NKHHCT 44

Bảng 24: Mối liên quan giữa kinh tế gia đình với kiến thức của bà mẹ 45

Bảng 25: Mối liên quan giữa tiếp cận thông tin với kiến thức của bà mẹ 45

Bảng 26: Mối liên quan giữa nghề nghiệp với kiến thức của bà mẹ 46

Bảng 27: Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành phòng bệnh của bà mẹ 46

Bảng 28: Mối liên quan giữa tuổi và thực hành phòng bệnh của bà mẹ 47

HUPH

Trang 6

Bảng 29: Mối liên quan giữa trình độ và thực hành phòng bệnh của bà mẹ 47 Bảng 30: Mối liên quan giữa kinh tế gia đình và thực hành phòng bệnh của bà mẹ 48

HUPH

Trang 7

TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là nguyên nhân chính gây mắc và tử vong của trẻ trên toàn thế giới Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc NKHHCT chiếm hàng đầu trong các bệnh ở trẻ dưới 5 tuổi (ước mỗi năm có khoảng 32 đến 40 triệu lượt trẻ mắc)

Kiến thức, thực hành của bà mẹ về phòng và xử trí NKHHCT trẻ em rất quan trọng Tại xã Minh Đạo, huyện Tiên Du có số lượt trẻ dưới 5 tuổi khám và điều trị NKHH cấp đứng đầu so với các xã, thị trấn khác của huyện (3.176 lượt), ở xã chưa

có một nghiên cứu nào về thực trạng này Câu hỏi đặt ra là: Kiến thức, thực hành của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi về bệnh này ở xã như thế nào? Có yếu tố nào liên quan hay không? Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu với mục tiêu: Mô tả kiến thức, thực hành về phòng và xử trí bệnh NKHHCT của các bà mẹ có con dưới

5 tuổi và xác định một số yếu tố liên quan đến thực trạng trên

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích Phối hợp nghiên cứu định lượng với nghiên cứu định tính Thời gian nghiên cứu từ tháng 8 năm 2011 đến tháng 4 năm 2012

Kết quả: Tỷ lệ NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi trong 2 tuần là 6,8% Có 20,8%

bà mẹ đạt kiến thức về phòng bệnh; 11,8 % đạt kiến thức xử trí, chăm sóc; 21,2% các bà mẹ đạt kiến thức chung về NKHHCT 50.8% bà mẹ đạt thực hành chung về phòng bệnh; 64,7% bà mẹ có con bị bệnh đạt thực hành về phòng bệnh; tỷ lệ các bà

mẹ thực hành xử trí đúng chiếm 23,5%, thấp hơn nhiều tỷ lệ các bà mẹ thực hành không đúng Kinh tế gia đình, nghề nghiệp và tiếp cận thông tin có mối liên quan đến kiến thức của bà mẹ Có mối liên quan giữa kiến thức, trình độ và kinh tế với thực hành phòng bệnh của bà mẹ Không đủ cỡ mẫu để phân tích mối liên quan đến

xử trí, chăm sóc bệnh NKHHCT của bà mẹ có con dưới 5 tuổi

Kết luận: Trong nghiên cứu này, các bà mẹ có kiến thức không đạt chiếm tỷ

lệ cao; Tỷ lệ các bà mẹ thực hành phòng bệnh đạt và không đạt có tỷ lệ khác nhau không đáng kể (50.8% đạt, 49,2% không đạt); Tỷ lệ các bà mẹ thực hành xử trí, chăm sóc không đúng cao hơn rất nhiều Cần tăng cường và lồng ghép công tác thông tin tuyên truyền giáo dục sức khoẻ, hướng dẫn bà mẹ về cách phòng, xử trí, chăm sóc trẻ, khuyến khích bà mẹ đưa con đến cơ sở y tế khám khi con bị bệnh

HUPH

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) là nguyên nhân chủ yếu gây mắc bệnh và tử vong của trẻ em trên toàn thế giới, đặc biệt là ở những nước đang phát triển [6], [7], [10], [27], [37] Theo số liệu thống kê của TCYTTG, hằng năm trên thế giới có khoảng 2 tỷ lượt trẻ em dưới 5 tuổi mắc NKHHCT trong đó khoảng 20%

là viêm phổi [10], [17], [21], và gây ra hơn hai triệu người chết ở trẻ em dưới 5 năm tuổi trên toàn thế giới [24], tại các nước đang phát triển trung bình mỗi trẻ trong một năm có tần suất mắc NKHHCT từ 4 đến 9 lần và NKHHCT cũng là nguyên nhân tử vong hàng đầu của trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước này [17] Mỗi năm trên thế giới có khoảng 14 triệu trẻ dưới 5 tuổi tử vong thì có 4 triệu trẻ tử vong do NKHHCT (28,5%) và 90% trong số đó là trẻ em tại các nước đang phát triển [3]

Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc NKHHCT chiếm hàng đầu trong các bệnh ở trẻ dưới 5 tuổi, tần suất mắc NKHHCT trung bình hằng năm ở trẻ dưới 5 tuổi là 4.1 lần/trẻ /năm [19] Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi đến khám và điều trị NKHHCT luôn chiếm tỷ lệ cao nhất trong mô hình bệnh tật của trẻ dưới 5 tuổi tại các cơ sở y tế, đồng thời tử vong do NKHHCT luôn chiếm tỷ lệ cao trong tổng số tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi, tại các bệnh viện có khoảng 30% đến 40% số trẻ dưới 5 tuổi chết do NKHHCT trong

đó đa phần là chết trong vòng 24 giờ đầu sau khi nhập viện

Các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam về tử vong do NKHHCT chỉ ra rằng: Một trong những nguyên nhân khiến cho tỷ lệ tử vong trong những giờ đầu của trẻ khi đến với cơ sở y tế là do trẻ không được đưa tới các cơ sở y tế kịp thời, trẻ do bà mẹ tự điều trị ở nhà, không được xử trí trước khi vào viện hoặc xử trí nhưng không thích hợp Nhiều trường hợp khi đến bệnh viện trẻ đã trong tình trạng nặng, do các bà mẹ không phát hiện ra bệnh, điều trị tại nhà theo thói quen, tập quán, không đưa con đến cơ sở y tế khám

Minh Đạo là một trong 14 xã, thị trấn của huyện, gồm 2 thôn với diện tích 5

km2, dân số 6567 người (đến 31/12/2010), nghề nghiệp chính của người dân chủ yếu là làm ruộng, ngoài ra còn làm thêm ở một số lò gạch tại xã và xã lân cận, một

số ít làm tại KCN Tiên Sơn Tại Tiên Du chương trình NKHHCT được triển khai từ

1996, hoạt động phủ rộng trên 100% số xã, bảo vệ 100% trẻ dưới 5 tuổi Tuy nhiên

HUPH

Trang 9

từ năm 2006 đến nay, do kinh phí đã hết nên hoạt động của chương trình cầm chừng, chỉ mang tính hình thức, công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ không còn được quan tâm như trước nữa Theo số liệu thống kê y tế các năm 2009, 2010 và 6 tháng đầu năm 2011, ở xã nhiễm khuẩn hô hấp cấp là bệnh đứng hàng đầu với số lượt khám và điều trị tại Trạm Y tế và so với các xã, thị trấn khác của huyện (Phụ lục 5) Trong khi đó xã Minh Đạo là xã có dân số đứng thứ 13/14 xã và số trẻ <5 tuổi ít nhất toàn huyện (255 trẻ) lại có tổng số lượt bệnh nhân đến khám và điều trị NKHHCT cao nhất trong giai đoạn này (năm 2009: 1.141 lượt; 2010: 1.286 lượt; 6

tháng đầu 2011: 749 lượt) (Nguồn: Báo cáo Trung tâm Y tế năm 2009, 2010, 6

tháng 2011)

Mặc dù ở huyện Tiên Du nói chung và xã Minh Đạo nói riêng, dịch vụ chăm sóc y tế cho người dân cũng như cho trẻ em đã được cải thiện nhiều, nhưng do thiếu hiểu biết của các gia đình, đặc biệt là người mẹ, nên nhiều trẻ mắc NKHHCT vẫn không được phát hiện sớm để đưa đến cơ sở y tế kịp thời gây khó khăn trong điều trị và tốn kém cho gia đình bệnh nhân Nhiều bà mẹ còn tự ý mua thuốc kháng sinh

