1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất lượng cuộc sống của người cao tuổi mắc tăng huyết áp tại thị trấn trâu quỳ, huyện gia lâm, hà nội năm 2020 nghiên cứu cắt ngang sử dụng thang đo eq 5d 5l

127 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chất lượng cuộc sống của người cao tuổi mắc tăng huyết áp tại thị trấn Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 2020 nghiên cứu cắt ngang sử dụng thang đo EQ-5D-5L
Tác giả Nguyễn Việt Anh
Người hướng dẫn ThS. Lê Tự Hoàng
Trường học Trường Đại học Y tế công cộng
Chuyên ngành Y học cộng đồng
Thể loại Tiểu luận tốt nghiệp cử nhân y tế công cộng
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN (14)
    • 1.1. Các khái niệm cơ bản (14)
      • 1.1.1. Chất lượng cuộc sống (14)
      • 1.1.2. Người cao tuổi (15)
      • 1.1.3. Tăng huyết áp (15)
    • 1.2. Thực trạng tăng huyết áp ở người cao tuổi (17)
      • 1.2.1. Thực trạng tăng huyết áp ở người cao tuổi trên Thế giới (17)
      • 1.2.2. Thực trạng tăng huyết áp ở người cao tuổi tại Việt Nam (18)
    • 1.3. Tác động của tăng huyết áp lên cuộc sống của người cao tuổi (19)
    • 1.4. Thực trạng chất lượng cuộc sống của người cao tuổi mắc tăng huyết áp (21)
      • 1.4.1. Thực trạng chất lượng cuộc sống của người cao tuổi (21)
      • 1.4.2. Thực trạng chất lượng cuộc sống của người cao tuổi mắc tăng huyết áp 13 1. Trên Thế giới (23)
        • 1.4.2.2. Tại Việt Nam (25)
    • 1.5. Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổi mắc tăng huyết áp (27)
      • 1.5.1. Đặc điểm nhân khẩu học (27)
      • 1.5.2. Hành vi sức khỏe (31)
      • 1.5.3. Tình trạng sức khỏe của người cao tuổi (33)
      • 1.5.4. Kết nối xã hội (35)
    • 1.6. Giới thiệu về các thang đo chất lượng cuộc sống (37)
    • 1.7. Khung lý thuyết (42)
    • 1.8. Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu (43)
  • CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (44)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (44)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm (44)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (44)
    • 2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu (44)
      • 2.4.1. Cỡ mẫu (44)
      • 2.4.2. Phương pháp chọn mẫu (45)
    • 2.5. Biến số (46)
    • 2.6. Đo lường biến số (59)
    • 2.7. Phương pháp và quy trình thu thập số liệu (62)
      • 2.7.1. Công cụ thu thập số liệu (62)
      • 2.7.2. Điều tra viên, giám sát viên (62)
      • 2.7.3. Quy trình thu thập số liệu (62)
    • 2.8. Phương pháp phân tích số liệu (64)
    • 2.9. Vấn đề đạo đức nghiên cứu (64)
    • 2.10. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục (65)
      • 2.10.1. Dự kiến hạn chế của nghiên cứu (65)
      • 2.10.2. Sai số gặp phải và biện pháp khắc phục (65)
  • CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ, KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ (67)
    • 3.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên c ứu (67)
    • 3.2. Thực trạng chất lượng cuộc sống của người cao tuổi mắc tăng huyết áp tại thị trấn Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, Hà Nội (73)
    • 3.3. Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổi mắc tăng huyết áp tại thị trấn Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, Hà Nội (77)
  • CHƯƠNG 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN (89)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (92)
  • PHỤ LỤC (107)

Nội dung

TỔNG QUAN

Các khái niệm cơ bản

Trong những năm gần đây, chất lượng cuộc sống (CLCS) đã thu hút sự quan tâm lớn từ xã hội Nâng cao CLCS trở thành nội dung chính trong chiến lược phát triển con người, là mục tiêu hàng đầu trong chiến lược phát triển của mọi quốc gia, bao gồm các khía cạnh sức khỏe, kinh tế và xã hội.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), chất lượng cuộc sống là cảm nhận của cá nhân về vai trò của họ trong xã hội, liên quan đến văn hóa, giá trị hệ thống, mục tiêu và mối quan tâm cá nhân Khái niệm này bao gồm nhiều yếu tố như sức khỏe thể chất, trạng thái tâm lý, niềm tin cá nhân, mối quan hệ xã hội và môi trường sống Các thang đo chất lượng cuộc sống thường tập trung vào những khía cạnh này và hiện có nhiều thang đo được sử dụng trên toàn cầu Tại Việt Nam, một số thang đo phổ biến và đã được chuẩn hóa như WHOQOL-BREF, SF-36 và EQ-5D-5L.

CLCS là thuật ngữ thể hiện sự hài lòng của cá nhân với các yếu tố trong cuộc sống, đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phòng ngừa và cải thiện sức khỏe cộng đồng Đánh giá CLCS cung cấp cơ sở tin cậy cho bác sĩ và nhà hoạch định chính sách trong việc theo dõi và quản lý bệnh nhân, từ đó đưa ra các chiến lược can thiệp phù hợp nhằm nâng cao sức khỏe thể chất, tinh thần và xã hội Việc đo lường và đánh giá CLCS trong cộng đồng, cũng như tìm hiểu các yếu tố liên quan, là rất cần thiết và cần được chú trọng hơn bởi các nhà hoạch định chính sách.

Khái niệm về người cao tuổi (NCT) hiện nay chưa được thống nhất trên toàn cầu, thường được định nghĩa qua các đặc điểm về tuổi tác, sự thay đổi vai trò xã hội và chức năng sống Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), NCT là những người từ 65 tuổi trở lên, trong khi Liên Hợp Quốc xác định NCT là những người từ 60 tuổi trở lên Sự khác biệt trong định nghĩa này còn phản ánh những tranh cãi liên quan đến văn hóa và xã hội ở từng khu vực.

Trong những năm gần đây, khái niệm “Người cao tuổi” đã trở nên phổ biến tại Việt Nam, thay thế cho thuật ngữ “Người già” mà không có sự khác biệt về mặt khoa học Cụm từ “Người cao tuổi” thể hiện sự tôn trọng và thành kính hơn Theo quy định của Pháp lệnh về Người cao tuổi, công dân Việt Nam từ 60 tuổi trở lên được gọi là NCT Các cơ sở y tế xã phường có trách nhiệm theo dõi, quản lý và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho NCT, đồng thời tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho họ Trong nghiên cứu này, NCT được xác định là những người từ 60 tuổi trở lên.

