PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm tất cả bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh Đái tháo đường týp 2 và đang được theo dõi ngoại trú tại phòng khám nội tiết của Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp.
Tiêu chuẩn lựa chọn nghiên cứu BN được chẩn đoán Đái tháo đường týp 2, đồng ý tham gia phỏng vấn
Tiêu chuẩn loại trừ đối tƣợng nghiên cứu là những BN không tiếp xúc đƣợc, điếc, lú lẫn và những BN từ chối không tham gia nghiên cứu.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: tại phòng khám nội tiết, bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01/2016 đến tháng 10/2016.
Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang.
Cỡ mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu đƣợc tính theo công thức chọn cỡ mẫu cho một tỷ lệ:
- N là cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu
- Z là hệ số tin cậy = 1,96 (mức ý nghĩa α = 0,05)
- P: tỷ lệ tuân thủ điều trị Đái tháo đường týp 2 chung đạt chọn p = 0,30 (theo nghiên cứu của Nguyễn Phương Thủy năm 2013 tại Thanh Trì Hà Nội)
- d là độ chính xác mong muốn, sai số tối đa cho phép = 0,06
Vậy n = 225 Để phòng sai sót mẫu, chúng tôi dự phòng thêm 10% và làm tròn thành 248
Phương pháp chọn mẫu
Chúng tôi đã chọn 800 bệnh nhân đến khám và điều trị ngoại trú tại phòng khám của bệnh viện định kỳ mỗi tháng Để thu thập đủ cỡ mẫu 248 đối tượng nghiên cứu/tháng, chúng tôi tính hệ số k = 800/248 = 3,2 và làm tròn xuống k = 3 Do đó, khoảng cách mẫu là 3 Chúng tôi bắt đầu phỏng vấn ngẫu nhiên từ người có số thứ tự 1, sau đó chọn người có số thứ tự 4 và tiếp tục cho đến khi đủ cỡ mẫu, đồng thời xây dựng khung mẫu.
Thu thập số liệu bắt đầu từ ngày 19/4/2016 đến hết ngày 13/5/2016.
Phương pháp phân tích số liệu
- Số liệu sau khi thu thập đƣợc kiểm tra đảm bảo tính đầy đủ, chính xác và nhập vào máy tính bằng phần mềm Epi data 3.1
Dữ liệu sau khi nhập sẽ được làm sạch để đảm bảo tính đầy đủ và chính xác Phần mềm SPSS 16.0 sẽ được sử dụng để phân tích dữ liệu theo mục tiêu nghiên cứu, áp dụng các thuật toán thống kê mô tả như tần số và tỷ lệ, cùng với các phương pháp phân tích như kiểm định χ², tỷ lệ odds (OR) và khoảng tin cậy.
Mức ý nghĩa thống kê p < 0,05 và khoảng tin cậy 95% (CI 95%) được sử dụng để phân tích mối liên hệ giữa việc tiếp cận dịch vụ y tế (TTĐT) với các yếu tố như tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp và kiến thức về các chế độ điều trị.
Các biến số nghiên cứu
Các nhóm biến số theo mục tiêu nghiên cứu:
Nhóm biến số về nhân khẩu học: tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp, người chung sống, tiền sử bệnh,
- Nhóm biến số về kiến thức tuân thủ điều trị
- Nhóm biến số về thực trạng tuân thủ điều trị: tuân thủ CĐDD, HĐTL, dùng thuốc, KSĐH & TKĐK [13], [23]
Bảng các biến số nghiên cứu
TT Biến số Định nghĩa biến Phân loại
Phương pháp thu thập Thông tin chung về bệnh nhân Đái tháo đường týp 2
1 Tuổi Là tuổi của ĐTNC tính theo năm sinh dương lịch Rời rạc Phỏng vấn/
2 Giới Giới tính của ĐTNC: nam hoặc nữ Nhị phân Quan sát/
Là nghề của ĐTNC ở thời điểm hiện tại và tạo ra thu nhập chính
4 Trình độ học vấn Là bằng cấp học vấn cao nhất mà ĐTNC có đƣợc Thứ bậc Phỏng vấn
Chiều cao tính bằng m, cân nặng tính bằng kg Liên tục Tiến hành đo, cân
Những người mà ĐTNC đang sống cùng Danh mục Phỏng vấn
Hỗ trợ của Tổ chức xã hội
Là BN có nhận đƣợc sự hướng dẫn, giúp đỡ từ các tổ chức khác ngoài CBYT bệnh viện trong việc điều trị bệnh ĐTĐ
Người nhắc nhở tuân thủ điều trị ĐTĐ
Là người thường xuyên, hàng ngày nhắc nhở, giúp BN uống thuốc, thử đường huyết, tập thể lực, ăn uống
Khoảng cách từ nhà đến phòng khám Đoạn đường từ nhà BN đến bệnh viện tính bằng kilomet Rời rạc Phỏng vấn/
10 Bảo hiểm y tế ĐTNC có Bảo hiểm y tế hay không Gồm 2 giá trị có hoặc không
Là BN có BHYT nhƣng có đƣợc BHYT thanh toán chi phí khi đi khám bệnh ở phòng khám bệnh viện
12 Thời gian m ắ c bệnh ĐTĐ týp 2
Tính theo đơn vị năm/tháng từ khi BN đƣợc chẩn đoán xác định ĐTĐ týp
2 đến thời điểm nghiên cứu
Hoàn cảnh phát hiện bệnh ĐTĐ týp 2
Là hoàn cảnh, cách thức mà
BN phát hiện ra mình mắc bệnh ĐTĐ týp 2
14 Thời gian điều trị bệnh ĐTĐ týp 2
Tính theo đơn vị năm/tháng từ khi BN bắt đầu điều trị bệnh ĐTĐ týp 2 đến thời điểm nghiên cứu
Là các bệnh lý ngoài bệnh ĐTĐ mà BN đang có nhƣ: viêm khớp, bệnh hô hấp mãn tính, cao huyết áp, suy tim, suy thận
Kiến thức về bệnh và tuân thủ điều trị bệnh Đái tháo đường
Kiến thức về thuốc điều trị bệnh ĐTĐ týp 2
Là sự hiểu biết của BN ĐTĐ týp 2 về các loại thuốc có thể dùng điều trị ĐTĐ týp
Hiểu b i ế t về các vị trí để tiêm insulin
Là sự hiểu biết của B N về các vị trí để tiêm insulin Danh mục Phỏng vấn
Kiến thức về tuân thủ dùng thuốc điều trị ĐTĐ týp 2
Là sự hiểu biết của B N về cách dùng thuốc điều trị ĐTĐ týp 2 nhƣ thế nào cho hiệu quả
Kiến thức về tuân thủ hoạt động thể lực
Là sự hiểu biết của BN về các hoạt động thể lực phù hợp nhằm kiểm soát tốt đường huyết
Là sự hiểu biết của BN về việc KSĐH trong tuần, tháng Phân loại Phỏng vấn