để điều trị cho trẻ sau đó bệnh không khỏi hoặc nặng thêm mới đưa đến cơ sở y tế (Kết quả phỏng vấn nhanh với bác sĩ phụ trách chương trình tại Trung tâm Y tế huyện và các cán bộ trạm y tế xã Minh Đạo, chúng tôi được biết khoảng 30% trẻ em

bị bệnh đã được gia đình sử dụng kháng ở nhà trước khi đưa trẻ đi khám)

Kiến thức và thực hành của các bà mẹ về phòng và xử trí NKHHCT trẻ em là rất quan trọng, vì nó giúp bà mẹ biết cách phát hiện sớm và đưa trẻ đến y tế kịp thời Tuy nhiên, hiện tại ở huyện Tiên Du nói chung, xã Minh Đạo nói riêng vẫn chưa có một nghiên cứu chính thức nào nhằm giúp cho Trạm Y tế xã nắm rõ thực trạng này của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi, căn cứ để có kế hoạch truyền thông giáo dục sức khoẻ cho các bà mẹ về NKHHCT trẻ em, cũng như để có những tham mưu đề xuất cho chính quyền địa phương trong công tác bảo vệ sức khoẻ cho bà mẹ

và trẻ em Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Kiến thức, thực hành về

phòng tránh và xử trí bệnh NKHHCT của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi ở xã Minh

đạo, huyện Tiên du, tỉnh Bắc ninh năm 2011”

HUPH

Trang 10

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả kiến thức, thực hành về phòng, xử trí và chăm sóc bệnh nhiễm khuẩn

hô hấp cấp tính của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Minh Đạo, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2011

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành trong phòng và

xử trí trẻ dưới 5 tuổi bị NKHHCT của các bà mẹ

HUPH

Trang 11

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1 Đại cương NKHHCT ở trẻ em

1.1 Khái niệm NKHHCT

Nhiễm khuẩn hô hấp là một nhóm bệnh rất đa dạng do vi khuẩn hoặc virus gây ra trên toàn bộ hệ thống đường hô hấp bao gồm từ mũi, họng, thanh khí phế quản đến nhu mô phổi Có khoảng 2/3 trường hợp nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em là nhiễm khuẩn đường hô hấp trên như ho, viêm họng, viêm VA, viêm amidal, viêm xoang, viêm tai giữa….Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên đa số là nhẹ,

ít gây tử vong Nhiễm khuẩn hô hấp dưới chiếm khoảng 1/3 số trường hợp mắc NKHHCT, bao gồm viêm thanh quản, viêm thanh – khí - phế quản, viêm tiểu phế quản và viêm phổi Nhiễm khuẩn hô hấp dưới thường nặng, dễ tử vong, nhất là viêm phổi cấp tính ở trẻ nhỏ đặc biệt nguy hiểm và chiếm hơn 90% các trường hợp

tử vong do NKHHCT [1], [15], [17] [18], [21]

1.2 Một số đặc điểm giải phẫu và sinh lý đường hô hấp của trẻ em

Ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt là trẻ dưới 1 tuổi, giải phẫu đường hô hấp có những đặc điểm khác với người trưởng thành Đường hô hấp của trẻ, từ thanh khí phế quản lòng hẹp và ngắn, tổ chức đàn hồi ít phát triển, chức năng bảo vệ của hàng rào niêm mạc còn hạn chế, tổ chức bạch huyết ít phát triển Lồng ngực ngắn, hình trụ, xương sườn còn nằm ngang, cơ hoành nằm cao hơn, các cơ hô hấp chưa phát triển hoàn thiện

Về sinh lý, nhu cầu và khả năng trao đổi, hấp thụ khí ô xy của trẻ lớn hơn người trưởng thành, để thích nghi, trẻ bắt buộc phải thở nhanh hơn, đồng thời quá trình trao đổi O2 và CO2 giữa các phế nang và mạch máu cũng mạnh hơn, nhưng sự cân bằng về trao đổi khí dễ bị biến đổi theo điều kiện ngoại cảnh, vì thế trẻ dễ bị rối loạn hô hấp Hơn nữa, hệ thống miễn dịch của cơ thể của trẻ cũng như hàng rào bảo

vệ chưa hoàn chỉnh, khả năng ho khạc lại hạn chế

Với những đặc điểm như vậy, nên khả năng thông khí của trẻ nhỏ, nhất là trẻ dưới 1 tuổi, rất hạn chế, trẻ rất dễ mắc nhiễm khuẩn đường hô hấp, đặc biệt là viêm phổi [5], [21]

HUPH

Trang 12

1.3 Nguyên nhân gây bệnh NKHHCT

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, các nghiên cứu đều cho thấy virus là nguyên nhân phổ biến nhất gây NKHHCT ở TE dưới 5 tuổi và là nguyên nhân hàng đầu vào viện và tử vong [5], [23], [25] Virus là nguyên nhân gây NKHH phải nhập viện điều trị chiếm 47,2% [27] Các loại virus thường gặp là virus hợp bào hô hấp (RSV – Respiratory Syncytial Virus), virus cúm (Influenzae Virus), á cúm (Parainfluenzae Virus), human metapneumovirus (MPV) và Adenovirus trong đó virus RSV là nguyên nhân gây bệnh hàng đầu đối với NKHH trên và dưới ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ [26], [28], [33], [39] Ở các nước đang phát triển, vi khuẩn đóng một vai trò quan trọng trong việc gây mắc NKHH cấp, các vi khuẩn chủ yếu là phế cầu

(Streptococcus pneumoniae), Haemophylus influenzae, Klebsiella pneumonia,

Enterobacter [29]

Theo tác giả Kenneth Mcintosh MD (2002) nghiên cứu tại cộng đồng về bệnh viêm phổi mắc phải ở trẻ em, đã chỉ ra rằng vi khuẩn được coi là nguyên nhân gây viêm phổi ở các nước đang phát triển Những vi khuẩn được coi là nguyên nhân

chính gây viêm phổi ở trẻ em, bao gồm Streptococcus pneumoniae, Staphylococus

aureus, Haemophylus influenzae [8], [32] Nghiên cứu của Akira SHIMOUCHI

(2002) ở Việt Nam, nghiên cứu của Baqui A H và công sự ở Bănglades (2007) và một số nghiên cứu khác trên thế giới cũng cho kết quả tương tự [17]

Tại Việt Nam, các nghiên cứu cũng cho kết quả tương tự với các nghiên cứu trên thế giới Phần lớn NKHHCT ở trẻ em là do virus gây ra Các loại virus thường gặp gây bệnh NKHHC là virus hợp bào hô hấp, virus cúm, á cúm, adenovirus rhinovirus, virus đường ruột Việt Nam là nước đang phát triển, vi khuẩn đóng vai

trò quan trọng trong việc gây bệnh Các vi khuẩn thường gặp là Streptococcus

pneumoniae, Haemophilus influenzae, Clamydia, Mycoplasma, tụ cầu, liên cầu, vi

khuẩn đường ruột… và các vi khuẩn khác Viêm phổi do Clamydia hay gặp ở trẻ dưới 6 tháng tuổi Viêm phổi do Pneumocystic có thể gặp ở trẻ suy dinh dưỡng và trẻ bị HIV/AIDS [8], [11], [17], [27]

Ngoài các nguyên nhân như virus, vi khuẩn, nấm… thì lao cũng là căn nguyên gây viêm phổi ở trẻ em [17]

HUPH

Trang 13

Loại virus nguy hiểm gần đây đối với con người nói chung và trẻ em nói riêng là H5N1 và H1N1[30], [34] Virus H5N1 thuộc chủng Coronavirus gây nên hội chứng viêm đường hô hấp cấp tính (SARS) là một bệnh đường hô hấp gây tử vong cao Bệnh có biểu hiện sốt cao và có các hội chứng giống cúm không đặc hiệu như đau đầu, mệt mỏi và đau mình mẩy Một số bệnh nhân có triệu chứng hô hấp nhẹ như ho khan, tiêu chảy, rét run, khó thở, có thể có viêm phổi không điển hình

và tiến triển nặng tới suy hô hấp và tử vong Hội chứng hô hấp cấp tính do H5N1 có đặc điểm bệnh diễn biến nặng, tiên triển nhanh, không đáp ứng với các phương pháp điều trị thông thường và có tỷ lệ tử vong cao Đối với H1N1 có khả năng lây lan rất nhanh, khi mắc bệnh này bệnh nhân thường có triệu chứng cúm như ho, sốt, đau đầu, viêm mũi, viêm phổi, bệnh tiến triển nhanh, không hỗ trợ kịp thời có thể dẫn đến suy hô hấp và tử vong

