Nghiên cứu xác định tỷ lệ nhiễm HIV, tính dễ tổn thương và các yếu tố liên quan với HIV trong nhóm phụ nữ là bạn tình thường xuyên BTTX của nam NCMT tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh từ t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
ĐỖ THỊ VINH
TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN VỚI NHIỄM HIV TRONG NHÓM BẠN TÌNH THƯỜNG XUYÊN CỦA NAM NGHIỆN CHÍCH MA TÚY TẠI HUYỆN TIÊN DU,
TỈNH BẮC NINH, NĂM 2012
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60720301
Hà Nội, 2012 HUPH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
ĐỖ THỊ VINH
TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN VỚI NHIỄM HIV TRONG NHÓM BẠN TÌNH THƯỜNG XUYÊN CỦA NAM NGHIỆN CHÍCH MA TÚY TẠI HUYỆN TIÊN DU,
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học
và các Thầy Cô, các khoa, phòng, bộ môn của trường Đại học Y tế Công cộng đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại trường
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Hồ Thị Hiền đã tận tình hướng dẫn, dìu dắt và động viên tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Trung tâm Y tế huyện Tiên Du, Trạm Y tế các xã/thị trấn, Công an huyện Tiên Du, công an các xã/thị trấn đã tạo điều kiện và
hỗ trợ tôi thực hiện nghiên cứu trên địa bàn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tất cả các anh chị đã nhiệt tình tham gia vào nghiên cứu, cung cấp những thông tin và ý kiến quý báu cho nghiên cứu này
Sau cùng, tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình và bạn bè
đã luôn động viên, chia sẻ về tinh thần, thời gian, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu tại thực địa cũng như hoàn thiện luận văn
Trân trọng!
HUPH
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
TÓM TẮT LUẬN VĂN vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 4
1.2 Tình hình dịch HIV/AIDS 5
1.3 Các nghiên cứu về bạn tình của người NCMT 8
1.4 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 25
1.5 Khung lý thuyết 26
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1.Đối tượng nghiên cứu 27
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 27
2.3 Thiết kế nghiên cứu 27
2.4 Phương pháp chọn mẫu 28
2.5 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu 29
2.6 Xử lý và phân tích số liệu 31
2.7 Các biến số và chủ đề nghiên cứu 32
2.8 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 38
2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 39
2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục 40
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 42
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 42
HUPH
Trang 53.2 Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm BTTX của nam NCMT 43
3.3 Các hành vi nguy cơ và tính dễ tổn thương với HIV trong nhóm BTTX của nam NCMT 45
3.4 Các yếu tố liên quan đến lây nhiễm HIV trong nhóm bạn tình thường xuyên của nam NCMT 72
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 76
4.1 Đặc điểm của đối tượng tham gia nghiên cứu nghiên cứu 76
4.2 Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm BTTX của nam NCMT 76
4.3 Hành vi nguy cơ và tính dễ tổn thương với HIV trong nhóm BTTX của nam NCMT 77
4.4 Các yếu tố liên quan đến lây nhiễm HIV trong nhóm BTTX của nam NCMT 87 CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 89
5.1 Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm BTTX của nam NCMT 89
5.2 Hành vi nguy cơ và tính dễ bị tổn thương với HIV trong nhóm BTTX của nam NCMT 89
5.3 Các yếu tố liên quan với lây nhiễm HIV trong nhóm BTTX của nam NCMT 90 CHƯƠNG 6 KHUYẾN NGHỊ 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 1 Bộ câu hỏi nghiên cứu định lượng 100
PHỤ LỤC 2 Hướng dẫn phỏng vấn sâu bạn tình thường xuyên của nam NCMT115 PHỤ LỤC 3 Hướng dẫn phỏng vấn sâu nam nghiện chích ma túy 123
PHỤ LỤC 4 Hướng dẫn phỏng vấn sâu cán bộ chương trình HIV/AIDS 129
PHỤ LỤC 5 Hướng dẫn phỏng vấn sâu cán bộ công an xã/thị trấn 132
HUPH
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tóm tắt cỡ mẫu nghiên cứu và phương pháp thu thập thông tin 28
Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng tham gia nghiên cứu 42
Bảng 3.2 Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm BTTX của nam NCMT 44
Bảng 3.3 Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nam NCMT 44
Bảng 3.4 Tỷ lệ sử dụng BCS với BTTX trong 6 tháng qua 45
Bảng 3.5 Người đề nghị sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất 46
Bảng 3.6 Lý do sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất 46
Bảng 3.7 Tỷ lệ đối tượng bị ép buộc tình dục 50
Bảng 3.8 Tỷ lệ bạn tình đã từng đi xét nghiệm HIV trước nghiên cứu 66
Bảng 3.9 Lý do đi làm xét nghiệm HIV trong nhóm BTTX của nam NCMT 66
Bảng 3.10 Lý do không đi xét nghiệm HIV trong nhóm BTTX của nam NCMT 68
Bảng 3.11 Yếu tố liên quan đến lây HIV trong nhóm BTTX của nam NCMT 74
Bảng 3.12 Mô hình hồi quy logistic dự đoán nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm BTTX của nam NCMT 75
HUPH
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Phân bố nghề nghiệp trong nhóm BTTX của nam NCMT 43
Biểu đồ 3.2 Lý do không sử dụng bao cao su với bạn tình 48
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ bạn tình biết tên các bệnh BLTQĐTD 53
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ bạn tình biết các triệu chứng của BLTQĐTD 54
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ tìm kiếm dịch vụ y tế khi có biểu hiện của BLTQĐTD 54
Biểu đồ 3.6 Các nguồn thông tin về HIV/AIDS 55
Biểu đồ 3.7 Kiến thức của ĐTNC về HIV/AIDS 56
Biểu đồ 3.8 Nhận thức về nguy cơ mắc HIV trong nhóm BTTX của nam NCMT 57
Biểu đồ 3.9 Lý do bạn tình cho rằng nguy cơ nhiễm HIV 57
Biểu đồ 3.10 Lý do bạn tình cho rằng không có nguy cơ 58
Biểu đồ 3.11 Nhận được hỗ trợ dự phòng HIV 64
HUPH
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra
(Acquired Immune Deficiency Syndrome)
BCS Bao cao su
BKT Bơm kim tiêm
BTTX Bạn tình thường xuyên
ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
HIV Virut gây suy giảm miễn dịch ở người (Human
Immunodeficiency Virus)
IBBS
Giám sát hành vi kết hợp các chỉ số sinh học HIV/STI tại Việt Nam (HIV/STI Integrated Biological and Behavioral Surveillance -IBBS)
LTQĐTD Lây truyền qua đường tình dục
MSM Nam quan hệ tình dục đồng giới (Men who have sex with men)
Trang 9TÓM TẮT LUẬN VĂN
Dịch HIV ở Việt Nam hiện nay vẫn trong giai đoạn tập trung vào các nhóm nguy
cơ cao trong đó cao nhất là nhóm nghiện chích ma túy (NCMT) Dịch HIV tăng
ở nữ giới và các nhóm cầu nối như bạn tình của nam NCMT, bạn tình của nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) và bạn tình của phụ nữ mại dâm (PNMD), cũng như xu hướng lây nhiễm HIV qua đường tình dục ngày càng tăng cho thấy nguy cơ lây nhiễm HIV từ nhóm nguy cơ cao sang bạn tình của họ Nhiều nghiên cứu trong thời gian gần đây ghi nhận bạn tình của nam NCMT là nhóm dễ bị tổn thương với HIV Mặc dù vậy, các thông tin về nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm bạn tình thường xuyên của nam NCMT ở Việt nam vẫn rất hạn chế
Tiên Du là huyện có số người nhiễm HIV cao của tỉnh Bắc Ninh trong đó phần lớn là người NCMT Tình hình NCMT trên địa bàn đang diễn ra phức tạp, cùng với xu hướng tăng lây nhiễm HIV qua đường tình dục phản ánh nguy cơ lây nhiễm sang nhóm vợ, bạn tình của nam NCMT do quan hệ tình dục (QHTD) không an toàn Nghiên cứu xác định tỷ lệ nhiễm HIV, tính dễ tổn thương và các yếu tố liên quan với HIV trong nhóm phụ nữ là bạn tình thường xuyên (BTTX) của nam NCMT tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh từ tháng 11/2011 đến tháng 8/2012 Kết quả nghiên cứu đưa ra các bằng chứng quan trọng định hướng cho các chương trình can thiệp nhằm giảm nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm này Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang kết hợp đồng thời định lượng