Là sự hiểu biết của BN về tần suất KSĐH và TKĐK nên thực hiện
Kiến thức về mục đích của
Là sự hiểu biết của BN về ý nghĩa của việc KSĐH và TKĐK
Kiến thức về các biện pháp điều trị ĐTĐ cần tuân thủ
Là sự hiểu biết của B N về tất cả các biện pháp điều trị mà người ĐTĐ phải tuân thủ
Kiến thức về hậu quả của việc không TTĐT
Là sự hiểu biết của BN về những hậu quả sẽ xảy ra khi không TTĐT (gây ra các biến chứng)
Kiến thức về tuân thủ lựa chọn thực phẩm phù hợp
Là sự hiểu biết của BN về những thực phẩm mà BN ĐTĐ týp 2 nên ăn, hạn chế, cần tránh
Kiến thức về giờ ăn, số bữa ăn/ngày
Là sự hiểu biết của BN về số bữa ăn, khoảng cách giữa các bữa ăn mà BN ĐTĐ týp
Thực hành tuân thủ điều trị
Thực hành tuân thủ dinh dưỡng trong vòng một tuần qua
1 Mức độ tiêu thụ thực phẩm
Tần số sử dụng một số thực phẩm của BN trong vòng 1 tuần qua
2 Số bữa ăn trên ngày trong tuần
Là số bữa ăn/ngày mà BN đã ăn trong một tuần Rời rạc Phỏng vấn
Thực hành tuân thủ hoạt động thể lực trong vòng một tuần qua
1 Loại hình hoạt động thể lực
Là hình thức hoạt động thể lực (đi bộ, chạy, đánh cầu lông, ) mà BN đã tập trong tuần vừa qua
2 Thời gian hoạt động thể lực
Số lần/ số phút BN tập thể lực trong tuần vừa qua Rời rạc Phỏng vấn
Lý do BN không tuân thủ hoạt động thể lực
Là những lý do vì sao BN không luyện tập theo chỉ dẫn của bác sĩ
Thực hành tuân thủ điều trị thuốc trong vòng một tháng qua
Thời gian dùng thuốc ĐTĐ
Khoảng thời gian (tính bằng năm/tháng) kể từ lần đầu tiên
BN bắt đầu đƣợc điều trị thuốc đến thời điểm phỏng vấn
Số loại thuốc mà BN đang dùng để điều trị bệnh ĐTĐ trong tháng vừa qua
3 Số lần uống/ tiêm thuốc
Số lần BN uống/tiêm thuốc để điều trị bệnh ĐTĐ trong một ngày
Thực hành về tuân thủ thuốc
Là cách dùng thuốc của BN trong tháng qua Danh mục Phỏng vấn
Số lần ĐTNC quên không uống/tiêm thuốc trong tháng vừa qua
Lý do quên uống/ tiêm thuốc
Các nguyên nhân khiến ĐTNC quên một vài lần uống/tiêm thuốc trong tháng vừa qua
7 Xử trí quên uống/tiêm thuốc
Cách mà ĐTNC dùng để xử lý khi phát hiện ra mình quên uống/tiêm thuốc
8 Lý do bỏ uống/tiêm thuốc
Các nguyên nhân khiến bệnh nhân bỏ uống/tiêm thuốc trong tháng vừa qua
Thực hành tuân thủ kiểm soát đường huyết tại nhà & khám định kỳ
1 Lý do KSĐH tại nhà
BN thử đường huyết tại nhà theo hướng dẫn hay vì lý những do khác
2 Tần suất thử đường huyết
Số lần mà BN thử đường huyết/ngày/tuần/tháng Rời rạc Phỏng vấn
3 Ghi nhận chỉ số đường huyết
BN ghi lại kết quả chỉ số đường huyết sau mỗi lần thử
Lý do không đo đường huyết tại nhà
Các lý do khiến B N không đo đường huyết tại nhà
Là tình trạng BN đi tái khám theo hẹn (bao lâu (tháng)/lần)
Lý do bệnh nhân không tuân thủ TKĐK
Các lý do khiến B N không đi khám định kỳ Danh mục Phỏng vấn
Nhóm biến tiếp cận với dịch vụ y tế
Khoảng cách từ nhà tới phòng khám
Quãng đường từ nhà BN đến bệnh viện (tính bằng kilomet)
2 Đánh giá chi phí cho
Nhận định chủ quan của BN về chi phí trả cho 1 lần khám (tiền khám, xét nghiệm, thuốc, chi phí đi lại…) là đắt hay chấp nhận đƣợc
Nhận xét của BN về thời gian/lần khám
Là ý kiến chủ quan của ĐTNC về thời gian chờ khám, xét nghiệm, lãnh thuốc
Mức độ thường xuyên nhận đƣợc các hướng dẫn về
Tần suất mà ĐTNC nhận được các hướng dẫn về chế độ TTĐT của BN ĐTĐ từ CBYT
Mức độ hài lòng của BN về những thông tin TTĐT nhận đƣợc từ
Mức độ hài lòng qua 5 cấp độ từ mức rất hài lòng đến mức thấp nhất là hoàn toàn không hài lòng
Mức độ hài lòng của BN về thái độ phục vụ của CBYT
Mức độ hài lòng qua 5 cấp độ từ mức rất hài lòng đến mức thấp nhất là hoàn toàn không hài lòng
Các tiêu chí, thang điểm đánh giá tuân thủ điêu trị
Phân chia khoảng cách từ nhà đến bệnh viện (< 10 km, ≥ 10 km): theo ranh giới địa lý giữa thành phố Cao Lãnh và các huyện
2.8.2 Thang điểm đánh giá: Đạt: khi BN trả lời đƣợc từ 60% số điểm trở lên; Không đạt khi BN trả lời được dưới 60% số điểm [23]
Thang điểm đánh giá kiến thức về bệnh:
Chế độ dinh dưỡng được đánh giá với tổng điểm 13 Bệnh nhân (BN) được xem là có kiến thức đúng nếu đạt từ 8 điểm trở lên; ngược lại, nếu điểm số dưới 8, bệnh nhân không đạt yêu cầu.
- Chế độ hoạt động thể lực: đạt khi BN chọn HĐTL 30 - 60 phút/ngày, 3 điểm
Chế độ dùng thuốc được đánh giá tổng điểm 4, trong đó bệnh nhân (BN) được xem là có kiến thức đúng khi đạt từ 2 điểm trở lên; ngược lại, nếu điểm dưới 2, bệnh nhân không đạt yêu cầu.
- Chế độ kiểm soát đường huyết: Đạt khi BN chọn thử đường huyết ≥ 2 lần/tuần, 2 điểm
- Chế độ tái khám định kỳ: Đạt: khi BN trả lời đƣợc tái khám 1 lần/tháng, 1 điểm
Thang điểm đánh giá kiến thức chung:
Tổng điểm là 43, đạt về kiến thức chung khi BN trả lời đƣợc ≥ 26 điểm trở lên; Không đạt khi trả lời đƣợc < 26 điểm
Thang điểm đánh giá tuân thủ điều trị
Thang điểm đánh giá tuân thủ từng chế độ điều trị
Đánh giá tuân thủ chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân Đái tháo đường rất quan trọng Theo khuyến cáo, bệnh nhân nên sử dụng các thực phẩm tốt cho sức khỏe ít nhất 3 lần mỗi tuần, trong khi các thực phẩm cần hạn chế hoặc tránh chỉ nên tiêu thụ dưới 3 lần mỗi tuần.
