TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Một số khái niệm về vệ sinh tay
Hướng dẫn thực hành vệ sinh tay trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo Quyết định số 3916/QĐ-BYT ngày 28/8/2017 của Bộ Y tế cung cấp các khái niệm quan trọng về vệ sinh tay, bao gồm định nghĩa và tầm quan trọng của việc duy trì vệ sinh tay để ngăn ngừa lây nhiễm trong môi trường y tế.
Rửa tay là một biện pháp quan trọng để duy trì vệ sinh, bao gồm việc sử dụng xà phòng thông thường, xà phòng khử khuẩn hoặc dung dịch vệ sinh tay có chứa cồn.
Xà phòng khử khuẩn: Là xà phòng ở dạng bánh hoặc dung dịch có chứa chất khử khuẩn (5)
Xà phòng thường: Là hợp chất có hoạt tính làm sạch, không chứa chất khử khuẩn (5)
Dung dịch vệ sinh tay chứa cồn là sản phẩm vệ sinh tay dưới dạng dung dịch, gel hoặc bọt, bao gồm các thành phần như cồn isopropanol, ethanol hoặc n-propanol, có thể kết hợp với nhau hoặc với chất khử khuẩn và được bổ sung chất làm ẩm, dưỡng da Sản phẩm này được sử dụng bằng cách chà tay cho đến khi cồn bay hơi hoàn toàn mà không cần sử dụng nước.
Vệ sinh tay thường quy: gồm Vệ sinh tay với xà phòng và nước và Vệ sinh tay chứa cồn.
Vai trò của vệ sinh tay thường quy trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện
1.2.1 Phổ vi khuẩn trên bàn tay của nhân viên y tế
Năm 1938, Price P.B chia vi khuẩn trên da bàn tay làm 2 nhóm: Vi khuẩn vãng lai và vi khuẩn định cư
Vi khuẩn định cư là những vi khuẩn hội sinh thường trú trên bàn tay của nhân viên y tế, người bệnh, thân nhân và khách thăm Chúng bao gồm các cầu khuẩn gram dương như S epidermidis, S aureus, S hominis, cùng với các vi khuẩn gram âm như Acinetobacter và Enterobacter Những vi khuẩn này có độc tính thấp và hiếm khi gây nhiễm trùng.
HUPH tiếp xúc thông thường, song chúng có thể gây độc tính qua các thủ thuật xâm lấn vào người bệnh
Các vi khuẩn gram (-) thường chiếm tỷ lệ cao ở tay nhân viên y tế trong đơn vị hồi sức cấp cứu, đặc biệt ở những người vệ sinh tay dưới 8 lần/ngày Vi khuẩn định cư thường nằm ở lớp sâu của biểu bì da Vệ sinh tay thường quy không thể loại bỏ hoàn toàn các vi khuẩn này, nhưng vệ sinh tay thường xuyên có thể giảm mức độ định cư của chúng Để loại bỏ vi khuẩn trên da tay trong vệ sinh tay ngoại khoa, các thành viên kíp phẫu thuật cần sử dụng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn hoặc dung dịch xà phòng chứa chlorhexidine 4% trong ít nhất 3 phút.
Vi khuẩn vãng lai là các vi khuẩn có mặt trên da người bệnh hoặc trên bề mặt môi trường bệnh viện, gây ô nhiễm bàn tay trong quá trình chăm sóc và điều trị Mức độ ô nhiễm bàn tay phụ thuộc vào loại thao tác, thời gian thực hiện và tần suất vệ sinh tay của nhân viên y tế Chúng là nguyên nhân chính gây nhiễm khuẩn bệnh viện, nhưng có thể dễ dàng loại bỏ bằng việc vệ sinh tay thường quy, như rửa tay với nước và xà phòng hoặc sử dụng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn trong khoảng 20-30 giây.
VST trước và sau khi tiếp xúc với người bệnh là biện pháp quan trọng nhất trong việc phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện Đặc biệt, VST trước phẫu thuật cần phải loại bỏ cả hai loại vi khuẩn vãng lai và định cư, do đó cần áp dụng quy trình VST ngoại khoa.