1.1.3 Tăng huyết áp Định nghĩa: Huyết áp là áp lực của máu tác động lên thành động mạch nhằm đưa máu đến nuôi dưỡng các mô trong cơ thể Tăng huyết áp (THA) là một tình trạng bệnh mạn tính xuất hiện cả ở người trẻ tuổi và phổ biến ở người cao tuổi Theo WHO, người được chẩn đoán mắc THA khi huyết áp tâm thu/ huyết áp tâm trương đo được từ 140/90 mmHg trở lên (28) hoặc ở những người huyết áp không tăng nhưng đang dùng thuốc hạ huyết áp hoặc có biến chứng như bệnh tim, tai biến mạch máu não do THA (29) HUPH

Phân loại: Tại Việt Nam, THA được chia thành các mức độ như sau:

Bảng 1 Phân loại các mức độ tăng huyết áp tại Việt Nam (30)

Huyết áp Tâm thu Tâm trương

Bình thường cao 130 – 139 Và/hoặc 85 - 89

THA tâm thu đơn độc ≥ 140 Và ≤ 90

Theo WHO, không phải ai mắc tăng huyết áp (THA) đều có biểu hiện bệnh, điều này có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng như đau thắt ngực, đau tim, suy tim, nhịp tim không đều và đột quỵ THA để lại những hậu quả nặng nề cho người bệnh, bao gồm mất ý thức và liệt nửa người, làm giảm khả năng lao động và cần chăm sóc lâu dài Hơn nữa, THA còn có thể là yếu tố nguy cơ dẫn đến tử vong đột ngột.

Các yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp bao gồm béo phì, uống rượu bia, sử dụng thuốc lá và địa vị xã hội Những nguy cơ này có thể được phòng ngừa nếu cộng đồng có kiến thức về cách phòng tránh Tuy nhiên, cũng tồn tại những yếu tố không thể thay đổi như tiền sử gia đình bị tăng huyết áp, độ tuổi trên 65 và các bệnh lý đồng mắc như đái tháo đường hoặc bệnh thận.

Người mắc tăng huyết áp (THA) có nguy cơ bệnh trở nặng khi tinh thần căng thẳng, không tuân thủ hướng dẫn điều trị của chuyên gia y tế, sử dụng thuốc lá, uống rượu bia, ăn uống không lành mạnh và thiếu vận động.

Thực trạng tăng huyết áp ở người cao tuổi

1.2.1 Thực trạng tăng huyết áp ở người cao tuổi trên Thế giới

Bệnh tăng huyết áp (THA) không phải là một phần tự nhiên của quá trình lão hóa, mà là một bệnh mạn tính ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổi (NCT) Tỷ lệ mắc bệnh THA gia tăng theo độ tuổi, từ 12,6% ở nhóm tuổi 35 – 39 lên 58,4% ở nhóm tuổi 70 – 74 Một nghiên cứu tổng quan hệ thống đã được thực hiện tại 90 quốc gia trên thế giới với quy mô mẫu lên tới 540 người.

890 người (2016) cho thấy tỷ lệ NCT mắc THA có sự khác biệt giữa nhóm tuổi, giới tính và tình trạng kinh tế quốc gia

Bảng 2 Tỷ lệ mắc tăng huyết áp theo nhóm tuổi của nam và nữ ở các nước thu nhập cao và trung bình - thấp năm 2010 (36)

Các nước thu nhập cao Các nước thu nhập thấp – trung bình Nam

Chú thích: KTC 95% là Khoảng tin cậy 95%

Các nước thu nhập cao có tỷ lệ người cao tuổi mắc tăng huyết áp (THA) cao hơn so với các nước thu nhập thấp – trung bình, với tỷ lệ mắc THA tăng theo nhóm tuổi ở cả hai giới Nữ giới có tỷ lệ mắc THA cao hơn nam giới, đặc biệt trong nhóm 60 – 69 tuổi ở các nước thu nhập thấp – trung bình Tuy nhiên, từ năm 2000 đến năm 2010, tỷ lệ mắc THA chuẩn hóa theo tuổi đã giảm 2,6% ở các nước thu nhập cao và tăng 7,7% ở các nước thu nhập thấp – trung bình, cho thấy mô hình bệnh THA đang có sự biến đổi theo xu hướng này.

Dữ liệu nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người cao tuổi mắc bệnh tăng huyết áp (THA) có sự khác biệt theo khu vực, với tỷ lệ THA ở thành phố cao hơn so với nông thôn Nguyên nhân chính bao gồm quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa, già hóa dân số, lối sống không lành mạnh và các yếu tố xã hội.

Tỷ lệ tăng huyết áp (THA) ở các nước thành viên Hiệp hội Hợp tác khu vực Nam Á dao động từ 13,6% đến 47,9%, với tỷ lệ mắc ở khu vực thành thị cao hơn nông thôn Nghiên cứu của Vilma E Irazola và cộng sự cho thấy tỷ lệ THA thấp nhất ở Peru (42,6%) và cao nhất ở Uruguay (78,0%) Tại Mỹ Latin và Trung Quốc, chỉ hơn 1/3 người trên 65 tuổi ở các khu đô thị được kiểm soát huyết áp dưới 140/90 mmHg Phân tích tổng hợp từ 38 nghiên cứu ở 23 quốc gia châu Phi cho thấy tỷ lệ THA ở nhóm trên 70 tuổi cao hơn đáng kể THA ảnh hưởng đến hơn 50% người trên 60 tuổi và khoảng 66% người trên 65 tuổi.

1.2.2 Thực trạng tăng huyết áp ở người cao tuổi tại Việt Nam

Tại Việt Nam, bệnh tăng huyết áp (THA) ngày càng phổ biến do tuổi thọ gia tăng, nhưng thường diễn tiến âm thầm mà không có triệu chứng rõ ràng, khiến nhiều người không nhận biết tình trạng của mình cho đến khi bệnh trở nặng Để đối phó với tình trạng này, Việt Nam đã triển khai “Đề án chăm sóc sức khỏe người cao tuổi” trên toàn quốc, thiết lập các Đơn vị phòng chống và điều trị THA tại các trung tâm y tế và bệnh viện đa khoa huyện Tính đến năm 2015, dự án đã phát hiện và quản lý hơn 800.000 người mắc THA.

Tỷ lệ mắc tăng huyết áp (THA) ở người cao tuổi (NCT) tại Việt Nam đang ở mức cao, với 56,2% người từ 65 – 75 tuổi và 69,8% người trên 75 tuổi được chẩn đoán mắc bệnh, theo nghiên cứu của Phạm Thái Sơn và cộng sự trong Chương trình dự phòng và kiểm soát bệnh tim mạch (2011).

(2016) cho thấy có đến 64,3% người cao tuổi tự báo cáo đang mắc tăng huyết áp

Tỷ lệ mắc tăng huyết áp (THA) ở người cao tuổi (NCT) tại khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam đạt 62,2%, trong đó tỷ lệ THA tâm thu đơn độc là 22,9% Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Hương Thủy, Thừa Thiên Huế.