+ Tổng điểm là 13 điểm, BN đƣợc đánh giá là thực hành đúng khi trả lời đƣợc ≥ 8 điểm trở lên; Không đạt khi trả lời đƣợc < 8 điểm
- Đánh giá tuân thủ hoạt động thể lực:
Để đạt được mục tiêu hoạt động thể lực, bệnh nhân cần thực hiện ít nhất 30 phút mỗi ngày và từ 5 đến 7 ngày trong tuần, tổng cộng đạt ≥ 150 phút mỗi tuần Ngược lại, nếu bệnh nhân chỉ tham gia vào các hoạt động như làm việc nhà hoặc lao động thể lực mà không đạt đủ thời gian tối thiểu này, tức là dưới 30 phút mỗi ngày hoặc ít hơn 5 ngày mỗi tuần, thì sẽ không được coi là đạt yêu cầu.
- Đánh giá tuân thủ dùng thuốc:
+ Đạt khi BN dùng thuốc đúng theo đơn hoặc quên dùng thuốc uống/tiêm <
+ Không đạt khi BN quên thuốc uống/tiêm ≥ 3 lần/ tháng
- Đánh giá tuân thủ kiểm soát đường huyết:
Theo tiêu chuẩn khuyến cáo để đánh giá [7]
+ Đạt: Khi BN thử đường huyết ≥ 2 lần/ tuần
+ Không đạt: Khi BN thử đường huyết < 2 lần/ tuần
Trong nghiên cứu này, chúng tôi ghi nhận rằng bác sĩ điều trị không yêu cầu bệnh nhân thử đường huyết tại nhà, do đó chỉ xem xét bệnh nhân có thực hiện thử đường huyết tại nhà (≥ 2 lần/tháng) ngoài một lần thử bắt buộc khi tái khám Chúng tôi đánh giá bệnh nhân đạt thực hành kiểm soát đường huyết khi có thử đường huyết tại nhà ít nhất 1 lần/tháng.
- Đánh giá tuân thủ tái khám định kỳ
+ Đạt: Khi BN tái khám 1 lần/ tháng
+ Không đạt: Khi BN không tái khám theo hẹn (1 lần/tháng): ≥ 2 tháng
Thang điểm đánh giá tuân thủ điều trị chung: BN đƣợc đánh giá TTĐT khi tuân thủ đƣợc từ 4 đến 5 CĐĐT.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
- Thông qua Hội đồng đạo đức Trường Đại học Y tế công cộng Hà Nội
- Thông qua ban lãnh đạo bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp
- Các đối tƣợng tham gia vào nghiên cứu đã đƣợc giải thích rõ ràng về mục đích của nghiên cứu và tự nguyện tham gia vào nghiên cứu
Bộ câu hỏi được thiết kế không chứa các câu hỏi riêng tư hay vấn đề nhạy cảm, đảm bảo không gây ảnh hưởng đến tâm lý và sức khỏe của đối tượng nghiên cứu.
Các số liệu này chỉ phục vụ cho nghiên cứu và được đề xuất nhằm nâng cao sức khỏe cộng đồng, không được sử dụng cho mục đích khác.
Hạn chế, sai số có thể gặp và biện pháp khắc phục
Nghiên cứu chỉ được thực hiện tại phòng khám Nội tiết, bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp, do đó kết quả chỉ phản ánh một khu vực cụ thể và không đại diện cho toàn bộ quần thể Dữ liệu được thu thập từ bệnh nhân khám ngoại trú vào ngày họ đến, với tiêu chí loại trừ những bệnh nhân không tuân thủ tái khám hoặc từ chối tham gia nghiên cứu, dẫn đến tỷ lệ bệnh nhân tham gia có thể khác biệt so với cộng đồng.
Nghiên cứu đánh giá tình trạng điều trị của bệnh nhân thông qua phỏng vấn mà không có quan sát thực tế, dẫn đến kết quả không chính xác và thiếu độ tin cậy Hơn nữa, nghiên cứu chỉ xem xét tình trạng điều trị tại một thời điểm, trong khi việc tuân thủ của bệnh nhân có thể thay đổi theo thời gian.
Sai số nhớ lại xảy ra khi người được phỏng vấn không nhớ chính xác chế độ ăn uống, số lần quên uống hoặc tiêm thuốc, cũng như số lần đo đường huyết tại nhà Sai số ngẫu nhiên có thể phát sinh do sự hiểu nhầm giữa điều tra viên và người được phỏng vấn Ngoài ra, sai số cũng có thể đến từ quá trình nhập liệu và làm sạch dữ liệu.
Đối với nghiên cứu viên
- Hạn chế sai số trong khâu phỏng vấn:
+ Nghiên cứu viên tập huấn kỹ cho điều tra viên
Bộ câu hỏi phỏng vấn được thiết kế hợp lý, sử dụng từ ngữ địa phương để ĐTNC dễ hiểu Trước khi tiến hành thu thập thông tin chính thức, đã thử nghiệm 10 bộ câu hỏi phỏng vấn nhằm đảm bảo tính phù hợp Việc giám sát quá trình thu thập số liệu được thực hiện một cách nghiêm túc.
Kiểm soát các câu trả lời của ĐTNC bằng cách đối chiếu với sổ khám bệnh là rất quan trọng Điều này bao gồm việc theo dõi tái khám đúng hẹn, chỉ số đường huyết đo tại nhà, số lần và số loại thuốc đã sử dụng, cũng như khả năng quên dùng thuốc.
- Nghiên cứu viên trực tiếp điều tra hơn 20% số phiếu điều tra
Các nghiên cứu viên tiến hành thu thập và kiểm tra các phiếu phỏng vấn hàng ngày Những phiếu thông tin không đầy đủ hoặc không hợp lý sẽ bị loại bỏ Các phiếu điều tra ban đầu được giám sát và hỗ trợ bởi các nghiên cứu viên.
- Kiểm soát sai số nhập liệu bằng cách chọn ngẫu nhiên 20% (50) tổng số phiếu để nhập lần 2 và thống kê đối chiếu, chƣa phát hiện sai sót
Đối với điều tra viên
Được đào tạo kỹ lưỡng về phương pháp điều tra và thu thập dữ liệu, bao gồm kỹ thuật phỏng vấn, ghi chép cẩn thận, cũng như cách tiếp cận để tạo ra không khí thoải mái, giúp đối tượng dễ dàng và vui vẻ trong việc trả lời.