1.4 Yếu tố nguy cơ chính gây NKHHCT

Có nhiều yếu tố nguy cơ gây NKHHCT ở trẻ bao gồm [14], [16], [19], [20], [35]:

- Yếu tố nội sinh hay cơ địa ở trẻ:

+ Tuổi của trẻ: trẻ dưới 6 tháng tuổi thường có nguy cơ mắc cao hơn so với trẻ khác

+ Giới tính: Trẻ trai thường có nguy cơ mắc bệnh cao hơn trẻ gái

+ Cân nặng sau sinh: trẻ đẻ non, trẻ có cân nặng khi sinh thấp có nguy cơ mắc NKHHCT cao hơn trong những năm đầu sau khi sinh so với trẻ bình thường, khỏe mạnh

+ Không được bú sữa mẹ ngay sau khi sinh

+ Không được bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng

+ Thiếu sữa mẹ: trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ có nguy cơ mắc NKHHCT cao hơn so với trẻ được nuôi bằng sữa mẹ

+ Uống vitamin A và tiêm chủng đầy đủ làm giảm nguy cơ mắc bệnh ở trẻ

- Yếu tố môi trường

+ Thời tiết: nhiễm lạnh, yếu tố ấm nóng, gió mùa Việt Nam

+ Ở đông đúc, nhà ở chật chội, thiếu vệ sinh

+ Phơi nhiễm người mang mầm bệnh

HUPH

Trang 14

+ Tiếp xúc không khí ô nhiễm: khói thuốc, khói bếp, bụi, lông súc vật

- Yếu tố kinh tế, văn hoá, xã hội và tập quán

+ Điều kiện kinh tế: Trẻ sống trong gia đình có điều kiện kinh tế thấp có nguy

cơ nhiễm khuẩn hô hấp cao hơn trẻ đƣợc sống trong gia đình có điều kiện kinh

co giật, ngủ li bì, hạ nhiệt độ, cơn ngừng thở

1.6 Phân loại và xử trí NKHHCT ở trẻ em tại tuyến y tế cơ sở

1997, tại hội nghị quốc tế của WHO tại Canberra đã đƣa ra vài con số thống kê nhƣ sau:

HUPH

Trang 15

Bảng 1 Số đợt trẻ mắc NKHHCT trong cộng đồng tại một số thành phố trên thế

Bảng 3 Số trẻ mắc NKHHCT đến điều trị tại bệnh viện

Địa điểm nghiên cứu % trẻ vào viện

Bảng 4 Số lượt trẻ mắc NKHHCT tại một số nước

Tên nước Số lượt mắc/trẻ/năm Lứa tuổi

HUPH

Trang 16

Thái Lan 11 Trẻ dưới 5 tuổi

Tại khu vực Đông Nam Á, tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp vẫn là nguyên nhân cao nhất (25%) trong các nguyên nhân gây tử vong ở trẻ em, tiếp theo là tiêu chảy (14%) và tử vong sơ sinh (32%) kết hợp với các bệnh khác, còn lại là các nguyên nhân khác Theo thống kê của WHO, UNICEF (2002) tình hình mắc NKHHCT ở một số nước châu Á như sau [21]:

Bảng 5 Tình hình NKHHCT ở một số nước Châu Á ở một số năm

Tên nước Năm Trẻ < 5 tuổi mắc NKHHCT trong vòng 2 tuần (%) Trẻ mắc NKHHCT được chăm sóc (%)

2.1.2 Tại Việt Nam

Tại Việt Nam cũng đã có nhiều nghiên cứu về tỉ lệ mắc và tử vong do NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi Theo số liệu thống kê ở các cơ sở y tế từ tuyến trung ương đến tuyến tỉnh, tuyến huyện đều cho thấy NKHHCT ở trẻ em là nguyên nhân cao nhất đến khám và vào điều trị tại các bệnh viện Trong cộng đồng hàng năm trung bình tần suất mắc NKHHCT của mỗi trẻ từ 4-5 lần Hiện nay, ở nước ta có khoảng 8 triệu trẻ em dưới 5 tuổi như vậy mỗi năm có từ 32 – 40 triệu lượt trẻ mắc NKHH, điều này ảnh hưởng rất lớn đến ngày công lao động của các bà mẹ phải nghỉ việc để chăm sóc trẻ và tốn kém không ít về kinh phí chữa trị [1] Kết quả của một số điều tra ngang ở các hộ gia đình về mắc NKHH cấp trong 2 tuần do chương trình NKHHCT thực hiện trong các năm 1994, 1995, 2000 cho thấy: trong vòng 2

HUPH

Trang 17

tuần điều tra có 32%, 20,6% và 22,5% số trẻ dưới 5 tuổi mắc NKHHCT các thể, đứng đầu trong mọi nguyên nhân mắc bệnh ở trẻ em

Tác giả Hà Văn Thiệu và Nguyễn Hữu Kỳ (2003) đã tiến hành nghiên cứu tình hình và một số yếu tố nguy cơ chủ yếu của NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi tại Thùy Dương – Hương Thủy- Thừa Thiên Huế cho thấy: tỉ lệ mắc NKHHCT tại cộng đồng ở đây còn cao (39,7%), cao hơn so với các bệnh khác và tăng cao ở nhóm trẻ 1 tuổi, tỉ lệ trẻ mắc NKHH cấp dưới 1 tuổi là 53,3%; 2 – 3 tuổi là 35,9% và 4 – 5 tuổi

là 28,3% Tần suất mắc NKHH cấp cao nhất 4 - 6 lần/năm (47,5%); dưới 3 lần/năm (36,4%), trên 6 lần/năm (16,1%) [14] Tỷ lệ mắc NKHHCT chiếm hàng đầu trong các bệnh ở trẻ dưới 5 tuổi, tần suất mắc NKHHCT trung bình hằng năm ở trẻ dưới 5 tuổi là 4,1 lần/trẻ /năm [19] Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi đến khám và điều trị NKHHCT luôn chiếm tỷ lệ cao nhất trong mô hình bệnh tật của trẻ dưới 5 tuổi tại các cơ sở y

tế, đồng thời tử vong do NKHHCT luôn chiếm tỷ lệ cao trong tổng số tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi, tại các bệnh viện có khoảng 30% đến 40% số trẻ dưới 5 tuổi chết do NKHHCT

Những năm gần đây, theo thống kê nghiên cứu ở các tuyến bệnh viện và cộng đồng cho thấy tỉ lệ trẻ mắc NKHHCT không có xu hướng thuyên giảm Tỷ lệ này là 37,5% số trẻ tại bệnh viện và 39,8% khi nghiên cứu cắt ngang tại cộng đồng [3]

2.2 Tình hình tử vong do NKHH và viêm phổi ở trẻ dưới 5 tuổi

2.2.1 Trên thế giới

Nguyên nhân gây tử vong nhiều nhất cho trẻ em dưới 5 tuổi cho đến nay vẫn

là NKHHCT, đặc biệt tại các nước đang phát triển Cứ mỗi giờ trôi qua có khoảng

400 trẻ trên thế giới tử vong do NKHH Tỉ lệ trẻ tử vong do NKHH, đặc biệt là viêm phổi chiếm tỉ lệ cao trong số trẻ tử vong do mọi nguyên nhân Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới (WHO), hàng năm trên thế giới có khoảng 2 tỷ lượt trẻ em dưới 5 tuổi mắc NKHHCT trong đó khoảng 40 triệu lượt là viêm phổi (VP), và gây

ra hơn 3,9 triệu ca tử vong hàng năm trên toàn thế giới Mỗi năm trên thế giới có khoảng 14 triệu trẻ dưới 5 tuổi tử vong thì có 4 triệu trẻ tử vong do NKHHCT

HUPH

Trang 18

(28,5%) và 90% trong số đó là trẻ em tại các nước đang phát triển Bảng dưới đây trình bày số liệu về tử vong do NKHHCT tại một số nước trên thế giới