1.2.2 Bằng chứng lan truyền tác nhân gây bệnh qua bàn tay của nhân viên y tế
Sự lây lan tác nhân nhiễm khuẩn giữa các bệnh nhân (NB) qua bàn tay của nhân viên y tế (NVYT) phụ thuộc vào một chuỗi các yếu tố Đầu tiên, vi sinh vật (VSV) có thể tồn tại trên da của bệnh nhân hoặc trên bề mặt đồ dùng xung quanh Tiếp theo, nếu nhân viên y tế không thực hiện vệ sinh tay (VST) đúng cách hoặc sử dụng hóa chất VST không phù hợp, nguy cơ lây nhiễm sẽ tăng cao Cuối cùng, bàn tay bị ô nhiễm của nhân viên y tế cần phải tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân khác hoặc gián tiếp qua các dụng cụ, thiết bị sử dụng trên bệnh nhân.
Trong môi trường bệnh viện, vi khuẩn hiện diện khắp nơi, bao gồm cả trên các bề mặt mà tay người tiếp xúc Các tác nhân nhiễm khuẩn bệnh viện không chỉ tồn tại ở các vết thương nhiễm khuẩn, chất thải và dịch tiết của bệnh nhân, mà còn thường xuyên có mặt trên da lành của họ.
S epiderminis, Proteus mirabilis, Klebsiella spp và Acinetobacter spp.) có ở 1cm 2
HUPH da lành của người bệnh (NB) có sự thay đổi từ 102 đến 106 vi khuẩn, chủ yếu tập trung ở vùng bẹn, hố nách, nếp khuỷu tay và bàn tay Khoảng 25% da người bình thường mang vi khuẩn S.aureus, trong khi người mắc bệnh tiểu đường, người lọc máu chu kỳ và người viêm da mãn tính có tỷ lệ S.aureus cao hơn Các tác nhân gây bệnh này, đặc biệt là các chủng tụ cầu và cầu khuẩn đường ruột, có khả năng sống sót cao trong điều kiện khô, dẫn đến ô nhiễm quần áo, ga giường, đồ dùng cá nhân và bề mặt trong buồng bệnh.
Trong quá trình chăm sóc bệnh nhân, bàn tay của nhân viên y tế thường xuyên bị ô nhiễm vi sinh vật từ da bệnh nhân và bề mặt môi trường bệnh viện Theo nghiên cứu của Lê Thị Anh Thư và cộng sự tại Bệnh viện Chợ Rẫy, lượng vi khuẩn trung bình trên bàn tay nhân viên y tế là 5,4 log, với mức độ ô nhiễm cao nhất ở hộ lý, tiếp theo là bác sĩ và thấp nhất là điều dưỡng Thời gian thao tác càng dài thì mức độ ô nhiễm bàn tay càng tăng.
1.2.3 Vai trò của vệ sinh tay thường quy trong phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện
Vệ sinh tay là biện pháp đơn giản và hiệu quả làm giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện
Theo Rotter (1999), VST bằng nước và xà phòng thường trong 30 giây loại bỏ được 1,8- 2,8 log vi khuẩn ở bàn tay (1) Đánh giá hiệu quả VST tại bệnh viện Bạch Mai
(2007) cho thấy VST bằng xà phòng hoặc chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn trong
30 giây có thể loại bỏ được > 90% vi khuẩn ở các đầu ngón tay NVYT (2)
Nghiên cứu tại Thụy Sỹ từ năm 1994 đến 1997 cho thấy tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế tại bệnh viện Geneva tăng từ 48% lên 66%, dẫn đến tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện giảm từ 16,9% xuống 6,9% Tại Việt Nam, nghiên cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy giai đoạn 2007 - 2012 cho thấy khi tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế tăng từ 20,5% lên 77,8%, tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện giảm từ 9,6% xuống 4,3% Tại bệnh viện Bạch Mai, tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện cũng giảm từ 1,5% vào năm 1995 xuống 0,8% vào năm 2006 sau khi thực hiện các biện pháp can thiệp vệ sinh tay.
Bàn tay đóng vai trò quan trọng trong việc lan truyền nhiễm khuẩn Việc sử dụng VST giúp loại bỏ hầu hết vi sinh vật có trên bàn tay, từ đó ngăn ngừa sự lây lan của các tác nhân gây nhiễm khuẩn.
HUPH là quá trình chuyển giao từ bệnh nhân này sang bệnh nhân khác, từ bệnh nhân sang dụng cụ và nhân viên y tế, cũng như từ vị trí này sang vị trí khác trong cùng một bệnh viện VST được coi là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất trong việc phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện, đồng thời đảm bảo an toàn cho nhân viên y tế trong quá trình chăm sóc và điều trị bệnh nhân.
