1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiến thức, thái độ về phòng sốt xuất huyết dengue và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường trung học cơ sở thới thuận, quận thốt nốt, thành phố cần thơ, năm 2022

102 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiến thức, thái độ về phòng sốt xuất huyết dengue và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường trung học cơ sở Thới Thuận, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ
Tác giả Nguyễn Trần Phúc Thành
Người hướng dẫn TS Đỗ Mạnh Cường
Trường học Trường đại học Y tế công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU (13)
    • 1.1. Tổng quan về tình hình bệnh sốt xuất huyết Dengue (13)
    • 1.2. Thực trạng kiến thức, thái độ về phòng sốt xuất huyết Dengue ở học sinh (18)
    • 1.3. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về phòng sốt xuất huyết (24)
    • 1.4. Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu (27)
    • 1.5. Khung lý thuyết (28)
  • CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (30)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (30)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (30)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (30)
    • 2.4. Cỡ mẫu (30)
    • 2.5. Phương pháp chọn mẫu (31)
    • 2.6. Các biến số nghiên cứu (32)
    • 2.7. Tiêu chuẩn và cách đánh giá (32)
    • 2.8. Phương pháp thu thập số liệu (0)
    • 2.9. Phương pháp xử lí và phân tích số liệu (36)
    • 2.10. Đạo đức nghiên cứu (36)
  • CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (0)
    • 3.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (37)
    • 3.2. Kiến thức, thái độ về phòng sốt xuất huyết Dengue ở học sinh trung học cơ sở (40)
  • CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN (0)
    • 4.1. Kiến thức và thái độ về phòng sốt xuất huyết Dengue ở học sinh trung học cơ sở (55)
    • 4.2. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về phòng sốt xuất huyết (64)
  • KẾT LUẬN (93)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (0)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Học sinh đang học tại trường trung học cơ sở Thới Thuận, quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

- Học sinh đang theo học các khối lớp 6, 7, 8, 9;

- Tự nguyện tham gia nghiên cứu;

- Được sự chấp thuận từ phụ huynh học sinh.

- Học sinh vắng mặt trong thời gian nghiên cứu;

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 12/2021 đến tháng 8/2022 Trong đó, thời gian thu thập số liệu thực địa bắt đầu từ tháng 01/2022 đến tháng 05/2022.

Trường trung học cơ sở Thới Thuận thuộc phường Thới Thuận, quận ThốtNốt, thành phố Cần Thơ.

Thiết kế nghiên cứu

Cỡ mẫu

Áp dụng công thức ước lượng 1 tỷ lệ:

- n: cỡ mẫu tối thiểu cần nghiên cứu.

- z(1 - α/2)= 1,96 (kết quả mong muốn với độ tin cậy 95%)

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hải Đăng tại quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ cho thấy tỷ lệ kiến thức của nhóm học sinh cấp II đạt 85,7%, trong khi tỷ lệ thái độ tích cực chỉ đạt 47,6% Do đó, chúng tôi chọn p = 0,476.

- d: sai số tuyệt đối, chọn d=0,07.

- DE: hiệu lực thiết kế nghiên cứu Do có 04 khối lớp cần chọn nên DE=2

Cỡ mẫu nghiên cứu được tính toán là 430 mẫu, với việc đề phòng hao hụt 10% trong quá trình nghiên cứu Tuy nhiên, thực tế chỉ có 423 học sinh phù hợp với các tiêu chí đã chọn, do đó cỡ mẫu cuối cùng của chúng tôi là 423 mẫu.

Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu cụm Mỗi cụm được xem là một lớp học Thực hiện trình tự theo các bước sau

Bước đầu tiên là xác định kích cỡ cụm bằng cách lập danh sách số lớp học và tổng số học sinh luỹ tích theo từng lớp Theo thống kê, trường hiện có 1.072 học sinh, với mỗi khối có 08 lớp và số lượng trung bình mỗi lớp là 33 học sinh.

Để đạt được cỡ mẫu mong muốn, cần xác định số lượng cụm cần chọn, với mỗi cụm trung bình có 33 học sinh Do đó, tối thiểu cần 13 cụm được chia đều.

4 khối lớp Vậy mỗi khối lớp được chọn trung bình là 03 lớp Đối với cụm cuối cùng được chọn bằng cách bóc thăm ngẫu nhiên các lớp còn lại.

Bước 3: Chọn ngẫu nhiên 03 lớp trong tổng số 08 lớp theo từng khối bằng phương pháp bóc thăm có hoàn lại.

Lớp 6 Lớp 7 Lớp 8 Lớp 9 Tổng

(*) Không mang phiếu sau 02 thời điểm thu nhận, rách, tẩy xoá, chưa hoàn tất, không đồng ý tham gia.

Các biến số nghiên cứu

Biến số chính bao gồm các biến số chính:

Nhóm biến số này cung cấp thông tin tổng quát về đặc điểm của đối tượng nghiên cứu, bao gồm giới tính, cấp lớp học, dân tộc, số lượng thành viên trong gia đình, tiền sử cá nhân về bệnh sốt xuất huyết (SXH) và tình trạng có người trong gia đình từng mắc SXH trong 3 năm gần đây.

Nhóm biến số về mô tả kiến thức về phòng sốt xuất huyết Dengue bao gồm 03 phần:

- Kiến thức về muỗi gây bệnh sốt xuất huyết Dengue (gồm 06 biến)

- Kiến thức về các dấu hiệu nhận biết và xử trí khi mắc và phòng sốt xuất huyết Dengue (gồm 04 biến)

- Kiến thức về các biện pháp phòng sốt xuất huyết Dengue (gồm 02 biến)

Nhóm biến số về thái độ phòng ngừa sốt xuất huyết Dengue bao gồm 09 biến được xây dựng dựa trên thang đo Likert 5 mức độ, từ “rất đồng ý” đến “rất không đồng ý”.

Nhóm biến số về các yếu tố tăng cường tiếp cận phòng sốt xuất huyếtDengue (gồm 05 biến).

