ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Các văn bản về kết quả 4 năm (2016, 2017, 2018, 2019) thực hiện các tiêu chí về phòng ngừa và KSNK
- Tiêu chí chọn: Các văn bản có chữ ký của lãnh đạo và được đóng dấu TTYT
Phú Tân/Bệnh viện đa khoa Phú Tân
Cán bộ quản lý của trung tâm bao gồm 01 Giám đốc hoặc Phó Giám đốc, giữ vai trò Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng KSNK; 01 Trưởng khoa KSNK; và 01 Trưởng phòng KHNV, người phụ trách công tác CTCL của trung tâm.
Lãnh đạo các khoa/phòng trực thuộc TTYT; Các thành viên Mạng lưới KSNK
- Tiêu chí chọn: Các đối tượng có thời gian công tác tại TTYT Phú Tân trên 4 năm
- Tiêu chí loại trừ: Các đối tượng không đồng ý tham gia nghiên cứu hoặc không có mặt tại thời điểm nghiên cứu.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Từ tháng 03 năm 2020 đến tháng 08 năm 2020
Tại Trung tâm y tế huyện Phú Tân, tỉnh An Giang
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp cắt ngang, kết hợp giữa định lượng (hồi cứu số liệu thứ cấp) và định tính Phương pháp định tính được thực hiện sau định lượng nhằm giải thích các kết quả định lượng.
Cỡ mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng (số liệu thứ cấp)
Báo cáo tổng kết đánh giá chất lượng bệnh viện tại TTYT Phú Tân năm 2023 đã được thực hiện, bao gồm Phiếu đánh giá 6 tiêu chí thuộc nhóm C4 về phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn.
2016, 2017, 2018, 2019 của Sở Y tế An Giang
2.4.2 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính
Phỏng vấn sâu 03 cuộc, bao gồm: 01 Giám đốc/phó Giám đốc trung tâm; 01 Trưởng khoa KSNK, 01 là trưởng phòng KHNV
Thảo luận nhóm 02 cuộc, bao gồm: 01 Lãnh đạo các khoa/phòng trực thuộc TTYT; 01 Các thành viên Mạng lưới KSNK.
Phương pháp chọn mẫu
2.5.1 Chọn mẫu cho phương pháp nghiên cứu định lượng
Chúng tôi đã thu thập toàn bộ phiếu đánh giá kết quả thực hiện các tiêu chí C4 liên quan đến phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn, cùng với các báo cáo tổng kết đánh giá chất lượng bệnh viện trong khoảng thời gian 4 năm, từ năm 2016 đến năm 2019.
2.5.2 Chọn mẫu cho phương pháp nghiên cứu định tính
Chọn có chủ đích những người sẵn sàng chia sẻ thông tin chính theo tiêu chí chọn
- 01 Giám đốc/phó Giám đốc trung tâm là Chủ tịch/phó Chủ tịch Hội đồng KSNK
- 01 Trưởng khoa KSNK người chịu trách nhiệm chính tổ chức triển khai các hoạt động phòng ngừa và KSNK tại trung tâm
- 01 Trưởng phòng KHNV phụ trách công tác CTCL của trung tâm
Cuộc thảo luận nhóm (TLN) được tổ chức với sự tham gia của lãnh đạo các khoa/phòng trực thuộc TTYT, bao gồm từ 8 đến 10 người có trách nhiệm chính trong việc triển khai các hoạt động phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) tại các khoa/phòng.
Cuộc thảo luận nhóm với các thành viên Mạng lưới KSNK bao gồm từ 8 đến 10 người, nhằm kiểm tra và giám sát các hoạt động phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn tại các khoa/phòng.
Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Xây dựng và hoàn thiện bộ công cụ nghiên cứu
Bộ công cụ nghiên cứu được phát triển dựa trên Mẫu phiếu đánh giá tiêu chí chất lượng trong Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện tại Việt Nam (phiên bản 2.0).
1) Phiếu điều tra hồi cứu số liệu thứ cấp (Phụ lục 2)
2) Phiếu hướng dẫn Phỏng vấn sâu (phụ lục 3, 4)
3) Phiếu hướng dẫn Thảo luận nhóm (phụ lục 5, 6)
- Nghiên cứu viên (NCV) là người trực tiếp thực hiện điều tra thu thập số liệu
Sau khi hoàn thiện phiếu điều tra, nhóm nghiên cứu đã tiến hành thử nghiệm bộ công cụ nghiên cứu định lượng để đánh giá tính phù hợp và khả thi Dựa trên kết quả thử nghiệm, nội dung của bộ công cụ đã được chỉnh sửa trước khi tiến hành điều tra chính thức.
Sau khi thu thập dữ liệu từ nghiên cứu định lượng, NCV đã điều chỉnh các nội dung của bộ công cụ định tính hiện có Tiếp theo, NCV xin ý kiến và thực hiện phỏng vấn thử một đối tượng để kiểm tra tính phù hợp của bộ câu hỏi, sau đó tiến hành chỉnh sửa trước khi thực hiện phỏng vấn chính thức.
2.6.2 Thu thập thông tin định lượng
Nghiên cứu viên đã làm việc với cán bộ phụ trách lưu trữ hồ sơ và văn bản liên quan đến kết quả thực hiện các tiêu chí C4 về phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn trong 4 năm (2016, 2017, 2018, 2019) Để thu thập số liệu, phiếu điều tra được thiết kế sẵn đã được sử dụng.
2.6.3 Thu thập thông tin định tính
Tiến hành thực hiện thu thập thông tin định tính sau khi có số liệu nghiên cứu từ thu thập thông tin định lượng
2.6.3.1 Phỏng vấn sâu: Những người cung cấp thông tin chính theo hướng dẫn PVS (Phụ lục 3, 4) với các đối tượng: Giám đốc/phó Giám đốc trung tâm; Trưởng khoa KSNK và Trưởng phòng KHNV
NCV sẽ gặp gỡ các đối tượng nghiên cứu và tiến hành phỏng vấn sâu (PVS) sau khi họ ký vào phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu (Phụ lục 7) Để đảm bảo không bỏ sót thông tin và thu thập dữ liệu hiệu quả, NCV sẽ ghi âm kết hợp với ghi chép trong suốt quá trình phỏng vấn Thời gian mỗi cuộc PVS kéo dài từ 30 đến 45 phút, và mỗi cuộc phỏng vấn sẽ có một biên bản riêng được lưu giữ làm tài liệu thu thập.