Bảng 6 Số liệu tử vong do NKHHCT tại một số nước trên thế giới

Địa điểm nghiên cứu Tử vong do

Theo nghiên cứu của Bryce và cộng sự (năm 2005), trong giai đoạn năm

2000 – 2003, có khoảng 1/6 trong tổng số 10,6 tỉ trẻ trước tuổi đi học được cho là tử vong do NKHHCT Có ba nguyên nhân chủ yếu gây tử vong ở trẻ là viêm phổi (19%), tiêu chảy (18%), sốt rét (8%), nhiễm trùng hoặc viêm phổi sau sinh (10%)

Tỉ lệ trẻ tử vong do NKHH cao nhất là ở châu Phi (50%) đặc biệt là ở các nước cận

sa mạc Sahara, tiếp đến là ở Nam Á (32%) và thấp nhất ở chấu Âu (2%) [25] Có khoảng 2/3 số trẻ tử vong do viêm phổi tập trung ở 10 nước châu Phi và chấu Á là

Ấn Độ, Nigeria, Conggo, Ethiopia, Parkistan, Afghanistan, Trung Quốc, Băngladest, Angola và Niger [25]

2.2.2 Tại Việt Nam

Theo số liệu của các nghiên cứu và thống kê từ các bệnh viện ở các tuyến cho thấy tử vong do NKHHCT chiếm từ 40 – 60% tử vong chung ở trẻ em dưới 5 tuổi, trong đó chủ yếu do viêm phổi Có 90% tử vong do VP là ở trẻ dưới 1 tuổi, đặc biệt là ở trẻ dưới 2 tháng tuổi [7], [10]

Theo tác giả Huỳnh Văn Nên và Tạ Ánh Hoa điều tra cắt ngang 30 cụm với

22670 trẻ sinh sống tại An Giang năm 1997 đã cho thấy tử vong do viêm phổi chiếm 39% tử vong [10]

HUPH

Trang 19

3 Chương trình NKHHCT tại Việt Nam

Nhận rõ được tính chất cấp bách của vấn đề NKHHCT đối với sức khỏe trẻ

em, năm 1982, WHO đã đề nghị xây dựng chương trình phòng chống NKHHCT ở trẻ em trên toàn cầu, với mục tiêu:

1 Giảm tử vong do viêm phổi ở trẻ dưới 5 tuổi Đặc biệt là trẻ dưới 1 tuổi

2 Giảm tỷ lệ dùng thuốc kháng sinh không hợp lý trong điều trị NKHHCT

3 Giảm tần suất mắc bệnh và giảm các biến chứng do nhiễm khuẩn hô hấp trên cấp tính

Việt Nam là nước thứ 2 trên thế giới (sau Brazil) thành lập chương trình Đến năm 2007 Hướng dẫn thực hiện chương trình Phòng, chống NKHHCT trẻ em với mục tiêu và chiến lược như sau [1]:

1 Mục tiêu của chương trình:

1.1 Mục tiêu dài hạn

- Phát triển bền vững hệ thống cung cấp dịch vụ về giám sát bệnh, chẩn đoán, quản lý bệnh hô hấp ở trẻ em bao gồm: bệnh tai mũi họng, viêm phổi, lao, hen phế quản và các bệnh phổi liên quan tới HIV ở trẻ em

- Tăng cường năng lực quản lý và phát triển kỹ thuật của tuyến tỉnh và tuyến huyện

1.2 Mục tiêu cụ thể

Mục tiêu cơ bản của chương trình là giảm tử vong do viêm phổi ở trẻ em dưới

5 tuổi đặc biệt tử vong trẻ em dưới 1 tuổi

Ngoài ra, ba mục tiêu quan trọng khác được đề cập là:

- Sử dụng hợp lý thuốc kháng sinh và các loại thuốc khác đối với NKHHCT

- Giảm mức độ bệnh nặng và phòng biến chứng của bệnh đường hô hấp trên thông qua việc phân loại sớm và quản lý bệnh theo phác đồ

- Nâng cao kiến thức, thực hành của các bà mẹ và người chăm sóc trẻ đối với NKHHCT ở trẻ em

2 Chiến lược thực hiện

2.1 Phác đồ quản lý bệnh

2.2 Đảm bảo trẻ em được tiêm phòng vác xin sởi, ho gà và BCG

HUPH

Trang 20

2.3 Giảm các yếu tố nguy cơ

Sơ đồ chiến lược của Chương trình NKHHCT trẻ em tại Việt Nam như sau [10]:

4 Một số nghiên cứu về kiến thức, thực hành của bà mẹ về NKHHCT ở trẻ em

Kiến thức và thực hành của bà mẹ có vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh cho trẻ, phát hiện các dấu hiệu của bệnh, chăm sóc và điều trị cho trẻ khi trẻ mắc bệnh Có rất nhiều nghiên cứu trong nước và ngoài nước về kiến thức, thực hành của bà mẹ về NKHHCT Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra rằng kiến thức, thực hành của bà mẹ còn nhiều hạn chế

Một nghiên cứu ở Ấn Độ cho thấy tỷ lệ bà mẹ nhận biết dấu hiệu thở nhanh, khó thở chỉ dưới 20%, đa số bà mẹ chỉ quan tâm đến dấu hiệu trẻ quấy khóc và sốt [31]

Nghiên cứu ở Ahmedabad, Gujarat trong thời gian từ tháng 9/2008 – 3/2009 cho thấy 35,2% các bà mẹ tiết lộ rằng ưa thích y tế tư nhân cho lựa chọn điều trị, về mức độ nghiêm trọng của NKHHCT 50,2 % các bà mẹ đánh giá bệnh như bình thường Đồng thời nghiên cứu cũng đưa ra kết luận là kiến thức của các bà mẹ về phòng chống NKHHCT còn thiếu [36]

MỤC

TIÊU

Trẻ mắc NKHHCT được đưa đến cơ sở y tế kịp thời Trẻ mắc NKHHCT đến cơ sở y tế được chuẩn đoán, điều trị đúng

CHIẾN

LƯỢC Bà mẹ hiểu biết

về NKHHCT

Cơ sở y

tế ở gần dân, được dân tin

CBYT được huẩn luyện, có trình độ

Thuốc và thiết bị đầy đủ

HOẠT

ĐỘNG Truyền thông

giáo dục sức khỏe

Xây dựng, củng cố mạng lưới y tế

Đào tạo, huấn luyện

Cung cấp thuốc, trang thiết bị y

tế

HUPH

Trang 21

Nghiên cứu ở El Alto, Bolivia cho thấy 57,0% bà mẹ được phỏng vấn không biết dấu hiệu NKHHCT, 99,0% trẻ bị mắc bệnh không được chăm sóc đúng, 42,0%

số ca tử vong do NKHHC và tiêu chảy không được đưa đến cơ sở y tế kịp thời

Tổng kết của WHO về điều tra hoạt động của tuyến cơ sở ở 19 nước trên thế giới (1997) cho thấy chỉ khoảng 35,0% bà mẹ biết dấu hiệu thở nhanh, khó thở, 57,6% bà mẹ tự mua thuốc chữa cho trẻ, nếu không đỡ mới đưa đến cơ sở y tế

Năm 2006, Chan G.C và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về sử dụng kháng sinh của các bà mẹ đối với NKHH trên ở trẻ em Malaysia cho thấy, gần 68% các bà mẹ trong số họ tin rằng kháng sinh có ích trong điều trị cúm thông thường; 69% trong điều trị ho; 76% cho điều trị sốt [22]

Tại Việt Nam, nghiên cứu KAP về sử dụng KS của 358 bà mẹ và người chăm sóc trẻ trước khi trẻ nhập viện do viêm đường hô hấp của Cao Thị Mai Phương (2003) cho thấy: tỉ lệ kiến thức chưa đạt chiếm 42,4%, trong đó có tới 8,7%

bà mẹ chưa nghe nói về KS; tỉ lệ thực hành đúng chỉ đạt 42,2% Nghiên cứu này chỉ

ra rằng các bà mẹ thường nhận thức sai lệch về sử dụng KS đối với bệnh NKHH cấp ở TE [13]

Nghiên cứu về kiến thức, thực hành của bà mẹ về NKHHCT ở TE dưới 5 tuổi tại Láng Thượng, Đống Đa, Hà Nội của tác giả Trần Phương Lan (2004) cho thấy tỉ lệ bà mẹ thực hành về NKHHCT đạt là 38,6% [10] Một nghiên cứu khác về KAP của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tới khám tại phòng khám đa khoa Nghĩa Tân – Cầu Giấy – Hà Nội về việc phòng và xử trí trẻ dưới 5 tuổi mắc NKHHCT năm