Tiêu chuẩn và cách đánh giá

2.7.1 Đánh giá vè kiến thức phòng sốt xuất huyết Dengue

K11 Chọn các biện pháp diệt lăng quăng (mỗi biện pháp 1 điểm) 6

K12 Chọn các biện pháp phòng tránh muỗi đốt (mỗi biện pháp

Kiến thức chung về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của học sinh được đánh giá thông qua việc tổng hợp điểm từ từng câu hỏi trong phần kiến thức, với tổng số câu hỏi là

Trong nghiên cứu về kiến thức phòng bệnh SXHD, 12 câu hỏi được đưa ra để đánh giá Kiến thức được xem là đạt khi tổng điểm của người tham gia lớn hơn giá trị trung bình (Mean), trong khi kiến thức không đạt khi tổng điểm nhỏ hơn giá trị trung bình này.

2.7.2 Đánh giá thái độ về bệnh sốt xuất huyết Dengue

Dựa vào nhóm các biến số về thái độ bệnh sốt xuất huyết Dengue

Bài viết đề cập đến 09 câu hỏi nhằm đánh giá thái độ của học sinh về bệnh sốt xuất huyết Dengue Điểm thái độ được tính bằng cách tổng hợp điểm của từng câu hỏi, với mỗi câu có thang điểm từ 1 đến 5, dẫn đến tổng điểm thái độ của mỗi học sinh dao động từ 9 đến 45 điểm Thái độ chung được phân loại thành hai cấp độ: thái độ tích cực khi tổng điểm vượt quá giá trị trung bình (Mean), và thái độ không tích cực cho những trường hợp còn lại.

- Bộ câu hỏi soạn sẵn (đính kèmPhụ lục 2).

- Trước khi tiến hành phát vấn tại thực địa, bộ câu hỏi được thử nghiệm trên

10 học sinh ngẫu nhiên nhằm rút kinh nghiệm, điều chỉnh ngôn từ và bổ sung những câu hỏi phù hợp.

- Bộ câu hỏi bao gồm 3 phần

+ Thông tin về đặc điểm nhân khẩu học (06 câu hỏi)

+ Kiến thức về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue (12 câu hỏi)

+ Thái độ về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue (09 câu hỏi)

+ Các yếu tố tăng cường tiếp cận phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue (05 câu hỏi).

2.8.2 Người thu thập số liệu Điều tra viên bao gồm chủ nhiệm đề tài, cán bộ nhân viên y tế phường Thới Thuận và cán bộ y tế trường THCS Thới Thuận Trước khi phát phiếu điều tra cho học sinh tự điền, điều tra viên gặp gỡ và trao đổi nội dung với giáo viên chủ nhiệm và các học sinh tại mỗi lớp đã được chọn nhằm hướng dẫn học sinh đánh dấu trả lời câu hỏi, đồng thời hẹn ngày thu phiếu điều tra tại 02 thời điểm.

2.8.3 Kỹ thuật thu thập số liệu

Phát vấn được thực hiện tại hai thời điểm là giờ ra chơi và tan học, sử dụng bộ câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn Trước khi phát bộ câu hỏi, các đối tượng nghiên cứu sẽ được thông tin rõ ràng về mục đích, quyền lợi và tính bảo mật thông tin Học sinh cũng sẽ được hướng dẫn về việc xác nhận sự đồng ý tham gia nghiên cứu từ phụ huynh và cách trả lời vào phiếu Đặc biệt, cán bộ phát vấn không được phép gợi ý, dẫn dắt hoặc giải thích thêm trong quá trình phỏng vấn.

Sau khi hoàn thành mỗi phiếu điều tra, các cán bộ điều tra sẽ ngay lập tức kiểm tra tính hoàn chỉnh và sự phù hợp của phiếu Nếu phiếu điều tra chưa hoàn tất, nó sẽ bị loại bỏ.

2.9 Phương pháp xử lí và phân tích số liệu

- Trước khi nhập liệu các phiếu phát vấn sẽ được cán bộ nhập liệu xem xét kỹ, những trường hợp thiết sót sẽ được huỷ.

- Số liệu được nhập và làm sạch bằng phần mềm Microsoft Excel.

Phân tích và xử lý số liệu được thực hiện bằng phần mềm SPSS 20.0, trong đó các biến định tính được mô tả qua tần số (n) và tỷ lệ (%) Các yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ phòng ngừa sốt xuất huyết Dengue được đo bằng tỷ số OR và khoảng tin cậy 95% để ước lượng mối liên quan Kiểm định Chi Square test được áp dụng với mức ý nghĩa 5% để xác định sự khác biệt Đối với các trường hợp có số ô có giá trị kỳ vọng nhỏ hơn 5, kết quả sẽ được điều chỉnh theo Fisher’s Exact Test.

Tất cả các đối tượng nghiên cứu được thông báo rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu Nghiên cứu chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của người tham gia và sự chấp thuận của cha mẹ hoặc người giám hộ, đồng thời đảm bảo không có xung đột lợi ích giữa cha mẹ và trẻ Các đối tượng có quyền từ chối tham gia hoặc chấm dứt bất kỳ lúc nào trong quá trình nghiên cứu Mọi thông tin cá nhân của đối tượng sẽ được bảo mật và chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu, với quyền truy cập chỉ dành cho người nghiên cứu.

Nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội phê duyệt với số 95/2022/YTCC-HD3, xác nhận các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học vào ngày 14/4/2022.

Phương pháp xử lí và phân tích số liệu

- Trước khi nhập liệu các phiếu phát vấn sẽ được cán bộ nhập liệu xem xét kỹ, những trường hợp thiết sót sẽ được huỷ.

- Số liệu được nhập và làm sạch bằng phần mềm Microsoft Excel.

Phân tích và xử lý số liệu được thực hiện bằng phần mềm SPSS 20.0, trong đó các biến định tính được mô tả qua tần số (n) và tỷ lệ (%) Các yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ phòng ngừa sốt xuất huyết Dengue được đo bằng tỷ số OR và khoảng tin cậy 95% để ước lượng mối liên quan Kiểm định Chi Square test được áp dụng với mức ý nghĩa 5% để xác định sự khác biệt Đối với các trường hợp có số ô có giá trị kỳ vọng nhỏ hơn 5, kết quả sẽ được điều chỉnh theo Fisher’s Exact Test.

