ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng a Đối tượng nghiên cứu được phỏng vấn tại hộ:
Người phun thuốc bảo vệ thực vật trong hộ gia đình dân tộc thiểu số trồng cam, quýt đã có kinh nghiệm phun thuốc trong vòng 06 tháng trước thời điểm phỏng vấn.
+ Trên 18 tuổi và đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Không đồng ý tham gia nghiên cứu
Không thể trả lời các câu hỏi phỏng vấn do gặp vấn đề về thần kinh, say rượu, bia hoặc bị ốm Đối tượng nghiên cứu được quan sát trong quá trình pha và phun tại nương cam, quýt.
Tiêu chí lựa chọn: là người pha, phun thuốc BVTV gặp ngẫu nhiên trên đường đi qua các nương cam, quýt của 02 xã Mỹ Thanh và Dương Phong
Tiêu chí loại trừ: không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính a Đối tượng tham gia thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu: người dân
Tiêu chí lựa chọn: đã tham gia vào trả lời phỏng vấn định lượng và sẵn sàng tiếp tục tham gia nghiên cứu định tính
Tiêu chí loại trừ: đối tượng từ chối tiếp tục tham gia nghiên cứu định tính b Đối tượng tham gia phỏng vấn sâu: người bán thuốc BVTV
Trong vòng 6 tháng trước phỏng vấn, người bán thuốc BVTV hoạt động thường xuyên tại hai xã Dương Phong và Quang Thuận, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn.
+ Trên 18 tuổi và đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chí loại trừ trong nghiên cứu là từ chối tham gia, trong khi đối tượng tham gia phỏng vấn sâu bao gồm cán bộ nông nghiệp tại xã và cán bộ của Trạm Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật huyện Bạch Thông.
Tiêu chí lựa chọn: là cán bộ có thời gian làm việc tại xã hoặc Trạm Trồng trọt và BVTV huyện Bạch Thông và đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chí loại trừ: từ chối tham gia nghiên cứu.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ ngày 01/12/2017 đến 15/6/2018
Nghiên cứu được tiến hành tại 02 xã Dương Phong và Quang Thuận Đây là
02 xã có diện tích trồng cam, quýt) lớn nhất của huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn (chiếm khoảng hơn 60% diện tích).
Thiết kế nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp với định tính, cụ thể là thiết kế nghiên cứu kết hợp giải thích Phần nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, trong khi phần nghiên cứu định tính được thu thập qua thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu, nhằm làm rõ hơn các kết quả từ nghiên cứu định lượng.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng
Cỡ mẫu được tính theo công thức:
+ n là số đối tượng tham gia nghiên cứu
Tỷ lệ ĐTNC ước tính có thực hành chung về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) đạt được là p = 0,408 Nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Hoa năm 2016 trên đối tượng nông dân trồng cà phê tại Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk cho thấy 40,8% người dân đạt thực hành chung về sử dụng thuốc BVTV.
+ Z là hệ số tin cậy, ứng với độ tin cậy 95% thì Z = 1,96
+ d là sai số tuyệt đối chấp nhận Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn sai số tuyệt đối d = 0,05
Thay vào công thức trên ta được n = 372 (làm tròn) Tổng số đối tượng nghiên cứu thực tế phỏng vấn được là 385
2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu định tính
Cỡ mẫu định tính gồm:
Tổ chức hai cuộc thảo luận nhóm với sự tham gia của 10 người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt đã tham gia nghiên cứu định lượng Mỗi cuộc thảo luận mời 5 đối tượng, đảm bảo đã bão hòa thông tin.
06 cuộc phỏng vấn sâu với người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt đã tham gia nghiên cứu định lượng (đã bão hòa thông tin)
02 cuộc phỏng vấn sâu với người bán thuốc BVTV tại 02 xã Dương Phong và Quang Thuận (01 cuộc PVS/xã)
01 cuộc PVS qua điện thoại với cán bộ Trạm Trồng trọt và BVTV huyện Bạch Thông
01 cuộc phỏng vấn sâu với cán bộ nông nghiệp của xã Dương Phong và 01 cuộc phỏng vấn sâu qua điện thoại với cán bộ nông nghiệp xã Quang Thuận.
Phương pháp chọn mẫu
2.5.1 Phương pháp chọn mẫu định lượng
Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống được áp dụng để lựa chọn đối tượng nghiên cứu Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2017 đến tháng 6/2018, có tổng cộng 600 hộ dân tộc thiểu số trồng cam và quýt tại hai xã Dương Phong và Quang Thuận.
Bước 1: Lập danh sách các hộ gia đình người dân tộc thiểu số có trồng cam, quýt trên địa bàn xã 02 xã Dương Phong và Quang Thuận
Để tính khoảng cách mẫu, sử dụng công thức k = N/n, trong đó N là tổng số gia đình người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt tại hai xã Dương Phong và Quang Thuận, và n là cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu Kết quả tính được là k = 600/385, làm tròn cho k = 2.
Bước 3: Chọn ngẫu nhiên 02 hộ đầu tiên trong danh sách, sau đó tiếp tục chọn các hộ có số thứ tự chẵn (4, 6, 8,…) Khi đã chọn đến hộ số 600, xếp lại các hộ không được chọn và tiếp tục chọn các hộ có số thứ tự chẵn cho đến khi đủ danh sách cỡ mẫu là 385 Trong quá trình phỏng vấn, nếu không gặp được người tham gia hoặc họ từ chối, điều tra viên sẽ lựa chọn hộ trồng cam, quýt gần nhất.
2.5.2 Phương pháp chọn mẫu định tính
Các đối tượng nghiên cứu được chọn từ những người tham gia nghiên cứu định lượng và đồng ý tham gia thảo luận nhóm cũng như phỏng vấn sâu Chúng tôi đã lựa chọn người bán thuốc bảo vệ thực vật tại hai cửa hàng ở xã Quang Thuận, do xã Dương Phong không có cửa hàng nào Đồng thời, chúng tôi đã liên hệ và mời cán bộ đại diện Trạm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật huyện Bạch Thông cùng cán bộ nông nghiệp của hai xã Dương Phong và Quang Thuận tham gia phỏng vấn sâu.
Phương pháp thu thập thông tin
2.6.1 Phương pháp thu thập thông tin định lượng a Công cụ nghiên cứu
Bộ phiếu phỏng vấn có cấu trúc được thiết kế dựa trên mục tiêu nghiên cứu và các biến số liên quan, đồng thời tham khảo các nghiên cứu trước đó trong cùng lĩnh vực.
Bảng kiểm đánh giá về hành vi đối với người phun thuốc BVTV
Phương tiện ghi chép hình ảnh b Thử nghiệm công cụ
Nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm bộ phiếu phỏng vấn và bảng kiểm quan sát trực tiếp trên 20 đối tượng người dân tộc thiểu số sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trong 06 tháng để phun cho cam, quýt tại 02 xã Dương Phong và Quang Thuận Tuy nhiên, các đối tượng này không được lựa chọn tham gia vào nghiên cứu cuối cùng.