và định tính Có 148 BTTX của nam NCMT được mời tham gia nghiên cứu theo phương pháp chọn mẫu toàn bộ Thu thập số liệu bằng phỏng vấn định lượng sử dụng bộ câu hỏi có cấu trúc Các thông tin từ phỏng vấn định lượng bao gồm đặc điểm nhân khẩu học, hành vi tình dục, sử dụng BCS với bạn tình NCMT và bạn tình khác, sử dụng ma túy, hoạt động mại dâm, kiến thức về HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD) khác, xét nghiệm HIV và tiếp cận dịch
vụ hỗ trợ dự phòng HIV Phỏng vấn sâu sử dụng bộ câu hỏi bán cấu trúc được thực hiện với 23 đối tượng gồm 15 bạn tình nữ của nam NCMT, 5 nam NCMT, 1 cán bộ y tế, 1 cán bộ phòng tư vấn xét nghiệm tự nguyện và 1 công an tại địa bàn
HUPH
Trang 10nhằm tìm hiểu thực trạng NCMT, quan điểm về nguy cơ của nam NCMT và BTTX của họ và tính dễ tổn thương với HIV Phân tích số liệu định lượng sử dụng phần mềm SPSS 18.0 và phân tích số liệu định tính theo chủ đề không sử dụng phần mềm
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm BTTX của nam NCMT tại huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh rất cao 11,5% Tỷ lệ đồng nhiễm cặp vợ chồng có thực tế là 100% Thực trạng này cho thấy nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm BTTX của nam NCMT chủ yếu là do QHTD không an toàn với chồng/bạn tình NCMT Tỷ lệ sử dụng bao cao su (BCS) với BTTX thấp chiếm 24,3% Tỷ lệ không bao giờ sử dụng BCS rất cao chiếm 58,1% Bạn tình từ chối sử dụng chiếm 35,6% Tỷ lệ sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất chỉ có 30,4% Đặc biệt là, tỷ lệ đối tượng trải nghiệm với ép buộc tình dục trong quan hệ vợ/chồng,
và quan hệ bạn tình khá cao 63,5% Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy BTTX chấp nhận QHTD do phải chịu áp lực về tinh thần và lo sợ bạo lực thể chất Tỷ lệ đối tượng có biểu hiện BLTQĐTD là 31,1% Tiếp cận dịch vụ điều trị BLTQĐTD chỉ là 23,9% Tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ dự phòng lây nhiễm HIV cũng chưa đến 1/2 (48,6%) Hơn 1/3 đối tượng chưa từng đi xét nghiệm trước nghiên cứu Tỷ lệ đối tượng có nhận thức đầy đủ về đường lây HIV và bác
bỏ các quan niệm sai lầm cũng chưa đạt một nửa (43,9%) và chỉ có 31,1% đối
tượng cho rằng họ có nguy cơ lây nhiễm HIV
Các yếu tố liên quan đến lây nhiễm HIV trong nhóm BTTX của nam NCMT gồm có: biểu hiện BLTQĐTD, bị ép buộc QHTD Chưa tìm thấy mối liên quan với tuổi, trình độ học vấn, tuổi bắt đầu QHTD, sử dụng BCS thường xuyên, nhận thức đầy đủ về đường lây và bác bỏ quan điểm sai lầm về HIV/AIDS
Cần truyền thông thay đổi hành vi về sử dụng BCS trong nhóm BTTX Nâng cao nhận thức về nguy cơ bản thân, tăng cường tiếp cận của nam NCMT với can thiệp giảm tác hại đặc biệt là cung cấp BCS và BKT, tăn cường tiếp cận các dịch
vụ tư vấn xét nghiệm HIV cho các cặp bạn tình có nam TCMT
HUPH
Trang 11Cũng theo UNAIDS dịch HIV tại khu vực châu Á đang lan rộng ra cộng đồng do lây nhiễm HIV qua bạn tình của nam NCMT, MSM và khách hàng của PNMD Đặc biệt là sự gia tăng tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT và bạn tình của họ Tuy nhiên số liệu về phụ nữ ở châu Á lây nhiễm HIV qua bạn tình nói chung và bạn tình của nam NCMT nói riêng còn rất hạn chế [56], [55]
Ở Việt Nam, dịch HIV vẫn trong giai đoạn tập trung ở các nhóm nguy cơ cao Đến 30/6/2012, tỷ lệ người nhiễm HIV được báo cáo chủ yếu là người NCMT chiếm 37,3% Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT là 13,4% Xu hướng dịch trong nhóm NCMT có xu hướng giảm [7], [6] Phân bổ tỷ lệ nhiễm HIV theo đường lây từ năm 2005 đến 30/6/2012 cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV qua đường tình dục tăng lên rõ rệt từ 15% lên 45% [6], [7] Phân bổ người nhiễm HIV theo giới nam giới chiếm 69%, nữ là 31% so với những năm trước 2005 nam giới chiếm trên 85% [7], [4] Sự chênh lệch đang giảm xuống này phản ánh nguy cơ lây nhiễm HIV từ nam NCMT, nam giới là khách hàng của PNMD, MSM sang vợ
và các bạn tình có QHTD không an toàn Theo số liệu Chương trình Giám sát lồng ghép các chỉ số hành vi và sinh học HIV/STI (IBBS) gia đoạn 2006-2009 tại Việt Nam, nam NCMT có QHTD không an toàn với BTTX cao dao động từ 50% đến 80% [9], [40] Trong khi đó chỉ có 14,7 % đến 55,9% sử dụng BCS liên tục với BTTX và khoảng 37,9% đến 73,3% với PNMD Đáng lưu ý tỷ lệ nam NCMT nhiễm HIV có QHTD không sử dụng BCS trong 12 tháng trước điều tra với BTTX khá cao từ 9% đến 37%, với PNMD từ 2,4% đến 19,4% [40]
HUPH
Trang 12Một số nghiên cứu cho thấy phụ nữ ở khu vực nông thôn có nguy cơ nhiễm HIV cao hơn ở khu vực thành thị [31], [48] Ước tính ở Việt Nam có khoảng 53% phụ
nữ nhiễm HIV ở khu vực nông thôn Theo thống kê các nghiên cứu về HIV từ năm 2005-2011 của Cục phòng chống HIV/AIDS chỉ có rất ít nghiên được thực hiện ở Việt Nam trên nhóm phụ nữ là BTTX của nam NCMT
Huyện Tiên Du là huyện nông nghiệp đan xen làng nghề, khu công nghiệp đứng thứ 3 toàn tỉnh với 223 người nhiễm HIV Tương tự mô hình dịch của tỉnh Bắc Ninh và Việt Nam tại Tiên Du người nhiễm HIV chủ yếu là người NCMT chiếm
tỷ lệ cao nhất 45,73% [21] Một số nghiên cứu tại Bắc Ninh cho thấy phần lớn nam NCMT có BTTX [49] Vì vậy tôi quyết định chọn Tiên Du làm địa bàn nghiên cứu, hơn nữa đây là địa bàn thực địa lâu năm của trường Đại học Y tế công cộng việc triển khai nghiên cứu trên địa bàn là rất thuận lợi Nghiên cứu
“Tính dễ bị tổn thương với HIV và các yếu tố liên quan với nhiễm HIV trong nhóm bạn tình thường xuyên của nam nghiện chích ma túy” được tiến hành để
trả lời được các câu hỏi sau: tình hình nhiễm HIV trên nhóm đối tượng là BTTX của nam NCMT như thế nào? Hành vi nguy cơ và tính dễ bị tổn thương với HIV trong nhóm BTTX của nam NCMT như thế nào? Các yếu tố liên quan với lây nhiễm HIV trong nhóm BTTX của nam NCMT là gì? Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp các bằng chứng xác thực cho các nhà hoạch định chính sách và chính quyền địa phương trong thiết kế chương trình can thiệp phù hợp cho nhóm đối
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Xác định tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm bạn tình thường xuyên của nam nghiện chích ma túy tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, năm 2012
2 Xác định hành vi nguy cơ và tính dễ bị tổn thương với HIV trong nhóm bạn tình thường xuyên của nam nghiện chích ma túy tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, năm 2012
3 Xác định một số yếu tố liên quan với lây nhiễm HIV trong nhóm bạn tình thường xuyên của nam nghiện chích ma túy tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, năm 2012
HUPH
Trang 14CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Phần tổng quan tài liệu này sẽ rà soát về các vấn đề liên quan đến chủ đề nghiên cứu về bạn tình của nam NCMT Trong phần này, 4 phần chính sẽ được trình bày Phần thứ nhất sẽ giới thiệu về các khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu Phần hai sẽ cung cấp thông tin về một số đặc điểm chính về tình hình dịch HIV/AIDS ở thế giới và Việt Nam Phần thứ ba sẽ phân tích các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam liên quan đến nhóm BTTX của nam NCMT, bao gồm các nghiên cứu về hành vi nguy cơ, nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương và các yếu tố liên quan đến lây nhiễm HIV/AIDS Phần cuối cùng giới thiệu chung về địa bàn thực hiện nghiên cứu
1.1 Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
Nguy cơ (risk) với HIV: là xác suất mà một người có thể bị nhiễm HIV Nguy cơ xuất hiện do các cá nhân tham gia vào các hành vi nguy cơ như hành vi quan hệ tình dục với gái mại dâm không sử dụng BCS hoặc tiêm chích ma túy sử dụng
dụng cụ tiêm chích không an toàn
Hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV (risk behaviours): Hành vi nguy cơ với lây nhiễm HIV là các hành vi dễ dẫn đến các nguy cơ lây nhiễm HIV Các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm bạn tình nam NCMT bao gồm: QHTD không an toàn với bạn tình NCMT và các bạn tình khác, QHTD nhận tiền và tiêm chích ma túy