Theo nghiên cứu của Thiên Huế (2013), tỷ lệ người cao tuổi mắc bệnh tăng huyết áp (THA) là 35,6%, trong đó THA độ I chiếm 20,2%, độ II 10,5% và độ III 4,9% Tỷ lệ THA gia tăng theo độ tuổi, với 33,0% người từ 60 – 69 tuổi, 34,9% người từ 70 – 79 tuổi và 71,4% người từ 80 tuổi trở lên mắc bệnh Đáng chú ý, 36,9% người mắc THA không nhận thức được đây là một căn bệnh nguy hiểm Tương tự như các nghiên cứu toàn cầu, tỷ lệ mắc THA ở phụ nữ cao tuổi tại Việt Nam cao hơn so với nam giới.

THA là một vấn đề y tế công cộng quan trọng cần được chú ý đối với người cao tuổi (NCT) tại Việt Nam Việc thiếu hiểu biết về tình trạng bệnh và những nguy cơ liên quan có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe và cuộc sống của NCT mắc THA.

Việt Nam cần phát triển các chiến lược quốc gia nhằm cải cách công tác phòng chống và kiểm soát bệnh tăng huyết áp, đặc biệt là nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho những người mắc bệnh này.

Tác động của tăng huyết áp lên cuộc sống của người cao tuổi

THA là một bệnh mạn tính ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và cuộc sống của người cao tuổi (NCT), được mệnh danh là “kẻ giết người thầm lặng” Nếu không được điều trị kịp thời và đầy đủ, THA có thể dẫn đến những biến chứng nặng nề, để lại di chứng ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng lao động, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội Hơn nữa, THA còn là yếu tố nguy cơ gây tử vong ở nhiều NCT.

Các biến chứng do tăng huyết áp (THA) có thể gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống (CLCS) của người cao tuổi (NCT) Những biến chứng này bao gồm biến chứng tim mạch như tai biến mạch máu não và nhồi máu cơ tim, biến chứng về thận như đái protein và suy thận, cùng với biến chứng về mắt như mờ mắt và giảm thị lực THA cũng là yếu tố nguy cơ quan trọng đối với sự phát triển của chứng suy giảm nhận thức và mất trí nhớ ở NCT, điều này đã được chứng minh là ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của họ Hơn nữa, THA không chỉ làm suy giảm sức khỏe thể chất mà còn tác động đến hoạt động hàng ngày và sức khỏe tinh thần của NCT, ảnh hưởng đến khả năng thực hiện các chức năng cơ bản, một khía cạnh quan trọng trong CLCS.

HUPH như đi bộ là yếu tố dự báo cho sự suy giảm chất lượng cuộc sống (CLCS) ở hiện tại và tương lai Tình trạng tăng huyết áp (THA) ở người cao tuổi (NCT) có liên quan đáng kể đến sự suy giảm nghiêm trọng trong các hoạt động hàng ngày, bao gồm khả năng đi bộ THA không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn tác động đến kinh tế của người mắc do chi phí điều trị và chi phí gián tiếp như đi lại để khám chữa bệnh Để kiểm soát huyết áp hiệu quả, bệnh nhân cần tuân thủ điều trị nghiêm ngặt, khám sức khỏe định kỳ, uống thuốc hàng ngày và áp dụng lối sống lành mạnh Việc điều trị THA là một quá trình lâu dài, có thể ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của NCT Sử dụng thuốc để kiểm soát huyết áp thường được đề xuất nhằm ngăn chặn quá trình tưới máu não, từ đó giảm thiểu nguy cơ chóng mặt, ngất và té ngã, làm giảm khả năng thực hiện các hoạt động như tắm rửa, mặc quần áo, đi vệ sinh và mua sắm Nghiên cứu của Imad Maatouk và cộng sự (2016) cho thấy NCT mắc THA thường có triệu chứng trầm cảm cao hơn.

Hiện nay, tăng huyết áp (THA) đã trở thành một gánh nặng y tế toàn cầu Nghiên cứu về gánh nặng toàn cầu do THA ở độ tuổi từ 25 trở lên vào năm 2017 cho thấy chỉ số gánh nặng bệnh tật theo DALY (trên 100.000 dân) đang gia tăng hàng năm, với giá trị DALY đạt 95.

900 (KTC 95%: 86 962 – 104 856) vào năm 1990 lên đến 143 037 (KTC 95%: 130

Chỉ số DALY liên quan đến bệnh tật do tăng huyết áp (THA) tăng theo độ tuổi ở cả nam và nữ, với gánh nặng bệnh tật chủ yếu do THA là yếu tố nguy cơ chuyển hóa trung gian gây ra nhiều bệnh nguy hiểm, đặc biệt là bệnh tim mạch Tại Việt Nam, bệnh tim mạch do THA chỉ chiếm 1,62% tổng số gánh nặng bệnh tật (DALY) ở người cao tuổi từ 70 tuổi trở lên, mặc dù tỷ lệ này cao hơn so với một số quốc gia như Bangladesh (1,28% DALY), Myanmar (1,11% DALY) và Thái Lan (0,43% DALY) Tỷ lệ gánh nặng bệnh tật do bệnh tim mạch liên quan đến THA tăng dần theo độ tuổi, với khoảng 26% DALY ở nhóm 60 – 69 tuổi, 33% DALY ở nhóm 70 – 79 tuổi và 38% DALY ở nhóm trên 80 tuổi.

Bệnh tim mạch là một trong những nhóm bệnh có tỷ lệ gánh nặng bệnh tật cao nhất ở người cao tuổi (NCT) tại Việt Nam, với khoảng 63% trường hợp Mỗi năm, tăng huyết áp (THA) và các biến chứng liên quan gây ra khoảng 9,4 triệu ca tử vong trên toàn cầu Tại Việt Nam, ước tính có khoảng 188.917 người từ 60 tuổi trở lên tử vong do bệnh tim mạch, chiếm 42,8% tổng số ca tử vong ở NCT.

Thực trạng chất lượng cuộc sống của người cao tuổi mắc tăng huyết áp

1.4.1 Thực trạng chất lượng cuộc sống của người cao tuổi

Dân số toàn cầu đang già hóa nhanh chóng, với 962 triệu người từ 60 tuổi trở lên vào năm 2017, chiếm 1/8 dân số thế giới, và dự kiến sẽ đạt gần 2,1 tỷ người vào năm 2050, tương đương 1/5 dân số toàn cầu Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cảnh báo rằng tuổi thọ tăng cao, sự gia tăng các bệnh mạn tính và sự giảm sút trong hài lòng với cuộc sống đang trở thành thách thức lớn đối với sức khỏe cộng đồng Ngoài sức khỏe suy giảm, nhiều người cao tuổi còn phải đối mặt với khó khăn về tinh thần và kinh tế, phụ thuộc vào con cháu hoặc tự lao động để kiếm sống Gánh nặng bệnh tật và kinh tế khiến chất lượng cuộc sống của phần lớn người cao tuổi trở nên rất khó khăn.