Dựa trên kết quả của cuộc thử nghiệm, chúng tôi đã điều chỉnh lại bộ công cụ cho phù hợp c Tổ chức thu thập số liệu:
Điều tra viên: là 05 tình nguyện viên
Tổ chức tập huấn, hướng dẫn điều tra viên trước khi thu thập số liệu
Hình thức thu thập số liệu:
Trong nghiên cứu về kiến thức và thực hành liên quan đến việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp các đối tượng được chọn trong hộ gia đình trong thời gian 30 phút Bên cạnh đó, chúng tôi cũng thực hiện quan sát trực tiếp về việc bảo quản thuốc BVTV và dụng cụ phun thuốc tại các hộ gia đình Trong quá trình phỏng vấn, một số hộ gia đình không có người đi phun ở nhà, từ chối tham gia, hoặc không đủ khả năng trả lời, do đó, điều tra viên đã lựa chọn các hộ trồng cam, quýt gần nhất để đảm bảo tính đại diện cho nghiên cứu.
Hình 2: Mô hình các bước nghiên cứu
Bảng kiểm quan sát trực tiếp tại nương cam, quýt cho thấy khảo sát viên thực hiện quan sát khi người dân phun thuốc BVTV Tổng cộng có 20 ĐTNC được quan sát dọc theo các con đường giữa các nương cam, quýt tại các thôn Các quan sát diễn ra vào buổi sáng sớm và chiều muộn trong đợt thực địa, đồng thời với các cuộc phỏng vấn tại hộ gia đình Điều tra viên đứng quan sát từ khoảng cách xa để đảm bảo an toàn.
Phiên giải và giải thích các kết quả ĐL
Bàn luận, ý nghĩa và khuyến nghị
Điều tra cắt ngang: 385 người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt năm 2018
Quan sát 20 người đang phun thuốc BVTV cho cam, quýt
Thu thập số liệu ĐL
Làm sạch bộ số liệu
Phân tích mối liên quan
Phần mềm SPSS 23.0 Phân tích số liệu ĐL
Lựa chọn đối tượng có chủ đích:
Thảo luận nhóm: 02 nhóm với người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt đã tham gia nghiên cứu ĐL
06 cuộc PVS người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt đã tham gia nghiên cứu ĐL
02 cuộc PVS người bán thuốc BVTV
03 cuộc PVS với cán bộ Trạm Trồng trọt và BVTV huyện và cán bộ nông nghiệp xã
Lựa chọn đối tượng cho nghiên cứu ĐT
Xây dựng công cụ ĐT
Thu thập số liệu ĐT
Phân tích số liệu ĐT Mã hóa và phân tích theo chủ đề
Phân tích giữa các chủ đề
Sử dụng phần mềm Mindjet Manager 14.0 để lồng ghép các kết quả điều tra và đánh giá HUPH về việc hít phải hơi thuốc bảo vệ thực vật Trong quá trình quan sát điều tra nông nghiệp, điều tra viên đã thu thập thông tin về các loại thuốc đã được sử dụng.
Phương tiện ghi chép hình ảnh bao gồm việc chụp lại các hình ảnh quan sát tại hộ gia đình và trên nương cam, quýt, nhằm ghi nhận cách sử dụng và bảo quản thuốc bảo vệ thực vật của người dân.
2.6.2 Phương pháp thu thập thông tin định tính
Nghiên cứu viên thu thập số liệu định tính thông qua thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu, sử dụng bộ công cụ hướng dẫn cho cả hai phương pháp Quá trình này được ghi âm và ghi chép lại, với sự đồng ý của người tham gia phỏng vấn.
Cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu viên đã hợp tác với cán bộ Hội Chữ thập đỏ xã và trưởng thôn để lựa chọn những người dân tộc thiểu số trồng cam, quýt tham gia vào nghiên cứu định lượng Sau đó, họ đã đến từng hộ gia đình thông qua trưởng thôn để mời các đối tượng nghiên cứu tham gia thảo luận nhóm Mỗi cuộc thảo luận nhóm kéo dài khoảng 60 phút.
Nghiên cứu viên đã liên hệ với cán bộ Hội Chữ thập đỏ huyện Bạch Thông để mời cán bộ Trạm Trồng trọt và Bảo vệ thực vật huyện tham gia phỏng vấn sâu, mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài khoảng 30 phút.
Nghiên cứu viên đã liên hệ với cán bộ Hội Chữ thập đỏ xã để mời cán bộ nông nghiệp và người bán thuốc BVTV tại hai xã Dương Phong và Quang Thuận tham gia phỏng vấn sâu Mỗi cuộc phỏng vấn diễn ra trong khoảng 30 phút.
Các biến số nghiên cứu
2.7.1 Các biến số nghiên cứu định lượng:
Các biến số định lượng được chia thành các nhóm biến:
Nhóm biến thông tin chung về nhân khẩu học bao gồm các yếu tố như dân tộc, tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, diện tích trồng cam, quýt, và thâm niên tiếp xúc với thuốc bảo vệ thực vật.
Nhóm biến kiến thức sử dụng thuốc BVTV an toàn bao gồm các khía cạnh quan trọng như kiến thức cơ bản về thuốc BVTV, cách sử dụng đúng thuốc, và phương pháp sử dụng thuốc đúng cách Ngoài ra, cần nắm vững kiến thức về xử lý dụng cụ, thuốc BVTV dư thừa, và vỏ bao bì trước và sau khi phun Cuối cùng, việc phòng phơi nhiễm với thuốc BVTV và kiến thức chung về sử dụng thuốc BVTV an toàn cũng rất cần thiết.
Nhóm biến thực hành về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) bao gồm các nội dung quan trọng như: thực hành sử dụng đúng thuốc, thực hành sử dụng thuốc BVTV đúng cách, xử lý thuốc BVTV dư thừa và vỏ bao bì trước và sau khi phun, phòng ngừa phơi nhiễm, và thực hành chung về sử dụng thuốc BVTV an toàn.
Nhóm biến về tiếp cận thông tin thuốc BVTV bao gồm các yếu tố như nguồn cung cấp thông tin, loại thông tin đã nhận, loại thông tin mong muốn nhận, và hình thức truyền thông ưa thích (Chi tiết xem Phục lục 1).
2.7.2 Các chủ đề nghiên cứu định tính:
Các chủ đề nghiên cứu định tính bao gồm: cách sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), xử lý bao bì và thuốc BVTV dư thừa sau khi phun, sử dụng bảo hộ lao động trong quá trình pha chế và phun thuốc BVTV, ảnh hưởng của thuốc BVTV đến sức khỏe con người và môi trường, quản lý thuốc BVTV tại địa phương, và nguồn cung cấp thông tin về thuốc BVTV.
Tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên cứu
Điểm kiến thức về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) được tính từ câu B1 đến B23, với tổng điểm tối đa là 23, mỗi câu đúng được tính 1 điểm Điểm thực hành sử dụng thuốc BVTV được tính từ câu C1 đến C16, cùng với các câu C18, C19, C20 Trong đó, mỗi câu đúng từ C1 đến C14 và C18 được tính 1 điểm, trong khi câu C15, C16, C19, C20 được tính 2 điểm do đây là 4 hành vi quan trọng ảnh hưởng lớn đến mức độ phơi nhiễm của đối tượng nghiên cứu Tổng điểm thực hành cũng là 23.