Nội dung thực hành vệ sinh tay
1.3.1 Phương tiện vệ sinh tay
1.3.1.1 Hóa chất vệ sinh tay
Mọi hóa chất VST sử dụng trong y tế phải được Bộ Y tế cấp phép sử dụng
- Xà phòng thường: Dạng bánh hoặc dạng dung dịch không chứa tác nhân diệt khuẩn
- Xà phòng khử khuẩn: Dạng dung dịch có chứa chloherxidine hoặc iodine
- Dung dịch VST chứa cồn (isopropanol, ethanol, n-propanol hoặc kết hợp hai trong các thành phần này hoặc kết hợp với 1 chất khử khuẩn)
Các hóa chất VST cần có thành phần làm ẩm và dưỡng da Bình cấp hóa chất VST phải được đóng kín, trang bị bơm định lượng tự động hoặc cần gạt hoạt động hiệu quả, và có nhãn ghi rõ loại dung dịch cùng hạn sử dụng, được đặt ở vị trí thuận tiện cho người sử dụng Nên hạn chế sử dụng xà phòng dạng bánh; nếu cần, hãy chọn loại bánh nhỏ và bảo quản trong giá đựng có nắp kín và lỗ thoát nước.
Vòi cấp nước có cần gạt hoặc khóa vặn hoạt động tốt; bồn sạch, quanh bồn không để phương tiện, đồ vật khác (5)
Nước rửa tay thường quy cần sử dụng nước sạch, chẳng hạn như nước máy đạt tiêu chuẩn Quốc gia về nước sinh hoạt QCVN 02: 2009/BYT, được cung cấp qua vòi có khóa hoạt động tốt.
Khăn sạch sợi bông hoặc khăn giấy dùng một lần là lựa chọn tốt cho việc vệ sinh Đối với khăn sợi bông, cần phải giặt và khử khuẩn sau mỗi lần sử dụng, và nên được bảo quản trong hộp cấp khăn kín tại các điểm rửa tay.
1.3.1.5 Trang bị phương tiện vệ sinh tay
Phương tiện vệ sinh tay (VST) phải luôn có sẵn ở mọi buồng phẫu thuật, khu vực chăm sóc bệnh nhân, khu hành chính, khu tiếp đón bệnh nhân và các buồng vệ sinh Tại những khu vực có nguy cơ lây nhiễm cao, như giường bệnh nặng, xe tiêm, xe thủ thuật và buồng phẫu thuật, cần trang bị dung dịch VST tay chứa cồn Ngoài ra, các buồng thủ thuật, buồng hành chính, buồng bệnh nặng, khu tiếp đón bệnh nhân và khu vệ sinh cũng phải được trang bị bồn rửa tay.
Theo Hướng dẫn thực hành vệ sinh tay trong các cơ sở khám bệnh – chữa bệnh, tỷ lệ bồn rửa tay so với giường bệnh tại khoa thường phải đạt ≥ 1/0, trong khi tại khoa Hồi sức cần >1/4 để đảm bảo đủ cho nhân viên y tế thực hiện vệ sinh tay Ngoài ra, cần cung cấp 100% bình sát khuẩn tay chứa cồn trên xe tiêm và bàn khám.
Tại mỗi bồn rửa tay, cần trang bị đầy đủ các phương tiện như quy trình rửa tay, xà phòng, khăn lau tay sử dụng một lần và thùng thu gom khăn đã sử dụng hoặc thùng chất thải thông thường.
1.3.2 Thời điểm vệ sinh tay thường quy
Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mọi người chăm sóc bệnh nhân cần rửa tay bằng nước và xà phòng hoặc sử dụng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn vào 5 thời điểm quan trọng.
Hình 1.1 Các thời điểm vệ sinh tay khi chăm sóc người bệnh (WHO 2005)
Ngoài ra còn có những chỉ định vệ sinh tay khác ngoài chăm sóc trực tiếp người bệnh (không khảo sát trong nghiên cứu này) ví dụ như:
- Khi chuyển từ chăm sóc bẩn sang chăm sóc sạch trên cùng người bệnh; Trước khi mang găng và sau khi tháo găng
- Trước khi vào buồng bệnh và sau khi ra khỏi buồng bệnh
Tất cả nhân viên y tế trong buồng phẫu thuật, không trực tiếp tiếp xúc với bệnh nhân như phụ mê, nhân viên chạy ngoài hay học viên, đều phải thực hiện vệ sinh tay trước khi vào buồng phẫu thuật Đối với nhân viên y tế tham gia trực tiếp vào phẫu thuật, cần áp dụng kỹ thuật vệ sinh tay ngoại khoa.