Đạo đức nghiên cứu

Tất cả các đối tượng nghiên cứu sẽ được thông báo rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu Nghiên cứu chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của người tham gia và sự chấp thuận từ cha mẹ hoặc người giám hộ, đảm bảo không có xung đột lợi ích giữa cha mẹ và trẻ Các đối tượng có quyền từ chối tham gia hoặc chấm dứt bất kỳ lúc nào trong quá trình nghiên cứu Mọi thông tin cá nhân sẽ được bảo mật và chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu, với quyền truy cập chỉ dành cho người nghiên cứu.

Nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội phê duyệt với số 95/2022/YTCC-HD3, xác nhận các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học vào ngày 14/4/2022.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3 1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (nB3)

Nội dung (nB3) Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Số lượng thành viên trong gia đình

Bản thân từng bị SXH Có 20 4,7

Gia đình có người từng mắc SXH trong 3 năm gần đây

Trong nghiên cứu về phân bố giới tính của học sinh trung học cơ sở, nam giới chiếm 50,8% và nữ giới là 49,2% Tỷ lệ học sinh theo cấp lớp lần lượt là lớp 6 (22%), lớp 7 (22,9%), lớp 8 (22,5%) và lớp 9 (32,6%) Dân tộc Kinh chiếm 98,1% trong tổng thể nghiên cứu Về số lượng thành viên trong gia đình, 13% có từ 2-3 người và 66,7% có từ 3-5 người Đáng chú ý, 4,7% đối tượng nghiên cứu đã từng mắc sốt xuất huyết.

HUPH trước đây và có 8% đối tượng có người nhà đã từng mắc SXH trong 03 năm gần đây.

Bảng 3 2 Nguồn thông tin về sốt xuất huyết Dengue của đối tượng nghiên cứu

Nguồn thông tin về SXH (nB3) Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Loa, đài xã hoặc trong trường 266 62,9

Tranh ảnh, tờ rơi, ap-phich… 72 17,0

Nguồn thông tin chính về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue chủ yếu đến từ tivi (84,9%), tiếp theo là Internet (76,8%) và cô giáo (75,7%), được học sinh đánh giá là đáng tin cậy Cán bộ y tế cũng là nguồn thông tin quan trọng với tỷ lệ 72,3%, trong khi thông tin từ người thân chiếm 68,3% Sách, báo, tạp chí cung cấp 64,5% thông tin, và bạn bè, hàng xóm đóng góp 63,4% Loa, đài xã hoặc trong trường có tỷ lệ 62,9%, trong khi tranh ảnh, tờ rơi, áp-phích chỉ chiếm 17%.

Bảng 3 3 Các hoạt động của nhà trường về phòng sốt xuất huyết Dengue của đối tượng nghiên cứu (nB3)

Nội dung Tần số (n) Tỷ lệ (%)

SXHD từ thầy cô Đã từng 359 84,9

Các hoạt động lồng ghép phòng bệnh SXHD

Tần suất nghe thông tin

Trong nghiên cứu với 423 học sinh, có 84,9% đã nghe thông tin về SXHD từ bài giảng của thầy cô Các hoạt động lồng ghép phòng bệnh SXHD bao gồm sinh hoạt dưới cờ (74,2%), hoạt động kỹ năng sống (5,4%), hoạt động ngoại khoá (9,5%) và hoạt động tổng vệ sinh trường (9,9%).

Tần suất nghe thông tin về phòng bệnh SXHD trong khoảng thời gian từ 1-3 tháng đạt 48,9% Trong khi đó, có 12,3% và 19,6% đối tượng đã tiếp cận thông tin trong khoảng 6-12 tháng và trên 12 tháng Khi nhận được thông tin, tỷ lệ đối tượng chia sẻ cho bạn bè cũng được ghi nhận.

65% và cho người thân là 30,7% HUPH

Kiến thức, thái độ về phòng sốt xuất huyết Dengue ở học sinh trung học cơ sở

Bảng 3 4 Kiến thức về muỗi gây bệnh sốt xuất huyết Dengue của đối tượng nghiên cứu (nB3)

Chưa đúng n (%) Đường lây truyền của bệnh SXHD 417 (98,6) 06 (1,4)

Nơi lăng quăng thường sống 317 (74,9) 106 (25,0)

Thời điểm muỗi hoạt động 107 (25,3) 316 (74,7)

Tỷ lệ người dân hiểu biết về đường lây truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue đạt 98,6%, trong khi 97,9% biết nơi muỗi đẻ trứng và 96,9% nhận thức được nơi trú ẩn của muỗi Tuy nhiên, chỉ có 25,3% người biết đúng thời điểm muỗi hoạt động, và 74,9% biết nơi lăng quăng thường sống.

3.2.1.2 Kiến thức về các dấu hiệu nhận biết bệnh sốt xuất huyết Dengue

Bảng 3 5 Kiến thức về các dấu hiệu nhận biết bệnh sốt xuất huyết Dengue của đối tượng nghiên cứu

Nội dung Tần số Tỷ lệ

Những biểu hiện sớm của bệnh SXHD Đau cơ, khớp, đau nhức 02 hố mắt 224 53,0

Sốt cao liên tục từ 2-7 ngày 177 41,8

Nhức đầu, chán ăn, buồn nôn, nôn 95 22,5

Những biểu hiện nặng của bệnh SXHD

Chảy máu mũi, chảy máu chân răng, ói ra máu hoặc đi tiêu ra máu 346 81,8

Nôn ói dữ dội 82 19,4 Đau bụng nhiều 31 7,3

Xử trí khi có người mắc

Theo dõi sức khỏe và đưa đến

Uống thuốc hạ sốt Paracetamol, lau mát 81 19,1

Nghĩ ngơi, tránh vận động mạnh, uống nhiều nước 43 10,2

Bệnh sốt xuất huyết Dengue có những dấu hiệu nhận biết quan trọng mà mọi người cần chú ý Các triệu chứng sớm của bệnh bao gồm sốt cao liên tục từ 2-7 ngày (41,8%), nhức đầu, chán ăn, buồn nôn (22,5%), và đau cơ khớp, đau nhức 02 hố mắt (53%) Ngoài ra, da xung huyết phát ban và triệu chứng vật vã li bì xuất hiện với tỷ lệ lần lượt là 9,2% và 7,6% Đáng lưu ý, có 4,7% học sinh không biết về những biểu hiện sớm của bệnh này.