Phương pháp phân tích số liệu
2.9.1 Phương pháp phân tích số liệu định lượng
Số liệu được quản lý và phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS (phiên bản 23.0)
Phân tích mô tả: sử dụng ước lượng tỷ lệ, giá trị trung bình (nếu có)
Phân tích suy luận được thực hiện thông qua các phương pháp kiểm định t-test, Anova và hồi quy tuyến tính đơn biến Mục tiêu là sử dụng hồi quy đa biến để so sánh sự khác biệt trong điểm thực hành sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) giữa các đối tượng nghiên cứu có cùng đặc điểm Biến đầu ra là điểm thực hành sử dụng thuốc BVTV, là biến liên tục với phân bố xấp xỉ chuẩn Các biến độc lập bao gồm dân tộc, trình độ học vấn (tiểu học, THCS, THPT trở lên) và kiến thức về sử dụng thuốc BVTV, được lựa chọn theo phương pháp Enter trong mô hình hồi quy đa biến.
2.9.2 Phương pháp phân tích số liệu định tính
Kiểm tra và mã hóa thông tin là quá trình quan trọng để sàng lọc và tìm ra các chi tiết, liên kết các vấn đề và ý nghĩa, nhằm khám phá thông tin mới Việc rà soát lại bộ dữ liệu giúp kiểm chứng tính chính xác Dữ liệu được xử lý thông qua phần mềm Mindjet Mindmanager 14.0 và thực hiện thủ công trên giấy.
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu tuân thủ quy trình xét duyệt của Hội đồng đạo đức trường Đại học
Nghiên cứu y tế công cộng được thực hiện theo quyết định số 001/2018/YTCC-HD3 ngày 04 tháng 01 năm 2018, với sự phê duyệt của Hội đồng đạo đức và sự cho phép của lãnh đạo xã Dương Phong và Quang Thuận, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn Các đối tượng tham gia nghiên cứu có quyền đặt câu hỏi và được giải thích rõ ràng về mục đích và nội dung nghiên cứu Họ cũng được yêu cầu điền vào phiếu tự nguyện tham gia trước khi thu thập thông tin và có quyền từ chối hoặc ngừng tham gia nếu không muốn hoặc có nghi ngờ Kết quả nghiên cứu sẽ được đưa vào báo cáo mà không ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia.
HUPH nghiên cứu được chia sẻ cho các bên liên quan và địa phương để làm cơ sở xây dựng các chương trình can thiệp phù hợp
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm tuổi, giới, dân tộc và trình độ học vấn
Bảng 2: Đặc điểm tuổi và giới, dân tộc của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm Tần số (n85) Tỷ lệ (%)
Kết quả Bảng 2 cho thấy, ĐTNC thuộc nhóm 40 – 49 tuổi chiếm tỷ lệ lớn nhất (31,9%), tiếp theo là nhóm 30 – 39 tuổi (28,6%), nhóm 50 – 59 (22,9%), nhóm 20 –
Tỷ lệ người từ 29 tuổi và ≥ 60 tuổi là 8,3% mỗi nhóm (Bảng 2) Trong số 385 đối tượng nghiên cứu, nam giới chiếm gần 2/3 (65,2%) và nữ giới chiếm hơn 1/3 (34,8%) Về dân tộc, người Tày chiếm tỷ lệ lớn nhất với 79,2%, tiếp theo là người Dao (19%), người Nùng (1,6%) và thấp nhất là người Ngái (0,2%) Nhóm đối tượng nghiên cứu có trình độ học vấn chủ yếu là THCS.
HUPH lệ lớn nhất (41,6%), tiếp theo là tiểu học (28,6%), THPT trở lên (25,1) và vẫn còn 4,7% ĐTNC không biết chữ
3.1.2 Diện tích trồng cam, quýt và loại dụng cụ phun thuốc BVTV, thâm niên và số đợt phun trung bình hàng năm
Bảng 3: Diện tích trồng cam, quýt và loại dụng cụ phun thuốc BVTV, thâm niên và số đợt phun trung bình hàng năm
Thông tin chung Tần số (n85) Tỷ lệ (%)
Diện tích trồng cam, quýt
Số đợt phun trung bình/năm
Theo Bảng 3, diện tích trồng cam, quýt của ĐTNC chủ yếu nằm trong khoảng từ 1 đến dưới 2 ha, chiếm 37,4% Tiếp theo là diện tích từ 0,5 đến dưới 1 ha với tỷ lệ 23,9%, diện tích ≥ 2 ha chiếm 23,4%, và diện tích dưới 0,5 ha có tỷ lệ thấp nhất là 15,3% Đối với dụng cụ phun thuốc BVTV, máy phun nén được sử dụng phổ biến nhất với 66,5%, tiếp theo là bình phun điện với 32,7%, trong khi bình phun cơ chỉ chiếm 0,8%.
Bình phun điện và bình phun cơ thường được sử dụng cho cây nhỏ, mới trồng, trong khi máy phun nén thích hợp cho nương cam, quýt lớn với tán cao Nghiên cứu cho thấy 52,5% đối tượng có thâm niên phun thuốc BVTV từ 10 đến 19 năm, 19,5% từ 20 năm trở lên, và 11,4% có thâm niên ≤ 5 năm Trung bình, mỗi năm, đối tượng nghiên cứu thực hiện khoảng 5 đợt phun thuốc BVTV cho cam, quýt, với số lần phun dao động từ 2 đến 20 đợt.
2 – 5 đợt chiếm tỷ lệ lớn nhất (62,3%), tiếp theo là nhóm có số đợt phun từ 6 – 10 đợt (35,4%) và nhóm có số đợt phun >10 đợt chiếm tỷ lệ thấp nhất (2,3%, Bảng 3).
Kiến thức về sử dụng thuốc BVTV
Bảng 4: Trung bình điểm kiến thức giữa các nhóm dân tộc
(n85) Điểm trung bình kiến thức
Khác: Dao, Nùng, Ngái 80 10,4 t 383 = 4,8, p < 0,001 (95% CI, 0,83 – 1,96)
Kiến thức về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) được đánh giá qua bộ câu hỏi 23 câu, bao gồm các khía cạnh như tác dụng, tác hại, đường xâm nhập, đối tượng không nên phun, lựa chọn và sử dụng thuốc đúng cách, cũng như xử lý dụng cụ và thuốc dư thừa Kết quả nghiên cứu cho thấy điểm kiến thức trung bình của đối tượng nghiên cứu là 11,5 trên tổng số 23 điểm, với điểm thấp nhất là 5 và cao nhất là 20 Nhóm dân tộc Tày có điểm trung bình là 11,8, trong khi nhóm dân tộc khác chỉ đạt 10,4, cho thấy sự khác biệt rõ rệt về kiến thức giữa hai nhóm này (t383 = 4,8, p < 0,05).
0,001) Trung bình sự khác biệt về điểm kiến thức giữa nhóm dân tộc Tày và nhóm các dân tộc khác là 1,39 với khoảng tin cậy 95% là (95% CI, 0,83 – 1,96)
3.2.1 Nhóm kiến thức cơ bản về thuốc BVTV
3.2.1.1 Kiến thức về tác dụng và tác hại của thuốc của thuốc BVTV
Bảng 5: Kiến thức về tác dụng và tác hại của thuốc BVTV
Kiến thức Tần số (n85) Tỷ lệ (%) Tác dụng của thuốc BVTV
Dưỡng và làm đẹp quả 9 2,3
Tác hại của thuốc BVTV
Gây nhiễm độc cho người 371 96,1
Gây nhiễm độc cho vật nuôi 50 13
Làm nhiễm bẩn thực phẩm 8 2,1
Theo nghiên cứu, 99,5% đối tượng tham gia khảo sát cho rằng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) có tác dụng lớn nhất trong việc diệt sâu bệnh, tiếp theo là kích thích cây tăng trưởng, ra hoa và kết quả (50,4%), trừ nấm mốc (33,8%), và dưỡng làm đẹp quả (2,3%) Tuy nhiên, chỉ có 29,1% người được khảo sát biết đến ít nhất 3 tác dụng của thuốc BVTV, trong khi 0,8% không biết bất kỳ tác dụng nào Về tác hại, 96,1% cho rằng thuốc BVTV gây nhiễm độc cho con người, 46,5% nhận thức được tác hại gây ô nhiễm môi trường, 13% cho rằng nó gây nhiễm độc cho vật nuôi, và 2,1% biết đến việc làm nhiễm bẩn thực phẩm Chỉ có 8,1% người tham gia khảo sát có kiến thức về các tác hại khác của thuốc BVTV.