- Không thực hiện phỏng vấn đối tƣợng vào thời gian cao điểm nhƣ BN đang đi các xét nghiệm cận lâm sàng, chờ nhận thuốc
Đối với đối tượng được phỏng vấn
- Đƣợc giải thích rõ mục đích, ý nghĩa của cuộc điều tra, phỏng vấn để đối tƣợng hiểu rõ và chấp nhận hợp tác
- Tạo điều kiện tốt nhất để ĐTNC hiểu rõ câu hỏi và trả lời trung thực, rõ ràng
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung về đối tƣợng nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học và tiền sử bệnh của đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.1: Đặc điểm nhân khẩu học đối tƣợng nghiên cứu (n$8)
Thông tin chung về ĐTNC Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Trình độ học vấn < THPT
Nông dân Nội trợ Buôn bán/dịch vụ
Sống với vợ/chồng Sống với chị, em, con/cháu Một mình
Trong số 248 đối tượng nghiên cứu, nữ giới chiếm hơn hai phần ba, với tuổi trung bình là 62,12 ± 8,80, lớn nhất là 88 tuổi và nhỏ nhất là 35 tuổi Nhóm tuổi từ 61-70 chiếm tỷ lệ cao nhất (44,4%) Đối tượng sống ở thành thị chiếm 62,1%, trong khi 85,1% có trình độ học vấn dưới THPT Nghề nghiệp chủ yếu là nông dân (30,3%), nội trợ và buôn bán, chỉ có 5,6% là người nghỉ hưu và 2,8% là công chức viên chức.
Kết quả cho thấy hầu hết BN sống với vợ/chồng hay con/cháu, chỉ có 4,0% BN sống một mình
Bảng 3.2: Đặc điểm về tiền sử bệnh của ĐTNC (n$8)
Thông tin về tiền sử bệnh Tần số (n) Tỷ lệ (%) BMI (kg/m 2 )
Thời gian mắc bệnh ≤ 5 năm
Hoàn cảnh phát hiện bệnh
Khám sức khỏe định kỳ
Khám bệnh khác Biểu hiện bệnh
Từ chương trình tầm soát
Thời gian điều trị bệnh ≤ 5 năm
35,9 Mắc bệnh mạn tính/ biến chứng đi kèm
97,6 2,4 Bảng 3.2: Kết quả BMI trung bình của ĐTNC là 23,50 ± 3,27; cao nhất là 40,82 và thấp nhất là 16,23 Nhóm BN thừa cân - béo phì (BMI ≥ 23,0) chiếm tỷ lệ cao nhất (52,4%)
Hơn hai phần ba bệnh nhân (75,0%) đang điều trị bệnh khác đã được phát hiện qua xét nghiệm, trong khi 19,0% bệnh nhân tự đi làm xét nghiệm khi có dấu hiệu nghi ngờ như sụt cân, tiểu đêm, khát, và mất ngủ Chỉ có 5,6% bệnh nhân được phát hiện qua khám sức khỏe định kỳ và 0,4% thông qua chương trình tầm soát.
Hơn một nửa bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có thời gian mắc bệnh ≤ 5 năm (63,7%) Đáng chú ý, 64,1% bệnh nhân bắt đầu điều trị ngay sau khi phát hiện bệnh, và phần lớn trong số họ có bệnh mạn tính hoặc biến chứng kèm theo (97,6%).
3.1.2 Đặc điểm về cung cấp dịch vụ y tế và mức độ hài lòng của bệnh nhân Bảng 3.3: Các yếu tố về cung cấp dịch vụ y tế (n$8)
Yếu tố về cung cấp DVYT Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Khoảng cách từ nhà đến bệnh viện
38,3 Đánh giá chi phí/lần khám
Quá đắt Chấp nhận đƣợc
Nhận xét thời gian khám
Quá lâu Bình thường Nhanh chóng
49,6 49,2 1,2 Được hướng dẫn các chế độ điều trị
Chế độ dinh dƣỡng Chế độ HĐTL Chế độ dùng thuốc Chế độ KSĐH Chế độ TKĐK
Mức độ nhận thông tin
Thường xuyên Thỉnh thoảng (2 - 3 tháng/lần) Hiếm khi (1 - 2 lần/năm) Hoàn toàn không có
Hỗ trợ từ tổ chức xã hội
97,6 2,4 Bảng 3.3: Cho thấy có hơn một nửa ĐTNC có khoảng cách từ nhà đến bệnh viện ≤ 10 km (61,7%), có 99,6% ĐTNC có BHYT và 99,2% được hưởng BHYT,
HUPH nên hầu hết người bệnh đánh giá chi phí cho một lần khám là chấp nhận được, chỉ 0,8% cho là quá đắt
Thời gian khám trung bình trong nghiên cứu là 4,07 ± 1,29 giờ, với thời gian lâu nhất là 8 giờ và nhanh nhất là 1 giờ Gần một nửa số người tham gia đánh giá thời gian khám là quá lâu, trong khi chỉ 1,2% cho rằng thời gian này là nhanh, còn lại 49,2% cho rằng thời gian khám là chấp nhận được.
Hầu hết bệnh nhân (trên 80,0%) đã nhận được hướng dẫn cụ thể về chế độ dinh dưỡng và chế độ điều trị trong lần khám đầu tiên Tuy nhiên, chỉ có 70,6% và 26,2% bệnh nhân được hướng dẫn về chế độ hoạt động thể lực và chế độ kiểm soát đường huyết, trong khi chế độ thuốc điều trị được ghi trong toa Tỷ lệ bệnh nhân thường xuyên được nhân viên y tế nhắc nhở tuân thủ các chế độ điều trị rất thấp, chỉ đạt 2,8%, trong khi phần lớn (86,3%) chỉ được nhắc nhở thỉnh thoảng và một số ít hiếm khi nhận được nhắc nhở.
Chỉ có 2,4% đối tượng từng tham gia CLB ĐTĐ, trong khi phần lớn chưa nhận được sự hỗ trợ từ tổ chức xã hội nào về việc tầm soát và điều trị bệnh Nguyên nhân chính là do bệnh nhân chưa được tư vấn thường xuyên về các CĐĐT, do tình trạng bệnh đông và chỉ được hướng dẫn lần đầu khi khám và điều trị Thêm vào đó, trình độ học vấn thấp và tuổi tác khiến nhiều bệnh nhân dễ quên Tuy nhiên, bệnh nhân rất quan tâm và mong muốn tham gia các CLB dành cho người ĐTĐ, và các cán bộ y tế cũng nhận thấy tầm quan trọng của việc thành lập CLB ĐTĐ.
Bảng 3.4: Đặc điểm về mức độ hài lòng của bệnh nhân với dịch vụ y tế
Mức độ hài lòng Tần số
Mức độ hài lòng với thái độ của CBYT
Hài lòng Bình thường Không hài lòng
Mức độ hài lòng với thông tin từ CBYT
Hài lòng Bình thường Không hài lòng
Theo Bảng 3.4, có 72,6% đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) hài lòng với thái độ của cán bộ y tế (CBYT) làm việc tại phòng khám Trong khi đó, 27,4% ĐTNC cho rằng thái độ của CBYT là bình thường Về thông tin nhận được từ CBYT, 71,0% ĐTNC hài lòng, còn 28,6% cho rằng thông tin này ở mức bình thường.