1.3.3 Kỹ thuật vệ sinh tay thường quy
Dù VST bằng xà phòng và nước hoặc chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn cần tuân thủ nghiêm ngặt thực hiện kỹ thuật 6 bước vệ sinh tay (8)
Hình 1.2 Quy trình vệ sinh tay thường quy
Khi thực hiện quy trình VST thường quy cần lưu ý một số điểm sau (5):
Để đảm bảo vệ sinh tay đúng cách, cần lựa chọn phương pháp VST phù hợp Nếu tay có vết bẩn hoặc dính dịch tiết cơ thể, nên rửa tay bằng nước và xà phòng Trong trường hợp tay không nhìn thấy vết bẩn, hãy sử dụng dung dịch VST chứa cồn, đặc biệt sau khi tháo găng tay hoặc khi thăm khám giữa các bệnh nhân.
- Lấy đủ 3ml -5 ml dung dịch VST cho mỗi lần VST
Để đảm bảo hiệu quả trong việc vệ sinh tay, cần tuân thủ đúng kỹ thuật VST với 6 bước chà tay, mỗi bước thực hiện 5 lần để hóa chất tiếp xúc đều Nếu sử dụng dung dịch VST chứa cồn, lặp lại các bước cho đến khi tay khô Đối với VST bằng nước và xà phòng, trước khi lấy dung dịch xà phòng, cần làm ướt tay dưới vòi nước Sau khi hoàn thành 6 bước, rửa tay lại dưới vòi nước để loại bỏ hoàn toàn hóa chất, sau đó lau khô tay bằng khăn sạch và thải bỏ khăn vào thùng thu gom.
- Tuân thủ đúng thời gian VST: Thời gian chà tay với hóa chất VST theo quy trình 6 bước phải đạt từ 20 giây-30 giây cho cả quy trình
- Không rửa lại tay bằng nước và xà phòng sau khi đã chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn
Để tránh ô nhiễm bàn tay sau khi vệ sinh, hãy sử dụng nước sạch để rửa tay và lau khô bằng khăn sợi bông hoặc khăn giấy sạch dùng một lần Sau khi rửa tay, hãy dùng khăn đã sử dụng để đóng vòi nước và không nên dùng chung một khăn lau tay cho nhiều lần rửa.
Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế
1.4.1 Tỷ lệ cơ hội có tuân thủ vệ sinh tay theo 5 thời điểm
Năm 2009, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã phát hành hướng dẫn về thực hành vệ sinh tay trong các cơ sở y tế và kêu gọi các quốc gia tham gia cam kết vào chiến dịch này.
“Bảo vệ sự sống: Hãy vệ sinh tay” và ngày 5 tháng 5 hàng năm được công nhận là “Ngày rửa tay toàn cầu” Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) hàng năm xây dựng các chủ đề về vệ sinh tay và triển khai các chương trình truyền thông rộng rãi trên trang web chính thức, cung cấp hướng dẫn cụ thể cho nhân viên y tế Tuy nhiên, việc thực hành đúng vệ sinh tay của nhân viên y tế vẫn còn nhiều hạn chế.
Nghiên cứu của Allegranzi và cộng sự tại 47 quốc gia thực hiện năm 2010 cho thấy tỷ lệ tuân thủ VST của NVYT là 60,4% (9)
Nghiên cứu của Zottele và cộng sự (2017) tại một bệnh viện ở Brazil cho thấy tỷ lệ tuân thủ VST của điều dưỡng đạt 66,6%, cao hơn so với bác sĩ chỉ 41,3% Trong khi đó, nghiên cứu của Jawad Ahmed (2020) chỉ ra rằng tỷ lệ tuân thủ VSTTQ trước và sau khi tiếp xúc với bệnh nhân chỉ đạt 12,3%.
Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã ban hành nhiều văn bản quan trọng về vệ sinh tay, bao gồm thông tư 18/2009/TT-BYT (2009), quyết định 3916/QĐ-BYT (2017) và thông tư 16/2018/TT-BYT (2018), nhằm hướng dẫn và nâng cao ý thức thực hành vệ sinh tay trong cộng đồng.
Từ năm 2010 đến nay, tỷ lệ cơ hội tuân thủ VST tại các bệnh viện đã tăng đáng kể Nghiên cứu của Bàn Thị Thanh Huyền tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình cho thấy tỷ lệ này là 34,0% Tương tự, Đặng Thị Vân Trang cũng đã ghi nhận tỷ lệ tuân thủ VST tại Bệnh viện Chợ Rẫy.