HUPH ĐTNC biết được được ≥3 tác hại của thuốc BVTV và có 2,6% ĐTNC không biết bất cứ một tác hại nào của thuốc BVTV
3.2.1.2 Kiến thức về đường xâm nhập của thuốc, tác hại của thu hoạch sớm sau phun và đối tượng không nên đi phun thuốc BVTV
Bảng 6: Kiến thức về đường xâm nhập, tác hại của thu hoạch sớm sau phun và đối tượng không nên đi phun
Kết quả từ Bảng 6 cho thấy, đường xâm nhập phổ biến nhất của thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) mà đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) biết đến là qua đường hô hấp (91,2%), tiếp theo là qua da và mắt (53,4%) và đường ăn uống (24,4%) Tuy nhiên, chỉ có 11,4% ĐTNC biết đến cả ba đường xâm nhập này, trong khi 2,6% ĐTNC không biết bất kỳ đường xâm nhập nào của thuốc BVTV vào cơ thể.
Kiến thức Tần số (n85) Tỷ lệ (%) Đường xâm nhập của thuốc
Qua da, mắt 205 53,2 Ăn uống 94 24,4
Biết được cả 3 đường xâm nhập 44 11,4
Tác hại khi thu hoạch sớm Độc cho người sử dụng 362 94 Độc cho người thu hoạch 115 30,1
Kiến thức đúng 108 28,1 Đối tượng không nên đi phun
Phụ nữ có thai/cho con bú 294 76,4
Đa số ĐTNC nhận thức được rằng việc thu hoạch sớm sau khi phun thuốc BVTV có thể gây độc hại cho người sử dụng (94%) và người thu hoạch (29,9%) Tuy nhiên, chỉ có 28,2% ĐTNC hiểu rõ rằng tác hại của việc thu hoạch sớm này ảnh hưởng đến cả người thu hoạch lẫn người sử dụng, trong khi 4,1% ĐTNC không biết về những tác hại này.
Phụ nữ có thai hoặc đang cho con bú là nhóm đối tượng được biết đến nhiều nhất không nên đi phun thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) với tỷ lệ 76,4% Tiếp theo là người già hoặc trẻ em (58,8%), người đang ốm, bệnh (55,4%), và người say rượu, bia (2,8%) Có 40,7% đối tượng nghiên cứu biết được từ ba đối tượng trở lên không nên đi phun, trong khi 1,6% không biết về bất kỳ đối tượng nào Ngoài ra, qua phỏng vấn sâu, người dân cho rằng những người chưa lập gia đình hoặc chưa có con cũng không nên đi phun do lo ngại thuốc BVTV có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản sau này.
Nghiên cứu cho thấy, người tiêu dùng biết đến các thông tin quan trọng khi mua thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) như công dụng (87,6%), hướng dẫn sử dụng (77,5%), hạn sử dụng (17,9%), nơi sản xuất (10,4%), độ độc (8,5%) và cách bảo quản (4,9%) Tuy nhiên, chỉ có 7,3% người tham gia nghiên cứu nắm được từ 4 thông tin trở lên Về ý nghĩa của vạch màu cảnh báo độ độc hại, 79,8% không biết ý nghĩa của chúng; trong đó, màu đỏ được biết đến nhiều nhất (18,2%) và màu xanh lá cây ít được biết đến nhất (2,1%) Chỉ có 3,6% người tham gia hiểu đúng ý nghĩa của từ 3 vạch màu cảnh báo độ độc hại của thuốc BVTV.
Bảng 7: Kiến thức về thông tin cần đọc, tìm hiểu khi mua thuốc BVTV và ý nghĩa của vạch màu cảnh báo mức độ độc hại
Kiến thức Tần số (n85) Tỷ lệ (%)
Thông tin cần đọc/tìm hiểu khi mua thuốc BVTV
Nơi sản xuất 40 10,4 Độ độc 33 8,6
Biết được ≥ 04 ý đúng 28 7,3 Ý nghĩa vạch màu cảnh báo
Màu xanh da trời – nguy hiểm 19 4,9
Màu xanh lá cây – cẩn thận 8 2,1
Biết được ý nghĩa của ≥ 03 vạch màu cảnh báo 14 3,6
3.2.3 Nhóm kiến thức về sử dụng thuốc BVTV đúng cách
Đa số đối tượng nghiên cứu (99%) nhận thức đúng rằng thời điểm phun thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) nên diễn ra vào buổi sáng sớm (97,2%) hoặc buổi chiều tối (69,2%) Tuy nhiên, vẫn có một số ít (0,5%) cho rằng nên phun vào buổi trưa và 0,3% cho rằng phun vào thời điểm nào cũng được Về thời tiết, 96,6% cho rằng thời điểm phù hợp là khi trời râm mát, trong khi 33,2% cho biết nên phun khi trời lặng gió Chỉ có 32,2% đối tượng có kiến thức đúng về thời tiết phù hợp để phun thuốc BVTV Đối với hướng gió khi phun, 89,6% có kiến thức đúng là nên phun theo hướng gió.
HUPH chiều gió (gió thổi vào lưng người phun) Tuy nhiên, vẫn còn tỷ lệ nhỏ ĐTNC không quan đến hướng gió khi phun (6,5%) và phun ngược chiều gió (3,6%)
Bảng 8: Nhóm kiến thức về thời điểm, thời tiết và hướng gió phun an toàn
Kiến thức Tần số (n85) Tỷ lệ (%) Thời điểm đi phun
Không quan tâm hướng gió 25 6,5
3.2.4 Nhóm kiến thức về nơi pha, liều lượng, hòa tan thuốc BVTV đúng cách và kiểm tra dụng cụ trước phun
Theo khảo sát, 86,5% đối tượng tham gia nghiên cứu cho rằng địa điểm pha thuốc an toàn nhất là ngay tại nương cam, quýt, trong khi 3,4% chọn địa điểm cách xa nguồn nước Tuy nhiên, vẫn có 14% cho rằng địa điểm pha an toàn là tại các nguồn nước như khe, sông, suối, ao, hồ, với một người tham gia chia sẻ rằng "ở đâu gần được nguồn nước thì mình pha được".
HUPH pha” (TLN1, xã Dương Phong); tỷ lệ ĐTNC có kiến thức đúng về địa điểm pha thuốc an toàn là 83,4%
Bảng 9: Nhóm kiến thức về sử dụng thuốc BVTV đúng cách
Đối với liều lượng khi pha thuốc BVTV, 91,4% ĐTNC biết cần tuân thủ chỉ dẫn trên bao bì, trong khi 5,2% dựa vào chỉ dẫn của người bán, 10,1% theo kinh nghiệm cá nhân, 6% pha đặc hơn và 4,7% pha loãng hơn Tỷ lệ ĐTNC có kiến thức đúng về liều lượng là 76,4% Về cách hòa tan thuốc, 75,6% ĐTNC cho rằng sử dụng que khuấy là đúng, 41,8% cho rằng dội nước để tan, 14% lắc cho tan và một số ít sử dụng máy sục.