Tính dễ bị tổn thương (vulnerability): là tính nhạy cảm của một quần thể với một loại hiểm họa nhất định Tính dễ bị tổn thương với HIV/AIDS là sự nhạy cảm, nguy cơ xảy ra các hành vi có nguy cơ với HIV/AIDS, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, sự bất bình đẳng nam, nữ làm cho những người phụ nữ bị hạ thấp vị thế trong gia đình và xã hội, trong việc gia quyết định, trong việc quan hệ tình dục, họ có thể bị cưỡng ép tình dục hoặc quan hệ tình dục không mong
HUPH
Trang 15muốn, hoặc quan hệ không sử dụng BCS, điều này cũng làm tăng lên những nguy cơ về sức khỏe thể chất, tinh thần người phụ nữ
1.2 Tình hình dịch HIV/AIDS
1.2.1 Tình hình HIV/AIDS trên thế giới trong nhóm bạn tình
Theo UNAIDS, tính đến năm 2011 thế giới có khoảng 34 triệu người nhiễm HIV/AIDS với 15,9 triệu phụ nữ chiếm khoảng 50% Tại khu vực cận Sahara châu Phi số phụ nữ và trẻ em gái sống chung với HIV chiếm 60% với 40% sống
ở khu vực Nam Phi [56], [58] Phụ nữ trong độ tuổi từ 15-24 nhiễm HIV cao hơn gần 8 lần so với nam giới Tại vùng Ca-ri-bê tỷ lệ phụ nữ sống chung với HIV chiếm 53% tổng số trường hợp nhiễm HIV [56] Theo UNAIDS, lây truyền HIV
do QHTD không an toàn với nhiều bạn tình là yếu tố nguy cơ lớn nhất tại các khu vực này
Ở khu vực châu Mỹ La Tinh, châu Á và các nước Đông Âu, HIV lây nhiễm sang phụ nữ là bạn tình của nam NCMT, bạn tình của PNMD và MSM cũng đang gia tăng Ở Ukraina nam NCMT nhiễm HIV dao động từ 39-50% Hầu hết nam NCMT hoạt động tình dục mạnh làm cho dịch lan tràn từ nam NCMT sang BTTX của họ Ước tính đến năm 2009, phụ nữ sống chung với HIV ở Ukraina là 45% so với năm 2004 chỉ có 41% và năm 1999 là 37% [56] UNAIDS ước tính 35% số phụ nữ nhiễm HIV là do sử dụng ma túy và 50% lây nhiễm từ bạn tình sử dụng ma túy [56]
Toàn châu Á, số phụ nữ nhiễm HIV có chiều hướng gia tăng từ 21% năm 1990 lên 35% năm 2009 [56] Dịch HIV ở châu Á vẫn trong giai đoạn tập trung tỷ lệ nhiễm HIV chủ yếu ở nhóm nguy cơ cao như NCMT, PNMD và khách hàng của PNMD, MSM [56] Dịch có nguy cơ lây truyền từ các nhóm nguy cơ cao sang vợ
và bạn tình và ước tính số phụ nữ này khoảng 50 triệu người [57] Theo UNAIDS, dịch HIV tại châu Á đang lan rộng ra cộng đồng đặc biệt ở nhóm phụ
nữ là BTTX của nam NCMT Hiện nay trong khu vực 4,5 triệu người NCMT
HUPH
Trang 16Hơn 50% số người NCMT sống tại Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan Số người NCMT ở Việt Nam cũng tương đối cao Ở Châu Á, ước tính 16% người NCMT nhiễm HIV, tỷ lệ này rất cao ở một số nước như Myanmar 38%, Thái Lan từ 30-50% và hơn 50% ở Indonesia, Việt nam tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT khác nhau giữa các tỉnh dao động từ 32% đến 58% [3], [56], Trung Quốc ước tính từ 7-13% [56] Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sử dụng BCS trong nhóm nam NCMT với tất cả các loại bạn tình đều thấp tỷ lệ này từ 10-27%, đây là nguy
cơ tiềm ẩn lây nhiễm HIV cho bạn tình của họ [38], [43], [64], [36], [47], [63]
Vì vậy, các chương trình phòng chống HIV/AIDS trong giai đoạn tới không chỉ tập trung vào nhóm nguy cơ cao mà nên hướng tới cả các nhóm dễ bị tổn thương với HIV như BTTX của nam NCMT [56]
1.2.2 Tình hình HIV/AIDS trong nhóm bạn tình ở Việt Nam
Theo báo cáo của Cục phòng chống HIV/AIDS đến ngày 30/6/2012, cả có 204.019 người nhiễm HIV còn sống, 58.569 người chuyển sang giai đoạn AIDS
và 61.856 trường hợp tử vong do AIDS Toàn quốc đã phát hiện người nhiễm HIV tại 78% xã/phường, gần 98% quận/huyện và 100% tỉnh/thành phố [6] Dịch HIV ở Việt Nam vẫn tập trung ở các nhóm nguy cơ cao như NCMT, PNMD và MSM Tỷ lệ hiện nhiễm HIV cao nhất trong nhóm NCMT 13,4% [6], [7] Tuy nhiên, dịch đang có xu hướng chững lại ở các nhóm nguy cơ cao và có dấu hiệu lan ra cộng đồng Sự gia tăng tỷ lệ nhiễm HIV ở nữ giới, tỷ lệ nhiễm HIV ở phụ
nữ mang thai (PNMT), thay đổi hình thái lây nhiễm sang đường tình dục chiếm
tỷ trọng lớn phản ánh nguy cơ lây truyền HIV từ nam NCMT, MSM, nam giới là khách hàng của PNMD sang các bạn tình của họ [3], [4], [5]
Phân bổ người nhiễm HIV qua các năm cho thấy tỷ lệ người nhiễm HIV là nữ giới có xu hướng tăng nhanh từ năm 2005 đến nay tỷ lệ nhiễm HIV ở nữ giới đã tăng 12,3%, từ 19,1% đến 31,4% [6] Bên cạnh đó, số PNMT dương tính với HIV đang tiếp tục tăng, năm 2008 là 0,25% đến năm 2009 là 0,32% Theo báo cáo đánh giá chiến lược quốc gia khu vực miền núi phía Bắc cho thấy Điện Biên,
HUPH
Trang 17Thái Nguyên, Quảng Ninh có tỷ lệ nhiễm HIV ở PNMT cao lần lượt là 1,5%, 0,63% và 0,5% Tại khu vực Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long tỷ lệ này cũng cao hơn trung bình cả nước tương ứng là 0,35% và 0,42% [4]
Phân bổ trường hợp lây nhiễm HIV theo đường lây từ năm 2005 đến 30/6/2012 cũng cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV qua đường tình dục có xu hướng tăng lên rõ rệt từ 15% năm 2005 lên 45 % năm 2012 Báo cáo số liệu 6 tháng đầu năm 2012 ghi nhận đây là lần đầu tiên các trường hợp mới phát hiện lây truyền qua đường tình dục nhiều hơn lây truyền qua đường máu [6]
Số người nhiễm HIV tập trung ở nhóm tuổi từ 20-39 tuổi với chiếm 80% Tỷ lệ người nhiễm HIV ở nhóm 30-39 tuổi phát hiện hàng năm có xu hướng tăng từ 31,9% (2005) lên 45,4% (2012), hình thái dịch HIV/AIDS đang có xu hướng
“già hóa” trong số người nhiễm HIV được phát hiện, nguy cơ các trường hợp nhiễm mới HIV đã có sự chuyển dịch từ nhóm tuổi từ 20-29 tuổi sang nhóm tuổi 30-40, đúng với hình thái lây truyền qua đường tình dục [6]
Tính đến 30/6/2012 nhóm NCMT vẫn chiếm một tỷ lệ cao nhất trong tổng số các trường hợp được báo cáo (37,3%) Đánh giá sơ bộ kết quả nghiên cứu hành vi kết hợp với các chỉ số sinh học (IBBS) được tiến hành tại 10 tỉnh năm 2009 trong nhóm nguy cơ cao phản ánh nhiều nguy cơ tiềm ẩn về diễn biến dịch HIV/AIDS tại Việt Nam trong những năm tiếp theo Tỷ lệ sử dụng chung BKT trong nhóm NCMT vẫn ở mức cao trên 20% tại nhiều tỉnh, thành phố Hà Nội, Quảng Ninh, Nghệ An, Yên Bái, Đồng Nai và thành phố Hồ Chí Minh Tỷ lệ dùng chung BKT trong nhóm NCMT 6 tháng trước cuộc điều tra rất cao tại Đà Nẵng (37%) [4]
Nam NCMT có QHTD không an toàn với BTTX dao động từ 50% đến 80% [9], [40] Trong khi đó chỉ có 14,7 % đến 55,9% sử dụng BCS liên tục với BTTX và khoảng 37,9% đến 73,3% với PNMD Đáng lưu ý, tỷ lệ nam NCMT nhiễm HIV
có QHTD không sử dụng BCS trong 12 tháng trước điều tra với BTTX khá cao
từ 9% đến 37%, với PNMD từ 2,4% đến 19,4% [40] Thêm vào đó nam NCMT
HUPH
Trang 18thường không nói cho bạn tình về tình trạng sử dụng ma túy và HIV của họ Phần lớn bạn tình nữ của nam NCMT không sử dụng ma túy, không thể trao đổi về nguy cơ liên quan đến sử dụng ma túy và hành vi QHTD của bạn tình Sự kết hợp giữa QHTD không an toàn và sử dụng chung BKT đặc biệt với BTTX là yếu
tố nguy cơ lây truyền HIV từ nhóm nam NCMT sang BTTX của họ [4], [23]
1.2.3 Tại Bắc Ninh
Theo Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Bắc Ninh, dịch HIV ở tỉnh vẫn trong giai đoạn tập trung, tính đến 30/6/2012 số trường hợp nhiễm HIV hiện còn sống là 1.675 trường hợp, số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là 219 và 589 trường hợp tử vong do AIDS [21] Toàn tỉnh Bắc Ninh đã phát hiện người nhiễm HIV tại hơn 90,5% xã/phường, 100% huyện, thị xã, thành phố trong đó dịch chủ yếu tập trung ở thành phố Bắc Ninh, huyện Tiên Du, huyện Quế Võ Các trường hợp nhiễm HIV chủ yếu là nam giới và trong độ tuổi lao động Lây truyền qua đường máu có xu hướng giảm từ 33,33% năm 2010 xuống còn 23,68% năm 2011 (giảm 9,65%) Lây truyền từ mẹ sang con có xu hướng tăng từ 7,41% năm 2010 lên 7,89% năm 2011 (tăng 0,48%) Lây truyền qua QHTD không an toàn cũng có
xu hướng tăng lên từ 28,4% 6 tháng đầu năm 2010 lên 68,42% năm 2011 Hiện tại ở Bắc Ninh có 1.032 người NCMT có hồ sơ quản lý; ước tính số đối tượng NCMT tại cộng đồng khoảng 3.456 người Theo số liệu báo cáo phát hiện, số NCMT nhiễm HIV chiếm khoảng 48,2% số nhiễm HIV được phát hiện [21]
1.3 Các nghiên cứu về bạn tình của người NCMT