Tỷ lệ người biết các biểu hiện nặng của bệnh sốt xuất huyết Dengue như chảy máu mũi, chảy máu chân răng, ói ra máu hoặc đi tiêu ra máu đạt 81,8% Trong khi đó, triệu chứng nôn ói dữ dội được nhận biết bởi 19,4% học sinh, và 13,4% học sinh biết rằng đau bụng nhiều là dấu hiệu nặng của bệnh.

Tỷ lệ người biết cách xử trí khi người khác mắc SXHD rất cao, với 87,7% chọn theo dõi sức khỏe và đưa đến cơ sở y tế gần nhất Ngoài ra, 19,1% người cho biết sẽ uống thuốc hạ sốt hoặc lau mát, trong khi 10,2% nghĩ rằng nghỉ ngơi và tránh vận động mạnh là biện pháp cần thiết.

Bảng 3 6 Kiến thức về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của đối tượng nghiên cứu (nB3)

Nội dung (nB3) Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Bệnh SXHD có thể phòng ngừa được 323 78,5

Thuốc điều trị đặc hiệu SXHD 66 15,6

Vắc-xin phòng ngừa SXHD 25 5,9

Tỷ lệ người hiểu rằng sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh có thể phòng ngừa được đạt 78,5% Trong khi đó, chỉ có 15,6% học sinh tin rằng có thuốc điều trị đặc hiệu cho SXHD, và 5,9% cho rằng có vắc-xin phòng ngừa bệnh này.

3.2.1.3 Kiến thức về các biện pháp phòng sốt xuất huyết Dengue

Bảng 3 7 Kiến thức về diệt lăng quăng, bọ gậy của đối tượng nghiên cứu (nB3)

Nội dung Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Cọ rửa, dọn dẹp các dụng cụ chứa nước thường xuyên 333 78,7

Thả cá ăn lăng quăng 303 71,6

Thay nước lọ cắm hoa, chun nước cúng 261 61,7

Thả muối vào kệ gác bếp 241 57,0 Đậy kín các dụng cụ chứa nước 110 26,0

Không vứt các vật dụng phế thải bừa bãi 65 15,4

Kiến thức về các biện pháp phòng ngừa sốt xuất huyết (SXHD) là rất quan trọng Tỷ lệ học sinh nắm vững kiến thức về việc diệt lăng quăng và bọ gậy bao gồm các kỹ năng như cọ rửa và dọn dẹp các dụng cụ chứa nước thường xuyên.

Tại HUPH, tỷ lệ nước cắm lọ hoa và chun nước cúng đạt 61,7%, trong khi 57% đối tượng biết thả muối vào kệ gác bếp Chỉ có 26% học sinh biết đậy kín các dụng cụ chứa nước, và tỷ lệ học sinh không vứt rác bừa bãi chỉ đạt 15,4% Đáng chú ý, có 01 học sinh không nắm vững kiến thức về diệt lăng quăng, bọ gậy, chiếm 0,02%.

Bảng 3 8 Tỷ lệ biết các phương pháp về diệt lăng quăng, bọ gậy của đối tượng nghiên cứu (nB2)

Nội dung Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Biết 04 phương pháp trở lên 241 57,1

Tỷ lệ học sinh biết từ 04 phương pháp diệt lăng quăng, bọ gậy chiếm 57,1%, trong khi 27% chỉ biết 01 phương pháp Ngoài ra, có 10% học sinh biết 02 phương pháp và 5,9% biết 03 phương pháp diệt lăng quăng, bọ gậy.

Bảng 3 9 Kiến thức về phòng muỗi đốt của đối tượng nghiên cứu (nB3)

Nội dung Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Sử dụng thuốc diệt muỗi, thuốc thoa chống muỗi 347 82,0

Sử dụng vợt bắt muỗi 254 60,0

Sử dụng nhang ung muỗi 125 29,6

Theo khảo sát, 82% học sinh đã biết sử dụng thuốc diệt muỗi hoặc thuốc thoa chống muỗi Tỷ lệ học sinh biết sử dụng mùng để phòng muỗi đốt đạt 72,3%, trong khi 61,2% biết mặc áo dài tay Việc sử dụng vợt bắt muỗi và nhang chống muỗi được thực hiện bởi 60% và 29,6% học sinh, tương ứng Tuy nhiên, chỉ có 11,3% học sinh cho rằng dùng quạt có thể giúp phòng muỗi đốt.

Bảng 3 10 Tỷ lệ biết các phương pháp phòng chống muỗi đốt của đối tượng nghiên cứu (nB2)

Nội dung Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Biết 04 phương pháp trở lên 248 58,8

Tỷ lệ đối tượng biết từ 04 phương pháp phòng muỗi đốt trở lên chiếm 58,8%, kế đến là biết 01 phương pháp chiếm 22,7%.

Bảng 3 11 Kiến thức chung và điểm kiến thức trung bình về phòng sốt xuất huyết Dengue của đối tượng nghiên cứu

Kiến thức chung Tần số (n) Tỷ lệ (%) Đúng 249 58,9

Trung bình: 15,03 điểm  3,20 điểm Giá trị lớn nhất: 22 điểm - Giá trị nhỏ nhất: 6 điểm

Điểm trung bình phần kiến thức của HUPH là 15,03 ± 3,02 điểm, với điểm cao nhất đạt 22 và thấp nhất là 6 Tỷ lệ học sinh có kiến thức chung đúng đạt 58,9%.