Kiến thức Tần số (n85) Tỷ lệ (%) Địa điểm pha thuốc an toàn
Tại khe nước, suối, sông, ao, hồ 54 14
Pha như chỉ dẫn ở vỏ bao bì 352 91,4
Pha theo chỉ dẫn của người bán 20 5,2
Kiểm tra dụng cụ trước phun
Tỷ lệ ĐTNC có kiến thức đúng đạt 46,2% Đáng chú ý, 96,6% ĐTNC cho rằng việc kiểm tra dụng cụ trước khi phun là cần thiết, trong khi chỉ 3,4% cho rằng không cần thiết phải thực hiện kiểm tra này.
3.2.5 Nhóm kiến thức về xử lý thuốc dư thừa, vỏ bao bì, dụng cụ sau phun
Thuốc BVTV dư thừa được chia thành hai loại: đã pha và chưa pha, mỗi loại có cách xử lý riêng Đối với thuốc BVTV đã pha dư thừa, 91,4% ĐTNC cho rằng nên phun lại vào cây cam, quýt, trong khi 4,9% chọn cất để phun lần sau Chỉ 1,6% ĐTNC có kiến thức đúng về xử lý loại thuốc này Về thuốc BVTV chưa pha dư thừa, 79,5% ĐTNC cho rằng nên cất để dùng sau, và 74,3% có kiến thức đúng về cách xử lý Đối với vỏ bao bì sau phun, 95,6% ĐTNC cho rằng nên gom lại để chôn hoặc đốt ngay tại nương cam, quýt.
Theo khảo sát, 80,3% đối tượng nghiên cứu cho rằng việc rửa dụng cụ phun tại nương cam, quýt là an toàn, trong khi 2,3% cho rằng nên rửa ở những địa điểm xa nguồn nước và gia súc Một số ít (16,9%) cho rằng khe nước, suối, sông là địa điểm an toàn, và chỉ 0,8% chọn ao, hồ Tỷ lệ đối tượng có kiến thức đúng về địa điểm rửa dụng cụ phun an toàn đạt 77,7%.
Bảng 10: Kiến thức về xử lý thuốc BVTV dư thừa và vỏ bao bì, dụng cụ sau phun
Kiến thức Tần số (n85) Tỷ lệ (%)
Xử lý thuốc đã pha dư thừa
Phun lại vào cây, gốc cây 352 91,4
Mang cất và để phun lần sau là 19,4% trong khi đổ vào vườn và phun rau chiếm 10,2% Việc đổ và chôn đúng nơi quy định đạt 7,1%, trong khi đổ vào hố chôn trong vườn là 4,1% Cuối cùng, việc đổ xuống khe nước, sông, suối, ao, hồ chỉ chiếm 1,0%.
Xử lý thuốc chưa pha dư thừa
Mang về cất để phun lần sau 306 79,5
Pha và phun lại cho hết 7 1,8 Đổ, chôn đúng nơi quy định 1 0,3
Xử lý vỏ bao bì
Gom vào để chôn, đốt 368 95,6
Vứt ngay tại chỗ phun, pha 6 1,6
Gom 1 chỗ hoặc treo gốc cây 11 2,9
Kiến thức đúng 366 95,1 Địa điểm rửa dụng cụ phun
Khe nước, suối, sông, ao, hồ 68 17,7
Xa nguồn nước, gia súc 9 2,3
Bảo quản an toàn dụng cụ và thuốc Để nơi kín đáo, xa người và gia súc 164 42,6 Ở lán trong nương/kho chứa nông cụ 144 37,4
Treo cạnh/dưới gầm nhà sàn 98 25,5
Trong chuồng gia súc, gia cầm 46 11,9
Theo Bảng 10, 42,6% ĐTNC cho biết địa điểm bảo quản dụng cụ phun và thuốc BVTV an toàn là nơi kín đáo, xa người và gia súc 37,4% cho rằng nên để tại lán trong nương cam, quýt hoặc kho chứa nông cụ, trong khi 25,5% chọn treo cạnh hoặc dưới gầm nhà sàn Chỉ 11,9% để trong chuồng gia súc, gia cầm và 1% để trong nhà hoặc bếp Đáng chú ý, 1,3% ĐTNC không biết địa điểm an toàn để bảo quản dụng cụ và thuốc BVTV Tỷ lệ ĐTNC có kiến thức đúng về địa điểm bảo quản dụng cụ và thuốc BVTV an toàn đạt 60,8%.
3.2.6 Nhóm kiến thức về phòng ngừa phơi nhiễm thuốc BVTV
Bảng 11: Kiến thức về phòng ngừa phơi nhiễm thuốc BVTV
Theo Bảng 11, khẩu trang, khăn che và ủng là những đồ bảo hộ lao động phổ biến nhất được ĐTNC biết đến để phòng ngừa phơi nhiễm khi pha, phun thuốc BVTV, với tỷ lệ lần lượt là 99% và 97,4% Tiếp theo là mũ, nón (88,8%), găng tay (88,1%), quần áo bảo hộ hoặc áo mưa (70,6%) và kính bảo vệ (39,5%) Tuy nhiên, chỉ có 33,5% ĐTNC có kiến thức đúng về cách sử dụng BHLĐ, tức là biết cả 06 loại đồ BHLĐ.
Về vệ sinh cá nhân sau phun thuốc BVTV, 93,2% ĐTNC cho biết nên tắm bằng xà
Kiến thức Tần số (n85) Tỷ lệ (%)
Sử dụng BHLĐ khi pha, phun
Khẩu trang, khăn che 381 99 Ủng 375 97,4
Quần áo bảo hộ/áo mưa 272 70,6
Vệ sinh cá nhân sau phun
Tắm xà phòng + nước sạch 359 93,2
Tắm nước ấm, chanh, muối 10 2,6
Chỉ rửa mặt, chân, tay 4 1
Thực hành về sử dụng thuốc BVTV
Thực hành sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) được đánh giá qua bộ câu hỏi và quan sát, bao gồm việc lựa chọn đúng thuốc khi mua, thời điểm và thời tiết phun, địa điểm, liều lượng, cách pha, kiểm tra dụng cụ trước phun, chọn hướng gió, xử lý thuốc dư thừa, và bảo quản dụng cụ sau phun Kết quả nghiên cứu cho thấy điểm thực hành trung bình của đối tượng nghiên cứu là 14,6 với độ lệch chuẩn 2,78, trong khi điểm tối đa đạt được là 23 Điểm thực hành thấp nhất ghi nhận là 7 và cao nhất là 20.
3.3.1 Nhóm thực hành lựa chọn đúng thuốc BVTV khi mua
Theo Bảng 13, 91,7% đối tượng nghiên cứu kiểm tra nhãn mác khi mua thuốc BVTV Tỷ lệ lựa chọn thuốc có hướng dẫn bằng tiếng Việt đạt 90,4%, trong khi 89,1% ĐTNC đọc thông tin trên vỏ bao bì Đặc biệt, 97,4% ĐTNC kiểm tra dụng cụ phun trước khi sử dụng, chỉ có 2,6% không thực hiện việc này.