2.6.3.2 Thảo luận nhóm: Thực hiện 02 cuộc TLN với các đối tượng là lãnh đạo các khoa/phòng trực thuộc TTYT và các đối tượng là thành viên Mạng lưới KSNK
Để thực hiện, NCV cần gặp lãnh đạo trung tâm để xin phép thực hiện TLN và xác định địa điểm tổ chức Sau đó, NCV sẽ liên hệ với các đối tượng NC, bao gồm lãnh đạo các khoa/phòng và các thành viên của Mạng lưới KSNK theo quyết định thành lập Mạng lưới KSNK của giám đốc.
HUPH đã tiến hành tiếp xúc với các đối tượng để giới thiệu mục đích nghiên cứu và phiếu đồng ý tham gia Sau đó, danh sách những người đồng ý tham gia được rút gọn và chia thành hai nhóm theo tiêu chí đã chọn Cuộc thử nghiệm lâm sàng (TLN) diễn ra trong khoảng thời gian từ 45 đến 60 phút.
NCV đã tiến hành cuộc TLN theo hướng dẫn có sẵn (Phụ lục 5, 6) với sự hỗ trợ của một thư ký Cuộc TLN được ghi âm để phục vụ cho việc phân tích số liệu sau này Thư ký cũng đã ghi biên bản diễn biến và tóm tắt nội dung của các cuộc TLN.
2.7 Các biến số nghiên cứu (Phụ lục 1)
Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá
Căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá hoạt động chất lượng theo Bộ Tiêu chí chất lượng bệnh viện Việt Nam (Phiên bản 2.0) năm 2016 của Bộ Y tế [12]:
- Mỗi tiêu chí có 5 điểm, tương đương 05 mức độ chất lượng như sau:
Mức 1 (dưới 2 điểm) thể hiện chất lượng kém, bao gồm việc chưa thực hiện hoặc chưa tiến hành cải tiến chất lượng, cũng như vi phạm các văn bản quy pháp luật, quy chế, quy định và quyết định.
+ Mức 2 (từ 2 đến 2,9 điểm): Chất lượng trung bình (đã thiết lập một số yếu tố đầu vào)
+ Mức 3 (từ 3 đến 3,9 điểm): Chất lượng khá (đã hoàn thiện đầy đủ các yếu tố đầu vào, có kết quả đầu ra)
+ Mức 4 (từ 4 đến 4,9 điểm): Chất lượng tốt (có kết quả đầu ra tốt, có nghiên cứu, đánh giá lại công việc và kết quả đã thực hiện)
Mức 5 (5 điểm) thể hiện chất lượng rất tốt, với kết quả đầu ra xuất sắc Kết quả đánh giá và nghiên cứu được áp dụng để cải tiến chất lượng, đồng thời tiếp cận với tiêu chuẩn chất lượng bệnh viện của các nước trong khu vực và các nước tiên tiến trên thế giới.
- Điểm trung bình chung công tác phòng ngừa và KSNK được tính bằng tổng điểm của 6 tiêu chí chia cho 6
Kết quả đánh giá các tiêu chí hàng năm được thực hiện thông qua phiếu đánh giá phúc tra cuối năm, do các chuyên gia phụ trách công tác phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) của Sở Y tế thực hiện.
Phương pháp phân tích số liệu
2.9.1 Phân tích số liệu định lượng
Số liệu được kiểm tra, làm sạch nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 và xử lý phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0
Sử dụng phương pháp phân tích mô tả để tính tỷ lệ phần trăm cho các biến phân loại và tính giá trị trung bình cùng độ lệch chuẩn dưới dạng ± SD cho các biến định lượng.
2.9.2 Phân tích số liệu định tính
Các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được ghi âm và chuyển đổi thành văn bản Word một cách chính xác Thông tin được tóm tắt, mã hoá và tổng hợp theo các chủ đề liên quan, đồng thời trích dẫn phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.
Sai số trong nghiên cứu, biện pháp khắc phục
Sai số trong thu thập thông tin từ bộ cộng cụ điều tra có thể được khắc phục bằng cách thử nghiệm bộ công cụ định lượng trước khi tiến hành điều tra, đồng thời chỉnh sửa bộ công cụ định tính sau khi đã thu thập thông tin định lượng.
Để thu thập thông tin hiệu quả, nghiên cứu viên (NCV) cần rèn luyện kỹ năng phỏng vấn và điều hành thảo luận nhóm (TLN) một cách tốt nhất Để khắc phục những vấn đề có thể phát sinh, NCV đã thảo luận cẩn thận với các đối tượng tham gia nghiên cứu về phương pháp phỏng vấn trước khi tiến hành Điều tra viên cũng chính là nghiên cứu viên thực hiện đề tài này.
Để khắc phục sai số trong quá trình nhập liệu và xử lý số liệu, cần sử dụng hai người nhập liệu và kiểm tra 10% phiếu sau khi hoàn thành việc nhập liệu.
Đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu chỉ được tiến hành sau khi nhận được sự chấp thuận từ lãnh đạo TTYT huyện Phú Tân và được Hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế Công cộng thông qua Kết quả nghiên cứu sẽ tạo ra cơ sở dữ liệu và cung cấp bằng chứng khoa học, góp phần nâng cao chất lượng kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) cũng như cải thiện chất lượng chăm sóc và điều trị cho bệnh nhân nội trú tại trung tâm.
Nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp, không có hoạt động can thiệp vào đối tượng nghiên cứu và người bệnh
Người cung cấp thông tin chính trong nghiên cứu phỏng vấn định tính tham gia hoàn toàn tự nguyện và có quyền từ chối tham gia cũng như dừng phỏng vấn bất kỳ lúc nào.
Nghiên cứu không ảnh hưởng tới quyền lợi và tính riêng tư của những người cung cấp thông tin định tính
Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho việc khác
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thực trạng thực hiện phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn tại trung tâm y tế Phú Tân, An Giang giai đoạn 2016 - 2019
tế Phú Tân, An Giang giai đoạn 2016 - 2019
3.1.1 Kết quả đánh giá chung
Kết quả từ Biểu đồ 3.1 cho thấy nhóm tiêu chí phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn (C4) trong giai đoạn 2016 - 2019 luôn đạt mức chất lượng khá, với điểm số dao động từ 3 đến dưới 4 điểm Đặc biệt, điểm trung bình đã tăng từ 3,0 điểm vào năm 2016 lên 3,5 điểm trong hai năm 2017 và 2018, và đạt 3,83 điểm vào năm 2019.
Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Điểm Chất lượng Mức Chất lượng
3.1.2 Kết quả đánh giá theo từng tiêu chí
3.1.2.1 Tiêu chí C4.1: Thiết lập và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn
Biểu đồ 3.2: Kết quả chất lượng tiêu chí C4.1 thiết lập và hoàn thiện hệ thống KSNK
Tiêu chí C4.1 về hệ thống KSNK đã đạt mức chất lượng 3 với 12 tiểu mục vào năm 2016 và duy trì ở mức 4 với 18 tiểu mục trong 3 năm tiếp theo.
Bảng 3.1: Tình hình thực hiện các tiểu mục tiêu chí C4.1 thiết lập và hoàn thiện hệ thống KSNK
Tiểu mục dừng mức tiêu chí Đạt Chưa đạt
Trưởng khoa KSNK cần có chứng chỉ khóa học KSNK với thời gian đào tạo tối thiểu 3 tháng hoặc bằng sau đại học chuyên ngành liên quan đến KSNK.
Tiểu mục 19: Trưởng khoa KSNK có trình độ sau đại học đúng chuyên ngành liên quan tới KSNK
Tiểu mục 21: Thành viên hội đồng, mạng lưới được tập huấn về KSNK và có chứng chỉ chiếm từ 50% trở lên
Mức chất lượng: Mức 1 (2 tiểu mục); Mức 2 (5 tiểu mục) Mức 3 (12 tiểu mục); Mức 4 (18 tiểu mục); Mức 5 (21 tiểu mục)
Trong năm 2016, trung tâm đã thực hiện được 17/21 tiểu mục theo tiêu chí C4.1, nhưng dừng lại ở tiểu mục 17 do trưởng khoa KSNK chưa được đào tạo Đến năm 2017, trung tâm đã khắc phục được 2 tiểu mục 17 và 20, nhưng vẫn dừng lại ở tiểu mục 19 Trong hai năm 2018 và 2019, trung tâm đã khắc phục tiểu mục 19 và dừng lại ở tiểu mục cuối cùng, nhằm thiết lập và hoàn thiện hệ thống KSNK đạt mức 5.
Nhận xét quá trình trực hiện tiêu chí thiết lập và hoàn thiện hệ thống KSNK, lãnh đạo trung tâm cho biết:
Kết quả kiểm tra năm 2016 cho thấy trung tâm đã đạt tiểu mục 18 và nâng mức lên 4, nhưng đoàn kiểm tra không chấp nhận tiểu mục 17, do đó chỉ đạt mức 3 với 12 tiểu mục được công nhận Các tiêu chí còn lại không được chấm điểm trong năm 2018.
2019 chúng tôi chỉ còn 1 tiểu mục cuối cùng để nâng tiêu chí lên mức 5 ” (PVS_01)
“ năm 2016, tiểu mục 17 trưởng khoa KSNK có chứng chỉ chuyên môn KSNK thời gian đào tạo dưới 3 tháng nên không được công nhận ” (PVS_03)
“ tiểu mục 21 sẽ được ưu tiên thực hiện trong thời gian tới ” (PVS_02)
3.1.2.2 Tiêu chí C4.2: Xây dựng và hướng dẫn nhân viên y tế thực hiện các quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn trong bệnh viện
Biểu đồ 3.3: Kết quả chất lượng của tiêu chí C4.2 xây dựng và hướng dẫn NVYT thực hiện các quy trình KSNK
Mức chất lượng: Mức 1 (1 tiểu mục); Mức 2 (3 tiểu mục); Mức 3
(6 tiểu mục); Mức 4 (9 tiểu mục); Mức 5 (13 tiểu mục)
Tiêu chí C4.2 xây dựng và hướng dẫn NVYT thực hiện các quy trình KSNK đạt chất lượng mức 4 (9 tiểu mục) trong giai đoạn 2016 - 2019
Bảng 3.2: Tình hình thực hiện các tiểu mục của tiêu chí C4.2 xây dựng và hướng dẫn NVYT thực hiện các quy trình KSNK
Tiểu mục dừng tiêu chí Đạt Chưa đạt
Tiểu mục 11: Có tiến hành nghiên cứu, đánh giá hoặc giám sát việc thực hiện các quy trình và hướng dẫn phòng ngừa KSNK
Tiểu mục 13: Áp dụng kết quả nghiên cứu và đánh giá vào việc cải tiến chất lượng thực hiện các quy trình và hướng dẫn phòng ngừa KSNK trong bệnh viện là rất quan trọng Việc giám sát chặt chẽ sẽ giúp nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đảm bảo an toàn cho bệnh nhân và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.
Trong năm 2016, tiêu chí C4.2 đã hướng dẫn nhân viên y tế thực hiện các quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK), đạt được 10/13 tiểu mục Tuy nhiên, tiêu mục 11 chưa được thực hiện do thiếu nghiên cứu và giám sát Từ năm 2017 đến 2019, trung tâm đã khắc phục các vấn đề ở tiểu mục 11 và 12, nhưng vẫn dừng lại ở tiểu mục 13 do chưa áp dụng kết quả từ tiểu mục 11 vào thực tế.
Nhận xét quá trình trực hiện tiêu chí C4.2 xây dựng và hướng dẫn NVYT thực hiện các quy trình KSNK, lãnh đạo trung tâm cho biết:
Vào năm 2016, trung tâm đã đạt 10/13 tiểu mục, nhưng 3 tiểu mục chỉ đạt mức 5, dẫn đến việc chỉ được công nhận 9 tiểu mục ở mức 4 Trong 3 năm qua, mặc dù chúng tôi đã nỗ lực khắc phục, tiểu mục cuối cùng vẫn chưa được công nhận do cần thực hiện theo kế hoạch và phương pháp chi tiết hơn theo đánh giá của đoàn kiểm tra.
3.1.2.3 Tiêu chí C4.3: Triển khai chương trình và giám sát tuân thủ vệ sinh tay
Biểu đồ 3.4: Kết quả chất lượng của tiêu chí C4.3 triển khai chương trình và giám sát tuân thủ VST
Chất lượng tiêu chí C4.3 về triển khai chương trình và giám sát tuân thủ VST đã đạt mức 4 với 17 tiểu mục vào năm 2016, nhưng trong 3 năm tiếp theo chỉ đạt mức 3 với 11 tiểu mục.