Tỷ lệ người cao tuổi (NCT) tự đánh giá sức khỏe không tốt tăng theo độ tuổi, với 58% NCT từ 60 – 69 tuổi cảm thấy yếu hoặc rất yếu, 68% ở nhóm 70 – 79 tuổi, và cao nhất là 75% ở nhóm trên 80 tuổi Ngoài ra, NCT thường gặp các vấn đề về đau và khó chịu gấp 2 - 4 lần so với các vấn đề sức khỏe khác như vận động, tự chăm sóc, sinh hoạt hàng ngày, và lo lắng/ trầm cảm.

Một nghiên cứu tại Palestine năm 2015 cho thấy 64% người cao tuổi (NCT) gặp vấn đề về vận động khi đi bộ, từ mức độ nhẹ đến nghiêm trọng Hơn nữa, 68,7% NCT gặp khó khăn trong các hoạt động hàng ngày, và 42,0% gặp trở ngại trong việc tự chăm sóc bản thân Đáng chú ý, 80,1% NCT cảm thấy đau hoặc khó chịu, trong khi 71,6% trải qua lo âu hoặc trầm cảm ở mức độ từ nhẹ đến nặng Các vấn đề về chất lượng cuộc sống (CLCS) có xu hướng gia tăng theo độ tuổi, với điểm CLCS trung bình là 0,908 cho NCT từ 60-69 tuổi, 0,884 cho NCT từ 70-79 tuổi, và giảm hơn nữa cho NCT từ 80-89 tuổi.

HUPH tuổi là 0,815 (KTC 95%: 0,797 – 0,834) và giảm xuống còn 0,668 ở NCT từ 90 tuổi trở lên (KTC 95%: 0,602 – 0,736) (68)

Nghiên cứu cho thấy phần lớn người cao tuổi (NCT) có chất lượng cuộc sống (CLCS) ở mức trung bình Cụ thể, một nghiên cứu tại Thái Lan vào năm 2015 chỉ ra rằng 68,5% NCT có CLCS trung bình, 29,5% ở mức cao và chỉ 2% ở mức thấp.

Nghiên cứu của Nguyễn Đình Anh (2019) và các tác giả khác (2010) tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ người cao tuổi (NCT) báo cáo chất lượng cuộc sống sức khỏe (CLCS) ở mức thấp cao hơn đáng kể so với nghiên cứu tại Thái Lan, với tỷ lệ lần lượt là 7,1% và 12,8%.

Mặc dù điểm chất lượng cuộc sống (CLCS) chung của người cao tuổi (NCT) ở mức trung bình, nhưng một số khía cạnh vẫn ở mức kém Nghiên cứu của Ganesh KS và cộng sự (2014) cho thấy điểm trung bình CLCS là 49,7 ± 10,2, với điểm khía cạnh mối quan hệ xã hội thấp (36,7 ± 16,4) và cao nhất là sức khỏe thể chất (55,2 ± 12,5) Điểm sức khỏe tâm thần và môi trường lần lượt là 54,6 ± 11,9 và 52,5 ± 12,1, phù hợp với các nghiên cứu tại Malaysia (2016), Iran (2015) và Tehran Nghiên cứu của Dương Huy Lương (2010) chỉ ra sự chênh lệch giữa các khía cạnh, với điểm cao nhất ở khía cạnh xã hội (16,2 ± 2,1) và thấp nhất ở tín ngưỡng (5,0 ± 2,0) Nghiên cứu của Nguyễn Tiến Thắng và cộng sự (2019) cho thấy điểm trung bình CLCS của NCT ở Tiền Hải là 7,4/10 và Thanh Bình là 7,1/10, cao hơn so với nghiên cứu của Kiều Thị Xoan (2012).

Hà Diệu Linh (2013) ghi nhận điểm CLCS của NCT là 6,9/10, trong khi Nguyễn Đình Anh (2019) cho thấy điểm CLCS của NCT đạt 7/10 Đặc biệt, nghiên cứu của Nguyễn Tiến Thắng cho thấy điểm khía cạnh tâm thần cao với 7,6/10.

Sự khác biệt về điểm CLCS giữa các nghiên cứu có thể xuất phát từ bối cảnh văn hóa, kinh tế, xã hội và chính sách dành cho người cao tuổi ở từng địa bàn khác nhau.

HUPH cho thấy rằng sự kỳ vọng và hài lòng về cuộc sống của người cao tuổi (NCT) ở các khu vực khác nhau phụ thuộc vào tiêu chuẩn chủ quan về mức sống và điều kiện sống Mặc dù điểm trung bình về khía cạnh tâm thần không có sự khác biệt đáng kể trong các nghiên cứu, điều này cho thấy đời sống tinh thần của NCT chủ yếu phụ thuộc vào tâm lý chung của người già, không bị ảnh hưởng nhiều bởi địa bàn nghiên cứu.

Tình trạng mắc các bệnh mạn tính do tuổi già đã làm suy giảm đáng kể chất lượng cuộc sống (CLCS) của người cao tuổi (NCT) Nghiên cứu năm 2019 tại thị xã Chí Linh, Hải Dương và Kim Bôi, Hòa Bình cho thấy 2/3 NCT mắc các bệnh mạn tính, trong đó có tăng huyết áp (THA), và 50% NCT không hài lòng với sức khỏe và khả năng vận động của bản thân Tại Ấn Độ, nghiên cứu của Ganesh Kumar và cộng sự (2014) chỉ ra rằng các bệnh mạn tính như rối loạn cơ xương, suy giảm thị lực và khiếm thính ảnh hưởng đến CLCS của NCT Mặc dù ảnh hưởng của THA và đái tháo đường không có ý nghĩa thống kê đến CLCS của NCT, nhiều nghiên cứu khác đã chứng minh kết quả ngược lại Điều này có thể do nghiên cứu của Ganesh Kumar không đánh giá các biến chứng do THA và đái tháo đường hoặc các bệnh đồng mắc ảnh hưởng đến CLCS của NCT.

1.4.2 Thực trạng chất lượng cuộc sống của người cao tuổi mắc tăng huyết áp

Già hóa dân số và sự chuyển đổi mô hình bệnh tật đã làm gia tăng gánh nặng các bệnh mạn tính, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống (CLCS) của người cao tuổi (NCT), đặc biệt là những người mắc tăng huyết áp (THA) Tình trạng sức khỏe, đời sống tâm thần và quan hệ xã hội là những yếu tố quan trọng quyết định CLCS Nghiên cứu cho thấy điểm CLCS ở NCT mắc THA thấp hơn so với những người không mắc bệnh này Một nghiên cứu cắt ngang tại Sao Paulo, Brazil (2017) chỉ ra rằng điểm CLCS của NCT mắc bệnh mạn tính thấp hơn so với NCT không mắc bệnh mạn tính trên cả 8 lĩnh vực thuộc thang đo SF-36 Hơn nữa, điểm CLCS và tình trạng sức khỏe theo thang đo EQ-5D-5L ở người trên 60 tuổi mắc THA cũng thấp hơn so với những người không mắc THA.