3.2.2 Thái độ về phòng sốt xuất huyết Dengue ở học sinh trung học cơ sở

Bảng 3.12 trình bày thái độ của đối tượng nghiên cứu về mức độ nguy hiểm của bệnh sốt xuất huyết Dengue, cũng như hiệu quả của việc diệt muỗi trong việc phòng tránh bệnh này.

Nội dung (nB3) Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Sốt xuất huyết Dengue là một bệnh nguy hiểm

Diệt muỗi hiệu quả giúp phòng tránh được bệnh sốt xuất huyết

Sốt xuất huyết Dengue được xem là một bệnh nguy hiểm, với 82,5% học sinh thể hiện quan điểm đồng ý về mức độ nghiêm trọng của bệnh Trong khi đó, 15,4% học sinh rất đồng ý với nhận định này Tỷ lệ học sinh không biết, không đồng ý và rất không đồng ý chỉ chiếm dưới 1,2%.

Theo khảo sát, có 68,3% học sinh rất đồng ý với quan điểm rằng diệt muỗi hiệu quả là biện pháp quan trọng để phòng tránh bệnh sốt xuất huyết, trong khi 29,1% học sinh cũng đồng ý với ý kiến này.

Bảng 3 13 Thái độ về nhiệm vụ phòng chống SXHD và thái độ về sử dụng hoá chất điệt muỗi của đối tượng nghiên cứu (nB3)

Nội dung (nB3) Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Phòng chống SXHD là nhiệm vụ của chính quyền, địa phương

Sử dụng hoá chất diệt muỗi hiệu quả hơn diệt lăng quăng

Thái độ của học sinh về vai trò của chính quyền và địa phương trong việc phòng chống sốt xuất huyết cho thấy 23,9% đồng ý và 8,9% rất đồng ý rằng đây là nhiệm vụ chỉ riêng của chính quyền địa phương, trong khi 59,8% không đồng ý với quan điểm này Về việc sử dụng hóa chất diệt muỗi, có 54,4% học sinh thể hiện thái độ rất không đồng ý và không đồng ý, chỉ có 14,4% đồng ý rằng sử dụng hóa chất diệt muỗi hiệu quả hơn diệt lăng quăng.

Bảng 3.14 trình bày thái độ của người dân về việc tham gia các hoạt động phòng chống sốt xuất huyết Dengue tại địa phương, cũng như thái độ của họ đối với việc cập nhật kiến thức về bệnh sốt xuất huyết.

Nội dung (nB3) Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Sẵn sàng tham gia các hoạt động phòng chống SXHD tại nhà trường và địa phương

Nên thường xuyên cập nhật kiến thức phòng chống

BÀN LUẬN

Kiến thức và thái độ về phòng sốt xuất huyết Dengue ở học sinh trung học cơ sở

Nghiên cứu về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào nhóm đối tượng từ 15 tuổi trở lên và cộng đồng đông dân cư, trong khi vai trò của học sinh trung học cơ sở chưa được chú trọng Một số tác giả như Nguyễn Lâm, Phạm Thị Nhã Trúc, Nguyễn Hải Đăng, và Nguyễn Đức Trường đã nghiên cứu nhóm đối tượng này, nhưng vẫn còn hạn chế Do đó, nghiên cứu này nhằm tìm hiểu kiến thức và thái độ của học sinh trung học cơ sở về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue, từ đó đưa ra khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng bệnh và giảm tỷ lệ mắc bệnh, góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng tại phường Thới Thuận và thành phố Cần Thơ.

4.1.1 Kiến thức về phòng sốt xuất huyết Dengue của đối tượng nghiên cứu. 4.1.1.1 Kiến thức chung về sốt xuất huyết Dengue Ở phần kiến thức chung các học sinh trả lời lần lượt 06 câu hỏi về đường lây truyền, nơi muỗi đẻ trứng, nơi muỗi trú ẩn, tên loại muỗi truyền bệnh, nơi lăng quăng thường sống, và thời điểm muỗi hoạt động Đa số trẻ có kiến thức, thông tin về đường lây truyền của bệnh (98,6%) kết quả này phù hợp với tác giả Nguyễn Hải Đăng (2012) tỷ lệ học sinh trả lời đúng là 98,2% (25), Nguyễn Đức Trường (2017)

Tỷ lệ học sinh HUPH nhận biết muỗi truyền bệnh đạt 92,5%, trong đó 92,9% biết đến muỗi vằn (Aedes aegypti), còn 7,1% nhầm lẫn với muỗi đòn xóc (Anopheles) gây sốt rét So với nghiên cứu của Nguyễn Đức Trường (2017) và Nguyễn Hải Đăng (2012), tỷ lệ trả lời đúng lần lượt là 67,4% và 73,4% Muỗi gây bệnh sốt xuất huyết Dengue có đặc điểm dễ nhận dạng với thân màu đen và đốm trắng trên lưng Việc sử dụng hình ảnh minh họa giúp học sinh ghi nhớ và nhận biết dễ dàng hơn Hiệu quả truyền thông gần đây với hình ảnh sinh động đã giúp học sinh phân biệt rõ hơn các loại muỗi và bệnh mà chúng gây ra.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ học sinh nhận biết đúng về nơi trú ẩn của muỗi, bao gồm quần áo, chăn màng, chỗ tối, ẩm thấp trong nhà và bụi cây rậm rạp ngoài vườn, đạt 96,9% Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thuỳ Dung (2014) với tỷ lệ 94,7% Những địa điểm này là nơi học sinh thường gặp muỗi trong nhà.