1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Các nghiên cứu trên thế giới về bạn tình chủ yếu là nghiên cứu định lượng, ít có nghiên cứu kết hợp hay định tính đơn thuần Nội dung nghiên cứu liên quan đến bạn tình là: 1) Đối tượng nghiên cứu phụ nữ là BTTX của nam NCMT [38], [43], [52], [53], [44], [61], [26], [23] 2) Các nghiên cứu xác định nguy cơ liên quan đến sử dụng ma túy và QHTD không an toàn [43], [52], [38], [44], [26], [23] đặc biệt tập trung vào hành vi sử dụng BCS như nghiên cứu của tác giả Kumar và
HUPH
Trang 19cộng sự (2008) tại 5 quốc gia Nam Á [38] Một số nghiên cứu tìm hiểu nhận thức nguy cơ [26], [38] Tác giả Panda tìm hiểu hành vi bạo lực tình dục và nguy cơ lây nhiễm HIV [52] Chọn mẫu trong các nghiên cứu trên sử dụng phương pháp tiếp cận ghép cặp với BTTX của nam NCMT Phương pháp chọn mẫu thông qua nam NCMT tham gia nghiên cứu hoặc dự án can thiệp trên nhóm NCMT tiến hành cùng địa bàn Hầu hết các nghiên cứu kết hợp tìm hiểu hành vi nguy cơ và chỉ số sinh học bao gồm HIV và các BLTQĐTD khác
Nghiên cứu định tính đơn thuần trên nhóm phụ nữ là BTTX của nam NCMT rất
ít Nghiên cứu của tác giả Anneli Uuskula và các cộng sự (2012), tìm hiểu bối cảnh thực hiện biện pháp phòng chống HIV trong nhóm NCMT và bạn tình, niềm tin và hành vi liên quan đến sử dụng BCS [61] Phân tích ảnh hưởng về xã hội, kinh tế, cảm xúc và sức khỏe của nhóm phụ nữ là BTTX của nam NCMT, tìm hiểu vấn đề bạo lực, hành vi tình dục để hiểu về mức độ tổn thương với HIV trong nhóm BTTX của nam NCMT [41]
Chưa tìm được nghiên cứu nào trên nhóm phụ nữ là BTTX của nam NCMT kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính Kết quả tổng quan tài liệu về các nghiên cứu trên thế giới được trình bày theo ba phần: Thực trạng nhiễm HIV trong nhóm BTTX của nam NCMT, yếu tố liên quan đến lây nhiễm HIV và tính dễ tổn thương với HIV trong nhóm phụ nữ là BTTX của nam NCMT
1.3.1.1 Thực trạng nhiễm HIV trong nhóm bạn tình qua các nghiên cứu
Nhiều nghiên cứu đưa ra tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ là BTTX của nam NCMT Tuy nhiên, tỷ lệ này rất khác nhau dao động từ 2,5% đến 45% Tỷ
lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ là vợ của nam NCMT đã nhiễm HIV tại Manipur, Ấn Độ là 45% [44] Nghiên cứu khác tiến hành tiếp cận ghép cặp nam NCMT và vợ của họ tại 3 thành phố của Pakistan là Faisalabad, Lahore, Sargodha tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất tại Faisalabad là 15%, tiếp đó là Lahore 10%, thấp nhất là 5% ở Sargodha [43] Nghiên cứu khác tiếp cận ghép cặp nam NCMT
và BTTX tại Chennai, Ấn Độ năm 2003 cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV là 30% ở
HUPH
Trang 20người NCMT và 5% bạn tình nói chung Trong khi đó 25% các cặp chỉ chồng dương tính, 5% đồng nhiễm và 70% là cả hai không nhiễm Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ là BTTX của nam NCMT đã nhiễm HIV là 16% [46] Một nghiên cứu khác cũng được tiến hành tại Chennai, Ấn Độ của tác giả Solomon (2011) với 400 bạn tình của người NCMT tham gia nghiên cứu thuần tập cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV là 2,5% [52]
1.3.1.2 Các yếu tố liên quan đến lây nhiễm HIV trong nhóm bạn tình thường xuyên của nam NCMT
Lây nhiễm HIV qua bạn tình không chỉ là vấn đề dịch tễ học mà còn là vấn đề về giới Nam giới thường có nguy cơ do hành vi của họ nhưng phụ nữ là người thụ động trong QHTD do vậy có ít cơ hội tự bảo vệ bản thân Phụ nữ thường chiều chồng và thậm chí không bao giờ dám từ chối kể cả khi họ cảm thấy lo lắng hay
có vấn đề liên quan đến tình dục, trao đổi về tình dục giữa các cặp bạn tình cũng rất hạn chế Yếu tố liên quan đến lây nhiễm HIV ở phụ nữ được ghi nhận gồm nhiều yếu tố sinh học, hành vi và các yếu tố văn hóa xã hội [31], [48], [50]
Yếu tố sinh học
Yếu tố sinh học đặc trưng làm phụ nữ có nguy cơ nhiễm HIV cao hơn nam giới Các niêm mạc bên trong đường sinh sản của phụ nữ mỏng làm cho vi rút dễ dàng xâm nhập Tinh dịch có nồng độ vi rút HIV cao hơn so với dịch âm đạo rất nhiều
và tồn tại trong âm đạo nhiều giờ sau khi QHTD Các đặc điểm này làm cho phụ
nữ dễ bị tổn thương với HIV [48], [42]
Tổn thương do yếu tố sinh học ở phụ nữ tăng lên bởi địa vị của họ trong xã hội Nhiều phụ nữ có bị ép buộc QHTD do không có khả năng thương thuyết với bạn tình Khi âm đạo không được bôi trơn, niêm mạc dễ bị tổn thương điều này làm tăng nguy cơ nhiễm HIV ở phụ nữ [42] Khi so sánh nguy cơ lây nhiễm HIV từ nam sang nữ và ngược lại cho thấy phụ nữ có nguy cơ nhiễm HIV cao hơn nam giới 2-4 lần [33],[42] BLTQĐTD là yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV khác Phụ
HUPH
Trang 21nữ thường dễ nhiễm bệnh hơn nam giới, ban đầu bệnh không có triệu chứng, phụ
nữ thường xấu hổ, ít tìm kiếm dịch vụ điều trị hơn nam giới [33], [48], [42] Nghiên cứu của Kumar và các cộng sự (2008) cho thấy BLTQĐTD khá phổ biến trong nhóm BTTX của nam NCMT trong đó 34% đối tượng ra huyết trắng, 13% loét bộ phận sinh ngoài, 30% đau rát bộ phận sinh dục tuy nhiên chỉ có 24% số này tìm kiếm dịch vụ y tế khi có biểu hiện của bệnh [38] Tác giả Solomon và các cộng sự (2010) cũng cho thấy tỷ lệ mắc BLTQĐTD như HIV, viêm gan B, viêm gan C trong nhóm BTTX của nam NCMT lần lượt là 2,5%, 3,76% và 0.5%
Tỷ lệ này cao hơn ở nhóm bạn tình của nam NCMT đã nhiễm HIV: 10,3%, 1,3%
và 1,3% [53] Tác giả Panda (2000) tiến hành nghiên cứu lây truyền HIV từ nam NCMT sang vợ của họ cho thấy 35% nam NCMT và 40% vợ có triệu chứng BLTQĐTD [44] 20-35% đối tượng là BTTX của nam NCMT tham gia một nghiên cứu tại Pakistan có triệu chứng của BLTQĐTD, triệu chứng phổ biến ở nam giới là chảy mủ dương vật/hậu môn, ở nữ là đau và chảy mủ âm đạo Nam giới tiếp cận với dịch vụ điều trị cao hơn là nữ giới Mắc BLTQĐTD làm cho phụ nữ dễ bị tổn thương với HIV hơn cho nên đây là vấn đề sức khỏe cần được quan tâm [43] Nghiên cứu khác của Panda (2000) tại Manipur đưa ra kết luận các cặp vợ chồng cả hai cùng mắc hay chồng mắc BLTQTD có nguy cơ lây nhiễm HIV cao gấp 3 lần [44] Yếu tố sinh học cũng làm phụ nữ trẻ tuổi dễ bị tổn thương hơn Trong một nghiên cứu khác của tác giả Panda (2007) cho thấy có mối liên quan giữa tuổi QHTD lần đầu với nguy cơ lây nhiễm HIV Những người
có QHTD lần đầu tiên từ 17 tuổi trở xuống có nguy cơ mắc bất kỳ BLTQĐTD nào cao hơn 2 lần [45]
Yếu tố về hành vi
Hành vi tình dục
Hầu hết các nghiên cứu cho thấy BTTX của nam NCMT chung thủy một vợ một chồng [43], [44], [52] Các nghiên cứu đều cho thấy tỷ lệ có QHTD ngoài hôn nhân và có QHTD nhận tiền trong nhóm BTTX của nam NCMT rất thấp Nghiên
HUPH
Trang 22cứu Kumar và cộng sự (2008) có 9% tham gia hoạt động mại dâm trong khi đó ở Băng-la-đét là 23% [38] Trong một nghiên cứu khác của tác giả Solomon (2011) 85% BTTX của nam NCMT chỉ có duy nhất một bạn tình, 13% có 2 bạn tình, 3% có nhiều hơn 2 bạn tình, chỉ có 1 trường hợp có hơn 4 bạn tình Tỷ lệ có QHTD trao đổi tiền hay ma túy chiếm 9% Cá biệt có những phụ nữ có QHTD với người đã nhiễm HIV (12%) tuy nhiên việc sử dụng BCS với cả bạn tình thường xuyên và không thường xuyên đều thấp [52] Tại Pakistan, nghiên cứu tiến hành với 459 cặp vợ chồng cho thấy chỉ có 2,6% vợ của nam NCMT có QHTD ngoài hôn nhân và không sử dụng BCS với cả bạn tình NCMT và bạn tình khác của họ [43]
Tần suất QHTD phản ánh mức độ phơi nhiễm với HIV từ bạn tình Các cặp bạn tình có tần suất QHTD cao cũng có khả năng lây nhiễm cao Theo nghiên cứu của Li Huarong tại Hà Nam, Trung Quốc (2008) cho thấy những người có tần suất QHTD từ 4 lần/tháng có nguy cơ nhiễm HIV cao gấp 9,49 lần [34] Một nghiên cứu hồi cứu về nguy cơ lây nhiễm HIV trong các cặp đồng nhiễm HIV thực hiện tại Hà Nam, Trung Quốc của tác giả Weng Lu và các cộng sự (2010) cũng cho kết quả tương tự Nghiên cứu này cũng cho thấy không sử dụng BCS thường xuyên làm tăng nguy cơ nhiễm HIV [39]