HUPH người mắc đái tháo đường (86) Trong tổng quan nghiên cứu tại Trung Quốc

Nghiên cứu từ năm 1990 đến 2017 cho thấy 21/33 nghiên cứu báo cáo chất lượng cuộc sống (CLCS) của người mắc tăng huyết áp (THA) thấp hơn so với những người không mắc, mặc dù không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về sức khỏe tâm thần Điểm trung bình sức khỏe thể chất trên thang đo SF-12 ở người từ 65 tuổi trở lên không mắc THA tại Hoa Kỳ là 47,1, trong khi người mắc THA chỉ đạt 42,1 Tương tự, điểm trung bình sức khỏe tâm thần cũng khác biệt, với người không mắc THA đạt 53,4 và người mắc THA đạt 51,1 Tại Trung Quốc, tỷ lệ người cao tuổi mắc THA có CLCS kém là 33,3%.

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ cao hơn so với các nghiên cứu CLCS trên người cao tuổi (NCT) ở Thái Lan (2%) và Việt Nam (12,8%) Cụ thể, một nghiên cứu tại Hồng Kông, Trung Quốc vào năm 2020 với 3351 NCT mắc tăng huyết áp (THA) cho thấy 48,9% cảm thấy đau hoặc khó chịu từ nhẹ đến nặng, 30,9% gặp vấn đề về đi lại, và 29,6% báo cáo khó khăn trong việc thực hiện các hoạt động hàng ngày như làm việc, hoạt động gia đình và giải trí Ngoài ra, 20,8% cảm thấy lo lắng hoặc u sầu, trong khi 16,4% gặp khó khăn trong việc tự chăm sóc bản thân Đặc biệt, nữ giới thường báo cáo gặp các vấn đề này nhiều hơn nam giới.

Nghiên cứu cho thấy điểm chất lượng cuộc sống (CLCS) của người cao tuổi (NCT) mắc tăng huyết áp (THA) ở mức trung bình, với sự khác biệt giữa các khu vực nghiên cứu Cụ thể, tại Hồng Kông, Trung Quốc, điểm CLCS được đo bằng thang EQ-5D-5L là 0,83 ± 0,23 Đối với NCT từ 65 tuổi trở lên mắc THA, mức độ hài lòng với CLCS đạt 3,4 ± 0,8, trong khi mức độ hài lòng với sức khỏe là 3,0 ± 0.

1) khá cao (91) Tuy nhiên, tổng điểm CLCS và điểm CLCS khi đánh giá từng khía cạnh chỉ ở mức trung bình Nghiên cứu trên 520 NCT mắc THA tại Hồ Nam, Trung Quốc (2018) sử dụng thang đo SF-36 tính ra điểm CLCS của NCT mắc THA là 54,4 ± 21,2 Khía cạnh sức khỏe thể chất (60,3 ± 25,8) có điểm cao hơn hẳn so với khía cạnh sức khỏe tâm thần (48,4 ± 17,0) (92), kết quả này ngược lại với nghiên cứu của Riley (88) và Zygmuntowwicz M (93) Đối với NCT mắc THA, điểm chức năng cảm xúc thấp nhất (31,0 ± 11,1) và cao nhất ở hoạt động thể lực (65,9 ± 23,6)

Các yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của người cao tuổi mắc tăng huyết áp

1.5.1 Đặc điểm nhân khẩu học Đặc điểm nhân khẩu học tác động mạnh mẽ đến chức năng hoạt động của cơ thể và ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến lối sống, tâm trạng của cá nhân, từ đó,

HUPH ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống cá nhân, với tác động của các đặc điểm nhân khẩu học khác nhau trên từng khía cạnh, đặc biệt là ở những người cao tuổi mắc bệnh tăng huyết áp.

Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan thống kê giữa giới tính và chất lượng cuộc sống (CLCS) ở người cao tuổi mắc tăng huyết áp (THA) Phụ nữ không chỉ phải làm việc mà còn chăm sóc gia đình, dẫn đến áp lực lớn Mặc dù tuổi thọ của nữ giới cao hơn nam giới, nhưng họ thường trải qua nhiều năm sống với bệnh tật hơn Ngoài ra, nữ giới thường báo cáo có CLCS thấp hơn so với nam giới, theo nghiên cứu của Meng Xiao và cộng sự.

Nghiên cứu năm 2019 cho thấy sức khỏe thể chất của nam giới cao hơn nữ giới (B= 4,29; p= 0,011), trong khi không có sự khác biệt ở các khía cạnh khác Tương tự, nghiên cứu của Salehi và cộng sự (2012) cũng cho kết quả giống như Meng Xiao Giới tính nữ được xác định là yếu tố quan trọng dự báo chất lượng cuộc sống tiêu cực ở bệnh nhân mắc tăng huyết áp, đặc biệt trong khía cạnh sức khỏe tâm thần Nghiên cứu của Ninh Thị Hà và cộng sự (2014) cũng chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo giới trong điểm sức khỏe tâm thần, với nam giới có điểm cao hơn nữ (B= 3,46; p < 0,05) Một nghiên cứu khác cho thấy mối liên quan tiêu cực giữa tăng huyết áp và chất lượng cuộc sống chỉ có ý nghĩa ở nữ giới cao tuổi.

Tuổi có mối tương quan rõ rệt với tình trạng CLCS ở NCT mắc THA (p <

Tuổi cao thường đi kèm với sự suy giảm sức khỏe và gia tăng bệnh tật, dẫn đến giảm chất lượng cuộc sống (CLCS) Nghiên cứu cho thấy mối tương quan nghịch giữa tuổi tác và CLCS, với hệ số r = -0,151 (p = 0,002) Theo Jian Chi Li (2018), tuổi tác có ảnh hưởng tiêu cực đến CLCS (B = -8,24; p < 0,001) Nghiên cứu của Eliza Lai Yi Wong và cộng sự (2020) chỉ ra rằng người cao tuổi từ 80 trở lên có điểm CLCS giảm đáng kể (B = -0,14; p < 0,001) Tuổi cao không chỉ làm suy giảm sức khỏe thể chất (B = -0,32; KTC 95%: -0,47 đến -0,17) mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần (B = -0,21; KTC 95%: -0,35 đến -0,07) Đặc biệt, người cao tuổi trên 75 có nguy cơ cao hơn trong việc giảm điểm CLCS ở cả khía cạnh sức khỏe thể chất (OR = 2,69; KTC 95%: 1,96 - 3,73) và sức khỏe tâm thần (OR = 1,58; KTC 95%: 1,16 - 2,15).

Chỉ số khối cơ thể (BMI) đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá sức khỏe của người cao tuổi mắc tăng huyết áp (THA) Tình trạng béo phì ảnh hưởng tiêu cực đến cấu trúc và chức năng cơ thể, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý liên quan.