2010 là 25,7% (7); Nguyễn Thị Bông tại BV Xuyên Á năm 2016 là 57,46% (13);
HUPH nghiên cứu của Phạm Thị Thủy tại BV Y học cổ truyền tỉnh Đăk Lăk năm 2019 là 63,63% (14)
Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay theo hướng dẫn của WHO không đồng đều ở các thời điểm khác nhau Trong số 5 thời điểm vệ sinh tay, có 2 thời điểm diễn ra trước khi tiếp xúc hoặc thực hiện thủ thuật, trong khi 3 thời điểm còn lại xảy ra sau khi tiếp xúc hoặc phơi nhiễm với dịch cơ thể Các chỉ định trước nhằm ngăn ngừa nguy cơ lây truyền vi khuẩn cho bệnh nhân, trong khi các chỉ định sau nhằm bảo vệ nhân viên y tế khỏi nguy cơ lây nhiễm Thông thường, tỷ lệ tuân thủ ở các chỉ định sau cao hơn so với các chỉ định trước.
Nghiên cứu của Đặng Thị Vân Trang năm 2010 tại bệnh viện Chợ Rẫy cho thấy tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay ở các thời điểm khác nhau là: 17,0% trước khi tiếp xúc với bệnh nhân, 31,8% trước khi thực hiện thủ thuật vô khuẩn, 56,7% sau khi tiếp xúc với dịch tiết của người bệnh, 29,2% sau khi tiếp xúc với bệnh nhân, và 12,3% sau khi tiếp xúc với bề mặt các vật dụng trong buồng bệnh.
Theo đánh giá năm 2013, tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay (VST) tại Bệnh viện Quân y 103 ở các thời điểm khác nhau rất thấp Cụ thể, tỷ lệ thấp nhất là 15,78% trước khi tiếp xúc với người bệnh, 47,32% sau khi tiếp xúc với bề mặt vật dụng trong buồng bệnh, 70,86% sau khi tiếp xúc với người bệnh, 81,42% trước khi thực hiện thủ thuật vô khuẩn, và cao nhất là 93,65% sau khi tiếp xúc với dịch tiết của người bệnh.
Nghiên cứu của Lê Kiến Ngãi và cộng sự tại Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2013 cho thấy tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay trước khi thực hiện thủ thuật vô khuẩn đạt 56,8%, trong khi tỷ lệ này sau khi tiếp xúc với người bệnh là 65,6%.
Nghiên cứu của Tạ Thị Thành tại Bệnh viện Kontum cho thấy tỷ lệ tuân thủ các thời điểm vệ sinh tay như sau: 63,56% trước khi tiếp xúc với người bệnh, 79,93% trước khi thực hiện thủ thuật vô khuẩn, 41% sau khi tiếp xúc với người bệnh, 93,67% sau khi tiếp xúc với dịch tiết, và 35,38% sau khi tiếp xúc với bề mặt xung quanh.
1.4.2 Tỷ lệ cơ hội tuân thủ đúng và đủ 6 bước quy trình VST thường quy của NVYT
Để đảm bảo loại bỏ vi khuẩn hiệu quả, cần thực hiện đúng quy trình 6 bước vệ sinh tay, giúp rửa sạch mọi vị trí trên bàn tay Tuy nhiên, nhân viên y tế thường không vệ sinh tay đầy đủ.
HUPH các bước của quy trình Tỷ lệ này hiện nay tại các bệnh viện chưa cao: bệnh Quân Y
Nghiên cứu tại bệnh viện Tim Hà Nội của Nguyễn Thị Thu Huyền năm 2018 cho thấy tỷ lệ đạt 68,4%, trong khi nghiên cứu của Phạm Thị Thuỷ tại bệnh viện Đăk Lăk năm 2019 ghi nhận tỷ lệ 21,82% So với năm 2010, khi tỷ lệ đạt chỉ 35,4%, các kết quả này cho thấy sự biến động trong các nghiên cứu qua các năm.
1.4.3 Tỷ lệ NVYT tuân thủ vệ sinh tay thường quy
Trong nghiên cứu này, NVYT được xác định là tuân thủ VST thường quy khi đáp ứng hai yếu tố: thực hiện VST và tuân thủ đúng quy trình 6 bước VSTTQ trong tất cả các cơ hội quan sát được.
Nhiều bệnh viện thường chỉ tập trung vào tỷ lệ cơ hội tuân thủ VSTTQ mà ít chú ý đến tỷ lệ nhân viên y tế tuân thủ theo tiêu chuẩn này Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ tuân thủ của nhân viên y tế vẫn còn khá thấp tại các bệnh viện.