Yếu tố quan trọng nhất dẫn đến lây nhiễm HIV qua bạn tình là QHTD không an toàn, do đó sử dụng BCS có ý nghĩa quan trọng trong dự phòng lây nhiễm HIV qua bạn tình Kết quả từ các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sử dụng BCS của nam NCMT với tất cả các loại bạn tình đều thấp Nghiên cứu thực hiện với sự tham gia của 601 nam NCMT tại Băng Cốc và 957 nam NCMT tại New York cho thấy chỉ có 12% nam NCMT ở Băng Cốc và 20% ở New York thường xuyên sử dụng BCS trong khi đó 44% ở New York và 33% ở Băng Cốc có QHTD không an toàn trong 6 tháng vừa qua[63] Tác giả Zhao (2003), với nghiên cứu khác tại Thượng Hải, Trung Quốc trên 141 nam NCMT cho thấy 77% không sử dụng BCS thường xuyên trong 3 tháng trước nghiên cứu trong đó 25,5% có QHTD với nhiều bạn tình, 48,2% có bạn tình NCMT và 75,9% không biết tình trạng HIV
HUPH
Trang 23của bạn tình [64] Tác giả Pisani và các cộng sự tiến hành nghiên cứu tại 3 thành phố của In-đô-nê-si-a trên 650 đối tượng NCMT có hơn 2/3 đối tượng có hoạt động tình dục, 48% có nhiều bạn tình, 40% có QHTD với PNMD trong 12 tháng trước nghiên cứu Tuy nhiên chỉ có 10% cho biết thường xuyên sử dụng BCS [47] Một nghiên cứu được tiến hành trên 1770 nam NCMT đến từ 5 thành phố của Mỹ cũng cho thấy tỷ lệ sử dụng BCS với BTTX và không thường xuyên đều thấp lần lượt là 12% và 17% [36]
Nghiên cứu của tác giả Solomon và cộng sự (2010) cho thấy 75% phụ nữ kết hôn với nam NCMT chưa từng sử dụng BCS với chồng [53] Nghiên cứu khác tại Pakistan cũng cho thấy trên 70% BTTX của nam NCMT cho biết không sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất [43]
Sử dụng BCS là biện pháp hữu hiệu để giảm nguy cơ lây nhiễm với HIV qua đường tình dục Hiện nay BCS nam là được sử dụng rộng rãi hơn BCS nữ trong việc phòng ngừa lây nhiễm HIV Nghiên cứu của tác giả Li Huarong nêu trên cũng cho thấy nguy cơ lây nhiễm HIV ở các cặp bạn tình sử dụng BCS không thường xuyên cao gấp 5,32 lần so với các cặp sử dụng BCS thường xuyên [34] Các nghiên cứu tại khu vực Nam Á cho thấy những người đã từng có QHTD nhận tiền sử dụng BCS thường xuyên cao gấp 2-4 lần BCS không được sử dụng thường xuyên ở những phụ nữ có QHTD lần đầu từ 18 tuổi trở xuống [38]
Theo tác giả Vanichseni (1993), tình trạng HIV của chồng tác động đến việc sử dụng BCS Nhoma bạn tình có chồng nhiễm HIV sử dụng BCS nhiều hơn bạn tình có chồng không nhiễm HIV và không biết rõ tình trạng HIV của chồng [63] Một nghiên cứu khác cho thấy việc có QHTD với người nhiễm HIV làm tăng nguy cơ nhiễm HIV lên 17,9 lần [52] Tần suất sử dụng BCS cũng liên quan đến nguy cơ lây nhiễm HIV, những người thường xuyên sử dụng BCS với BTTX có nguy cơ cao hơn 9,13 lần [52] Theo tài liệu tổng quan về lây truyền qua bạn tình
ở Trung Quốc có mối liên quan giữa sử dụng BCS với tuổi, tình trạng hôn nhân, nơi sống (nông thôn, thành thị), trình độ học vấn và thu nhập [31]
HUPH
Trang 24Hành vi sử dụng ma túy
Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sử dụng ma túy trong nhóm BTTX của nam NCMT thấp từ 0-35% Trong nghiên cứu tại 3 thành phố của Pakistan trên 459 cặp vợ chồng chỉ có 2 bạn tình nói từng hút Heroin, không có bạn tình nào đã từng TCMT [43] Một nghiên cứu khác trên 102 bạn tình của nam NCMT tại Pakistan cho thấy 23% sử dụng ma túy và tỷ lệ TCMT trong nhóm này trên 80% [23] Nghiên cứu tại Indonesia trên đối tượng nam NCMT kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có 12 % ĐTNC vợ cũng NCMT [47] Nghiên cứu thực hiện tại 5 nước khu vực Nam Á (Băng-la-đét, Ấn độ, Nê pan, Sờ-ri-lan-ca) trên 4612 BTTX của nam NCMT cho thấy 22% bạn tình đã từng sử dụng ma túy Tỷ lệ đã từng sử dụng ma túy BTTX của nam NCMT khác nhau ở từng quốc gia Băng-la -đét (35%), Nê-pan (29%), Sờ-ri-lan-ca (23%), Ấn Độ (20%) Tuy nhiên nghiên cứu này không đưa ra thông tin tỷ lệ NCMT trong nhóm BTTX của nam NCMT [38] Nghiên cứu Iguchia và các cộng sự (2001) sử dụng ma túy làm tăng nguy
cơ lây nhiễm HIV trong nhóm BTTX của nam NCMT [35]
Tỷ lệ TCMT, QHTD ngoài hôn nhân và QHTD nhân tiền trong nhóm này đều thấp cho thấy nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm bạn tình ít xuất phát từ hành vi nguy cơ do bản thân Nhóm phụ nữ là BTTX của nam NCMT dễ bị tổn thương với HIV chủ yếu liên quan đến các hành vi nguy cơ của chồng/bạn tình
Một số hành vi nguy cơ khác
Nhận máu truyền
Tác giả Panda trong nghiên cứu tại Manipur cũng đề cập đến việc nhận máu truyền trong nhóm BTTX của NCMT dù tỷ lệ này không cao chỉ 12% Nghiên cứu cho thấy những người nhận máu truyền có nguy cơ nhiễm HIV cao gấp 6,2 lần [44]
HUPH
Trang 25Nghiên cứu của tác giả Solomon (2011) cũng cho thấy vấn đề bạo lực khá phổ biến (55%) trong nhóm BTTX của nam NCMT trong đó hơn 2/3 số này bị bạo lực tình dục (85,5%), hơn một nửa thường xuyên bị bạo lực khi chồng sử dụng rượu (56%), 38% thường xuyên bị bạo lực khi chồng sử dụng ma túy [52] Bạo lực làm cho phụ nữ yếu thế hơn trong việc thương thuyết và việc trao đổi thông tin về tình dục như sử dụng BCS, thực hành QHTD an toàn hay yêu cầu bạn tình đi xét nghiệm [30] Theo tổng quan về lây truyền HIV qua bạn tình tại Trung Quốc, nam giới kiểm soát trong suốt quá trình hoạt động tình dục, phụ nữ phải thuyết phục nam giới sử dụng BCS Tuy nhiên, việc yêu cầu sử dụng BCS
và sử dụng dịch vụ như tư vấn xét nghiệm tự nguyện, dịch vụ về điều trị bị hạn chế do phụ nữ vấn đề bạo lực từ chồng/bạn tình của họ [31] Điều này làm phụ
nữ dễ bị tổn thương với HIV do không thể thực hiện các biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV
Yếu tố về nhân khẩu học
Nghiên cứu tìm hiểu nguy cơ lây nhiễm HIV trên 520 bạn tình của nam NCMT của Iguchia và các cộng sự (2001) đưa ra kết luận về các yếu tố liên quan đến lây nhiễm HIV bao gồm chủng tộc, tuổi [35] Nghiên cứu của tác giả Solomon cho
HUPH
Trang 26thấy tính chất nghề nghiệp, thu nhập có mối liên quan đến lây nhiễm HIV trong nhóm bạn tình [52] ĐTNC có việc làm ổn định hơn, thu nhập cao hơn có nguy
cơ cao hơn lần lượt là 5,59 và 5,5 lần
Yếu tố văn hóa xã hội
Yếu tố văn hóa xã hội không phải là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến lây nhiễm HIV qua bạn tình Các vấn đề về giới, chế độ hôn nhân, quan điểm truyền thống liên quan đến sinh sản có thể ảnh hưởng đến quan hệ bạn tình và dẫn đến các hành vi tình dục không an toàn, làm tính dễ bị tổn thương với HIV trong các cặp bạn tình So sánh với hành vi QHTD nhận tiền thì mối quan hệ bạn tình có ý nghĩa tình cảm, xã hội sâu sắc vì thế các yếu tố về văn hóa xã hội là rất quan trọng Trong các yếu tố này, giới là yếu tố quan trọng nhất Yếu tố này sẽ được trình bày trong phần tính dễ bị tổn thương với HIV của phụ nữ ở phần 1.3.1.3
1.3.1.3 Tính dễ bị tổn thương với HIV của phụ nữ với lây nhiễm HIV
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng của yếu tố xã hội, văn hóa tác động lên tính dễ bị tổn thương Theo UNAIDS thì tính dễ bị tổn thương với HIV là hậu quả của nhiều yếu tố nằm ngoài sự kiểm soát của bản thân, nó làm giảm khả năng bảo vệ bản thân và cộng đồng trong việc phòng tránh nguy cơ mắc HIV bao gồm: thiếu kiến thức và kỹ năng bảo vệ bản thân và người khác nên nhận thức thấp về tính dễ bị tổn thương của bản thân, yếu tố liên quan đến chất lượng và cung cấp dịch vụ, yếu tố xã hội nhấn mạnh khía cạnh quyền con người, các vấn đề liên quan đến bạo lực, quy chuẩn xã hội, văn hóa bao gồm thực hành, niềm tin, luật pháp làm giảm khả năng của con người trong việc phòng, điều trị tiếp cận dịch vụ HIV/AIDS và các hỗ trợ khác
Chuẩn mực về giới làm chọ phụ nữ dễ bị tổn thương hơn với HIV/AIDS
Phụ nữ thường thụ động trong QHTD, không dám thể hiện nhu cầu tình dục của bản thân do sợ bị nghi ngờ và đánh giá phẩm hạnh kém nếu hiểu biết và có kinh nghiệm về tình dục Phụ nữ phải kìm nén nhu cầu tình dục của mình nhưng lại không thể từ chối đòi hỏi tình dục của chồng, phụ nữ chấp nhận và chịu đựng
HUPH
Trang 27trong QHTD [9] Trong khi đó nam giới được quyền quyết định và kiểm soát hoạt động tình dục Xã hội chấp nhận cho nam giới có QHTD trước hôn nhân và ngoài hôn nhân với nhiều bạn tình Thực tế này làm phụ nữ dễ bị tổn thương với HIV khi kết hôn hoặc có mối quan hệ lâu dài với bạn tình nam giới ngay cả khi