Nghiên cứu của Nguyễn Đức Trường (2017) cho thấy chỉ 81,4% đối tượng biết chính xác nơi muỗi đẻ trứng, thấp hơn so với nghiên cứu của chúng tôi và một số nghiên cứu khác Đặc biệt, muỗi Aedes thường đẻ trứng trong các dụng cụ chứa nước sạch, với 97,9% học sinh trả lời đúng, tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thuỳ Dung (2014) đạt 93,8% Trong khi đó, nghiên cứu của Nguyễn Hải Đăng (2012) chỉ ghi nhận 73,4% trả lời đúng về nơi muỗi đẻ trứng Cụ thể, tỷ lệ học sinh nhận biết các vật dụng như bát nước kê chân chạn là 50,4%, dụng cụ chứa nước sinh hoạt 53,1%, lọ hoa và chậu cảnh 71,4%, và vật dụng phế thải chứa nước 81,2% Điều này cho thấy học sinh có hiểu biết khá tốt về nơi lăng quăng, bọ gậy sinh sống, tạo ra một lợi thế trong việc phòng chống muỗi.

HUPH các em học sinh trung học cơ sở.

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trả lời đúng về thời điểm muỗi hoạt động (sáng sớm và chiều tối) chỉ đạt 25,3%, thấp hơn nhiều so với các nghiên cứu trước đó như của Nguyễn Đức Trường (2017) với 59,2% và Nguyễn Thị Thuỳ Dung (2014) với 65,9% Mặc dù muỗi Aedes aegypti hoạt động liên tục trong ngày, nhưng thời điểm đốt người cao nhất vẫn là sáng sớm và chiều tối Việc chỉ ghi nhớ một khoảng thời gian nhất định có thể khiến học sinh chủ quan và không chú ý đến các khoảng thời gian khác trong ngày, dẫn đến sự thờ ơ trong việc phòng chống muỗi đốt và thói quen không ngủ mùng vào ban ngày Do đó, cần tăng cường công tác truyền thông về thời gian hoạt động của muỗi để nâng cao nhận thức cộng đồng.

Một số học sinh vẫn nhầm lẫn về nơi lăng quăng sinh sống, với 25% cho rằng chúng sống ở ao hồ, sông suối hoặc ruộng lúa, trong khi thực tế, muỗi thường đẻ trứng ở những nơi gần gũi với con người như vật dụng quanh nhà, dụng cụ chứa nước, và các vật phế thải Trứng muỗi có thể tồn tại từ 6-9 tháng trong điều kiện khắc nghiệt, điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc truyền thông cho học sinh về vấn đề này Tỷ lệ học sinh biết nơi đẻ trứng của muỗi chỉ đạt 79,2%, theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hải Đăng (2012).

Học sinh chủ yếu tiếp cận thông tin qua các nguồn như tivi (84,9%), Internet (76,8%), thầy/cô giáo (75,7%) và cán bộ y tế (72,3%) Trong đó, tivi và Internet là hai nguồn thông tin đại chúng được học sinh quan tâm nhất, nhờ vào độ bao phủ lớn và tính dễ thực hiện của chúng.

Ngành y tế tại HUPH đang chú trọng hơn đến việc sử dụng truyền thông số qua mạng xã hội và các nền tảng trực tuyến, giúp tiếp cận đối tượng một cách dễ dàng hơn.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng, theo tác giả Lý Lệ Lan (2004), 94,7% người dân tại thành phố Hồ Chí Minh tiếp cận thông tin về sốt xuất huyết Dengue chủ yếu qua tivi Tương tự, tác giả Lê Thành Tài (2007) cũng chỉ ra rằng 87,1% thông tin đại chúng về bệnh này đến từ truyền hình Điều này cho thấy truyền thông qua tivi là phương tiện hiệu quả, dễ dàng tiếp cận cho mọi nhóm đối tượng Nhờ đó, học sinh trung học cơ sở tại Thới Thuận đã có những hiểu biết nhất định về bệnh sốt xuất huyết Dengue.

4.1.1.2 Kiến thức về các dấu hiệu nhận biết sớm của bệnh sốt xuất huyết Dengue

Kiến thức về nhận biết những biểu hiện sớm của bệnh sốt xuất huyết Dengue cho thấy 53% học sinh lựa chọn đau cơ, khớp và nhức 02 hố mắt, cao hơn so với 41,8% biết đến triệu chứng sốt cao liên tục từ 2-7 ngày Mặc dù sốt cao là triệu chứng phổ biến ở bệnh nhân sốt xuất huyết Dengue, nhưng sự nhầm lẫn với các bệnh khác khiến nhiều học sinh chọn triệu chứng đau cơ, đau khớp So với nghiên cứu của Nguyễn Đức Trường (2017), tỷ lệ nhận biết triệu chứng sốt cao liên tục thấp hơn nhiều, chỉ 84,2% Sự khác biệt này có thể do việc áp dụng Hướng dẫn 3705/QĐ-BYT ngày 22/8/2019, thay thế cho Quyết định 458/QĐ-BYT ngày 16/2/2011, phản ánh sự cập nhật trong hướng dẫn điều trị Ngoài ra, triệu chứng nhức đầu, chán ăn, buồn nôn, nôn chiếm 22,5%, trong khi triệu chứng da xung huyết phát ban và vật vã, li bì chỉ dưới 10% Có 4,7% học sinh không biết về các triệu chứng này.

Phụ huynh cần cảnh giác và thực hiện các biện pháp can thiệp sớm để giảm thiểu biến chứng và tỷ lệ tử vong ở trẻ em Nghiên cứu của Nguyễn Hải Đăng (2012) và Nguyễn Thị Thuỳ Dung (2014) cho thấy tỷ lệ này lần lượt là 96,7% và 96,6% Một số triệu chứng nặng được ghi nhận trong nghiên cứu của chúng tôi, như chảy máu mũi, chảy máu chân răng, nôn ói ra máu hoặc đi tiêu ra máu, đạt 81,8% Học sinh cho biết cách xử trí khi có người mắc SXHD là theo dõi sức khỏe và đưa đến cơ sở y tế gần nhất với tỷ lệ 87,7%, phản ánh thái độ tích cực của các em Tuy nhiên, cần lưu ý rằng có thể xảy ra sai số trong việc lựa chọn câu hỏi về các dấu hiệu nhận biết sớm do học sinh được phỏng vấn.