3.1.3 Kiến thức của ĐTNC về bệnh và các chế độ điều trị bệnh ĐTĐ týp 2
Bảng 3.5: Kiến thức của ĐTNC về các CĐĐT bệnh ĐTĐ týp 2 (n$8)
Kiến thức về các CĐĐT Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Nên ăn các thực phẩm như thịt nạc, cá, rau, đậu và trái cây có chỉ số glycemic (GI) thấp Hạn chế tiêu thụ tinh bột, món chiên xào, rau quả đóng hộp và trái cây có GI trung bình Cần tránh xa bánh kẹo ngọt, nội tạng và trái cây có GI cao để duy trì sức khỏe tốt.
Tập theo sở thích Tập thể dục ngày 30-60 phút
Các loại thuốc điều trị
Thuốc viên Thuốc tiêm Đông y
Dùng thuốc theo đơn Bác sĩ Dùng khi đường huyết tăng/Đơn cũ
Tần suất thử đường huyết tại nhà
1 lần/tuần Tối thiểu 2 lần/tuần
Theo Bảng 3.5, có 31,0% đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) hiểu đúng về các nhóm thực phẩm cần tránh Trong khi đó, chỉ có 20,6% bệnh nhân (BN) nắm rõ nhóm thực phẩm nên ăn, và chỉ 0,8% BN có kiến thức đúng về nhóm thực phẩm cần hạn chế.
Nhiều người tham gia khảo sát cho rằng việc ăn 3 bữa mỗi ngày là đủ (80,2%), trong khi chỉ có 6,5% nhận thức được lợi ích của việc ăn 4 bữa/ngày, và một tỷ lệ rất nhỏ, chỉ 0,8%, chọn ăn từ 5-6 bữa/ngày.
Chế độ hoạt động thể lực : Một tỷ lệ nhỏ BN cho rằng tập theo sở thích là đƣợc
(8,9%) và chỉ cần làm việc nhà là đủ (13,3%); nhƣng đa số ĐTNC đều biết cần phải tập thể dục theo hướng dẫn của bác sĩ (77,8%)
Gần 100% bệnh nhân ĐTNC nhận thức rằng bệnh tiểu đường (ĐTĐ) có thể được điều trị bằng thuốc viên, tuy nhiên chỉ có 47,2% bệnh nhân biết rằng bệnh ĐTĐ còn có thể được điều trị bằng thuốc tiêm (Insulin).
Rất ít đối tượng nghiên cứu cho rằng thuốc đông y có thể điều trị bệnh tiểu đường, chỉ chiếm 4,0% Phần lớn bệnh nhân lựa chọn sử dụng thuốc theo đúng đơn bác sĩ, bao gồm đúng thuốc, đúng liều, đúng giờ và duy trì liên tục suốt đời Tuy nhiên, vẫn có 1,2% đối tượng nghiên cứu sử dụng thuốc theo toa cũ hoặc toa của bệnh nhân khác mà không tái khám, tỷ lệ này tuy nhỏ nhưng rất nguy hiểm cho bệnh nhân và cần được cán bộ y tế nhắc nhở.
Chế độ kiểm soát đường huyết tại nhà là rất quan trọng, nhưng nhiều bệnh nhân ĐTĐ chưa nhận thức đúng về tần suất thử đường huyết Chỉ có 0,4% bệnh nhân biết cần thử ít nhất 2 lần mỗi tuần, trong khi 2,0% thử mỗi tuần một lần Phần lớn bệnh nhân vẫn cho rằng chỉ cần thử một lần mỗi tháng khi tái khám là đủ.
Chế độ tái khám định kỳ : Hầu hết đối tƣợng có kiến thức đúng về TKĐK (chọn tái khám hàng tháng) HUPH
Bảng 3.6: Kiến thức của ĐTNC về bệnh ĐTĐ týp 2
Kiến thức về bệnh ĐTĐ týp 2 Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Xác định hướng điều trị Phát hiện sớm biến chứng
Biết các chế độ điều trị bệnh ĐTĐ týp 2
Chế độ dùng thuốc Chế độ dinh dƣỡng Chế độ luyện tập thể lực Chế độ KSĐH &TKĐK
Biết các biến chứng của bệnh ĐTĐ týp 2
Mắt Thận Thần kinh Tim mạch Mạch máu (hoại tử chi)
Theo Bảng 3.6, có 64,5% ĐTNC nhận thức được rằng mục đích của KSĐH & TKĐK là để định hướng điều trị và phát hiện sớm biến chứng, trong khi chỉ có 32,7% ĐTNC hiểu rằng mục đích này vừa là định hướng điều trị vừa nhằm phát hiện sớm biến chứng.
Tất cả bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) cần phải sử dụng thuốc (100%) và kết hợp với các biện pháp điều trị khác như chế độ ăn uống hợp lý, luyện tập thể dục, kiểm soát đường huyết và theo dõi sức khỏe định kỳ.
Thực trạng tuân thủ điều trị của đối tƣợng nghiên cứu
3.2.1 Tuân thủ chế độ dinh dƣỡng của đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.7: Tuân thủ chế độ dinh dƣỡng của đối tƣợng nghiên cứu (n$8)
Tuân thủ chế độ dinh dưỡng Thường xuyên Không thường xuyên
Cá các loại Các loại rau, đậu Cam, quýt, bưởi
Thực phẩm cần hạn chế
Gạo, bún, hủ tiếu, … Rau quả đóng hộp Món chiên, xào, quay
Các loại bánh ngọt, kẹo,…
Khoai tây rán các loại Quả thơm, dƣa hấu, đu đủ Nội tạng (lòng, gan, óc )
Số bữa ăn ngày/tuần
0 Bảng 3.7: Một nửa BN sử dụng thường xuyên nhóm thực phẩm nên dùng (thịt nạc, cá, trái cây có GI thấp như: Cam, quýt, bưởi)
Tỷ lệ bệnh nhân thực hiện chia nhỏ bữa ăn thành 4 bữa trong ngày chỉ đạt 1,2%, điều này phần nào do bệnh nhân chưa nhận thức được rằng đây là một biện pháp hiệu quả để kiểm soát đường huyết tốt hơn.
Bảng 3.8: Tuân thủ chế độ dinh dƣỡng của ĐTNC (n$8)
Tuân thủ CĐĐT Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Tuân thủ Không tuân thủ
Kết quả từ Bảng 3.8 cho thấy chỉ một phần ba bệnh nhân đái tháo đường (ĐTNC) tuân thủ chế độ dinh dưỡng điều trị (CĐDD) Nguyên nhân chủ yếu khiến đa số bệnh nhân không tuân thủ CĐDD là do họ chưa hiểu đúng và đủ về việc lựa chọn các loại thực phẩm phù hợp cho bệnh nhân đái tháo đường.