Sự thay đổi tiêu cực của hoạt động cơ thể dẫn đến sự gia tăng các bệnh mạn tính, ảnh hưởng đến khả năng hoạt động và chất lượng cuộc sống (CLCS) Chỉ số BMI cao liên quan đến việc giảm CLCS ở người mắc tăng huyết áp (THA) Sự kết hợp giữa béo phì và THA làm giảm đáng kể CLCS ở người cao tuổi (NCT) Ở nam giới, béo phì làm giảm giới hạn thể chất và tăng cảm giác đau mỏi cơ thể Trong khi đó, ở nữ giới, béo phì ảnh hưởng nhiều hơn đến CLCS, làm giảm cả sức khỏe thể chất và tâm thần, đặc biệt là trong hoạt động sức khỏe chung và xã hội Ngoài béo phì, người thiếu cân cũng có thể làm giảm CLCS ở NCT so với những người có cân nặng bình thường.

Trình độ học vấn là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống (CLCS), liên quan đến địa vị xã hội và điều kiện kinh tế Nghiên cứu cho thấy, người cao tuổi (NCT) có trình độ học vấn từ cấp 3 trở lên có điểm CLCS trung bình cao hơn (B= 8,79; KTC 95%: 5,05 – 12,54) và điểm khía cạnh môi trường cũng cao hơn (B= 1,56; KTC 95%: 0,34 – 2,78) Ngược lại, NCT không đi học có tỷ số chênh điểm sức khỏe tâm thần (OR= 0,78; KTC 95%: 0,67 – 0,91) và sức khỏe thể chất (OR= 0,41; KTC 95%: 0,39 – 0,49) thấp hơn so với những người có trình độ đại học Việc nâng cao trình độ học vấn giúp cải thiện khả năng tìm kiếm thông tin và nâng cao chất lượng cuộc sống Những NCT chỉ học tiểu học cũng có tỷ số chênh điểm sức khỏe tâm thần (OR= 0,86; KTC 95%: 0,74 – 0,99) và sức khỏe thể chất (OR= 0,55; KTC 95%: 0,46 – 0,66) thấp hơn so với người có trình độ đại học.

HUPH cho thấy điểm CLCS của NCT học tiểu học cao hơn so với NCT không đi học, với điểm số là 105 Những phát hiện này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Yulian Zhang và cộng sự (2016).

Tình trạng hôn nhân ảnh hưởng tích cực đến chất lượng cuộc sống, với những người đã kết hôn có điểm số cao hơn so với người độc thân hoặc góa chồng trong cả bốn khía cạnh của thang đo WHOQOL-BREF Cụ thể, điểm sức khỏe thể chất (B= 4,51; KTC 95%: 1,22 – 7,81), điểm sức khỏe tâm thần (B= 3,45; KTC 95%: 0,18 – 6,72), điểm quan hệ xã hội (B= 6,83; KTC 95%: 3,31 – 10,36) và điểm môi trường (B= 4,63; KTC 95%: 2,10 – 7,15) Nghiên cứu của Jian Chi Lin (2018) cũng cho thấy kết quả tương tự với B= 1,74; p= 0,009.

Hôn nhân mang lại cảm giác trọn vẹn và mãn nguyện, giúp con người hài lòng hơn với cuộc sống Những người đã kết hôn thường có chất lượng cuộc sống cao hơn so với những người độc thân, góa vợ/chồng hoặc ly dị Đặc biệt, những người góa vợ/chồng có điểm hoạt động xã hội và sức sống thấp nhất Ngoài ra, những người không kết hôn có điểm chức năng cảm xúc thấp hơn rõ rệt so với những người đã kết hôn.

Đời sống gia đình trong xã hội hiện đại đang thay đổi nhanh chóng, với tỷ lệ người cao tuổi (NCT) sống cùng con cháu giảm, trong khi tỷ lệ NCT sống cô đơn hoặc chỉ sống với vợ/chồng lại tăng đáng kể Những NCT sống trong gia đình nhiều thế hệ (từ 3 thế hệ trở lên) có chất lượng cuộc sống (CLCS) tốt hơn so với những người sống trong gia đình hạt nhân (2 thế hệ) Nghiên cứu tại Trung Quốc đã chỉ ra những xu hướng này.

Nghiên cứu năm 2019 cho thấy việc sống với hơn ba thành viên trong gia đình giúp nữ giới cải thiện sức khỏe thể chất, trong khi không có sự khác biệt đáng kể ở nam giới Những người mắc bệnh tăng huyết áp sống cùng người thân có điểm trung bình về sức khỏe tâm thần cao hơn so với những người sống một mình Tuy nhiên, một nghiên cứu khác chỉ ra rằng người cao tuổi sống một mình có tỷ lệ điểm sức khỏe thể chất cao hơn 1,28 lần so với những người sống với người thân Hơn nữa, những người sống trong viện dưỡng lão có chất lượng cuộc sống thấp hơn rõ rệt so với những người sống một mình.

Nghề nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc dự đoán chất lượng cuộc sống (CLCS) của người cao tuổi mắc tăng huyết áp (THA) Những người có nghề nghiệp ổn định thường có CLCS tốt hơn, nhờ vào khả năng tự chủ tài chính và cuộc sống Nghiên cứu của Trần Công Duy và Châu Ngọc Hoa chỉ ra rằng những người đã nghỉ hưu, mất sức lao động hoặc làm nội trợ có CLCS ở cả bốn lĩnh vực sức khỏe tinh thần thấp hơn so với các nhóm nghề khác Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Trần Thanh Mậu.

Tình trạng kinh tế có ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh trong cuộc sống của

NCT mắc THA thường chịu ảnh hưởng tiêu cực từ điều kiện kinh tế kém, dẫn đến gánh nặng về tài chính, tâm lý và sức khỏe Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hương và cộng sự (2017) cho thấy CLCS thấp hơn ở nhóm người không có lương hưu và bảo hiểm y tế Sự tự chủ về kinh tế cũng ảnh hưởng đến CLCS, với NCT nhận hỗ trợ thu nhập có điểm CLCS thấp hơn so với nhóm không nhận hỗ trợ Những người có thu nhập từ công việc hiện tại có điểm CLCS cao hơn Nghiên cứu tại Trung Quốc chỉ ra rằng CLCS của NCT mắc THA tăng theo mức thu nhập hàng tháng (B= 2,64; p < 0,001) Tình trạng kinh tế và chi tiêu có mối quan hệ tích cực với điểm thể chất ở nam giới, trong khi những người ít gánh nặng kinh tế từ điều trị THA có sức khỏe thể chất và tâm thần tốt hơn (p < 0,001).

Giới thiệu về các thang đo chất lượng cuộc sống

Hiện nay, có nhiều thang đo được sử dụng để đánh giá chất lượng cuộc sống (CLCS) của người cao tuổi (NCT), trong đó một số thang đo đã được chuẩn hóa cho đối tượng NCT mắc tăng huyết áp (THA) Các thang đo phổ biến bao gồm thang đo CLCS của Tổ chức Y tế Thế giới (WHOQOL-BREF), thang đo CLCS do các nhà khoa học châu Âu phát triển (EQ-5D-5L), và thang đo khảo sát sức khỏe mẫu ngắn với 36 mục (SF-36).