Theo khảo sát, 78,5% học sinh tin rằng bệnh sốt xuất huyết Dengue có thể phòng ngừa được, nhưng 15,6% vẫn cho rằng có thuốc điều trị đặc hiệu Điều này có thể do trẻ nhầm lẫn giữa việc điều trị bệnh và việc uống thuốc Cần làm rõ vấn đề này trong các nghiên cứu tiếp theo Chỉ 5,9% học sinh biết đến vắc-xin phòng ngừa sốt xuất huyết Dengue, trong khi hiện tại chỉ có vắc-xin Dengvaxia được cấp phép sử dụng, nhưng chưa được Bộ Y tế Việt Nam phê duyệt Một tỷ lệ nhỏ học sinh vẫn chưa hiểu rằng mỗi bệnh có loại vắc-xin phòng ngừa riêng, có thể gây nhầm lẫn với vắc-xin Covid trong bối cảnh dịch bệnh.

4.1.1.3 Kiến thức về các biện pháp phòng sốt xuất huyết Dengue

Trong các biện pháp diệt lăng quăng, 78,7% người dân chọn cọ rửa và dọn dẹp dụng cụ chứa nước thường xuyên Tiếp theo, 71,6% lựa chọn thả cá ăn lăng quăng Ngoài ra, biện pháp thay nước cho các chậu hoa hoặc dụng cụ cúng cũng được áp dụng.

Tỷ lệ học sinh thả muối vào kệ gác bếp là 57%, trong khi việc đậy kín các dụng cụ chứa nước và không vứt rác bừa bãi chỉ đạt lần lượt 26% và 15,4% Phân tích cho thấy 27% học sinh chọn một phương pháp, trong khi 57,1% biết từ bốn phương pháp trở lên Tỷ lệ này khác biệt so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thuỳ Dung (2014) là 96,2%, Nguyễn Hải Đăng (2012) là 92,2% và Nguyễn Lâm (2009) trước can thiệp là 81,2%.

Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ về phòng sốt xuất huyết

4.2.1 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về phòng sốt xuất huyết Dengue của đối tượng nghiên cứu

Trong nghiên cứu của chúng tôi, không có mối liên quan giữa giới tính và kiến thức chưa đạt với p=0,931>0,05, phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thuỳ Dung (2014) với p=0,11 (p>0,05) Ngược lại, nghiên cứu của Nguyễn Hải Đăng (2012) cho thấy nam giới có kiến thức phòng bệnh sốt xuất huyết kém hơn nữ giới gấp 2,36 lần với p=0,005 Đối với các cấp lớp học, chúng tôi cũng không tìm thấy mối liên quan với kiến thức phòng bệnh của học sinh trung học cơ sở, trong khi nghiên cứu của Nguyễn Thị Thuỳ Dung (2014) chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các cấp lớp học, với học sinh lớp 6 có kiến thức tốt hơn.

3 khối lớp còn lại (OR=2,26 – KTC95%: 1,27-4,04), p=0,0050,05 Chỉ 8% gia đình có người mắc SXH trong 3 năm qua, và có thể có sai lệch thông tin do sự nhớ lại không chính xác của đối tượng nghiên cứu, vì các triệu chứng như sốt và đau đầu có thể xuất hiện ở nhiều bệnh khác nhau Do đó, trẻ em có thể gặp khó khăn trong việc xác định bệnh mà người thân mắc phải có phải là SXH hay không, và họ sẽ nhớ rõ hơn nếu được người thân chia sẻ thông tin về bệnh này.

Mối liên quan giữa tần suất tiếp nhận thông tin và kiến thức phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue ở học sinh trung học cơ sở cho thấy rằng, học sinh có thời gian tiếp nhận thông tin phòng bệnh trên 6 tháng sẽ có kiến thức kém hơn, với tỷ lệ Odds Ratio (OR) là 0,33 (KTC95%: 0,22-0,52), cho thấy sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê Do đó, cần chú trọng đến hiệu quả của truyền thông và tăng cường tần suất truyền thông để nâng cao kiến thức phòng bệnh cho học sinh.

4.2.2 Một số yếu tố liên quan đến thái độ về phòng sốt xuất huyết Dengue của đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thuỳ Dung (2014) không phát hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa thái độ tích cực và giới tính, cũng như số lượng thành viên trong gia đình của học sinh (p>0,05) Tương tự, nghiên cứu của Nguyễn Hải Đăng (2012) cho thấy nam giới có thái độ không tích cực về phòng SXHD cao gấp 1,16 lần so với nữ sinh, nhưng cũng không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,517>0,05) Kết quả này hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi.

Nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa cấp lớp học và thái độ về phòng ngừa sốt xuất huyết Dengue, trong đó học sinh lớp 6 và 7 có thái độ không tích cực cao gấp 1,65 lần (KTC 95%: 1,11-2,44) so với học sinh lớp 8 và 9 Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p0,05, điều này cũng được tác giả Nguyễn Hải Đăng (2012) xác nhận.

Mối liên quan giữa kiến thức và thái độ ghi nhận cho thấy rằng kiến thức không chính xác có thể tác động tiêu cực đến thái độ của học sinh, với nguy cơ cao gấp 24,27 lần (KTC95%: 14,48-40,69) và p