3.2.2 Tuân thủ hoạt động thể lực của đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.9: Tuân thủ HĐTL và lý do không tuân thủ HĐTL của ĐTNC (n$8)
Tuân thủ HĐTL – Lý do không tuân thủ HĐTL
Tuân thủ Đi bộ Đi bộ 151 60,9 Đi xe đạp 1 0,4
Cầu lông, tenis botenistebóchuyềnchuychuyền, tenis,
Không tuân thủ Không tập 11 4,4
Làm việc nhà, nội trợ, 35 14,1
Lý do không tuân thủ
Không có thời gian Không cần thiết Người lao động thể lực Mắc bệnh mạn tính
Hơn một nửa số đối tượng nghiên cứu (63,7%) tuân thủ việc luyện tập thể dục Trong số đó, phần lớn bệnh nhân lựa chọn đi bộ (60,9%), trong khi chỉ có 2,8% chọn các môn thể thao khác như yoga, dưỡng sinh, đi xe đạp và cầu lông.
Trong số các lý do mà bệnh nhân đưa ra khi không tuân thủ hợp đồng điều trị, có hai nguyên nhân chính là thiếu thời gian và mắc bệnh mạn tính hoặc biến chứng đi kèm, chiếm tỷ lệ 4,0% Phần còn lại cho rằng việc tuân thủ là không cần thiết.
3.2.3 Tuân thủ điều trị thuốc của đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.10: Đặc điểm thuốc điều trị của ĐTNC (n$8) Đặc điểm điều trị thuốc Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Theo Bảng 3.10, phần lớn bệnh nhân (BN) sử dụng thuốc uống chiếm 89,5%, trong khi chỉ có 10,5% BN dùng thuốc tiêm hoặc kết hợp cả hai Đặc biệt, trong số BN sử dụng thuốc uống, hơn 87,5% uống 2 lần/ngày, trong khi chỉ khoảng 11,3% uống 1 hoặc 3 lần/ngày, và có 1,2% BN không sử dụng thuốc uống.
Với 26 trường hợp dùng thuốc tiêm thì chỉ có một trường hợp tiêm 3 lần/ngày, hai trường hợp tiêm 1 lần/ngày; còn lại là tiêm 2 lần và 1 lần/ngày
Bảng 3.11: Tuân thủ CĐDT và lý do không tuân thủ CĐDT của ĐTNC (n$8)
Tuân thủ điều trị thuốc – Lý do không tuân thủ
Tuân thủ điều trị thuốc
Dùng theo đơn (Tuân thủ) 208 83,9 Dùng theo đơn nhƣng quên 38 15,3
Xử lý quên tiêm Bỏ đi không tiêm nữa 6 100
Lý do bỏ thuốc Cho là đã khỏi bệnh 2 100
Lý do quên uống thuốc
Bận Đi xa không mang theo Không có ai nhắc nhở Chỉ đơn giản là quên
Lý do quên tiêm thuốc
Bận Đi xa không mang theo Không có ai nhắc nhở Chỉ đơn giản là quên
Bảng 3.11: Đối tƣợng nghiên cứu không tuân thủ dùng thuốc (16,1%) Trong đó có 0,8% bỏ trị, số còn lại là quên (15,3%)
Hầu hết bệnh nhân không tuân thủ việc dùng thuốc chủ yếu do bận rộn (55,6%) và quên (36,1%) Chỉ có 8,3% bệnh nhân không tuân thủ vì không mang theo thuốc khi đi xa Đặc biệt, 88,1% trường hợp quên thuốc là thuốc viên, trong khi chỉ 11,9% là thuốc tiêm hoặc cả hai loại Trong số những bệnh nhân quên thuốc viên, 8,57% đã uống bù, còn lại không uống bù Đáng chú ý, không có bệnh nhân nào xin tư vấn từ bác sĩ khi quên thuốc.
3.2.4 Tuân thủ kiểm soát đường huyết của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.12: Tuân thủ KSĐH và lý do không tuân thủ của ĐTNC (n$8)
Tuân thủ KSĐH - Lý do không tuân thủ KSĐH Tần số (n) Tỷ lệ (%)
(Thử đường huyết tại nhà)
Lý do thử Tự thử 8 3,2
Ghi lại chỉ số đường huyết Có
Lý do không thử đường huyết tại nhà
Không có máy kiểm tra
Không cần thiết Bận nhiều công việc Chỉ đơn giản là quên
Chỉ có 3,6% bệnh nhân tự thử đường huyết tại nhà, trong khi 95,6% không thực hiện do không có máy kiểm tra Ngoài ra, 0,8% bệnh nhân cho biết họ không thử vì lý do không cần thiết.
3.2.5 Tuân thủ tái khám định kỳ của đối tƣợng nghiên cứu
Kết quả cho thấy có 99,2% ĐTNC tái khám định kỳ đúng hẹn theo giấy khám bệnh
3.2.6 Tuân thủ điều trị chung
Biểu đồ 3.3: Mức độ tuân thủ từng CĐĐT của đối tƣợng nghiên cứu
Biểu đồ 3.3 cho thấy BN tuân thủ các chế độ điều trị chung từ cao xuống thấp lần lƣợt là TKĐK, CĐDT, HĐTL, CĐDD và KSĐH tại nhà (99,2%, 97,2%, 63,7%, 27,0% và 3,6%)
Biểu đồ 3.4 cho thấy mức độ tuân thủ điều trị của bệnh nhân ĐTNC, với chỉ 19,0% bệnh nhân tuân thủ điều trị chung, bao gồm 4 chỉ định điều trị Điều này cho thấy có tới 81,0% bệnh nhân không tuân thủ các chỉ định điều trị, trong đó nhóm tuân thủ được 3 chỉ định.
CĐĐT chiếm tỷ lệ cao nhất (54,0%), 25,8% BN tuân thủ đƣợc 2 CĐĐT và chỉ có 1,2% BN tuân thủ đƣợc 1 CĐĐT.
Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.13: Mối liên quan giữa tuân thủ CĐDD với các yếu tố nhân chủng học
Bảng 3.13 chỉ ra rằng bệnh nhân dưới 60 tuổi tuân thủ chế độ dinh dưỡng điều trị (CĐDD) tốt hơn 1,2 lần so với bệnh nhân trên 60 tuổi Ngoài ra, nam giới có khả năng tuân thủ CĐDD cao hơn 1,4 lần so với nữ giới Bệnh nhân có trình độ học vấn trên trung học phổ thông cũng tuân thủ CĐDD tốt hơn 1 lần so với những bệnh nhân có trình độ dưới trung học phổ thông.