2010 của tác giả Trần Thu Hường cũng cho thấy tỉ lệ bà mẹ có thực hành đạt tương đối thấp (29,9%) [9]

Theo tác giả Đàm Thị Tuyết trong nghiên cứu “Một số đặc điểm dịch tễ và

hiệu quả can thiệp đối với NKHHC ở TE dưới 5 tuổi tại huyện chợ Mới, Bắc Cạn năm 2010” cho thấy tỉ lệ bà mẹ có kiến thức về chăm sóc trẻ trung bình, khá và tốt

chiếm 19,2%; tỉ lệ bà mẹ thực hành đạt chỉ chiếm 21,2% Nghiên cứu cũng cho thấy trẻ thuộc nhóm các bà mẹ có kiến thức về chăm sóc con kém có nguy cơ mắc NKHH cấp gấp 3,69 lần so với trẻ thuộc nhóm các bà mẹ có kiến thức trung bình, khá, tốt và trẻ thuộc nhóm các bà mẹ thực hành không đạt có nguy cơ mắc NKHH

HUPH

Trang 22

cấp gấp 5,18 lần so với trẻ thuộc nhóm các bà mẹ có thực hành đạt [17]

Theo nghiên cứu của tác giả Phùng Văn Vượng (2003) về kiến thức, thực hành của bà mẹ có con dưới 5 tuổi trong phòng và xử trí NKHHCT ở trẻ em dưới 5 tuổi tại 3 xã (Phụng Châu, Ngọc Hòa, Phú Nghĩa) của Chương Mỹ, tỉ lệ trẻ mắc bệnh trong 2 tuần trước cuộc điều tra là 31,8% Tỉ lệ bà mẹ có kiến thức về bệnh NKHHCT đạt chiếm 43,8%; tỉ lệ bà mẹ thực hành về chăm sóc và xử trí khi trẻ mắc bệnh chỉ đạt 28,7% [21]

Một số kết quả nghiên cứu can thiệp cho thấy can thiệp bằng truyền thông giáo dục sức khỏe cho các bà mẹ về nhận biết dấu hiệu, chăm sóc, xử trí trẻ mắc NKHHCT có hiệu quả cao [24], [37]

Nghiên cứu can thiệp nhằm thay đổi kiến thức về ô nhiễm không khí trong nhà đối với NKHHCT tại Myanmar của Khin Myat Tun cho thấy việc sử dụng giáo dục, thông tin và truyền thông để tác động đến kiến thức của các bà mẹ là rất có hiệu quả [38]

Để nâng cao kiến thức và thực hành trong việc phòng, chăm sóc và điều trị trẻ mắc NKHHCT một cách an toàn, hiệu quả, cần nghiên cứu thực trạng phòng, chăm sóc và điều trị cho trẻ mắc NKHHCT hiện nay như thế nào, trên cơ sở đó tiến hành giáo dục truyền thông cho các bà mẹ trong dự phòng, theo dõi, chăm sóc, xử trí khi trẻ mắc NKHHCT [6], [7], [11],

Thực hành của bà mẹ trong chăm sóc và xử trí trẻ bị NKHHCT đã được nhiều nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam đề cập đến, nhìn chung các nghiên cứu đều cho thấy thực hành của bà mẹ về NKHHCT còn nhiều hạn chế, nhiều bà mẹ không nhận biết dấu hiệu NKHHCT cũng như không biết chăm sóc đúng trẻ mắc NKHHCT

Một nghiên cứu về chương trình NKHHCT ở Guatemala cho biết nhiều bà mẹ biết dấu hiệu nhịp thở nhanh nhưng không biết một dấu hiệu rất quan trọng trong chẩn đoán viên phổi là rút lõm lồng ngực, 57% bà mẹ sử dụng thuốc tại nhà trước khi đến cơ sở y tế, mặc dù đã thấy vài triệu chứng nguy hiểm nhưng phần lớn các

bà mẹ đã coi thường các triệu chứng nghiêm trọng và 2 đến 3 ngày sau nếu trẻ không khỏi mới đưa con đến cơ sở y tế, do đó viêm phổi là nguyên nhân chính gây

HUPH

Trang 23

tử vong trẻ em ở Guatemala và rất nhiều trường hợp tử vong trong vòng 3 ngày bị bệnh

Một nghiên cứu ở vùng nông thôn Myanma cũng cho thấy tỷ lệ các bà mẹ

xử trí trẻ NKHHCT không đúng là 61.5%, còn thuốc tây được sử dụng phổ biến ( 56.9%) , và có 33% bà mẹ cho con ăn bình thường, chỉ có 10% bà mẹ cho con uống nhiều nước[28]

Tại Việt Nam, các các nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành của các

bà mẹ cho thấy vẫn còn tỷ lệ cao các bà mẹ chưa biết cách xử trí và chăm sóc con mắc NKHHCT Nghiên cứu của Trần Phương Lan tại Hà Nội 2002 [9] cho thấy khi trẻ mắc NKHHCT chỉ có 34% bà mẹ cho con ăn hoặc bú nhiều hơn bình thường, có 28.9% bà mẹ dùng kháng sinh khi con bị ho đơn thuần, còn khi trẻ bị sốt đơn thuần thì tỷ lệ này là 17.1%, và có 88.8% nhỏ mũi và 4.6% sử dụng kháng sinh khi trẻ bị nghẹt mũi, chảy nước mũi

Nghiên cứu của Phùng Quốc Vượng tại Chương Mỹ, Hà Tây [11] cho thấy

có đến 77.8% bà mẹ dùng kháng sinh khi trẻ bị ho, sốt đơn thuần và tỷ lệ dùng thuốc tây y giảm ho là 52.1%, tỷ lệ thực hành chung chăm sóc và xử trí của mẹ đạt chỉ chiếm 28.7%

Tác giả Hàn Trung Điền [3] cũng cho rằng vẫn còn nhiều bà mẹ tự chữa cho trẻ ở nhà bằng thuốc tây dự trữ hoặc mua thuốc về nhà, nhiều bà mẹ tự ý dùng kháng sinh khi trẻ bị ho sốt Đây là tình trạng phổ biến tại Việt Nam, là một trong những nguyên nhân khiến tỷ lệ tử vong vẫn còn cao trong cộng đồng

Nghiên cứu của Phùng Quốc vượng tại Lương sơn, Hoà Bình về xử trí ban đầu của các bà mẹ đưa ra kết luận là khi trẻ mắc NKHHCT thì có 42.6% trẻ được đưa đến trạm y tế, 41.2% bà mẹ tự chữa ở nhà, còn 16.2% đến các cơ sở y tế khác Theo La Viết Khởi khi phỏng vấn các bà mẹ có con mắc NKHHCT tại khoa nhi bệnh viện Sóc Trăng cho thấy chỉ có 12 bà mẹ biết dấu hiệu nặng cần đưa con đi khám, có 67% các bà mẹ điều trị kháng sinh khi con sốt, 56% bà mẹ kiêng cữ ăn uống khi trẻ bị ốm

5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến phòng và xử trí trẻ bị NKHHCT

Ảnh hưởng đến phòng và xử trí NKHHCT ở trẻ em có kể đến các nhóm yếu

HUPH

Trang 24

tố như: Các yếu tố về môi trường, nội sinh hay kinh tế văn hoá xã hội và tập quán Đặc biệt là vai trò của người mẹ Đã có nhiều công trình nghiên cứu ở các nước và

ở Việt Nam về các yếu tố này và đều có nhận xét đây là những yếu tố để xem xét

trong phòng ngừa ban đầu NKHHCT ở trẻ em [37] Những yếu tố đó bao gồm:

Trẻ thiếu cân: Trẻ đẻ thấp cân là nguy cơ đối với sự tồn tại và phát triển của trẻ sau này, đặc biệt rất dễ mắc các bệnh lây truyền trong đó nhiều nhất là viêm phổi Tỷ lệ tử vong do viêm phổi ở trẻ dưới 1 tuổi nếu khi sinh nặng dưới 2500 gr là 26.4%o trong khi nếu khi sinh nặng trên 2500 gr chỉ là 6.8%o