Bảng 3.3: Tình hình thực hiện các tiểu mục của tiêu chí C4.3 Triển khai chương trình và giám sát tuân thủ VST
Tiểu mục dừng tiêu chí Đạt Chưa đạt
Tiểu mục 19: Tiến hành biện pháp can thiệp tăng cường tuân thủ VST
Tiểu mục 12: Có hệ thống bồn rửa tay cho nhân viên,
NB, người nhà NB và khách đến thăm tại tất cả các khoa/phòng trong bệnh viện
Mức chất lượng: Mức 1 (2 tiểu mục); Mức 2 (5 tiểu mục); Mức 3
(11 tiểu mục); Mức 4 (17 tiểu mục); Mức 5 (21 tiểu mục)
Trong năm 2016, tiêu chí C4.3 về triển khai chương trình và giám sát tuân thủ vệ sinh tay (VST) đã đạt được 18/21 tiểu mục, nhưng dừng lại ở tiểu mục 19 do chưa thực hiện biện pháp can thiệp tăng cường tuân thủ Từ năm 2017 đến 2019, tiêu chí này tiếp tục dừng lại ở tiểu mục 12, vì Bộ Y tế đã ban hành hướng dẫn đánh giá mới, yêu cầu hệ thống bồn rửa tay cho bệnh nhân, người nhà và khách thăm tại tất cả các phòng bệnh nội trú Do đó, tiêu chí này chỉ đạt 17/21 tiểu mục.
Nhận xét quá trình trực hiện tiêu chí C4.3 triển khai chương trình và giám sát tuân thủ VST, lãnh đạo trung tâm cho biết:
Vào năm 2016, chúng tôi đã triển khai chương trình và giám sát tuân thủ vệ sinh tay, đạt 17 tiểu mục ở mức 4 và 1 tiểu mục ở mức 5, dừng lại ở tiểu mục 19 Tuy nhiên, từ năm 2017, đoàn phúc tra của Sở Y tế đã đánh giá theo hướng dẫn mới của Bộ Y tế, dẫn đến việc tiểu mục 12 không đạt, chỉ công nhận 11 tiểu mục ở mức 3, mặc dù chúng tôi đã hoàn thành 17/21 tiểu mục trong tiêu chí này.
“…tiểu mục 12 trong 3 năm không khắc phục được do chưa có nguồn kinh phí ” (PVS_01)
3.1.2.4 Tiêu chí C4.4: Giám sát, đánh giá việc triển khai kiểm soát nhiễm khuẩn
Biểu đồ 3.5: Kết quả chất lượng tiêu chí C4.4 giám sát, đánh giá việc triển khai KSNK
Mức chất lượng: Mức 1 (1 tiểu mục); Mức 2 (2 tiểu mục); Mức
3 (8 tiểu mục); Mức 4 (13 tiểu mục); Mức 5 (20 tiểu mục)
Chất lượng của tiêu chí C4.4 đạt mức 3 (8 tiểu mục) trong năm 2016 và đạt mức
4 (13 tiểu mục) trong 3 năm tiếp theo
Bảng 3.4: Tình hình thực hiện các tiểu mục tiêu chí C4.4 giám sát, đánh giá việc triển khai KSNK
Tiểu mục dừng tiêu chí Đạt Chưa đạt
Tiểu mục 9: Tiến hành theo dõi tình hình vi khuẩn kháng thuốc và báo cáo theo quy định
Tiểu mục 16 đề cập đến việc công bố tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện trong các báo cáo, bao gồm tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ trong tổng số phẫu thuật, tỷ lệ viêm phổi bệnh viện trên 1000 ngày thở máy, tỷ lệ nhiễm khuẩn tiết niệu trên 1000 ngày mang xông tiểu (sonde), và tỷ lệ nhiễm khuẩn huyết.
1000 ca-te (catheter) tĩnh mạch trung tâm)
Trong tiêu chí C4.4 về giám sát và đánh giá việc triển khai KSNK năm 2016, trung tâm đã thực hiện được 12/20 tiểu mục, dừng lại ở tiểu mục 9 Từ năm 2017 đến 2019, trung tâm đã khắc phục được 3 tiểu mục 9, 14, 15, nhưng vẫn dừng lại ở tiểu mục 16, đạt tổng cộng 15/20 tiểu mục.
Nhận xét quá trình trực hiện tiêu chí C4.4 giám sát, đánh giá việc triển khai KSNK, lãnh đạo trung tâm cho biết:
Vào năm 2016, với tiêu chí giám sát và đánh giá việc triển khai kiểm soát nhiễm khuẩn, chúng tôi đã hoàn thành 13 tiểu mục ở mức 4 Tuy nhiên, đoàn phúc tra không công nhận báo cáo theo dõi tình hình vi khuẩn kháng thuốc của trung tâm ở tiểu mục 9, dẫn đến việc chỉ đạt được mức 3 với 8 tiểu mục, mặc dù thực tế đã hoàn thành 12/20 tiểu mục.
Vào năm 2017, chúng tôi đã khắc phục những hạn chế của tiêu mục 9 và hoàn thành 15 trong số 20 tiểu mục Hiện tại, vẫn còn 5 tiểu mục cần cải thiện để đạt mức 5, do đó, tiêu chí này chỉ được đoàn phúc tra công nhận 13/20 tiểu mục.
3.1.2.5 Tiêu chí C4.5: Chất thải rắn y tế được quản lý chặt chẽ, xử lý an toàn và tuân thủ theo đúng quy định
Biểu đồ 3.6: Kết quả chất lượng của tiêu chí C4.5 quản lý Chất thải rắn y tế
Chất lượng của tiêu chí C4.5 quản lý Chất thải rắn y tế đạt mức 3 (11 tiểu mục) trong năm 2016 và đạt mức 4 (21 tiểu mục) trong 3 năm tiếp theo
Bảng 3.5: Tình hình thực hiện các tiểu mục của tiêu chí C4.5 quản lý Chất thải rắn y tế
Tiểu mục dừng tiêu chí Đạt Chưa đạt
Tiểu mục 16: Có nhà kho (hoặc khu riêng biệt) để chứa các dụng cụ làm vệ sinh
Tiểu mục 25: Có thu gom chất thải tái chế riêng để giao cho đơn vị có tư cách pháp nhân thực hiện việc tái chế
Mức chất lượng: Mức 1 (5 tiểu mục); Mức 2 (11 tiểu mục);
Mức 3 (16 tiểu mục); Mức 4 (21 tiểu mục); Mức 5 (29 tiểu mục)
Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng thực hiện phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn tại trung tâm y tế Phú Tân giai đoạn 2016 - 2019
3.2.1 Các yếu tố quản lý
Các yếu tố về quản lý đã ảnh hưởng tích cực đến kết quả của công tác phòng ngừa và KSNK
Lãnh đạo trung tâm chú trọng vào việc xây dựng hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) theo đúng hướng dẫn của Thông tư 18/2009/TT-BYT và Thông tư 16/2018/TT-BYT, tạo nền tảng vững chắc cho công tác KSNK Điều này giúp các yêu cầu của tiêu chí C4.1 trong việc thiết lập và hoàn thiện hệ thống KSNK trở nên dễ dàng thực hiện và duy trì ở mức tốt.