họ không có nguy cơ [30]
Nam giới tham gia vào nhiều hành vi nguy cơ cao lây nhiễm HIV Nam giới có QHTD với nhiều bạn tình hơn nữ giới Một nghiên cứu tại Trung Quốc trong nhóm tuổi từ 20-61 cho thấy 25,3% có QHTD với nhiều bạn tình, nam là 28,6% trong khi chỉ có 14,7% ở nữ [17] Các nghiên cứu về nguy cơ lây nhiễm HIV và phòng chống HIV trong nhóm nam NCMT đều cho thấy tỷ lệ nam NCMT có QHTD với nhiều bạn tình và có QHTD với PNMD rất cao trong khi đó tỷ lệ sử dụng BCS với tất cả các loại bạn tình đều rất thấp [43], [46], [25], [36], [63] Bên cạnh đó là hành vi nguy cơ liên quan đến sử dụng ma túy như đã nêu trên làm cho bạn tình của họ dễ bị tổn thương hơn với HIV
Phụ nữ đã kết hôn hay chung sống lâu dài đặc biệt dễ bị tổn thương
Các số liệu và nghiên cứu chỉ ra rằng bằng chứng về lây nhiễm HIV qua bạn tình Nghiên cứu về nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm NCMT và các bằng chứng về lây truyền HIV từ nhóm này sang bạn tình của họ tại Chennai, Ấn Độ (2009) cho thấy thời gian kết hôn/chung sống với nam NCMT có liên quan đến nguy cơ lây nhiễm HIV Bạn tình kết hôn/chung sống với nam NCMT từ 6 năm trở lên có nguy cơ nhiễm HIV cao hơn 3,7 lần [38]
Bất bình đẳng giới gây ra sự bất bình đẳng trong QHTD làm tăng tính dễ bị tổn thương với HIV Chuẩn mực mực về giới đòi hỏi phụ nữ phải chung thủy cả trước khi kết hôn và sau khi kết hôn Vì vậy trước và sau khi kết hôn phụ nữ đều
có rất ít bạn tình Phụ nữ thường phải thỏa mãn nhu cầu tình dục của chồng, thực hiện chức năng sinh sản được coi là nghĩa vụ của phụ nữ vì thế phụ nữ rất khó có khả năng từ chối yêu cầu của chồng trong QHTD [31]
HUPH
Trang 28Theo tổng quan về lây truyền qua bạn tình tại Trung Quốc thì 52,2% phụ nữ ở thành thị và 54,8% phụ nữ ở nông thôn chưa bao giơ từ chối yêu cầu về QHTD của chồng họ 13,35% từng bị ép buộc QHTD không mong muốn Đồng thời phụ
nữ không sẵn sàng thảo luận về các vấn đề tình dục cũng như sử dụng BCS Quan niệm cho rằng sử dụng BCS không phù hợp với quan hệ vợ chồng, bạn tình gắn bó mật thiết lây dài hay sử dụng BCS thể hiện sự không tin tưởng và xa cách thậm chí bị buộc tội hay nghi ngờ có quan hệ bên ngoài Việc sử dụng BCS chỉ được đề cập đến như là một biện pháp tránh thai [31]
Sau khi kết hôn phụ nữ chịu áp lực về vấn đề sinh con đặc biệt nếu không có con trai hay không có con Ở khu vực nông thôn phụ nữ phải chịu áp lực nhiều hơn Mong muốn có con và áp lực sinh con trai làm phụ nữ sẵn sàng không sử dụng BCS trong QHTD với chồng họ kể cả khi biết họ có nguy cơ [31]
Một số nghiên cứu khác lại cho thấy nhận thức về nguy cơ lây nhiễm HIV rất thấp trong cả nhóm nam NCMT và BTTX của họ Nhận thức về nguy cơ ảnh hưởng đến việc đưa ra giải pháp phòng chống HIV Trong nghiên cứu của tác giả Panda và cộng sự (2005) có đến 57% nam NCMT và 45% bạn tình cho rằng họ không có nguy cơ nhiễm HIV hay nguy cơ rất thấp [46] Kết quả này tương tự nghiên cứu của tác giả Kumar (2008) tại 5 quốc gia Nam Á cho thấy chỉ có 24% ĐTNC nhận thức được nguy cơ lây nhiễm HIV và chỉ có 17% số này đã từng xét nghiệm [38] Đáng lưu ý là hầu hết vợ của nam NCMT chỉ biết về hành vi sử dụng ma túy của chồng sau khi kết hôn khi thấy chồng TCMT chính điều này làm cho bạn tình không có khả năng bảo vệ bản thân khỏi nguy cơ lây nhiễm HIV Trong nghiên cứu của Solomon và cộng sự (2010) tại Chennai cho thấy 97% ĐTNC biết chồng sử dụng ma túy sau khi kết hôn [53] Trong một nghiên cứu khác của tác giả có kết quả tương tự, 91% biết khi nhìn thấy chồng TCMT trong thời gian chung sống [52]
Như vậy, nếu phụ nữ nói chung là nhóm dễ tổn thương với HIV thì phụ nữ là BTTX của nam NCMT dễ bị tổn thương hơn gấp nhiều lần liên quan đến các nguy cơ như đã trình bày ở phần trên
HUPH
Trang 291.3.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Nghiên cứu về nhóm phụ nữ là BTTX của nam NCMT ở Việt Nam rất ít Theo tổng quan tài liệu nghiên cứu từ năm 2005 -2011 của Bộ Y tế, trong 530 nghiên cứu tìm thấy chỉ có 5 nghiên cứu liên quan đến nhóm bạn tình của nam NCMT Nghiên cứu viên chỉ tìm được 4 nghiên cứu tại Việt nam về bạn tình của nam NCMT Nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ của nam NCMT và dự phòng lây nhiễm HIV giữa nam NCMT và bạn tình của họ [10] Trong 4 nghiên cứu này có
2 nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và 2 nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng hoàn toàn Chưa có nghiên cứu nào kết hợp hai phương pháp định tính và định lượng ở Việt Nam khai thác về yếu tố văn hóa xã hội ảnh hưởng đến tương tác giữa các cá nhân như vấn đề liên quan đến bình đẳng giới, trao quyền cho phụ nữ, quan hệ bạn tình và bạo lực giới, niềm tin văn hóa về tình dục và hành vi tình dục, di biến động dân số, kỳ thị xã hội và phân biệt đối xử dẫn đến tính dễ tổn thương với HIV trong nhóm bạn tình nói chung
và bạn tình của nam NCMT nói riêng
1.3.2.1 Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm BTTX của nam NCMT qua các nghiên cứu
Nghiên cứu nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm vợ và bạn tình của nam NCMT tại Lai Châu (2010) với 329 đối tượng là vợ, bạn tình của nam NCMT được chọn mẫu song song với điều tra nhóm NCMT cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm
vợ, bạn tình của nam NCMT là 5,2% [16] Tỷ lệ này cao hơn tỷ lệ nhiễm HIV kết quả giám sát trọng điểm năm 2011 trong nhóm phụ nữ mang thai (0,21%) và nhóm phụ nữ mại dâm (2,97%)
Nghiên cứu can thiệp cho BTTX của nam NCMT hồi gia từ các trung tâm cai nghiện và trại giam tại 4 quận Đống Đa, Hai Bà Trưng, Hoàng Mai và Long Biên, Hà Nội trong 3 năm từ năm 2008-2010, cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV phát hiện trong các năm 14% (2008), 9% (2009) và 6% (2010) Tỷ lệ này có thể giải thích
là chương trình can thiệp đã thu hút được đối tượng bạn tình tham gia và các yếu
tố nguy cơ được giảm thiểu trong nhóm này [29], [30]
HUPH
Trang 301.3.2.2 Các yếu tố liên quan đến lây nhiễm HIV trong nhóm bạn tình thường xuyên của nam NCMT
Các nghiên cứu tại Việt Nam cũng cho thấy hầu hết BTTX của nam NCMT chung thủy một vợ một chồng và ít tham gia vào các hành vi nguy cơ sử dụng ma tuy và QHTD nhận tiền Nghiên cứu tại Lai Châu của Nguyễn Thanh Long và cộng sự (2010) cho thấy 6,4% BTTX của nam NCMT trong đó có 57,1% sử dụng thuốc phiện còn lại sử dụng heroin và 38% đã từng tiêm chích ma túy Trong số đối tượng có tiêm chích ma túy chỉ có duy nhất một đối tượng có sử dụng lại bơm kim tiêm của chồng/người yêu trong tháng qua [16] Một nghiên cứu khác tại Hà Nội trên nhóm BTTX của nam NCMT hồi gia từ trung tâm cai nghiện và trại giam có 16% từng sử dụng ma túy trong đó có 6% tiêm chích ma túy [29] Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Long đã đề cập ở trên không ghi nhận trường hợp nào có hành vi bán dâm trong 12 tháng qua Tỷ lệ có QHTD ngoài hôn nhân cũng rất thấp Chỉ có 11/320 đối tượng có QHTD ngoài hôn [16] Tác giả Hammetta (2008) nghiên cứu trên 232 BTTX của nam NCMT 9% đã đừng có hành nghề mại dâm [29]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Long (2010) đã đề cập ở trên, tỷ lệ sử dụng BCS thường xuyên với chồng/người yêu trong 12 tháng vừa qua là 20% và trong lần QHTD gần nhất chỉ có 35,6% Lý do không sử dụng BCS do đã sử dụng thuốc tránh thai, bạn tình phản đối, nghĩ BCS là không cần thiết [16]
Nghiên cứu tại Hà Nội cũng cho thấy tỷ lệ sử dụng BCS với chồng/người yêu thấp ở cả người sống cùng hay chồng/người yêu đang ở trong trại cai nghiện, trại giam Chỉ có 27% sử dụng BCS thường xuyên với bạn tình Chỉ có 17% bạn tình
có tình trạng HIV không tương đồng luôn luôn sử dụng BCS trong 6 tháng vừa qua và 21% sử dụng BCS trong lần QHTD cuối cùng [29]
Như vậy bên cạnh nguy cơ với HIV/AIDS liên quan đến hành vi nguy cơ của bạn tình NCMT, phụ nữ có nguy cơ lây nhiễm HIV do trực tiếp tham gia hành vi nguy cơ như QHTD ngoài hôn nhân, tiêm chích ma túy hay buộc phải QHTD