Suy dinh dưỡng nặng cũng là yếu tố dễ mắc NKHHCT hơn ở trẻ bình thường và khi bị NKHHCT thời gian điều trị kéo dài hơn, tiên lượng xấu hơn Trẻ

bị suy dinh dưỡng thường khả năng miễn dịch của cơ thể kém do đó dễ mắc những bệnh nhiễm trùng trong đó NKHHCT là hay gặp nhất và chính NKHHCT lại làm trẻ càng suy dinh dưỡng hơn và những trẻ suy dinh dưỡng thường tử vong do viêm phổi

Không được nuôi con bằng sữa mẹ, ô nhiễm nội thất, khói bụi, thuốc lá, thời tiết chuyển mùa cũng làm trẻ dễ bị NKHHCT

Ngoài ra, nhà ở chật chội, thiếu vệ sinh, đời sống kinh tế thấp, thiếu vitaminA là những yếu tố nguy cơ gây NKHHCT ở trẻ em

Theo Hàn Trung Điền và Nguyễn Thị Thanh Vân các yếu tố nguy cơ đến mắc NKHHCT gồm cân nặng khi sinh dưới 2500gr, đẻ thiếu tháng, bú mẹ không hoàn toàn trong 6 tháng đầu và suy dinh dưỡng, ngoài ra yếu tố từ môi trường như hút thuốc lá thụ động, kiến thức của bà mẹ cũng có liên quan với tỷ lệ mắc NKHHCT [2], [19]

Trong những yếu tố ảnh hưởng đến phòng và xử trí trẻ bị NKHHCT, kiến thức và thực hành của bà mẹ là rất quan trọng, vì nếu không có kiến thức thì dẫn đến thực hành kém hoặc sai lầm Đặc biệt là kiến thức và thực hành xử trí khi trẻ mắc bệnh, vì sẽ không đưa được trẻ đến cơ sở y tế kịp thời Như vậy có thể thấy rằng vai trò của bà mẹ rất quan trọng trong việc giảm tỷ lệ mắc và tử vong của trẻ Chính vì vậy mà trong hoạt động của chương trình song song với hoạt động huấn luyện nâng cao kiến thức cho cán bộ y tế cơ sở thì một hoạt động lớn là giáo dục,

HUPH

Trang 25

nâng cao kiến thức, sự hiểu biết cho các bà mẹ về nhận biết các dấu hiệu trẻ bị NKHHCT và dấu hiệu cần phải đưa trẻ đến cơ sở y tế

Kiến thức của bà mẹ về phòng và xử trí NKHHCT cho trẻ: Những điều bà mẹ rất cần được biết để phòng bệnh, theo dõi, chăm sóc cho trẻ nhằm hạn chế trẻ bị mắc NKHHCT như cho con bú sớm trong vòng 1 giờ sau sinh và bú mẹ hoàn toàn trong 4-6 tháng đầu, cai sữa sau 18 – 24 tháng, cho ăn, uống đủ cả chất và lượng, tiêm phòng đầy đủ theo lịch, giữ ấm khi trời lạnh, thoáng mát khi trời nóng, khi thay đổi thời tiết, nhà ở cần thoáng khí tránh ẩm thấp, tránh tiếp xúc khói bếp, khói thuốc lá thuốc lào…[1]

Thực hành của bà mẹ khi con mắc NKHHCT

Khi trẻ mắc NKHHCT thì điều mà các bà mẹ cần làm là phát hiện bệnh sớm, đưa trẻ đến cơ sở y tế kịp thời và phối hợp điều trị tại nhà theo hướng dẫn của thầy thuốc Những thực hành chủ yếu của chương trình đối với bà mẹ trong việc xử trí và chăm sóc trẻ tại nhà là [1]:

- Cho trẻ ăn khi bị bệnh: cần ăn tăng thêm, ăn ít một chia làm nhiều bữa với những thức ăn dễ tiêu, đủ chất dinh dưỡng Nếu trẻ dưới 6 tháng thì tăng cường bú mẹ

- Cho trẻ uống đủ nước: cho uống nước đều đặn, uống thêm nước hoa quả, với trẻ còn bú cần cho trẻ bú nhiều lần hơn

- Làm dịu đau họng và giảm ho bằng phương pháp thông thường (thuốc nam) như gừng, chanh, quất, mật ong, đường…không nên dùng những thuốc ho hiện có trên thị trường vì thuốc này thường chứa atropin, codein, kháng histamin…sẽ có hại cho trẻ

- Làm thông thoáng mũi: bằng đặt sâu kèn làm bằng giấy thấm mềm, không nên dùng các thuốc nhỏ mũi khác vì có thể có hại đến niêm mạc mũi

- Hướng dẫn dùng thuốc: nếu trẻ phải dùng thuốc, cần hướng dẫn bà mẹ cách cho trẻ uống (liều lượng, số lần, thời gian uống…) Đặc biệt để hạn chế tình trạng lạm dụng kháng sinh, cần nhắc bà mẹ nếu trẻ chỉ có ho sốt đơn thuần không cần phải dùng kháng sinh

HUPH

Trang 26

- Theo dõi trẻ: Bà mẹ cần theo dõi trẻ và đưa đến cơ sở y tế khi trẻ có một trong những dấu hiệu: Trẻ mệt hơn, khó thở hơn, thở nhanh hơn, không uống/bú được, ngực lõm vào khi hít vào

Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành của bà mẹ khi con mắc NKHHCT chỉ ra rằng sự tiếp cận thông tin, kiến thức và tuổi, trình độ học vấn của

bà mẹ có mối liên quan đến chăm sóc con khi trẻ bị NKHHCT [4], [12] Khi các bà

mẹ đã có thông tin về cách chăm sóc và xử trí khi con bị ốm thì sẽ là cơ sở để thực hành tốt, và việc được tiếp nhận thông tin cũng là nền tảng để bà mẹ có kiến thức tốt về phòng và xử trí chăm sóc bệnh NKHHCT và từ đó thực hành của họ cũng tốt hơn Những bà mẹ trên 30 tuổi chăm sóc con bị NKHHCT tốt hơn những bà mẹ dưới 30 tuổi có thể họ đa phần là những người đã có con thứ 2 nên đã có kinh nghiệm trong xử trí và chăm sóc con ốm Bà mẹ có trình độ học vấn càng cao thì thực hành chăm sóc trẻ bệnh càng tốt, theo Phùng Quốc Vượng bà mẹ có trình độ

TH, THCS, THPT có tỷ lệ thực hành đạt yêu cầu lần lượt là 20%, 24%, 41% Ngoài

ra, nguồn lực kinh tế cũng đóng vai trò trong thực hành chăm sóc sức khoẻ trẻ em nhưng có lẽ không đóng vai trò quyết định nên kinh tế gia đình ít liên quan đến thực hành của mẹ chăm sóc trẻ bệnh

HUPH

Trang 27

CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại xã Minh Đạo, Tiên Du trong thời gian từ tháng

8 năm 2011 đến tháng 4 năm 2012 Đối tượng nghiên cứu là những bà mẹ có con dưới 5 tuổi, cán bộ y tế tại xã Minh Đạo, cán bộ Trung tâm y tế, Phòng Y tế huyện Tiên Du

2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

Phối hợp nghiên cứu định lượng với nghiên cứu định tính

2.1 Nghiên cứu định lượng

2.1.1 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu ước lượng tỷ lệ, trong trường hợp quần thể hữu hạn ta có:

2

2 2

d

p p

theo nghiên cứu “Kiến thức thực hành của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi trong

phòng và xử trí nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính tại Chương Mỹ - Hà Tây, năm 2003

của tác giả Phùng Quốc Vượng

Thêm 10% số đối tượng để dự phòng những trường hợp từ chối PV, vắng mặt trong thời gian triển khai nghiên cứu, do vậy cỡ mẫu cần cho nghiên cứu là 239 người làm tròn lên 240 bà mẹ có con dưới 5 tuối

HUPH

Trang 28

Tuy nhiên, theo báo cáo phân bố dân số các xã, thị trấn trên địa bàn huyện

Tiên Du của Trung tâm Y tế huyện Tiên Du thì có 250 bà mẹ có con dưới 5 tuổi của

xã Minh Đạo tại thời điểm nghiên cứu

Do đó, với thời gian và nguồn lực cho phép, chúng tôi chọn mẫu toàn bộ 250

bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Minh Đạo tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu

* Tiêu chuẩn chọn:

- Chúng tôi tiến hành phỏng vấn toàn bộ các bà mẹ sinh sống tại xã Minh Đạo

có con dưới 5 tuổi (250 bà mẹ có con dưới 5 tuổi)

- Đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu

* Tiêu chuẩn loại trừ:

- Bà mẹ không còn sinh sống tại thời điểm nghiên cứu

- Bà mẹ không có khả năng hiểu và trả lời câu hỏi

- Sau khi tham gia, đã nảy sinh bất kỳ tình huống nào, mà theo ý kiến của điều

tra viên là có thể vi phạm thoả thuận tham gia điều tra

- Bà mẹ có trẻ mắc bệnh mạn tính

2.1.2 Phương pháp thu thập số liệu và xử lý số liệu

2.1.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Bộ công cụ thu thập số liệu: Bộ câu hỏi được thiết kế sẵn ( phụ lục 2) Trước khi

tiến hành thu thập số liệu tại thực địa, chúng tôi tiến hành thử nghiệm bộ câu hỏi tại

xã sau đó sửa và hoàn chỉnh bộ câu hỏi phỏng vấn

Trường hợp ĐTNC (bà mẹ) không có mặt hẹn ngày khác phỏng vấn Trường hợp từ chối phỏng vấn  Loại ra khỏi mẫu

- Thời gian thu thập số liệu trong vòng 1 tháng (từ 01/12- 30/12/2011)

2.1.2.2 Xử lý và phân tích số liệu:

Số liệu được nhập, xử lý và phân tích bằng phần mềm Epidata 3.1 và SPSS

13.0

Về kiến thức và thực hành của các bà mẹ được phân tích theo thang điểm

mẫu, cách cho điểm từng câu hỏi và đánh giá theo 2 mức độ “đạt” hoặc “không

đạt” Có tiêu chuẩn đánh giá cho từng phần (Phụ lục 4)

HUPH

Trang 29

2.1.2.3 Điều tra viên và giám sát viên:

- Điều tra viên: Tác giả và 2 điều tra viên là cán bộ của Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Bắc Ninh Điều tra viên được tập huấn và giám sát trong suốt quá trình thu thập số liệu

- Giám sát viên: Tác giả đề tài nghiên cứu

2.2 Nghiên cứu định tính

Mục đích để bổ xung cho nghiên cứu định lượng, nhằm lý giải thêm và tìm hiểu một số lý do ảnh hưởng đến kiến thức, thực hành của các bà mẹ Những yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành là: học vấn, mức sống, nghề nghiệp, điều kiện nhà ở, thói quen tập quán, thông tin về sức khoẻ

2.2.1 Kỹ thuật thu thập thông tin

Sử dụng 2 phương pháp thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu theo hướng dẫn (Phụ lục 3) Mỗi buổi thảo luận nhóm sẽ có 2 cán bộ thực hiện (1 điều hành, 1 ghi chép) Các buổi phỏng vấn và thảo luận nhóm sẽ được ghi âm

2.2.2 Chọn mẫu

Chọn mẫu có mục đích các bà mẹ, cán bộ y tế

Tiêu chuẩn lựa chọn các bà mẹ:

- Có con mắc bệnh trong 2 tuần trước ngày điều tra

Trang 30

A Nhóm các thông tin cơ bản

- Nghèo: Thu nhập bình

đồng/người/tháng

- Không nghèo: 400.000 đ/người/tháng

Biến nhị phân Phỏng vấn

6 Số con trong gia

đình

Tổng số con hiện đang có Biến thứ bậc Phỏng vấn

B Nhóm biến kiến thức của bà mẹ về bệnh NKHHCT

1 Biến kiến thức về nhận biết dấu hiệu và phòng bệnh NKHHCT của bà mẹ

HUPH

Trang 31

1 Nghe đến

NKHHCT

Đối tượng đã bao giờ nghe đến bệnh NKHHCT trẻ em chưa

Phỏng vấn

3 Dấu hiệu của bệnh Nhận biết của bà mẹ về các

dấu hiệu của bệnh đường

Trang 32

5 Tác hại dùng

kháng sinh không

đúng cách

Bà mẹ biết những tác hại của việc dùng kháng sinh không hợp lý

Biến nhị phân Phỏng vấn

6 Chăm sóc trẻ,

nuôi dƣỡng trẻ

Cách chăm sóc, nuôi dƣỡng con của các bà mẹ (cho ăn uống, theo dõi bệnh, làm giảm ho, sốt)

Biến nhị phân

Thời gian bà mẹ bắt đầu

cho con bú sau khi sinh

Biến nhị phân Phỏng vấn

5 Dịch vụ y tế Trẻ đƣợc tiêm chủng, uống

vitamin A đầy đủ, đúng lịch

Biến nhị phân

2 Biến thực hành về xử trí, chăm sóc của bà mẹ

(Bà mẹ có con bị bệnh trong 2 tuần vừa qua)

1 Thời gian đƣa trẻ

đi khám lần đầu

Thời gian từ lúc phát hiện bệnh đến lúc đƣa trẻ đi khám

Biến thứ bậc Phỏng vấn

2 Địa điểm đƣa trẻ

đi khám

Nơi đƣa trẻ đến khám và điều trị khi trẻ bị bệnh

Biến định danh

Phỏng vấn

HUPH

Trang 33

Biến nhị phân

Phỏng vấn

6 Theo dõi trẻ Cách bà mẹ theo dõi con

khi con bị bệnh

Biến nhị phân Phỏng vấn

7 Chăm sóc trẻ Cách bà mẹ cho con ăn, bú

vệ sinh, giữ ấm cho con khi con bị bệnh

Biến nhị phân

Phỏng vấn

4 Một số chỉ tiêu đánh giá

4.1 Chỉ tiêu đánh giá

4.1.1 Đánh giá về kiến thức

- Tỷ lệ bà mẹ nhận biết đƣợc các dấu hiệu của bệnh

- Tỷ lệ bà mẹ biết cách phòng bệnh cho con

- Tỷ lệ bà mẹ biết các yếu tố nguy cơ mắc NKHHCT

- Tỷ lệ bà mẹ biết xử trí khi trẻ bị bệnh

- Tỷ lệ bà mẹ biết chăm sóc, nuôi dƣỡng khi trẻ mắc NKHHCT

- Tỷ lệ bà mẹ biết tác hại của việc dùng kháng sinh không đúng

- Đánh giá chung kiến thức của bà mẹ về NKHHCT

4.1.2 Đánh giá về thực hành

- Tỷ lệ trẻ mắc NKHHCT trong 14 ngày

- Tỷ lệ bà mẹ đƣa con đến cơ sở y tế khám chữa bệnh kịp thời

- Tỷ lệ bà mẹ thực hành đúng nuôi dƣỡng, chăm sóc khi trẻ bị bệnh

- Tỷ lệ bà mẹ dùng kháng sinh hợp lý

- Đánh giá chung về thực hành của bà mẹ về NKHHCT

HUPH

Trang 34

4.1.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của các bà mẹ

- Tuổi của bà mẹ, trình độ học vấn của bà mẹ

- Nghề nghiệp của bà mẹ

- Tình trạng kinh tế gia đình

- Hình thức tiếp cận thông tin

4.2 Cách tính điểm, đánh giá kiến thức, thực hành của bà mẹ

* Cách đánh giá về kiến thức và thực hành của các bà mẹ được xây dựng dựa trên tài liệu của chương trình NKHHCT Quốc Gia và mục tiêu của đề tài (phụ lục 4)

Cụ thể như sau:

Trong mỗi câu hỏi bà mẹ trả lời đúng là được điểm (1 điểm), trả lời sai hoặc không trả lời thì không được điểm

- Đánh giá kiến thức của bà mẹ: Khi trả lời các câu hỏi trong phần kiến thức,

nếu bà mẹ trả lời và số điểm đạt trên 50% tổng điểm kiến thức Kiến thức đạt, còn lại là không đạt

- Đánh giá thực hành của bà mẹ: Khi trả lời các câu hỏi trong phần thực hành

xử trí, chăm sóc nếu bà mẹ trả lời và số điểm đạt trên 50% tổng điểm  thực hành

xử trí đạt yêu cầu, còn lại là không đạt

5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

- Nghiên cứu của chúng tôi chỉ nhằm đưa ra những con số thực tế về kiến thức, thực hành của các bà mẹ Những số liệu thu được chỉ phục vụ cho nghiên cứu và đảm bảo bí mật