Bảng 13: Nhóm thực hành lựa chọn đúng thuốc khi mua và kiểm tra dụng cụ trước khi phun
Trong quá trình thu thập số liệu, chúng tôi phát hiện rằng người dân sử dụng nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) cho cây cam, quýt, trong đó phần lớn thuộc nhóm độc cao (Ib) với vạch cảnh báo màu vàng trên bao bì Đáng chú ý, một số người vẫn sử dụng thuốc diệt cỏ chứa Paraquat, thuốc trừ bệnh có Carbendazim và thuốc trừ sâu chứa Trichlorfon (Chlorophos), mặc dù cả ba loại hoạt chất này đã bị cấm lưu hành tại Việt Nam từ năm 2017.
Bên cạnh đó, theo thống kê của Trạm Trồng trọt và BVTV Bạch Thông, trong năm
Năm 2017, huyện Bạch Thông đã sử dụng gần 2,6 tấn thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), cho thấy sự gia tăng so với các năm trước, chủ yếu tập trung vào thuốc trừ sâu và bệnh cho cây cam, quýt và lúa Qua phỏng vấn và thảo luận nhóm với người dân, hầu hết các hộ gia đình cho biết họ mua thuốc BVTV từ các đại lý lớn tại thành phố Bắc Kạn.
Thực hành Tần số (n85) Tỷ lệ (%)
Lựa chọn thuốc có hướng dẫn bằng tiếng Việt
Không 37 9,6 Đọc thông tin trên vỏ bao bì
Kiểm tra dụng cụ trước phun
Số lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sử dụng tại huyện Bạch Thông có thể cao hơn so với số liệu thống kê của Trạm Trồng trọt và BVTV Bạch Thông, do giá thuốc HUPH rẻ hơn.
Bảng 14: Một số loại thuốc BVTV được thu thập tại thực địa
STT Tên hoạt chất Nhóm phân loại
1 Cypermethrin/Alpha- Cypermethrin Độc cao (Ib)
2 Petroleum Spray Oil Ít độc (III)
3 Chlorpyrifos Ethyl Độc trung bình (II)
4 Paraquat (đã bị loại khỏi danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam từ ngày 08/2/2017) Độc cao (Ib)
5 Fenobucarb Độc trung bình (II)
6 Trichlorfon/Chlorophos (đã bị loại khỏi danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam từ ngày
9 Glyphosate Isopropylamine salt Ít độc (III)
11 Carbendazim (đã bị loại khỏi danh mục được phép sử dụng tại Việt Nam từ ngày 03/1/2017) Độc trung bình (II)
13 Imidacloprid Độc trung bình (II)
14 Metsulfuron methyl Ít độc (III)
15 Pyridaben Độc trung bình (II)
3.3.2 Nhóm thực hành lựa chọn thời điểm, thời tiết và hướng gió khi phun
Đa số ĐTNC (đối tượng nông dân) chọn thời điểm phun thuốc bảo vệ thực vật đúng, với 99,2% lựa chọn phun vào buổi sáng sớm và 60,3% vào buổi chiều tối Tuy nhiên, vẫn còn một số ĐTNC chưa tuân thủ thời gian phun hợp lý.
HUPH phun có thể thực hiện vào buổi trưa với tỷ lệ 0,3% hoặc bất kỳ thời điểm nào với tỷ lệ 0,5% Một người dân tại xã Dương Phong chia sẻ: “Ở đây vẫn còn người đi phun đến 1 giờ chiều, họ cố gắng hoàn thành công việc.”
Bảng 15: Nhóm thực hành lựa chọn thời điểm, thời tiết và hướng gió khi phun
Theo Bảng 15, 96,9% đối tượng nghiên cứu chọn thời điểm phun thuốc BVTV khi trời mát (nắng nhẹ hoặc không nắng), tiếp theo là khi trời lặng gió (29,6%), trời nắng to (0,3%) và bất kỳ lúc nào (0,5%) Tỷ lệ thực hành lựa chọn thời tiết phù hợp để phun là 28,6% Về hướng gió, 88,1% đối tượng nghiên cứu chọn phun xuôi theo chiều gió, trong khi 6,8% phun ngược chiều gió và 5,2% không quan tâm đến hướng gió khi phun thuốc BVTV.
3.3.3 Nhóm thực hành lựa chọn địa điểm, liều lượng và cách pha thuốc BVTV
Thực hành Tần số (n85) Tỷ lệ (%)
Thời điểm phun thuốc BVTV
Trời mát (nắng nhẹ/không nắng) 373 96,9
Không quan tâm hướng gió 20 5,2
3.3.3.1 Thực hành lựa chọn địa điểm pha thuốc BVTV
Biểu đồ 1: Thực hành lựa chọn địa điểm pha thuốc BVTV
Theo Biểu đồ 1, có sự chênh lệch rõ rệt về tỷ lệ ĐTNC trong việc lựa chọn địa điểm pha thuốc BVTV Cụ thể, tỷ lệ ĐTNC chọn nương cam, quýt để pha thuốc BVTV qua phỏng vấn đạt 90,6% (n = 385), nhưng theo quan sát (n = 20) chỉ còn 45% Ngược lại, tỷ lệ ĐTNC pha thuốc tại khe nước, sông, suối, ao, hồ qua phỏng vấn là 8,4%, nhưng theo quan sát lại tăng lên 45% Điều này được minh chứng qua chia sẻ của một ĐTNC trong buổi thảo luận nhóm: “Ở đâu gần được nguồn nước mình pha được thì mình pha hoặc chỉ có bơm nước ở khu vực nào đấy xong lên vườn được thì mình pha ở gần vườn” (TLN1, xã Dương Phong).
Kết quả nghiên cứu cho thấy 85,2% ĐTNC pha thuốc BVTV theo chỉ dẫn trên bao bì, tuy nhiên, vẫn có 12,5% ĐTNC pha theo kinh nghiệm, 4,4% pha loãng hơn và 3,4% pha đặc hơn so với hướng dẫn Tỷ lệ ĐTNC thực hành đúng đạt 75,8% Một ĐTNC tại xã Dương Phong chia sẻ: “như anh vẫn làm thì tỷ lệ pha anh pha cứ theo hướng dẫn sử dụng.”
Tại nương cam, quýt Tại khe nước, sông, suối, ao, hồ
Nơi khác Phỏng vấn(n = 385) Quan sát (n = 20)
Bảng 16: Nhóm thực hành liều lượng và cách hòa tan thuốc BVTV
Trong nghiên cứu về cách hòa tan thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), phần lớn đối tượng (74,8%) sử dụng que khuấy để hòa tan thuốc Các phương pháp khác bao gồm lắc bình (11,4%), sử dụng vòi phun khấy (0,3%) và dùng tay khuấy (0,3%) Đặc biệt, một số đối tượng có máy phun thuốc BVTV (máy phun công nghiệp) đã áp dụng máy để sục thuốc BVTV, chiếm tỷ lệ 6,2%.