Tiêu chí cơ bản theo Thông tư 18/2009/TT-BYT bao gồm 18 tiểu mục ở mức 4, trong đó tiểu mục 17 yêu cầu trưởng khoa đào tạo chuyên ngành KSNK 3 tháng là điểm mới trong phiên bản 2.0 so với phiên bản 1.0 Tuy nhiên, yêu cầu này đã được khắc phục ngay trong năm 2017.
Từ năm 2009, đơn vị đã thực hiện theo Thông tư 18 của Bộ Y tế, thành lập các bộ phận trong hệ thống Kiểm soát Nhiễm khuẩn (KSNK) Do đó, việc thiết lập và hoàn thiện hệ thống KSNK theo các tiểu mục của tiêu chí C4.1 trở nên dễ dàng đạt được.
“…ngay sau phúc tra cuối năm 2016, chúng tôi cử ngay trưởng khoa KSNK đi
HUPH đã hoàn thành chương trình đào tạo chuyên môn KSNK trong 3 tháng, với việc khắc phục tiểu mục 17, góp phần nâng cao tiêu chí C4.1 và thiết lập hệ thống KSNK ổn định ở mức 4.
Lãnh đạo trung tâm thực hiện hoạch định chiến lược hành động KSNK bằng cách hoàn thành tất cả các tiểu mục có thể đạt được, ngay cả khi chúng nằm ở mức tiêu chí cao hơn Mục tiêu là tạo ra nguồn tiêu chí sẵn có để nâng cao chất lượng cho năm tiếp theo Trong 6 tiêu chí thuộc nhóm C4 về phòng ngừa và KSNK, tiêu chí C4.6 về quản lý chất thải lỏng được thực hiện đúng mức tiêu chí đạt được, trong khi 5 tiêu chí còn lại đều được thực hiện ở mức cao hơn.
Lãnh đạo đã chỉ đạo cần thực hiện tất cả các tiểu mục trong khả năng có thể, mặc dù một số tiểu mục có thể không đạt được chất lượng mong muốn trong năm đó.
Việc thực hiện các tiểu mục vượt mức tiêu chí không chỉ mang lại lợi ích cho người bệnh mà còn giúp chúng tôi tích lũy kinh nghiệm và dữ liệu Khi có đủ nguồn lực để hoàn thành một hoặc hai tiểu mục hạn chế, việc đạt được mức chất lượng tiêu chí sẽ trở nên dễ dàng hơn.
Với chủ trương trên trong giai đoạn 2016 - 2019 đã giúp tiêu chí C4.6 quản lý chất thải lỏng nâng mức chất lượng từ 2 lên 4:
Mặc dù chỉ cần hoàn thành 7 tiểu mục để đạt mức 2, chúng tôi đã xuất sắc thực hiện 10 tiểu mục và liên tục tiến hành các tiêu mục còn lại trong suốt 3 năm Đến năm 2019, chúng tôi chỉ cần nhận bàn giao hệ thống xử lý nước thải để đạt tiêu chí mức 4.
Các tiêu chí C4.1 và C4.2 liên quan đến việc thiết lập và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) và hướng dẫn nhân viên y tế (NVYT) thực hiện các quy trình KSNK Mặc dù đã đạt mức 4, nhưng các tiểu mục ở mức 5 vẫn đang được triển khai Đến cuối năm 2019, mỗi tiêu chí chỉ còn một tiểu mục cần hoàn thành để nâng lên mức 5.
Tiêu chí C4.1 yêu cầu 50% thành viên Hội đồng và Mạng lưới KSNK được cử đi đào tạo để đạt mức 5 Tương tự, tiêu chí C4.2 liên quan đến việc xây dựng và hướng dẫn nhân viên y tế thực hiện các quy trình KSNK, chỉ cần tổ chức triển khai áp dụng các nghiên cứu là có thể đạt được.
HUPH mức 5 đã xác định hai tiêu chí khả thi cho tương lai gần Ảnh hưởng tích cực từ yếu tố quản lý được thể hiện rõ qua kế hoạch được xây dựng từ đầu năm và việc thực hiện bám sát, phân bổ nguồn lực hợp lý Cụ thể, mặc dù nguồn ngân sách hạn chế, nhưng việc sử dụng kinh phí đã được thực hiện chủ động và đáp ứng đúng yêu cầu của từng tiểu mục.
Sau phúc tra năm 2016, tại tiêu chí C4.5 về quản lý chất thải rắn, mặc dù đã thực hiện tốt 21 tiêu chí, nhưng do hạn chế ở tiểu mục 16, chỉ có 11 tiểu mục của mức 2 được chấp nhận Chúng tôi đã ưu tiên giải quyết kinh phí để xây dựng kho chứa dụng cụ vệ sinh cho tất cả các khoa, phòng, và đến năm 2017, đã được công nhận hoàn toàn.
21 tiểu mục nâng tiêu chí từ mức 2 lên mức 4…” (PVS_01)
Vào năm 2019, trong tiểu mục C4.6 về quản lý chất thải lỏng, mặc dù đã được trang bị hệ thống xử lý nước thải mới, nhưng vẫn phải chi một khoản kinh phí lớn để thực hiện các tiểu mục liên quan.
Các quy định 11, 14 và 16 liên quan đến giám sát chất lượng khí thải, nước thải y tế và bảo trì thiết bị nhằm đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn quốc gia về môi trường Để được công nhận hoàn toàn, cần nâng cấp 16 tiểu mục từ mức 2 lên mức 4.
“…Tại tiêu chí C4.4 giám sát, đánh giá việc triển khai KSNK ở mức 3 tiểu mục
Tiêm chủng phòng ngừa cho nhân viên y tế là cần thiết và đòi hỏi nguồn kinh phí lớn Nếu không thực hiện, các tiểu mục từ 4 đến 13 sẽ không được công nhận, dẫn đến việc chỉ đạt mức 2 với 3 tiểu mục Do đó, việc ưu tiên thực hiện tiểu mục 8 là cần thiết để duy trì mức 4 hàng năm.
BÀN LUẬN
Thực trạng thực hiện phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn tại trung tâm y tế Phú Tân, An Giang giai đoạn 2016 - 2019
tế Phú Tân, An Giang giai đoạn 2016 - 2019
Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm tiêu chí C4 phòng ngừa và KSNK giai đoạn
Từ năm 2016 đến 2019, chất lượng phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) đã được cải thiện, với điểm số trung bình tăng từ 3,0 lên 3,83 Mặc dù đạt mức 3, thuộc nhóm chất lượng khá theo Bộ Tiêu chí chất lượng bệnh viện Việt Nam, nhưng đánh giá này không phản ánh đầy đủ sự tiến bộ thực sự của nhóm tiêu chí C4 Để có cái nhìn toàn diện hơn, cần phân tích kết quả thực hiện của từng tiêu chí cụ thể.