(Xem so sánh chi tiết các thang đo tại bảng 3, trang 28)

Bảng 3 So sánh ba thang đo thường được sử dụng để đánh giá CLCS Đặc điểm WHOQOL-BREF EQ-5D-5L SF-36

Tác giả Tổ chức y tế Thế giới Nhóm các nhà khoa học Châu Âu Ware & Sherbourne

Năm xuất bản 1996 (14) 2009 (126) 1992 (127) Đối tượng Người lớn, NCT Người lớn, NCT Người lớn, NCT

Phiên bản rút gọn của WHOQOL -100 (14) bao gồm 26 câu:

- Sức khỏe thể chất: 7 câu

- Sức khỏe tâm thần: 6 câu

- Quan hệ xã hội: 3 câu

- Môi trường: 8 câu Ngoài ra, 2 câu hỏi sự hài lòng về sức khỏe và hài lòng về CLCS

- Lo lắng/ u sầu Thang đo trực quan

- Sức khỏe thể chất: hoạt động thể lực (10), chức năng thể lực (4), cảm giác đau (2), hoạt động sức khỏe chung (5)

- Sức khỏe tâm thần: chức năng cảm xúc (3), sức sống (4), sức khỏe tâm lý (5), hoạt động xã hội (2)

Mỗi câu có 5 lựa chọn trên thang điểm 1, 2, 3, 4, 5 Điểm cao thể hiện CLCS cao hơn

Mỗi câu trong khảo sát được đánh giá từ 1 đến 5, với 1 là “Không có khó khăn” và 5 là “Cực kỳ khó khăn” Tổng hợp từ 5 khía cạnh này sẽ giúp xác định trạng thái sức khỏe của đối tượng nghiên cứu.

Mỗi câu có 5 lựa chọn được chuyển thành thang điểm từ 0 – 100 Điểm càng thấp, CLCS càng kém

HUPH Đặc điểm WHOQOL-BREF EQ-5D-5L SF-36 Độ tin cậy

Cronbach’s alpha = 0,75 – 0,89 trong báo cáo từ nhóm WHOQOL

Cronbach’s alpha = 0,886 Cụ thể Cronbach’s alpha trên từng khía cạnh:

- Môi trường: 0,654 (Nghiên cứu người trên 50 tuổi mắc THA tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2014 (4))

Cronbach’s alpha = 0,7 (Nghiên cứu CLCS NCT mắc THA, đái tháo đường, bệnh tim mạch tại Hàn Quốc (94))

Cronbach’s alpha = 0,85 (Nghiên cứu CLCS ở bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS (129))

Bộ câu hỏi được chuẩn hóa cho người Việt và được dịch sang tiếng Việt

(Nghiên cứu đánh giá và xây dựng thang đo ở Việt Nam) (130)

- Cronbach’s alpha = 0.86 – 0.87 (Nghiên cứu đánh giá độ tin cậy thang đo trên NCT tại Chile (131))

- Cronbach’s alpha = 0,72 – 0,88 Ngoại trừ hoạt động xã hội = 0,39, sức khỏe nói chung = 0,66

(Nghiên cứu xác nhận thang đo tại Trung Quốc (132))

Cronbach’s alpha = 0,67 (Nghiên cứu trên bệnh nhân viêm khớp dạng thấp (133))

HUPH Đặc điểm WHOQOL-BREF EQ-5D-5L SF-36 Ứng dụng

- Đánh giá CLCS của NCT (78,

- Đánh giá CLCS của người mắc THA (4, 5, 88)

- Đánh giá CLCS người mắc HIV/AIDS (129)

- Đánh giá CLCS của NCT mắc bệnh mạn tính và THA (94, 95)

- Đánh giá CLCS bệnh nhân viêm khớp dạng thấp (133)

- Đánh giá CLCS của NCT (71) Ưu điểm

- Phát triển cẩn thận bởi WHO

- Có sẵn phiên bản của 19 ngôn ngữ khác nhau

- Khía cạnh tâm lý chấp nhận được

- Sử dụng được cho những người hạn chế về ngôn ngữ

- Có sẵn phiên bản của hơn 100 ngôn ngữ khác nhau

- Sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu

- Đã được sử dụng để đánh giá kinh tế y tế (QALYs)

- Thang đo được dịch sang tiếng Việt, chuẩn hóa thang điểm dành cho người Việt

- Dễ sử dụng và tính điểm

- Đánh giá CLCS liên quan đến sức khỏe độc lập với các bệnh gây ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu

- Có sẵn phiên bản của hơn 40 ngôn ngữ khác nhau

- Đánh giá điều chỉnh chất lượng tuổi thọ (QuALY)

HUPH Đặc điểm WHOQOL-BREF EQ-5D-5L SF-36

- Chưa xác định độ tin cậy chính xác trên đối tượng là người cao tuổi mắc THA ở Việt Nam

- Cảm xúc, tâm trạng chỉ giới hạn ở sự lo lắng/ trầm cảm

- Chưa xác định độ tin cậy chính xác trên đối tượng là NCT mắc THA ở Việt Nam

- Chưa xác định độ tin cậy chính xác trên đối tượng là người cao tuổi mắc THA ở Việt Nam

Trong 3 loại thang đo, thang EQ – 5D – 5L phù hợp nhất để sử dụng trong nghiên cứu này vì các lý do sau đây: Đây là thang điểm đo lường CLCS đầu tiên được chuẩn hóa dành cho người Việt Nam (130) Thang đo này đã được sử dụng rộng rãi trong một số nghiên cứu về CLCS NCT (69, 70) và nghiên cứu về CLCS người mắc THA (85, 90, 94) trên Thế giới Độ dài của thang đo ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với đối tượng là NCT Tại Việt Nam, thang đo đã được chuẩn hóa thành công (130) và được sử dụng trong các nghiên cứu về CLCS của người mắc các bệnh mạn tính (95) và CLCS của NCT (19, 104) Hơn nữa, CLCS được đo bằng thang đo EQ – 5D – 5L đóng góp một phần quan trọng giúp xác định số năm sống điều chỉnh theo chất lượng (Quality adjusted life year – QALYs) (130) HUPH

Khung lý thuyết

Nghiên cứu này điều chỉnh khung lý thuyết về CLCS ở người cao tuổi mắc THA dựa trên mô hình của Wilson IB và Cleary PD năm 1995 Mô hình này kết hợp giữa sức khỏe và xã hội để đánh giá CLCS, đã được áp dụng trong nhiều nghiên cứu liên quan đến các lĩnh vực như xơ gan và THA.