Tỷ lệ ĐTNC thực hành hòa tan thuốc BVTV đúng cách là 57,1%
3.3.4 Nhóm thực hành xử lý, bảo quản thuốc, dụng cụ sau phun
Kết quả nghiên cứu cho thấy, 93,2% ĐTNC xử lý thuốc đã pha dư thừa bằng cách phun lại vào cây và gốc cây cam, quýt Chỉ 3,6% đổ, chôn tại nương cam, quýt, và 0,8% để vào phi nước, đậy kín để dùng lần sau Đáng chú ý, chỉ có 0,8% ĐTNC thực hành đúng về xử lý thuốc BVTV đã pha dư thừa Một ĐTNC chia sẻ rằng nếu còn thừa thuốc sau khi phun hết vườn, họ có thể phun lại để đảm bảo độ đều cho cây.
Thực hành Tần số (n85) Tỷ lệ (%)
Liều lượng pha thuốc BVTV
Theo chỉ dẫn trên bao bì 328 85,2 Đặc hơn 13 3,4
Loãng hơn 17 4,4 Ước lượng theo kinh nghiệm 48 12,5
Theo chỉ dẫn của người bán 15 3,9
Cách hòa tan thuốc BVTV
Lấy vòi phun để khuấy 1 0,3
HUPH có thể là mình để đấy (tại vườn), đậy kín xong để phun lại lần sau chứ còn đổ đi cũng phí” (TLN2, xã Dương Phong)
Bảng 17: Nhóm thực hành xử lý, bảo quản thuốc và dụng cụ sau phun
Thực hành Tần số (n85) Tỷ lệ (%)
Xử lý thuốc đã pha dư thừa
Phun lại gốc, cây cam quýt cho hết 359 93,2 Đổ, chôn tại nương cam, quýt 14 3,6 Để thùng nước để dùng lần sau 3 0,8 Đổ xuống khe nước, sông, suối 2 0,5
Xử lý thuốc chưa pha dư thừa
Pha, phun lại cho hết 4 1
Cho vào túi, treo ở gốc cây 92 23,9
Mang về lán/nhà dùng lần sau 305 79,2
Treo cạnh nhà/gầm nhà sàn 118 30,6
Cất giữ dụng cụ phun
Treo cạnh nhà/gầm nhà sàn 155 40,3
Khác: treo ở cây, để ở sân 4 1
HUPH cho thấy rằng 79,2% ĐTNC đã xử lý thuốc BVTV chưa pha dư thừa bằng cách gói lại và cất dùng lần sau, trong khi 23,9% treo cây cam, quýt và chỉ 1% pha và phun lại vào cây cam, quýt cho hết Một số ĐTNC chỉ mua đủ lượng thuốc cho từng đợt phun để tránh dư thừa, chiếm 1,6% Tỷ lệ ĐTNC thực hành đúng trong việc xử lý thuốc BVTV chưa pha dư thừa đạt 73,2%.
Theo khảo sát, 30,6% đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) cất giữ thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trong túi nilon buộc kín và treo cạnh nhà hoặc gầm nhà sàn, trong khi 29,6% để tại lán trên nương Ngoài ra, 22,3% ĐTNC để thuốc tại kho chứa nông cụ, 15,3% để tại chuồng gia súc và 2,1% để trong nhà hoặc bếp Tổng cộng, có 51,9% ĐTNC thực hành đúng về lựa chọn địa điểm cất giữ thuốc BVTV Đối với dụng cụ phun thuốc BVTV, 40,3% ĐTNC cũng buộc kín và treo cạnh nhà hoặc gầm nhà sàn, 23,6% để tại kho chứa nông cụ, 18,7% cất giữ tại lán trên nương, 13,5% để tại chuồng gia súc, 1,8% để trong nhà hoặc bếp, và 1% để ở sân hoặc treo gần nhà Chỉ có 42,3% ĐTNC thực hành đúng về lựa chọn địa điểm cất giữ dụng cụ phun thuốc BVTV.
3.3.5 Nhóm thực hành xử lý vỏ bao bì và dụng cụ sau phun
Biểu đồ 2: Thực hành xử lý vỏ bao bì sau phun
Theo kết quả phỏng vấn, ĐTNC chủ yếu xử lý vỏ bao bì bằng cách chôn hoặc đốt tại nương (91,7%), trong khi chỉ có 3,2% gom vào một chỗ hoặc treo trên gốc cây, và 1,6% vứt ngay tại chỗ pha, phun Tỷ lệ ĐTNC thực hành đúng về xử lý vỏ bao bì thuốc BVTV sau phun là rất cao.
Gom để chôn, đốt tại nương
Gom 1 chỗ hoặc treo gốc cây
Vứt ngay tại chỗ phun, pha
Tiếp cận thông tin về thuốc BVTV
3.4.1 Nguồn cung cấp thông tin về thuốc BVTV
Bảng 20: Nguồn cung cấp thông tin về thuốc BVTV
Theo Bảng 20, nguồn thông tin về thuốc BVTV chủ yếu đến từ người bán thuốc (82,6%), tiếp theo là cán bộ khuyến nông (45,7%), bạn bè và hàng xóm (39%), người thân (24,4%), và các phương tiện truyền thông như tivi, đài, báo, internet (21%) Một số ít người tìm hiểu thông tin qua việc tự đọc vỏ bao bì (2,9%) hoặc tờ rơi, sách (0,8%) Phỏng vấn cán bộ nông nghiệp xã Dương Phong cho thấy, trung bình mỗi năm xã chỉ nhận được 02 lớp tập huấn về thuốc BVTV cho tất cả các loại cây trồng từ Trạm Trồng trọt và BVTV huyện Bạch Thông hoặc Chi cục bảo vệ thực vật tỉnh Bắc Kạn.
Nguồn cung cấp thông tin Tần số (n85) Tỷ lệ (%)
Tự đọc vỏ bao bì 11 2,9
3.4.2 Loại thông tin về thuốc BVTV được nhận
Theo nghiên cứu, thông tin về thuốc bảo vệ thực vật mà ĐTNC nhận được chủ yếu bao gồm tác dụng của thuốc (94,3%), cách sử dụng (73,5%), và tác hại của thuốc (26%) Ngoài ra, chỉ có 8,6% thông tin về cách xử trí khi bị nhiễm độc, 3,6% về các loại thuốc mới và hiệu quả, 1,3% về cách sử dụng đồ bảo hộ lao động, và 0,5% về cách phân biệt thuốc thật và giả.
Bảng 21: Loại thông tin về thuốc BVTV mà ĐTNC đã được nhận
3.4.3 Thông tin về thuốc BVTV mong muốn nhận thêm
Trong số 385 đối tượng nghiên cứu, 331 (86%) ĐTNC có nhu cầu nhận thêm thông tin về thuốc BVTV, trong khi chỉ 54 (14%) không có nhu cầu Trong số 331 ĐTNC này, 51,1% mong muốn biết thêm về tác dụng của thuốc BVTV, 47,1% về cách sử dụng, 43,5% về tác hại, 40,5% về cách xử trí khi bị nhiễm độc, 12,4% về thuốc mới và hiệu quả, 3,3% về thuốc sinh học ít độc, 2,1% về cách phân biệt thuốc thật và giả, và 0,9% về cách sử dụng đồ BHLĐ Về hình thức truyền thông, hơn 2/3 ĐTNC (30,2%) mong muốn được cán bộ khuyến nông hướng dẫn, tiếp theo là người bán thuốc BVTV (27,2%).