- Tiêu chí C4.1: Thiết lập và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn:
Kết quả nghiên cứu tại tiêu chí C4.1 cho thấy hệ thống KSNK đã được nâng từ mức chất lượng khá lên mức chất lượng tốt Việc áp dụng phương pháp xây dựng các mức đánh giá của Bộ tiêu chí 2.0 yêu cầu nguồn lực, thời gian và lộ trình thực hiện để đạt được chất lượng tốt hoặc rất tốt Điều này chứng tỏ rằng hệ thống KSNK đã được hình thành và có nền móng vững chắc từ trước.
Tại TTYT Phú Tân, hệ thống KSNK đã được thiết lập từ khi Thông tư 18/2009/TT-BYT được ban hành, bao gồm Hội đồng, mạng lưới, Khoa KSNK, trưởng khoa và điều dưỡng trưởng khoa Cả trưởng khoa và điều dưỡng trưởng đều có trình độ đại học chuyên ngành sức khỏe Hệ thống này đã được duy trì và thực hiện theo Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện 1.0 năm 2013 của Bộ Y tế, với kết quả chất lượng đạt mức tốt Tuy nhiên, một vấn đề tồn tại là trưởng khoa chưa có trình độ sau đại học đúng chuyên ngành KSNK.
Trong giai đoạn này, trung tâm HUPH đặt ưu tiên cao vào việc nâng cao trình độ chuyên môn của trưởng khoa nhằm cải thiện chất lượng đào tạo từ tốt lên rất tốt.
Năm 2016, Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện phiên bản 2.0 được thực hiện, trong đó tại mức 4, tiểu mục 17 quy định rõ hơn về chuyên môn KSNK của trưởng khoa Cụ thể, chứng chỉ đào tạo KSNK không chỉ yêu cầu ngắn hoặc dài hạn mà phải có thời gian đào tạo tối thiểu là 3 tháng.
Năm 2016, tiêu chí chỉ đạt mức khá và dừng lại tại tiểu mục 17 Kết quả này cho thấy nếu không chủ động nghiên cứu và cập nhật các quy định, hướng dẫn mới của Bộ Y tế, đơn vị sẽ có nguy cơ tụt mức tiêu chí khi có sửa đổi hoặc bổ sung phiên bản mới.
Giai đoạn 2017 - 2019, mặc dù không đạt được mức rất tốt do tiểu mục 21 chưa hoàn thành, lãnh đạo trung tâm vẫn quyết tâm hoàn thiện các tiểu mục khác như tiểu mục 19 và tiểu mục 20, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KSNK Đặc biệt, tiểu mục 19 yêu cầu trưởng khoa có trình độ sau đại học và luận văn chuyên ngành về KSNK, trong khi tiểu mục 20 tập trung vào quy hoạch và kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực Tuy gặp khó khăn trong việc đào tạo 19 thành viên của Hội đồng KSNK và 24 thành viên của Mạng lưới KSNK, lãnh đạo trung tâm vẫn cam kết duy trì và cải tiến chất lượng thông qua việc xây dựng kế hoạch và lộ trình thực hiện cụ thể cho tiểu mục 21.
21 sẽ đạt được trong năm tiếp theo
Theo đánh giá của Bộ Y tế, hiện tại, 8,9% bệnh viện ở Việt Nam chưa thành lập Hội đồng Kiểm soát Nhiễm khuẩn (KSNK), 15,1% bệnh viện chưa có mạng lưới KSNK, và 20,8% bệnh viện có số giường bệnh trên 150 vẫn chưa thành lập khoa KSNK Đặc biệt, 33% bệnh viện đã có khoa KSNK nhưng chưa được bổ sung đầy đủ.
Hệ thống KSNK của TTYT Phú Tân hiện đang đạt mức tốt, với gần 20% lãnh đạo khoa/tổ KSNK có trình độ cao đẳng, trung cấp và sơ học Điều này cho thấy TTYT Phú Tân hoàn toàn có đủ nguồn lực để nâng cao chất lượng hệ thống KSNK lên mức rất tốt.
- Tiêu chí C4.2: Xây dựng và hướng dẫn nhân viên y tế thực hiện các quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn trong bệnh viện:
Theo Bộ Y tế, các cơ sở y tế cần có hệ thống kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) hoàn chỉnh để triển khai các hoạt động KSNK một cách khoa học và hiệu quả TTYT Phú Tân đã chứng minh điều này bằng việc thực hiện đầy đủ các quy định và hướng dẫn chuyên môn về KSNK do Bộ Y tế ban hành Tuy nhiên, theo báo cáo của tác giả Nguyễn Trọng Khoa tại Hội nghị khoa học KSNK năm 2019, hầu hết các bệnh viện vẫn thiếu hướng dẫn chuyên môn, chương trình và tài liệu trong công tác đào tạo KSNK.
Từ năm 2012, đơn vị đã xây dựng và ban hành nhiều quy định về kiểm soát nhiễm khuẩn, bao gồm xử lý rủi ro và phơi nhiễm với bệnh nguy hiểm, cùng với các hướng dẫn về phòng ngừa, khử khuẩn và tiệt khuẩn Công tác huấn luyện nhân viên y tế được triển khai hiệu quả, tạo lợi thế lớn cho việc thực hiện các tiêu chí tại mục C4.2 trong việc xây dựng và hướng dẫn nhân viên y tế thực hiện quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn.
Kết quả nghiên cứu trong 4 năm qua luôn duy trì ở mức tốt Tuy nhiên, việc khắc phục tiểu mục 11 trong năm 2017 đã tiến hành nghiên cứu về quy trình và hướng dẫn phòng ngừa KSNK, nhưng tiểu mục 13 vẫn chưa áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tế để nâng cao tiêu chí lên mức rất tốt Để giải quyết vấn đề này, cán bộ phụ trách cần được đào tạo và huấn luyện về phương pháp triển khai áp dụng.
- Tiêu chí C4.3: Triển khai chương trình và giám sát tuân thủ vệ sinh tay:
Vệ sinh tay là một biện pháp can thiệp đơn giản nhưng hiệu quả trong việc ngăn ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện Việc tăng cường tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế là ưu tiên hàng đầu trong công tác kiểm soát nhiễm khuẩn Tuy nhiên, kết quả từ việc triển khai chương trình và giám sát tuân thủ vệ sinh tay trong giai đoạn 2016 - 2019 chưa phản ánh đầy đủ thực trạng hoạt động của chương trình tại trung tâm.