BN làm khác tuân thủ CĐDD tốt hơn 0,5 lần BN làm nghề Nông dân Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) HUPH
Bảng 3.14: Mối liên quan giữa tuân thủ CĐDD với các yếu tố liên quan đến điều trị, kiến thức về bệnh
Kiến thức về bệnh Đạt Không đạt
Nhẹ cân, bình thường Thừa cân
Bảng 3.14 cho thấy rằng bệnh nhân (BN) có kiến thức về bệnh tuân thủ chế độ điều trị đúng đắn (CĐDD) tốt hơn 14 lần so với BN không có kiến thức, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p0,05)
Không có mối liên quan giữa tuân thủ CĐDD với đƣợc CBYT nhắc nhở tuân thủ TTĐT (F>0,05) HUPH
Bảng 3.16: Mối liên quan giữa tuân thủ CĐDD với các chế độ tuân thủ điều trị
Tuân thủ Không tuân thủ
Tuân thủ Không tuân thủ
Tuân thủ Không tuân thủ
Tuân thủ Không tuân thủ
= 1,00 Bảng 3.16: Cho thấy không có mối liên quan giữa tuân thủ CĐDD với các chế độ tuân thủ điều trị (F>0,05)
3.3.2 Mối liên quan giữa tuân thủ hoạt động thể lực với một số yếu tố
Bảng 3.17: Mối liên quan giữa tuân thủ HĐTL với một số yếu tố nhân chủng học
0,61 0,44 Bảng 3.17: Cho thấy những BN dưới 60 tuổi tuân thủ HĐTL kém hơn, chỉ bằng
0,8 lần BN trên 60 tuổi, nam giới tuân thủ HĐTL kém hơn, chỉ bằng 0,9 lần nữ giới,
Bệnh nhân (BN) có trình độ học vấn dưới trung học phổ thông tuân thủ hợp đồng lao động (HĐTL) kém hơn 0,6 lần so với bệnh nhân có trình độ trên trung học phổ thông Ngoài ra, những bệnh nhân làm nghề khác cũng tuân thủ HĐTL kém hơn 1,3 lần so với những người làm nghề nông dân Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Bảng 3.18: Mối liên quan giữa tuân thủ HĐTL với các yếu tố liên quan đến điều trị, kiến thức về bệnh
Kiến thức về bệnh Đạt Không đạt
Nhẹ cân, bình thường Thừa cân
Bảng 3.18 cho thấy rằng bệnh nhân (BN) có thời gian mắc bệnh dưới 5 năm tuân thủ HĐTL tốt hơn 1,4 lần so với BN có thời gian mắc bệnh trên 5 năm Tương tự, BN có thời gian điều trị dưới 5 năm cũng tuân thủ HĐTL tốt hơn 1,4 lần so với BN có thời gian điều trị trên 5 năm Ngoài ra, BN có kiến thức về bệnh đạt tuân thủ HĐTL tốt hơn 1,3 lần so với BN không đạt kiến thức về bệnh BN nhẹ cân hoặc có chỉ số BMI ở mức bình thường tuân thủ HĐTL tốt hơn 1,3 lần so với BN thừa cân Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Bảng 3.19: Mối liên quan giữa tuân thủ HĐTL với các chế độ tuân thủ điều trị
Tuân thủ Không tuân thủ
Tuân thủ Không tuân thủ
Tuân thủ Không tuân thủ
Tuân thủ Không tuân thủ
= 0,54 Bảng 3.19: Cho thấy không có mối liên quan giữa tuân thủ HĐTL với các chế độ tuân thủ điều trị (F>0,05)
3.3.3 Mối liên quan giữa tuân thủ chế độ dùng thuốc với một số yếu tố
Bảng 3.20: Mối liên quan giữa tuân thủ CĐDT với các yếu tố nhân chủng học
Bảng 3.20: Cho thấy không có mối liên quan giữa tuân thủ CĐDT với các yếu tố nhân chủng học (F>0,05)
Bảng 3.21: Mối liên quan giữa tuân thủ CĐDT với các yếu tố liên quan đến điều trị, kiến thức về bệnh
= 1,00 Kiến thức về bệnh Đạt Không đạt
= 0,70 Bảng 3.21: Cho thấy không có mối liên quan giữa tuân thủ CĐDT với các yếu tố liên quan đến điều trị, kiến thức về bệnh (F>0,05)
Bảng 3.22: Mối liên quan giữa tuân thủ CĐDT với dịch vụ điều trị
Không tuân thủ 7 (2,8) Mức độ hài lòng về thái độ CBYT tại phòng khám
Hài lòng Bình thường, không hài lòng
Mức độ hài lòng về mức độ nhận thông tin về TTĐT từ CBYT
Hài lòng Bình thường, không hài lòng
= 0,19 Đƣợc CBYT nhắc nhở về TTĐT
Thường xuyên Không thường xuyên
Bảng 3.22: Cho thấy không có mối liên quan giữa tuân thủ CĐDT với các yếu tố về dịch vụ điều trị (F>0,05)
Bảng 3.23: Mối liên quan giữa tuân thủ CĐDT với các chế độ tuân thủ điều trị
Tuân thủ Không tuân thủ
Tuân thủ Không tuân thủ
Tuân thủ Không tuân thủ
Tuân thủ Không tuân thủ
= 1,00 Bảng 3.23: Cho thấy không có mối liên quan giữa tuân thủ CĐDT với các chế độ tuân thủ điều trị (F>0,05)
3.3.4 Yếu tố kiến thức về bệnh liên quan đến tuân thủ điều trị chung
Bảng 3.24: Mối liên quan giữa kiến thức về bệnh và tuân thủ điều trị chung
Yếu tố Tuân thủ điều trị (n, %) OR
Tuân thủ Không tuân thủ Kiến thức về bệnh Đạt Không đạt
Tỷ lệ tuân thủ điều trị ở nhóm bệnh nhân (BN) có kiến thức về bệnh đạt 36,7%, trong khi chỉ có 5,0% BN tuân thủ điều trị ở nhóm không đạt kiến thức Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,01 Những BN có kiến thức về bệnh đạt tuân thủ điều trị tốt hơn gấp 11 lần so với nhóm không đạt kiến thức.
BÀN LUẬN
Nghiên cứu được thực hiện với 248 bệnh nhân đái tháo đường týp 2 điều trị ngoại trú vào năm 2016, trong đó độ tuổi dao động từ 35 đến 88, với tuổi trung bình là 62,1 (độ lệch chuẩn = 8,8) Hơn 72% đối tượng là nữ, và 85,1% có trình độ học vấn dưới trung học phổ thông Về nghề nghiệp, hơn 30% làm nông, trên 10% làm buôn bán hoặc nội trợ, trong khi tỷ lệ nghỉ hưu và công chức viên chức là nhỏ Nghiên cứu cũng xem xét kiến thức của đối tượng về bệnh và chế độ điều trị.
Thống kê cho thấy bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) có kiến thức đúng về bệnh sẽ tin tưởng vào điều trị và tự tin trong chăm sóc, từ đó có thể tự chủ trong quá trình điều trị Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có 44,0% đối tượng có kiến thức đúng, thấp hơn so với các nghiên cứu trước đó của Nguyễn Phương Thủy (51,3%), Lê Thị Hương Giang (53,8%) và Đỗ Quang Tuyển (73,9%) Đặc biệt, đối tượng có kiến thức đúng về căn bệnh ĐTĐ và tiểu đường không kiểm soát (TKĐK) chiếm tỷ lệ cao nhất là 100%, cao hơn so với nghiên cứu của Đỗ Quang Tuyển tại bệnh viện Lão khoa Trung ương, nơi có 78,8% đối tượng có kiến thức đúng về TKĐK và 67,3% về ĐTĐ.