HUPH
Trang 31nhận tiền, để có thể tồn tại hay có tiền để sử dụng ma túy cho bản thân Một người có thể thuộc một nhóm nguy cơ trên hay thuộc nhiều nhóm nguy cơ vì thế
có thể có sự kết hợp nguy cơ [33]
1.3.2.3 Tính dễ tổn thương với HIV trong nhóm phụ nữ là BTTX của nam NCMT
Tại Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu tìm hiểu về tính dễ tổn thương của phụ
nữ với HIV/AIDS Trong phần này tính dễ tổn thương với HIV qua các nghiên cứu ở Việt Nam cũng được phân nhóm tương tự với các nghiên cứu trên thế giới như đã trình bày ở trên Các yếu tố liên quan đến tính dễ bị tổn thương với HV gồm có kiến thức về HIV, nhận thức về nguy cơ lây nhiễm HIV, quan điểm về giới và bất bình đẳng giới và vấn đề bạo lực, bối cảnh hôn nhân
Phụ nữ thường có kiến thức về lây nhiễm HIV và phòng chống lây nhiễm
HIV thấp hơn nam giới
Phụ nữ thiệt thòi hơn nam giới về thụ hưởng giáo dục, sự bất bình đẳng về cơ hội giáo dục làm cho phụ nữ có trình độ thấp hơn ở nam giới Tỷ trọng chưa đi học của nữ cao hơn nam Tỷ lệ biết chữ ở nam là 95% trong khi nữ chỉ có 89,6% [19] Hiểu biết về HIV ở nam giới cũng cao hơn Trình độ càng cao thì khoảng cách chênh lệch về phổ cập giáo dục giữa thành thị và nông thôn càng lớn, cụ thể: ở cấp THCS, mức chênh lệch giữa thành thị và nông thôn là 5,7%; ở cấp THPT là 18,4 % và ở trình độ cao đẳng và đại học là 43,3 điểm phần trăm [19]
Sự chênh lệch về trình độ học vấn làm phụ nữ nông thôn tiếp cận các thông tin về HIV thấp hơn Tỷ lệ phụ nữ nông thôn nghe nói đến HIV/AIDS là 91,1% trong khi đó nam giới là 93,9% Trong khi đó tỷ lệ này ở thành thị cao hơn là 97,6% và 98,9% Tỷ lệ thanh niên nam và nữ tuổi 15-24 vừa xác định đúng các biện pháp phòng tránh lây truyền HIV qua đường tình dục, vừa phân biệt được các quan niệm sai cơ bản về HIV là 46,2% trong đó nữ 42,3%, nam 50,3%, ở độ tuổi 15-
49 là 38,7% và 50,9% Tỷ lệ phần trăm số người trong nhóm có nguy cơ cao vừaxác định đúng các biện pháp phòng tránh lây truyền HIV qua đường tình dục, vừa phân biệt được các quan niệm sai cơ bản về đường lây truyền HIV rất thấp, ở nhóm NCMT là 37,6% [60]
HUPH
Trang 32 Nhận thức về nguy cơ lây nhiễm HIV
Nhận thức về nguy cơ lây nhiễm HIV theo kết quả các nghiên cứu trước đây của nhóm bạn tình đều rất thấp Nghiên cứu tại Hà Nội chỉ có một nửa đối tượng cho biết có nguy có lây nhiễm HIV nhưng chỉ có 1/3 đã từng đi xét nghiệm HIV trước đó [29] Nghiên cứu tại Lai Châu đã đề cập ở trên cũng cho thấy chỉ có 30,4% đánh giá bản thân có nguy cơ lây nhiễm HIV và 22% người cho biết đã làm xét nghiệm HIV [16] Việc đánh giá thấp nguy cơ làm đối tượng bạn tình dễ
bị tổn thương với HIV cao hơn do không do không hề có sự phòng ngừa nào Việc xét nghiệm HIV cũng rất quan trọng trong việc phòng tránh HIV vì thế cần tìm hiểu sâu thêm những lý do nào cản trở việc làm xét nghiệm HIV của đối tượng là BTTX của nam NCMT
Quan điểm về giới làm phụ nữ dễ bị tổn thương với HIV hơn
Bất bình đẳng giới gây ra sự bất bình đẳng trong QHTD và hậu quả là làm tăng tính dễ bị tổn thương với HIV ở phụ nữ Chuẩn mực xã hội đặt phụ nữ vào thế thụ động và thấp kém hơn chồng mình trong việc thương thuyết các vấn đề về tình dục bao gồm cả tình dục an toàn Thường thì người chồng chứ không phải người vợ quyết định các vấn đề sinh đẻ và QHTD Tuy nhiên, họ sẵn sàng đáp ứng nhu cầu tình dục của chồng coi đó là biện pháp để gìn giữ hạnh phúc gia đình [12] Vị thế thấp kém của phụ nữ đặt họ vào nguy cơ lây nhiễm HIV, đối với bạn tình của nam NCMT có nguy cơ cao hơn khi chồng họ vừa có có những hành vi nguy cơ cao do QHTD và tiêm chích ma túy không an toàn
Tỷ lệ nam giới tìm kiếm đến dịch vụ về tình dục cũng rất quan trọng Tuy nhiên chưa có thực sự có chất lượng về quần thể nam giới có quan hệ tình dục với PNMD ở Việt Nam, theo tài liệu tổng quan của Nguyễn Thu Anh và các cộng sự, một nghiên cứu tại Hà Nội cho thấy có 1/3 nam giới trong độ tuổi từ 18-55 có QHTD với PNMD, 43,5% có QHTD với PNMD nhiều hơn 5 lần tính đến thời điểm nghiên cứu và chỉ có 36,4% sử dụng BCS thường xuyên với PNMD PNMD là đối tượng nguy cơ cao, nam giới QHTD với PNMD không sử dụng
HUPH
Trang 33BCS là nguy cơ lây nhiễm HIV cho bản thân và tiếp đó là BTTX của họ Đây là nhóm mà nam giới cho là không cần thiết phải sử dụng biện pháp phòng tránh [24] Như vậy nam giới vừa quan hệ PNMD vừa quan hệBTTX hình thành nhóm cầu nối lây nhiễm HIV Ở nhóm nam NCMT nguy cơ lây nhiễm HIV cho nhóm cầu nối càng lớn do kết hợp QHTD không an toàn và tỷ lệ sử dụng chung BKT ở quần thể này vẫn rất cao
Quan điểm về giới khiến cả phụ nữ và nam giới tham gia vào các hoạt động tình dục nguy cơ Có sự khác biệt giữa hai giới, nguy cơ lây nhiễm HIV ở nam giới chủ yếu thiếu kiến thức về tình dục an toàn, hậu quả của hành vi nguy cơ của bản thân Trong khi đó phụ nữ không chỉ dễ bị tổn thương về thể xác, thiều kiến thức
về tình dục an toàn mà còn không có khả năng kiểm soát hoạt động tình dục Chính những điều này làm tăng tính dễ bị tổn thương với HIV trong nhóm phụ
nữ là BTTX của nam NCMT nói riêng và phụ nữ nói chung
Bạo hành giới và bất bình đẳng về quyền lực giới
Theo báo cáo của Tổng cục thống kê (2010), tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực tình dục, thể xác hoặc cả hai trong đời và trong 12 tháng qua là 34% và 9% [18] Một nghiên cứu khác cho thấy 21,2% các cặp vợ chồng đã trải qua ít nhất một loại hình nào
đó của bạo hành gia đình như tinh thần, thể xác, tình dục [2] Tỷ lệ bao hành cao trong các cặp vợ chồng, bạn tình và sự im lặng xung quanh bạo hành được đề cập đến trong các nghiên cứu cho thấy phụ nữ Việt Nam sẽ dễ bị tổn thương nếu họ
cố gắng từ chối không QHTD, đòi hỏi mối quan hệ hôn nhân một vợ một chồng hoặc cố đề nghị sử dụng BCS để bảo vệ bản thân trước nguy cơ lây nhiễm HIV [57] Bạo lực có thể dẫn đến tổn thương về thể chất, tăng nguy cơ sinh học lây nhiễm HIV Lo sợ bị bạo lực hạn chế phụ nữ đề nghị sử dụng BCS, giảm khả năng tham gia tư vấn xét nghiệm tự nguyện và tìm kiếm dịch vụ điều trị
Tác giả Phan Thị Thu Hiền với nghiên cứu về cưỡng bức tình dục trong hôn nhân
ở vùng nông thôn Quảng Trị cho thấy bất bình đẳng giới còn nặng nề ảnh hưởng tới khả năng chủ động và quyền tình dục của phụ nữ, buộc họ phải im lặng, kìm
HUPH
Trang 34nén khả năng đấu tranh và phản kháng đối với hành vi ngược đãi, cưỡng bức và bạo lực [13] Nghiên cứu về hành vi tình dục của phụ nữ nông thôn có chồng ở miền Bắc của tác giả Vũ Song Hà thấy rằng hầu hết phụ nữ nông thôn nghĩ họ không có quyền từ chối đòi hỏi tình dục của chồng dù họ không có hứng thú hoặc nhu cầu để giữ hòa thuận trong gia đình [12]
Theo tác giả Bùi Việt Ánh với nghiên cứu về tổn thương của phụ nữ nông thôn với HIV cho thấy quan điểm coi chuyện tình dục là điều thầm kín, riêng tư và chịu đựng nhẫn nhịn của người phụ nữ vì mong gia đình yên ấm nên đã hạn chế khả năng từ chối, hạn chế khả năng tự bảo vệ bản thân trước HIV Điều này làm tăng thêm những tổn thương với HIV trong nhóm phụ nữ nông thôn [1]
Phụ nữ đã kết hôn, chung sống với bạn tình đặc biệt dễ bị tổn thương
Phụ nữ đã lập gia đình hoặc chung sống với bạn tình có đặc điểm rõ ràng về tình dục và các mối quan hệ tình dục khiến họ dễ tổn thương với HIV Chuẩn mực về giới và tình dục đòi hỏi phụ nữ trung thành với chồng sau khi kết hôn Do đó cả trước và sau khi kết hôn phụ nữ thường có ít bạn tình Đáp ứng nhu cầu tình dục của chồng, thực hiện vai trò sinh sản là nghĩa vụ của phụ nữ khi kết hôn Phụ nữ thường gặp khó khăn trong việc từ chối đòi hỏi của chồng/bạn tình [12], [31] Nhiều nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy, việc trao đổi về tình dục giữa các cặp vợ/chồng/bạn tình là rất hạn chế Phụ nữ thường cảm thấy xấu hổ khi nói về tình dục và bị coi là không chung thủy Việc sử dụng BCS rất thấp mặc dù quan hệ tình dục ngoài hôn nhân là phổ biến ở nam giới [12]