- NKHHCT ở trẻ em là vấn đề được cộng đồng, các cấp chính quyền cũng như ngành y tế của huyện rất quan tâm nên nghiên cứu được sự đồng tình ủng hộ của người dân, các cấp chính quyền và sự cho phép của lãnh đạo Trạm Y tế xã , TTYT Tiên Du

- Đối tượng được lựa chọn trong nghiên cứu hoàn toàn tự nguyện

- Nghiên cứu này không gây ảnh hưởng tới thể chất, tinh thần của đối tượng nghiên cứu bở vì các phương pháp thu thập số liệu chỉ đơn thuần là phỏng vấn, thảo luận nhóm không sử dụng thủ thuật hoặc xét nghiệm

HUPH

Trang 35

- Nội dung phỏng vấn, thảo luận nhóm không chứa đựng các nội dung nhạy cảm hoặc riêng tư

6 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số:

6.1 Hạn chế của nghiên cứu

- Nghiên cứu của chúng tôi chỉ tiến hành tại một xã, chỉ mang tính trường hợp, kinh phí và thời gian có hạn

- Về khả năng nhớ lại của bà mẹ về thực hành xử trí, chăm sóc khi trẻ mắc bệnh là hạn chế Chỉ qua phỏng vấn không có quan sát

6.2 Sai số và biện pháp khắc phục sai số

- Sai số do thu thập thông tin, sai số nhớ lại: Do đặc thù công việc, nghề nghiệp mà bà mẹ có thể trả lời qua loa, không chính xác

- Khắc phục: Trước khi phỏng vấn, ĐTV giới thiệu mục đích của nghiên cứu cho bà mẹ Động viên bà mẹ trả lời câu hỏi, chọn thời điểm phỏng vấn phù hợp

- Thiết kế các câu hỏi phỏng vấn ngắn gọn, dễ hiểu, không có tính chất gợi ý

- Tiến hành phỏng vấn thử để kiểm tra chất lượng bộ câu hỏi và chất lượng thông tin, từ đó điều chỉnh cho phù hợp

- Tham khảo các tài liệu, các ý kiến của chuyên gia

- Tập huấn điều tra viên, cung cấp tài liệu hướng dẫn

- Giám sát thu thập số liệu

HUPH

Trang 36

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Kết quả nghiên cứu định lượng

1.1 Thông tin chung của bà mẹ

Bảng 1: Phân bố tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, kinh tế gia đình của bà

Nhận xét: Trong nghiên cứu này, đa số các bà mẹ tập trung chủ yếu ở

nhóm tuổi từ 30 tuổi trở xuống (chiếm 80,4%), trình độ học vấn của các bà mẹ nhiều nhất là có trình độ THCS (chiếm 44,4%), các bà mẹ có trình độ từ trung cấp dạy nghề trở lên chiếm tỷ lệ rất ít Do xã Minh Đạo – Tiên Du là xã sản suất nông

HUPH

Trang 37

nghiệp là chủ yếu, nhưng đồng thời đã có các nhà máy của khu công nghiệp ở gần, cho nên trong nghiên cứu này nghề chủ yếu của các bà mẹ là nghề nông (chiếm 50,8%) và công nhân (chiếm 40,4%), còn lại các nghề khác chiếm tỷ lệ rất thấp Minh Đạo là một xã nghèo của huyện, kinh tế kém phát triển nên trong nghiên cứu này các bà mẹ có hộ gia đình xếp vào diện hộ nghèo có một nửa (50% )

1.2 Kiến thức của bà mẹ về NKHHCT

1.2.1 Kiến thức về nhận biết dấu hiệu bệnh

Bảng 2: Tỷ lệ bà mẹ biết về các dấu hiệu bệnh

Dấu hiệu Tần suất Tỷ lệ %

Nhận xét: Trong nghiên cứu này, phần lớn các bà mẹ đều biết ho là triệu

chứng của NKHHCT (chiếm 93.6%), sau đó là khó thở (58,8%), sốt, chảy nước mũi, thở nhanh đều chiếm dưới 50% Các triệu chứng của viêm phổi nặng, rất nặng (rút lõm lồng ngực, tím tái, co giật, bỏ bú, không uống được…) có rất ít bà mẹ biết đến

Bảng 3: Tỷ lệ bà mẹ biết về các dấu hiệu nguy hiểm của NKHHCT

HUPH

Trang 38

Nhận xét: Với các dấu hiệu nguy hiểm của bệnh, có 4 bà mẹ (1,6%) không

biết đƣợc dấu hiệu nào Có 63,6% số bà mẹ (chiếm tỷ lệ cao nhất) cho biết co giật là dấu hiệu nguy hiểm, sau đó là thở nhanh tím tái ( chiếm 40,8%), bỏ bú, không uống đƣợc là 38,8%, thở rít khi nằm im chiếm 30,0%, dấu hiệu rút lõm lồng ngực ít đƣợc các bà mẹ biết đến (17,6%)

1.2.2 Kiến thức xử trí, chăm sóc trẻ bị NKHHCT

Bảng 4: Tỷ lệ bà mẹ xử trí đúng khi trẻ bị bệnh

Xử trí đầu tiên Tần suất Tỷ lệ %

Đƣa trẻ đi khám tại cơ sở y tế (Bệnh viện, Trạm Y tế, thầy

Nhận xét: Kiến thức về xử trí khi trẻ bị bệnh thì đa số các bà mẹ trả lời

đúng, hầu hết là đƣa trẻ khi khám tại cơ sở y tế (86,4%), có 34 bà mẹ(13,6%) cho

biết là tự mua thuốc chữa trị tại nhà

Bảng 5: Tỷ lệ bà mẹ biết tác hại của việc dùng kháng sinh không hợp lý

Hiểu biết (n = 250) Tần suất Tỷ lệ %

HUPH

Trang 39

Bệnh không khỏi 127 50,8

Nhận xét: Trong nghiên cứu này, các bà mẹ có biết tác hại của việc dùng

kháng sinh không hợp lý Tuy nhiên, tần suất bà mẹ hiểu đúng (làm nhờn thuốc, lần sau khó điều trị, làm trẻ yếu đi) lại chiếm tỷ lệ thấp hơn (40,4%; 36% và 1,6%) hiểu chưa đúng là bệnh không khỏi (50,8%) Có 11,6% các bà mẹ chưa biết tác hại của việc dùng kháng sinh không hợp lý

Bảng 6: Tỷ lệ bà mẹ hiểu biết về chăm sóc trẻ bị bệnh

Hiểu biết (n = 250) Tần suất Tỷ lệ %

Nhận xét: Trong nghiên cứu, chỉ có hiểu biết về làm giảm ho, sốt của các

bà mẹ là chiếm tỷ lệ cao (71,2%) Hầu hết các bà mẹ hiểu biết về từng cách chăm sóc trẻ bệnh đều chiếm tỷ lệ dưới 50%; cho ăn tốt hơn chiếm 47,6%; theo dõi trẻ bệnh chiếm 40,8%; làm thông thoáng đường thở chiếm 34,4% và cho uống nhiều hơn chiếm 10,4% Đặc biệt, có 4,8% các bà mẹ không biết về chăm sóc trẻ bệnh

như thế nào

Bảng 7: Tỷ lệ bà mẹ biết về các yếu tố nguy cơ gây mắc NKHHCT

Yếu tố nguy cơ (n = 250) Tần suất Tỷ lệ %

HUPH

Trang 40

Nhận xét: Về các yếu tố nguy cơ gây mắc bệnh, có tới 230 bà mẹ ( chiếm

92%) cho biết là yếu tố thời tiết, 34% bà mẹ cho biết là nuôi dưỡng kém, tiêm phòng không đầy đủ là yếu tố nguy cơ được 28,4% bà mẹ trả lời Còn lại các yếu tố

Nhận xét: Trong các cách phòng bệnh cho trẻ, có 69,6% bà mẹ cho biết

cần nuôi dưỡng trẻ tốt, 51,6% bà mẹ cho biết là tiêm phòng đầy đủ, còn lại đều dưới 50% bà mẹ hiểu biết về phòng bệnh cho trẻ, đặc biệt không có bà mẹ nào cho biết

ăn sam đúng cũng giúp dự phòng bệnh

HUPH

Ngày đăng: 27/07/2023, 01:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w