Tỷ lệ bệnh nhân có kiến thức đúng về chế độ dinh dưỡng đúng đắn đạt 98,0%, cao hơn so với nghiên cứu của Đỗ Quang Tuyển (78,7%) Sự khác biệt này có thể do các yếu tố như công cụ phỏng vấn và văn hóa ẩm thực vùng miền, bao gồm sự khác biệt về loại thực phẩm, cách chế biến món ăn và loại trái cây.
Tỷ lệ bệnh nhân có kiến thức đúng về hợp đồng tín dụng đạt 77,8%, cao hơn so với nghiên cứu của Đỗ Quang Tuyển (55,2%) nhưng thấp hơn so với kết quả của Nguyễn Trung Kiên (2010) với 88,46%.
Chỉ có 0,4% bệnh nhân có kiến thức đúng về kiểm soát đường huyết (KSĐH), tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Đỗ Quang Tuyển (62,1%) Sự khác biệt này có thể do bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi chưa được hướng dẫn về việc thử đường huyết tại nhà, dẫn đến kiến thức hạn chế Thêm vào đó, cách phân chia chế độ điều trị cũng khác nhau; chúng tôi khảo sát riêng chế độ tiêm insulin và KSĐH, trong khi Đỗ Quang Tuyển khảo sát chung hai chế độ này.
Kết quả cho thấy kiến thức của đội ngũ y tế về bệnh tiểu đường chỉ đạt 44,0%, trong khi đó, các chỉ định điều trị bệnh tiểu đường, đặc biệt là kiểm soát đường huyết, còn thấp Điều này dẫn đến tỷ lệ tuân thủ điều trị không cao Do đó, việc cập nhật và hướng dẫn kiến thức cho bệnh nhân thường xuyên là rất cần thiết.
Đái tháo đường týp 2 gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng như hôn mê, tăng huyết áp, suy tim và suy thận, ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng sống và có thể dẫn đến tử vong Tuy nhiên, bệnh nhân có thể kéo dài cuộc sống với chất lượng tốt nếu tuân thủ đúng các chỉ định điều trị Đây là mục tiêu quan trọng của cán bộ y tế trong quá trình điều trị bệnh nhân đái tháo đường.
Vì vậy, để biết mục tiêu đạt đƣợc nhƣ thế nào, chúng tôi khảo sát mức độ TTĐT ở BN ĐTĐ týp 2 và ghi nhận kết quả nhƣ sau:
Tuân thủ chế độ dinh dƣỡng
Chế độ dinh dưỡng hợp lý là yếu tố quan trọng trong điều trị bệnh tiểu đường (ĐTĐ), giúp duy trì mức đường huyết ổn định và làm chậm quá trình phát triển của bệnh Việc lựa chọn đúng loại thực phẩm, số lượng và số bữa ăn trong ngày không chỉ giúp bệnh nhân có sức khỏe ổn định mà còn cho phép họ tham gia vào các hoạt động lao động và sinh hoạt hàng ngày, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống cả về tinh thần lẫn vật chất.
Chế độ dinh dưỡng là phương pháp điều trị ĐTĐ không dùng thuốc, nhưng chỉ có 27,0% người thực hiện đúng theo nghiên cứu Tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Trung Kiên, trong đó chỉ có 11,54% người tuân thủ chế độ dinh dưỡng đúng cách Phương pháp đánh giá được thực hiện theo 3 mức độ: nếu trả lời không đúng ý nào sẽ được coi là thực hành không đúng, trong khi trả lời đúng tất cả các câu hỏi sẽ được xem là thực hành đúng.
HUPH tốt và trả lời đúng một phần của câu hỏi đƣợc đánh giá là thực hành chƣa đầy đủ)
Tỷ lệ ĐTNC tuân thủ dinh dưỡng trong hai nghiên cứu chỉ đạt mức thấp, cụ thể là thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Phương Thủy với 75,4% và nghiên cứu của Đỗ Quang Tuyển với 78,8% ĐTNC tuân thủ CĐDD.
Nghiên cứu của Lê Thị Hương Giang cho thấy 79,5% bệnh nhân đái tháo đường (ĐTNC) tuân thủ chế độ dinh dưỡng điều trị (CĐDD), trong khi nghiên cứu của Senay Uzun trên 150 bệnh nhân ĐTĐ ngoại trú tại trường Đại học Điều dưỡng Thổ Nhĩ Kỳ chỉ ghi nhận 65% tuân thủ CĐDD Sự khác biệt này có thể do cách đánh giá và phân chia CĐĐT khác nhau giữa các nghiên cứu Chúng tôi chỉ đề cập đến mức độ tiêu thụ thực phẩm của một số nhóm thực phẩm chính (trên dưới 3 lần/tuần) mà không đánh giá cụ thể mức tiêu thụ năng lượng của bệnh nhân.
Lê Thị Hương Giang nhấn mạnh rằng một trong những hạn chế của nghiên cứu này là thiếu các nghiên cứu sâu hơn về tuân thủ điều trị dinh dưỡng và đánh giá khẩu phần ăn của bệnh nhân đái tháo đường Các nghiên cứu hiện tại chủ yếu dựa vào bộ câu hỏi đã được soạn sẵn để phỏng vấn bệnh nhân về tuân thủ chế độ dinh dưỡng, mà không có sự quan sát trực tiếp vào thực hành của họ.
Tỷ lệ tuân thủ dinh dưỡng thấp, cùng với việc lựa chọn và chế biến thực phẩm không hợp lý, dẫn đến việc duy trì chế độ ăn "nhiều rau" gây cảm giác "ngán" Hậu quả là nhiều người không giảm cân hiệu quả (52,4% đối tượng nghiên cứu có BMI ≥ 23,0) hoặc gặp phải tình trạng suy dinh dưỡng (2,0% đối tượng nghiên cứu có BMI < 18,5).
Trong chăm sóc bệnh nhân đái tháo đường, việc chia nhỏ bữa ăn trong ngày giúp duy trì mức đường huyết ổn định, giảm triệu chứng như xây xẩm, mệt mỏi và buồn ngủ do sự thay đổi đột ngột của đường huyết Điều này góp phần nâng cao chất lượng sống và làm việc của bệnh nhân Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy chỉ có 6,5% bệnh nhân thực hiện chế độ ăn 4 bữa mỗi ngày.
Bệnh nhân nên ăn 5-6 bữa mỗi ngày để kiểm soát đường huyết hiệu quả Nhiều bệnh nhân chưa hiểu rõ về việc chia nhỏ bữa ăn và bữa ăn phụ Một số ít bệnh nhân biết nhưng do tâm lý giấu bệnh và phải làm việc xa nhà nên không thể thực hiện.