Thông tin được nhận Tần số (n85) Tỷ lệ (%)
Tác dụng của thuốc BVTV 363 94,3
Cách sử dụng thuốc BVTV 283 73,5
Tác hại của thuốc BVTV 100 26
Cách xử trí khi bị nhiễm độc 33 8,6
Cách sử dụng đồ BHLĐ 5 1,3
Cách phân biệt thuốc thật, giả 2 0,5
HUPH qua kênh tivi, đài, báo, internet (18,1%); qua bạn, bè, hàng xóm (13,3%); qua người thân (6,9%) và tự đọc, xem tờ rơi, sách báo (6,3%)
Bảng 22: Thông tin về thuốc BVTV mà ĐTNC mong nhận thêm
Một số yếu tố liên quan đến thực hành sử dụng thuốc BVTV an toàn
3.5.1 Mối liên quan giữa yếu tố nhân khẩu học với thực hành sử dụng thuốc BVTV an toàn
Thông tin Tần số Tỷ lệ (%)
Nhu cầu nhận thêm thông tin (n85)
Tác dụng của thuốc BVTV 169 51,1
Tác hại của thuốc BVTV 144 43,5
Cách sử dụng thuốc BVTV 156 47,1
Cách xử trí khi bị nhiễm độc 134 40,5
Loại thuốc mới, hiệu quả 41 12,4
Thuốc sinh học, ít độc 11 3,3
Cách phân biệt thuốc thật-giả 7 2,1
Cách sử dụng đồ BHLĐ 3 0,9
Nguồn cung cấp thông tin
3.5.1.1 Mối liên quan giữa nhóm dân tộc và thực hành sử dụng thuốc an toàn Bảng 23: Mối liên quan giữa nhóm dân tộc và trung bình điểm thực hành Đặc điểm Tần số
(n85) Điểm trung bình thực hành Dân tộc
Dân tộc thiểu số khác 80 14
(t 383 = 2, p < 0,05 (95% CI, 0,036 – 1,403)) Trình độ học vấn
Nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt đáng kể về điểm trung bình thực hành giữa nhóm dân tộc Tày và các dân tộc khác, với điểm trung bình thực hành của nhóm Tày là 14,7 so với 14 của nhóm khác (t 383 = 2, p < 0,05) Trung bình sự khác biệt về điểm kiến thức giữa hai nhóm là 0,72 với khoảng tin cậy 95% (95% CI, 0,036 – 1,403) Ngoài ra, điểm trung bình thực hành của nhóm dân tộc Tày là 14,9, trong khi nhóm sử dụng dụng cụ phun có điểm trung bình là 13,9 Sự khác biệt về điểm trung bình thực hành giữa nhóm sử dụng máy phun công nghiệp và nhóm sử dụng bình phun điện, cơ cũng được xác định (t 383 = 3,304, p < 0,05), với trung bình sự khác biệt về điểm kiến thức là 1,03 và khoảng tin cậy 95% (95% CI, 0,036 – 1,403).
Kết quả nghiên cứu cho thấy điểm trung bình thực hành sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) an toàn giữa các nhóm trình độ học vấn có sự khác biệt rõ rệt Cụ thể, nhóm không biết chữ đạt 11,4 điểm, nhóm tiểu học 13,8 điểm, nhóm THCS 14,8 điểm và nhóm từ THPT trở lên 15,7 điểm Phân tích thống kê cho thấy sự khác biệt này là có ý nghĩa với giá trị F(3, 381) = 19,035 và p < 0,001.
3.5.1.2 Mối liên quan giữa nhóm tuổi và thực hành sử dụng thuốc an toàn
Bảng 24: Trung bình điểm thực hành theo nhóm tuổi và giới Đặc điểm Tần số
(n85) Điểm trung bình thực hành Nhóm tuổi
Kết quả nghiên cứu cho thấy điểm trung bình thực hành sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) an toàn ở các nhóm tuổi khác nhau không có sự khác biệt đáng kể Cụ thể, điểm trung bình của nhóm dưới 30 tuổi là 14,1, nhóm 30-39 tuổi là 14,8, nhóm 40-49 tuổi là 14,3, nhóm 50-59 tuổi là 15,0 và nhóm từ 60 tuổi trở lên là 13,6 Thống kê cho thấy giá trị t là -0,21 với p > 0,05, cho thấy không có sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm tuổi trong việc thực hành sử dụng thuốc BVTV an toàn.
Điểm trung bình thực hành sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn của nam giới là 14,6 và của nữ giới là 14,61 Không có sự khác biệt ý nghĩa thống kê về điểm số trung bình giữa nam và nữ (t383 = -0,21, p > 0,05).
3.5.2 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành sử dụng thuốc BVTV an toàn
Sử dụng mô hình hồi tuyến tính quy đơn biến, nghiên cứu cho thấy có mối liên quan thống kê đáng kể giữa thực hành sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) an toàn và kiến thức về thuốc BVTV an toàn (F1, 383 = 179,1, p < 0,001) Phương trình hồi quy được xác định là: Điểm thực hành = 6,94 + 0,665 x (điểm kiến thức), cho thấy rằng mỗi điểm kiến thức tăng lên sẽ làm tăng điểm thực hành sử dụng thuốc BVTV an toàn thêm 0,665 đơn vị, với khoảng tin cậy 95% là CI: 0,567 – 0,763.
3.5.3 Mô hình hồi quy tuyến tính về mối liên quan giữa một số yếu tố với thực hành sử dụng thuốc BVTV
Bảng 25 trình bày mô hình hồi quy tuyến tính đa biến, phân tích các yếu tố liên quan đến thực hành sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) an toàn Các đặc điểm và hệ số hồi quy được nêu rõ, cùng với ý nghĩa thống kê được thể hiện qua giá trị p.
Khoảng tin cậy Điểm kiến thức 0,607 < 0,001 0,503 – 0,711
Trình độ học vấn tiểu học 1,476 < 0,05 0,327 – 2,625 Trình độ học vấn THCS 2,233 < 0,001 1,063 – 3,404 Trình độ học vấn ≥ THPT 2,446 < 0,001 1,217 – 3,675
Phương trình tuyến tính: Điểm thực hành = 6,171 + 0,607 x (Điểm kiến thức) +
0,667 x (Nhóm dân tộc) + 1,476 x (Trình độ học vấn tiểu học) + 2,233 x (Trình độ học vấn THCS) + 2,446 x (Trình độ học vấn THPT trở lên)
Trong đó biến phụ thuộc: Điểm thực hành về sử dụng thuốc BVTV đúng cách
Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính với phương pháp Enter cho thấy giá trị Ajusted R² là 0,346, F = 41,561 và p < 0,001 Theo Bảng 25, phương trình tuyến tính được xác định là: Điểm thực hành = 6,171 + 0,607 x (Điểm kiến thức) + 0,667 x (Nhóm dân tộc) + 1,476 x (Trình độ học vấn tiểu học) + 2,233 x (Trình độ học vấn THCS) + 2,446 x.
Khi trình độ học vấn tăng lên từ tiểu học đến THPT trở lên, điểm thực hành cũng tăng theo Cụ thể, mỗi điểm kiến thức tăng thêm sẽ làm điểm thực hành tăng 0,607 Đối với nhóm dân tộc, khi chuyển từ dân tộc Tày sang nhóm dân tộc khác, điểm thực hành tăng thêm 0,667 Nếu trình độ học vấn là tiểu học, điểm thực hành tăng 1,476; với trình độ THCS, điểm thực hành tăng 2,233; và khi đạt trình độ THPT trở lên, điểm thực hành sẽ tăng thêm 2,446 điểm.