Tỷ lệ nhân viên y tế tuân thủ vệ sinh tay theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Huyền tại bệnh viện Tim Hà Nội năm 2018 là 46,4% Nghiên cứu của Hoàng Thị Hiền tại bệnh viện Đa khoa Hoè Nhai năm 2015 ghi nhận tỷ lệ này là 52,9% Trong khi đó, nghiên cứu của Phạm Thị Thuỷ tại bệnh viện Đăk Lăk năm 2019 cho thấy tỷ lệ tuân thủ chỉ đạt 12,12%.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế
1.5.1.1 Yếu tố tuổi, giới tính, chức danh, trình độ học vấn, thâm niên, khoa công tác của NVYT
Nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa Tịnh Biên năm 2015 cho thấy tỷ lệ thực hành đúng của các nhóm tuổi không có sự khác biệt lớn, với nhóm tuổi dưới 30 đạt 72,7%, nhóm 30-40 đạt 73,1% và nhóm trên 40 đạt 75% Đặc biệt, tỷ lệ tuân thủ quy trình của nam giới (83,3%) cao hơn so với nữ giới (69,7%).
Năm 2008, nghiên cứu của Khaled tại bệnh viện Đại học Ain Shams cho thấy bác sĩ có tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay (37,5%) cao hơn điều dưỡng (21)
Nghiên cứu của Zottele và cộng sự năm 2017 tại một bệnh viện ở Brazil cho thấy tỷ lệ tuân thủ VST của điều dưỡng đạt 66,6%, cao hơn so với bác sĩ chỉ 41,3% Tương tự, nghiên cứu của Bàn Thị Thanh Huyền tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình năm 2010 cho thấy tỷ lệ tuân thủ rửa tay của bác sĩ chỉ đạt 27%, thấp hơn nhiều so với điều dưỡng.
Tại HUPH, tỷ lệ điều dưỡng tuân thủ quy định rửa tay đạt 34% Nghiên cứu của Tạ Thị Thành tại Bệnh viện Kontum cho thấy tỷ lệ tuân thủ chung là 75%, trong đó bác sĩ chỉ đạt 60%, trong khi điều dưỡng đạt 83,5% Giả thuyết cho rằng điều dưỡng không chỉ chăm sóc về mặt thể chất mà còn tinh thần cho bệnh nhân, nhờ đó họ gần gũi và quan tâm hơn đến sự an toàn của người bệnh, dẫn đến việc tuân thủ quy trình rửa tay tốt hơn.
Một nghiên cứu tại 126 bệnh viện ở Đức cho thấy tỷ lệ tuân thủ VST cao nhất là ở các đơn vị sơ sinh với mức trung bình 72%, trong khi đó, tỷ lệ này thấp nhất ở các đơn vị liên khoa với mức trung bình 60,2%.
Nghiên cứu của Lê Kiến Ngãi và cộng sự tại bệnh viện Nhi trung ương năm 2013 cho thấy tỷ lệ tuân thủ rửa tay ở các khoa Hồi sức cao gấp 2,2 lần so với các khoa thường Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình, tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế ở các khoa có nguy cơ cao như Nhi sơ sinh, Điều trị tích cực, Ngoại, Sản cao hơn so với các khoa không có nguy cơ cao như Nội tim mạch, Nội tổng hợp, Truyền nhiễm, Khám bệnh Tương tự, tại bệnh viện Nhi đồng 2, tỷ lệ vệ sinh tay giữa các khoa không đồng đều, với tỷ lệ cao tập trung ở các khoa trọng điểm như Hồi sức, Sơ sinh, Ngoại thần kinh Điều này cho thấy nhân viên y tế có xu hướng tuân thủ vệ sinh tay cao hơn ở những đơn vị/khoa có nguy cơ nhiễm trùng cao hơn.
1.5.1.2 Kiến thức, thái độ về tuân thủ VSTTQ của NVYT
Kiến thức về vệ sinh tay bao gồm thời điểm và các bước rửa tay, cũng như việc sử dụng găng tay trong quá trình vệ sinh Nghiên cứu của Phùng Văn Thùy cho thấy tỷ lệ thực hành đúng vệ sinh tay (VST) trong nhóm nhân viên y tế (NVYT) có kiến thức đạt là 22%, trong khi tỷ lệ này ở nhóm có kiến thức không đạt là 0% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p