Tiêu chí C4.3 về triển khai chương trình và giám sát tuân thủ VST năm 2016 đạt chất lượng tốt nhưng dừng lại ở tiểu mục 19 do chưa thực hiện biện pháp can thiệp để tăng cường tuân thủ vệ sinh tay Trong 3 năm tiếp theo, tiêu chí chỉ đạt mức chất lượng khá, mặc dù lãnh đạo trung tâm khẳng định duy trì kết quả và có kế hoạch nâng cao chất lượng Tuy nhiên, từ năm 2017, Sở Y tế áp dụng hướng dẫn mới, khiến hạn chế ở tiểu mục 12 ảnh hưởng đến đánh giá cuối cùng, mặc dù đã hoàn thành 17 tiểu mục Để đạt tiểu mục 12, tất cả phòng bệnh nội trú cần có bồn rửa tay, nhưng hiện tại chỉ có bồn rửa tay ở khu vực công cộng do kiến trúc chật hẹp của trung tâm Lãnh đạo trung tâm cho biết có thể khắc phục bằng cách sử dụng nước rửa tay nhanh, nhưng do thiếu kinh phí, trung tâm chấp nhận dừng lại ở mức chất lượng khá.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù chỉ cần đạt 11 tiểu mục chất lượng khá, trung tâm vẫn quyết tâm thực hiện thêm 5 tiểu mục khác với chất lượng tốt Trung tâm đã triển khai đầy đủ các quy định về vệ sinh tay của Bộ Y tế, phù hợp với nguồn lực và điều kiện thực tế của mình.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng thực hiện phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn tại trung tâm y tế Phú Tân, An Giang giai đoạn 2016 - 2019
Phân tích kết quả định lượng cùng với thông tin từ PVS và TLN cho thấy nhiều yếu tố tác động đến việc thực hiện tiêu chí chất lượng phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK).
4.2.1 Các yếu tố hoạt động quản lý
Hoạt động quản lý tác động trực tiếp đến mục tiêu cải tiến chất lượng của trung tâm, bao gồm tiêu chí phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) trong giai đoạn 2016 - 2019 Lãnh đạo trung tâm đã thực hiện nghiêm các hướng dẫn về tổ chức nhân sự và chuyên môn theo thông tư 18/2009/TT-BYT, từ đó xây dựng kế hoạch hành động KSNK hàng năm Việc ban hành và triển khai các hướng dẫn, quy trình chuyên môn đã tạo sự đồng bộ trong hoạt động KSNK cho nhân viên y tế trong chăm sóc và điều trị bệnh nhân Đây là điểm nổi bật của TTYT Phú Tân, được Bộ Y tế đánh giá cao tại Hội nghị tổng kết công tác KSNK trong các cơ sở khám bệnh chữa bệnh năm 2015, trong khi nhiều bệnh viện khác vẫn chưa đạt được.
HUPH yêu cầu các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh xây dựng chương trình hành động cụ thể để kiểm soát tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện, như được xác định bởi Bùi Quan Vi (2016) Ý chí cải tiến chất lượng theo Bộ Tiêu chí chất lượng 2.0 của lãnh đạo trung tâm là yếu tố quan trọng cho việc nâng cao tiêu chí nhóm C4 Hoạt động kiểm tra, giám sát và phối hợp giữa các khoa, phòng là cần thiết để đảm bảo các văn bản hướng dẫn phù hợp với thực tế Bộ phận Giám sát và phòng Điều dưỡng duy trì kiểm tra thường xuyên, trong khi các thành viên Mạng lưới KSNK và ban lãnh đạo khoa giám sát thực hành của nhân viên y tế Hoạt động này không chỉ đánh giá hiệu quả triển khai mà còn cung cấp dữ liệu cho các kế hoạch nâng cao chất lượng tiêu chí.
Nguồn kinh phí là yếu tố then chốt để duy trì và nâng cao chất lượng, mặc dù ngân sách hạn chế Lãnh đạo đơn vị đã chủ động giải quyết mục tiêu cải tiến chất lượng theo nhóm tiêu chí C4 phòng ngừa và KSNK từ đầu năm Kết quả giai đoạn 2016 - 2019 cho thấy kinh phí vừa là động lực vừa là rào cản cho hoạt động cải tiến chất lượng Lãnh đạo trung đã tập trung sử dụng kinh phí cho các hoạt động trong nguồn lực cho phép, đảm bảo yêu cầu chuyên môn và duy trì các tiêu chí như tiêm chủng phòng ngừa cho nhân viên y tế, cải thiện cơ sở vật chất, đào tạo và cung cấp vật tư tiêu hao cho công tác phòng hộ cá nhân Đặc biệt, việc duy trì tiêu chí C4.5 quản lý chất thải rắn y tế và C4.6 quản lý chất thải lỏng cần thực hiện giám sát chặt chẽ.
HUPH thường xuyên kiểm tra chất lượng khí thải, nước thải y tế và thực hiện bảo trì, bảo dưỡng thiết bị để đảm bảo tuân thủ các quy chuẩn quốc gia về môi trường Tuy nhiên, với những mục tiêu tốn kém nhưng chỉ nâng cao một mức chất lượng, việc đầu tư cho các hạng mục như hệ thống bồn rửa tay tại các buồng bệnh nội trú không được thực hiện, dẫn đến khó khăn trong việc duy trì chất lượng tốt ở tiêu chí C4.3 trong chương trình giám sát tuân thủ VST.
Theo Bộ Y tế, nhiều cơ sở vật chất và trang thiết bị cho hoạt động phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) chưa được đầu tư đúng mức, dẫn đến việc các cơ sở khám chữa bệnh không có đủ kinh phí cho các hoạt động này Hơn nữa, hoạt động phòng ngừa và KSNK thường không mang lại lợi ích kinh tế ngay lập tức, khiến cho việc đầu tư vào lĩnh vực này trở nên khó khăn Mặc dù lợi ích lâu dài của việc đảm bảo an toàn cho bệnh nhân và nâng cao uy tín của đơn vị là rất quan trọng, nhưng chúng lại khó đo đếm Do đó, sự quan tâm của lãnh đạo đơn vị đóng vai trò quyết định trong việc thúc đẩy các hoạt động phòng ngừa và KSNK.