Ngày đăng: 27/07/2023, 01:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. 1. Số ca mắc sốt xuất huyết Dengue trung bình/tháng tại 13 tỉnh - Kiến thức, thái độ về phòng sốt xuất huyết dengue và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường trung học cơ sở thới thuận, quận thốt nốt, thành phố cần thơ, năm 2022
Hình 1. 1. Số ca mắc sốt xuất huyết Dengue trung bình/tháng tại 13 tỉnh (Trang 16)
Bảng 1. 1. Tình hình mắc sốt xuất huyết Dengue tại thành phố Cần Thơ năm 2017-2018 - Kiến thức, thái độ về phòng sốt xuất huyết dengue và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường trung học cơ sở thới thuận, quận thốt nốt, thành phố cần thơ, năm 2022
Bảng 1. 1. Tình hình mắc sốt xuất huyết Dengue tại thành phố Cần Thơ năm 2017-2018 (Trang 17)
Bảng 3. 1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n=423) - Kiến thức, thái độ về phòng sốt xuất huyết dengue và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường trung học cơ sở thới thuận, quận thốt nốt, thành phố cần thơ, năm 2022
Bảng 3. 1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (n=423) (Trang 37)
Bảng 3. 2. Nguồn thông tin về sốt xuất huyết Dengue của đối tượng nghiên cứu - Kiến thức, thái độ về phòng sốt xuất huyết dengue và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường trung học cơ sở thới thuận, quận thốt nốt, thành phố cần thơ, năm 2022
Bảng 3. 2. Nguồn thông tin về sốt xuất huyết Dengue của đối tượng nghiên cứu (Trang 38)
Bảng 3. 4. Kiến thức về muỗi gây bệnh sốt xuất huyết Dengue của đối tượng nghiên cứu (n=423) - Kiến thức, thái độ về phòng sốt xuất huyết dengue và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường trung học cơ sở thới thuận, quận thốt nốt, thành phố cần thơ, năm 2022
Bảng 3. 4. Kiến thức về muỗi gây bệnh sốt xuất huyết Dengue của đối tượng nghiên cứu (n=423) (Trang 40)
Bảng 3. 6. Kiến thức về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của đối tượng - Kiến thức, thái độ về phòng sốt xuất huyết dengue và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường trung học cơ sở thới thuận, quận thốt nốt, thành phố cần thơ, năm 2022
Bảng 3. 6. Kiến thức về phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue của đối tượng (Trang 42)
Bảng 3. 9. Kiến thức về phòng muỗi đốt của đối tượng nghiên cứu (n=423) - Kiến thức, thái độ về phòng sốt xuất huyết dengue và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường trung học cơ sở thới thuận, quận thốt nốt, thành phố cần thơ, năm 2022
Bảng 3. 9. Kiến thức về phòng muỗi đốt của đối tượng nghiên cứu (n=423) (Trang 43)
Bảng 3. 8. Tỷ lệ biết các phương pháp về diệt lăng quăng, bọ gậy của đối tượng nghiên cứu (n=422) - Kiến thức, thái độ về phòng sốt xuất huyết dengue và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường trung học cơ sở thới thuận, quận thốt nốt, thành phố cần thơ, năm 2022
Bảng 3. 8. Tỷ lệ biết các phương pháp về diệt lăng quăng, bọ gậy của đối tượng nghiên cứu (n=422) (Trang 43)
Bảng 3. 10. Tỷ lệ biết các phương pháp phòng chống muỗi đốt của đối tượng nghiên cứu (n=422) - Kiến thức, thái độ về phòng sốt xuất huyết dengue và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường trung học cơ sở thới thuận, quận thốt nốt, thành phố cần thơ, năm 2022
Bảng 3. 10. Tỷ lệ biết các phương pháp phòng chống muỗi đốt của đối tượng nghiên cứu (n=422) (Trang 44)
Bảng 3. 12. Thái độ về sự nguy hiểm của bệnh sốt xuất huyết Dengue và thái độ - Kiến thức, thái độ về phòng sốt xuất huyết dengue và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường trung học cơ sở thới thuận, quận thốt nốt, thành phố cần thơ, năm 2022
Bảng 3. 12. Thái độ về sự nguy hiểm của bệnh sốt xuất huyết Dengue và thái độ (Trang 45)
Bảng 3. 14. Thái độ về tham gia các hoạt động sốt xuất huyết Dengue tại địa phương và thái độ về cập nhật kiến thức bệnh SXH của đối tượng nghiên cứu (n=423) - Kiến thức, thái độ về phòng sốt xuất huyết dengue và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường trung học cơ sở thới thuận, quận thốt nốt, thành phố cần thơ, năm 2022
Bảng 3. 14. Thái độ về tham gia các hoạt động sốt xuất huyết Dengue tại địa phương và thái độ về cập nhật kiến thức bệnh SXH của đối tượng nghiên cứu (n=423) (Trang 47)
Bảng 3. 15. Thái độ về việc ngủ mùng, thả cá diệt lăng quăng và đến ngay cơ sở - Kiến thức, thái độ về phòng sốt xuất huyết dengue và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường trung học cơ sở thới thuận, quận thốt nốt, thành phố cần thơ, năm 2022
Bảng 3. 15. Thái độ về việc ngủ mùng, thả cá diệt lăng quăng và đến ngay cơ sở (Trang 48)
Bảng 3. 17. Mối liên quan giữa giới tính, dân tộc và cấp lớp học với kiến thức phòng SXH Dengue ở học sinh trung học cơ sở - Kiến thức, thái độ về phòng sốt xuất huyết dengue và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường trung học cơ sở thới thuận, quận thốt nốt, thành phố cần thơ, năm 2022
Bảng 3. 17. Mối liên quan giữa giới tính, dân tộc và cấp lớp học với kiến thức phòng SXH Dengue ở học sinh trung học cơ sở (Trang 50)
Bảng 3. 19. Mối liên quan giữa kiến thức với tần suất tiếp nhận thông tin về phòng sốt xuất huyết Dengue của đối tượng nghiên cứu - Kiến thức, thái độ về phòng sốt xuất huyết dengue và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường trung học cơ sở thới thuận, quận thốt nốt, thành phố cần thơ, năm 2022
Bảng 3. 19. Mối liên quan giữa kiến thức với tần suất tiếp nhận thông tin về phòng sốt xuất huyết Dengue của đối tượng nghiên cứu (Trang 51)
Bảng 3. 20. Mối liên quan giữa giới tính, dân tộc và cấp lớp học với thái độ phòng SXH Dengue ở học sinh trung học cơ sở - Kiến thức, thái độ về phòng sốt xuất huyết dengue và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường trung học cơ sở thới thuận, quận thốt nốt, thành phố cần thơ, năm 2022
Bảng 3. 20. Mối liên quan giữa giới tính, dân tộc và cấp lớp học với thái độ phòng SXH Dengue ở học sinh trung học cơ sở (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w