Biểu đồ 1 Khung lý thuyết

- Khám sức khỏe, Tình trạng điều trị tăng huyết áp

- Tập thể dục, Hút thuốc lá, Uống rượu bia

- Thời gian bệnh tăng huyết áp

- Các bệnh mạn tính khác

- Mối quan hệ khác trong xã hội

- Tình trạng hôn nhân, người sống cùng

Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu

Huyện Gia Lâm, nằm ở phía Đông Bắc Hà Nội, có diện tích 114,73 km² và dân số khoảng 253,8 nghìn người Huyện bao gồm 22 đơn vị hành chính, trong đó có 2 thị trấn và 20 xã Thị trấn Trâu Quỳ, với 11 tổ dân phố, có diện tích 734,52 ha và khoảng 25.000 người cư trú (năm 2015), trong đó có 1.778 người cao tuổi, chiếm 7,1% dân số Thị trấn đang trải qua quá trình chuyển dịch mạnh mẽ về kinh tế và xã hội do đô thị hóa và hiện đại hóa, với dân cư chủ yếu là người lao động và công chức nhà nước.

Hiện nay, khoảng 90% người cao tuổi (NCT) tham gia sinh hoạt tại Hội NCT thị trấn Trâu Quỳ, nơi đã thực hiện nhiều hoạt động chăm sóc sức khỏe và khuyến khích thể dục thể thao cho NCT Tuy nhiên, những biến đổi kinh tế - xã hội đã tạo ra cả cơ hội và thách thức, ảnh hưởng đến lối sống và thói quen sinh hoạt của NCT mắc tăng huyết áp (THA) Mối quan hệ gia đình và tình cảm láng giềng ngày càng suy yếu, trong khi con cái bận rộn với công việc, dẫn đến cảm giác cô đơn cho NCT Tình trạng bệnh tật gia tăng theo tuổi tác khiến NCT mệt mỏi và tâm trạng suy giảm Tỷ lệ NCT mắc THA tại khu vực cao, với 44,9% người trên 60 tuổi được phát hiện mắc bệnh, trong đó 28,1% không được điều trị Thói quen khám sức khỏe định kỳ chưa phổ biến, và tỷ lệ mắc THA ở thị trấn Trâu Quỳ cao hơn so với các xã khác trong huyện NCT có thói quen ăn uống và lối sống không lành mạnh, với 33,8% uống cà phê/trà đặc, 15,9% hút thuốc, 15,5% uống rượu bia, và 31,9% chưa có thói quen tập thể dục.

Các yếu tố có thể làm suy giảm chất lượng cuộc sống (CLCS) ở người cao tuổi (NCT) mắc tăng huyết áp (THA) chưa được quan tâm đúng mức tại thị trấn Trâu Quỳ Tình trạng sống của NCT mắc THA, cùng với các hành vi lối sống và tác động xã hội, ảnh hưởng đến CLCS của họ Hơn nữa, lợi ích từ các hoạt động cộng đồng liên quan đến vấn đề này vẫn chưa được nhận thức đầy đủ.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

DỰ KIẾN KẾT QUẢ, KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Ngày đăng: 27/07/2023, 01:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Viện Chiến lược và Chính sách Y tế. Nghiên cứu thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng tới sự khác biệt về thực trạng sức khỏe, khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế tại 6 tỉnh thuộc 6 vùng kinh tế xã hội của Việt Nam năm 2014 - 2015.2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng tới sự khác biệt về thực trạng sức khỏe, khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế tại 6 tỉnh thuộc 6 vùng kinh tế xã hội của Việt Nam năm 2014 - 2015
Tác giả: Viện Chiến lược và Chính sách Y tế
Năm: 2016
2. Poljičanin T, Ajduković D, Šekerija M, Pibernik-Okanović M, Metelko Ž, Mavrinac GV. Diabetes mellitus and hypertension have comparable adverse effects on health-related quality of life. BMC Public Health. 2010;10(1):12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diabetes mellitus and hypertension have comparable adverse effects on health-related quality of life
Tác giả: Poljičanin T, Ajduković D, Šekerija M, Pibernik-Okanović M, Metelko Ž, Mavrinac GV
Nhà XB: BMC Public Health
Năm: 2010
3. Ganesh Kumar S, Majumdar A, Pavithra G. Quality of life (QOL) and its associated factors using WHOQOL-BREF among elderly in urban Puducherry, India. Journal of clinical and diagnostic research: JCDR. 2014;8(1):54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quality of life (QOL) and its associated factors using WHOQOL-BREF among elderly in urban Puducherry, India
Tác giả: Ganesh Kumar S, Majumdar A, Pavithra G
Nhà XB: Journal of clinical and diagnostic research: JCDR
Năm: 2014
4. Ha NT, Duy HT, Le NH, Khanal V, Moorin R. Quality of life among people living with hypertension in a rural Vietnam community. BMC Public Health.2014;14(1):833 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quality of life among people living with hypertension in a rural Vietnam community
Tác giả: Ha NT, Duy HT, Le NH, Khanal V, Moorin R
Nhà XB: BMC Public Health
Năm: 2014
5. Trần Thanh Mậu. Chất lượng cuộc sống của người tăng huyết áp từ 40 tuổi trở lên và một số yếu tố liên quan tại xã Cát Khánh, huyện Phú Cát, tỉnh Bình Định, năm 2017. Luận văn thạc sỹ y học. 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất lượng cuộc sống của người tăng huyết áp từ 40 tuổi trở lên và một số yếu tố liên quan tại xã Cát Khánh, huyện Phú Cát, tỉnh Bình Định, năm 2017
Tác giả: Trần Thanh Mậu
Nhà XB: Luận văn thạc sỹ y học
Năm: 2017
6. Lloyd-Sherlock P, Beard J, Minicuci N, Ebrahim S, Chatterji S. Hypertension among older adults in low-and middle-income countries: prevalence, awareness and control. International journal of epidemiology. 2014;43(1):116 -28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hypertension among older adults in low-and middle-income countries: prevalence, awareness and control
Tác giả: Lloyd-Sherlock P, Beard J, Minicuci N, Ebrahim S, Chatterji S
Nhà XB: International journal of epidemiology
Năm: 2014
7. Lim SS, Vos T, Flaxman AD, Danaei G, Shibuya K, Adair-Rohani H, et al. A comparative risk assessment of burden of disease and injury attributable to 67 risk factors and risk factor clusters in 21 regions, 1990 –2010: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2010. The lancet. 2012;380(9859):2224 -60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A comparative risk assessment of burden of disease and injury attributable to 67 risk factors and risk factor clusters in 21 regions, 1990 –2010: a systematic analysis for the Global Burden of Disease Study 2010
Tác giả: Lim SS, Vos T, Flaxman AD, Danaei G, Shibuya K, Adair-Rohani H, et al
Nhà XB: The lancet
Năm: 2012
8. Kearney PM, Whelton M, Reynolds K, Muntner P, Whelton PK, He J. Global burden of hypertension: analysis of worldwide data. The lancet.2005;365(9455):217-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global burden of hypertension: analysis of worldwide data
Tác giả: Kearney PM, Whelton M, Reynolds K, Muntner P, Whelton PK, He J
Nhà XB: The Lancet
Năm: 2005
9. Forouzanfar MH, Afshin A, Alexander LT, Anderson HR, Bhutta ZA, Biryukov S, et al. Global, regional, and national comparative risk assessment of 79 behavioural, environmental and occupational, and metabolic risks or clusters ofHUPH Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w