4.2.2 Các yếu tố nguồn nhân lực, đào tạo
Công tác đào tạo nguồn nhân lực từ 2016 đến 2019 đã mang lại hiệu quả tích cực, đặc biệt trong việc chuẩn hóa chứng chỉ chuyên môn KSNK, nâng cao chất lượng tiêu chí C4.1 và C4.6 Nghiên cứu chỉ ra rằng giải pháp đào tạo KSNK cho các bộ phận chuyên môn sẽ giúp cải thiện các tiêu chí C4.1, C4.2 và C4.4 lên mức 5 Tuy nhiên, nếu không có kế hoạch đào tạo kịp thời theo Thông tư 16/2018/TT-BYT, nguồn nhân lực hiện tại sẽ không đủ để duy trì chất lượng.
Hệ thống KSNK tại TTYT Phú Tân đã được tổ chức đúng theo quy định của Thông tư 16/2018/TT-BYT của Bộ Y tế, đảm bảo các nhân lực thực hiện công tác hiệu quả.
HUPH đã bố trí phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) theo đúng đề án vị trí việc làm, nhưng nguồn nhân lực hiện tại chỉ đáp ứng về số lượng, còn yếu tố chuyên môn theo Thông tư 16/2018/TT-BYT thì rất thiếu Chỉ có trưởng khoa KSNK được đào tạo chuyên ngành và có chứng chỉ phù hợp, trong khi toàn bộ thành viên Hội đồng và Mạng lưới kiểm soát nhiễm khuẩn cần có chứng chỉ đào tạo ít nhất 5 ngày Các bộ phận chuyên trách như giám sát và khử khuẩn - tiệt khuẩn cũng cần chứng chỉ 3 tháng, nhưng nhân lực hiện tại chưa đáp ứng yêu cầu chuyên môn Hạn chế về nguồn nhân lực này phù hợp với đánh giá của Bộ Y tế về tình hình nhân lực chuyên môn tại các bệnh viện Việt Nam, với 49,1% nhân viên mạng lưới kiểm soát nhiễm khuẩn và 46,4% nhân viên bộ phận khử khuẩn, tiệt khuẩn chưa được đào tạo chuyên môn.
Theo lãnh đạo trung tâm, Bộ tiêu chí chất lượng 2.0 hiện tại được đánh giá theo Thông tư 18/2009/TT-BYT, và trong tương lai sẽ có các phiên bản mới phù hợp với quy định của Bộ Y tế Đặc biệt, nếu có sự chỉnh sửa theo Thông tư 16/2018/TT-BYT, hai tiêu chí C4.1 và C4.2 có thể giảm xuống mức khá Do đó, cần có giải pháp kịp thời về nhân sự để đào tạo chuyên sâu về kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) trong thời gian tới.
Công tác đào tạo về kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) tại Trung tâm Y tế (TTYT) Phú Tân được Sở Y tế đánh giá cao Nhân viên y tế đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát nguy cơ nhiễm khuẩn Theo Thông tư 18/2009/TT-BYT, việc nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành KSNK cho cán bộ y tế là nhiệm vụ bắt buộc Hằng năm, TTYT Phú Tân thực hiện hiệu quả chương trình đào tạo KSNK, đảm bảo cập nhật kiến thức và kỹ năng theo hướng dẫn mới.
Việc tiêm ngừa chủ động Viêm gan siêu vi B cho nhân viên y tế lâm sàng đạt trên 75% không chỉ giúp họ tự tin hơn trong việc thực hiện các quy trình kỹ thuật kiểm soát nhiễm khuẩn, mà còn phù hợp với các nghiên cứu cho thấy tiêm ngừa là yếu tố cần thiết để giảm lo lắng do lây nhiễm chéo Các hướng dẫn mới được xây dựng phù hợp với tiêu chuẩn và điều kiện nguồn lực của đơn vị, tạo điều kiện cho việc áp dụng vào thực tế chăm sóc và điều trị bệnh nhân Những ưu điểm này là nền tảng quan trọng cho việc nâng cao chất lượng phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi mà các bệnh viện Việt Nam vẫn đang đối mặt với thách thức thiếu văn bản hướng dẫn phù hợp với tiêu chuẩn kiểm soát nhiễm khuẩn.
Nhóm C4 xác định 6 tiêu chí liên quan đến công tác đào tạo nhằm duy trì và nâng cao chất lượng Tiêu chí về nhân lực yêu cầu lãnh đạo khoa KSNK phải được đào tạo chuyên ngành Để đạt được chất lượng tốt, các tiêu chí khác cần có kiểm tra, giám sát và đánh giá thực hành, điều này đòi hỏi công tác đào tạo và huấn luyện tại trung tâm và từng khoa/phòng Mỗi tiêu chí đạt chất lượng tốt cũng bao gồm tiểu mục về hoạt động nghiên cứu, yêu cầu nhân viên chuyên trách phải được huấn luyện ngắn hạn hoặc dài hạn để đáp ứng yêu cầu.
Đào tạo và huấn luyện kỹ năng cho nhân viên y tế tại khoa/phòng là cần thiết để phát hiện những điểm không phù hợp trong quy trình thực hiện Qua đó, nhân viên y tế có thể đóng góp ý kiến để hoàn thiện quy trình Lãnh đạo trung tâm nhấn mạnh rằng yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng triển khai các văn bản và hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn là đào tạo tại chỗ, điều này cần được duy trì và phát huy để đạt được tiêu chí chất lượng tốt và rất tốt.
4.2.3 Các yếu tố cơ sở hạ tầng, trang thiết bị
Nghiên cứu từ giai đoạn 2016 - 2019 cho thấy rằng một số tiêu chí phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) phụ thuộc vào cơ sở vật chất và trang thiết bị Kết quả này phù hợp với quan điểm của tác giả Nguyễn Đức Huệ (2015), cho rằng cơ sở vật chất có ảnh hưởng lớn đến chất lượng công tác KSNK.
Hạn chế của nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp và áp dụng phương pháp PVS và TLN để thu thập thông tin trong khoảng thời gian 4 năm, tuy nhiên, điều này cũng dẫn đến một số hạn chế về tính đầy đủ của thông tin.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính là chính nên gặp những hạn chế về kỹ năng phỏng vấn của nghiên cứu viên
Hiện tại, chưa có nghiên cứu nào đánh giá chất lượng phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn theo Bộ Tiêu chí chất lượng bệnh viện Việt Nam (Phiên bản 2.0) trong các bệnh viện, dẫn đến việc tài liệu tham khảo rất hạn chế Điều này tạo ra một thách thức lớn trong việc nghiên cứu và cải thiện chất lượng dịch vụ y tế.