Một nhân tố quan trọng liên quan đến lây nhiễm HIV trong các cặp bạn tình là việc sử dụng phổ biến dụng cụ tránh thai đặc biệt là ở khu vực nông thôn Vì thế phụ nữ không có lý do gì để họ phải sử dụng BCS với chồng ngay cả khi chồng
có hành vi nguy cơ cao Kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2010 cho thấy chỉ có 13,1% đối tượng sử dụng BCS để tránh thai trong khi đó dụng cụ tránh thai chiếm 52,1% [19] Thậm chí tỷ lệ không thường xuyên sử dụng BCS ở người nhiễm HIV với vợ và bạn tình cao gấp 6,91 lần người không nhiễm [11]
HUPH
Trang 351.4 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu
Tiên Du là một huyện đồng bằng nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Bắc Ninh với cơ cấu nông nghiệp đan xen với các khu công nghiệp, làng nghề Hiện nay huyện đã hình thành một số khu và cụm công nghiệp tạo việc làm cho người dân Tính đến 30/6/2012 huyện Tiên Du có 223 người nhiễm HIV, trong đó có 92 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS, và 71 trường hợp tử vong do AIDS Tiên Du là huyện có số người nhiễm đứng thứ 3 trong tổng số 8 huyện, thị xã và thành phố của tỉnh Bắc Ninh với 13/14 xã, thị trấn có người nhiễm HIV Tình hình dịch tại huyện mỗi năm tăng lên cùng sự phức tạp của tình hình tệ nạn ma túy, mại dâm HIV mang lại những tác động tiêu cực đối với bản thân người nhiễm, gia đình, tới nền kinh tế xã hội và đặc biệt là đối với hệ thống y tế [14] Giống như mô hình chung của tỉnh Bắc Ninh, tỷ lệ nhiễm HIV tại Tiên Du chủ yếu thuộc trong nhóm đối tượng NCMT chiếm tỷ lệ cao nhất 45,7%, các nhóm khác chiếm tỷ lệ thấp Tỷ lệ nhiễm HIV ở nam chiếm 76,6%, nữ 23,3% Hiện nay, số nam NCMT tại Tiên Du có 189 đối tượng có hồ sơ quản lý, 80% có BTTX Tuy nhiên, chưa nghiên cứu nào trên nhóm BTTX của nam NCMT trên địa bàn Do đó việc xác định tỷ lệ nhiễm HIV, tính dễ bị tổn thương với HIV trong phụ nữ là BTTX của nam NCMT ở huyện Tiên Du là rất cần thiết, giúp cung cấp bằng chứng xác thực
để có định hướng phù hợp cho chương trình can thiệp trên nhóm đối tượng này
Trang 361.5 Khung lý thuyết
LÂY NHIỄM HIV TỪ NAM NCMT SANG BẠN TÌNH THƯỜNG XUYÊN
Tỷ lệ lây nhiễm cao từ nam
TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG
2 Nhận thức thấp về nguy cơ lây nhiễm HIV
3 Kỳ thị xã hội với người nhiễm HIV, người NCMT
4 Tiếp cận dịch vụ điều trị các bệnh lây truyền qua đường TD
và xét nghiệm HIV
5 Khả năng thương thuyết sử dụng BCS thấp của bạn tình thường xuyên
HUPH
Trang 37CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Nghiên cứu định lượng
Trong nghiên cứu này, bạn tình thường xuyên của nam NCMT có các tiêu chí sau:
2.1.2 Nghiên cứu định tính
Bạn tình nữ thường xuyên của nam NCMT
Nam nghiện chích ma túy
Đại diện ban ngành đoàn thể tại địa phương (Y tế, công an)
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 11/2011 đến tháng 8/2012
Địa điểm nghiên cứu: Huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu cắt ngang kết hợp đồng thời phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính Vì vậy, việc thu thập số liệu định lượng và định tính diễn ra đồng thời Số liệu định lượng được thu thập và phân tích theo các nhóm biến số Tất cả thông tin thu được từ phỏng vấn định tính được ghi âm, giải băng toàn bộ
và phân tích theo chủ đề Kết quả nghiên cứu thu được từ hai cấu phần được sử dụng và trình bày trong từng phần kết quả nghiên cứu để tăng tính giá trị của kết quả nghiên cứu vì có kiểm chứng từ nhiều nguồn số liệu và phương pháp thu thập khác nhau
HUPH
Trang 382.4 Phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu và các đối tượng nghiên cứu được trình bày tóm tắt trong bảng 2.1
Bảng 2.1 Tóm tắt cỡ mẫu nghiên cứu và phương pháp thu thập thông tin
Đối tượng nghiên
Tình trạng HIV
Tổng số HIV(+) HIV(-)
Nghiên cứu định lượng
2.4.1 Nghiên cứu định lượng
Theo kết quả thu được thông qua làm việc với công an xã/thị trấn của huyện Tiên
Du, toàn huyện Tiên Du có khoảng 189 người NCMT Theo nghiên cứu của Christina M Schumacher và các cộng sự năm (2009) tại Bắc Ninh cho thấy 80% nam NCMT có BTTX [49] Tại địa bàn huyện ước tính có khoảng 150 BTTX của NCMT Nghiên cứu thực hiện chọn mẫu toàn bộ Các bước cụ thể như sau: Bước 1: Xây dựng khung mẫu, nghiên cứu viên phối hợp với cán bộ chương trình phòng chống HIV/AIDS, công an xã/thị trấn thống kê số nam NCMT sử dụng ma túy trong vòng 6 tháng tính đến thời điểm nghiên cứu trên địa bàn, số lượng BTTX (đã kết hôn/chung sống như vợ chồng)
Bước 2: Dựa vào đội ngũ cộng tác viên chương trình phòng chống HIV/AIDS tại các xã/thị trấn tiếp cận ĐTNC là BTTX của nam NCMT trong danh sách quản lý thỏa mãn các tiêu chí trên mời tham gia nghiên cứu
HUPH
Trang 39Trong nghiên cứu này, có 5 đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu Mẫu định lượng là 148 người tham gia phỏng vấn
2.4.2 Nghiên cứu định tính
Để phù hợp với mục tiêu của đề tài và thời gian tiến hành nghiên cứu cùng với tính bão hòa của thông tin, các đối tượng nam NCMT, bạn tình được chọn chủ đích nhằm đảm bảo đa dạng hóa tối đa về tuổi, địa bàn sinh sống, hành vi sử dụng ma túy, tình dục Đối tượng bạn tình và nam NCMT được lựa chọn đảm bảo có cả người dương tính với HIV, chưa biết về tình trạng HIV Đối tượng tham gia nghiên cứu tịnh tính 23 đối tượng cụ thể như sau:
15 bạn tình của người NCMT
05 người NCMT
01 cán bộ y tế và 01 tư vấn viên xét nghiệm tự nguyện
01 công an xã
2.5 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ thu thập thông tin
Số liệu của nghiên cứu bao gồm các kết quả xét nghiệm cho đối tượng bạn tình
và thông tin thu được từ phỏng vấn định lượng và định tính
2.5.1.1 Công cụ định lượng
Sử dụng bộ câu hỏi có cấu trúc cho bạn tìnhthường xuyên của nam NCMT Nội dung của bộ câu hỏi gồm có đặc điểm nhân khẩu học, hành vi quan hệ tình dục (QHTD với BTTX và bạn tình khác, quan hệ tình dục có nhận tiền, quan hệ với PNMD, hành vi sử dụng ma túy, hiểu biết về HIV và xét nghiệm HIV, bệnh lây truyền qua đường tình dục, tiếp cận với các chương trình can thiệp, hỗ trợ dự
phòng lây nhiễm HIV (Phụ lục 1)
2.5.1.2 Công cụ thu thập số liệu định tính
Công cụ thu thập thông tin định tính bao gồm các hướng Phỏng vấn sâu theo các đối tượng NCMT, bạn tình của người NCMT, cán bộ y tế và tư vấn viên tại
HUPH
Trang 40phòng xét nghiệm tự nguyện, công an làm công tác phòng chống ma túy tại địa
phương – (Phụ lục 2, 3,4,5)
2.5.2 Quy trình thu thập thông tin
Việc tiếp cận đối tượng gặp nhiều khó khăn, thời gian kéo dài từ tháng 11/2011 đến tháng 8/2012, dài hơn 2 tháng so với dự kiến ban đầu Thu thập số liệu được tiến hành tất cả các ngày trong tuần và cả buổi tối do một lượng lớn nhóm bạn tình là công nhân, làm việc 12 giờ/ngày
Nghiên cứu viên trực tiếp tiếp cận thực địa và tuyển chọn đối tượng nghiên cứu, thực hiện toàn bộ các phỏng vấn định tính và định lượng, hỗ trợ toàn bộ kinh phí cho nghiên cứu cũng như hỗ trợ kinh phí cho người tham gia phỏng vấn và chi trả kinh phí cho các xét nghiệm HIV
Địa điểm thu thập số liệu là Phòng tư vấn xét nghiệm tự nguyện – Trung tâm Y
tế huyện Tiên Du đảm bảo tính riêng tư và không bị người khác làm phiền trong suốt quá trình phỏng vấn
2.5.3 Quy trình xét nghiệm chẩn đoán HIV
Tất cả đối tượng nghiên cứu sau khi tham gia phỏng vấn được yêu cầu cung cấp 5ml máu để làm xét nghiệm HIV Việc lấy máu là hoàn toàn tự nguyện và khuyết danh Chẩn đoán xác định HIV được thực hiện theo phương cách III theo quy định số của Bộ Y tế Mẫu huyết thanh được coi là dương tính với phương cách III khi mẫu đó dương tính cả 3 lần xét nghiệm bằng 3 loại sinh phẩm khác nhau Xét nghiệm khẳng định được thực hiện tại Trung tâm phòng chống HI/AIDS tỉnh Bắc Ninh Test nhanh tại Phòng VCT - Trung tâm Y tế huyện Tiên Du
Các mẫu sinh phẩm sử dụng cho việc sàng lọc như sau:
+ Xét nghiệm phát hiện: Determine (Abbott, Japan)
+ Xét nghiệm khẳng định bằng 2 xét nghiệm EIA: Genscreen HIV 1/2 (Biorad, US) và Murex HIV 1/2 (Murex Biotech, UK)
Đối tượng đồng ý lấy máu xét nghiệm được nhân viên phòng VCT –Trung tâm Y
tế Tiên Du tư vấn trước, sau xét nghiệm theo đúng quy định của Bộ Y tế
HUPH