Nghiên cứu này được tiến hành với hai mục tiêu: 1 Mô tả thực trạng rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương của bệnh nhân nhập viện do TNGT và 2 Phân tích một số yếu tố liên quan tớ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THÙY DƯƠNG
RỐI LOẠN CĂNG THẲNG CẤP TÍNH SAU CHẤN
THƯƠNG TAI NẠN GIAO THÔNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701
HÀ NỘI, 2019HUPH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THÙY DƯƠNG
RỐI LOẠN CĂNG THẲNG CẤP TÍNH SAU CHẤN
THƯƠNG TAI NẠN GIAO THÔNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA TỈNH THÁI BÌNH NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS PHẠM VIỆT CƯỜNG
HÀ NỘI, 2019HUPH
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 4
1.2 Sự khác biệt và mối liên quan giữa hai loại rối loạn căng thẳng sau chấn thương 5
1.3 Các loại chấn thương gây ra rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương 6
1.4 Các triệu chứng của rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương 7
1.5 Tiêu chuẩn đánh giá và các bộ công cụ chẩn đoán rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương 8
1.6 Tình hình rối loạn căng thẳng và rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương do TNGT ở người trưởng thành 9
1.7 Các yếu tố liên quan tới rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương do TNGT ở người trưởng thành 12
1.8 Thông tin chung về bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình 20
1.9 Khung lý thuyết 21
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22
2.3 Thiết kế nghiên cứu 22
2.4 Cỡ mẫu 22
2.5 Phương pháp chọn mẫu 23
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 23
2.7 Các biến số nghiên cứu 24
2.8 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 25
2.9 Phương pháp phân tích số liệu 27
2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 28
2.11 Sai số và biện pháp khắc phục 28
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
HUPH
Trang 43.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 30
3.2 Thực trạng rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương do TNGT của đối tượng nghiên cứu 37
3.3 Các yếu tố liên quan lên rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương do TNGT trong nghiên cứu 42
CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN 50
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 50
4.2 Đặc điểm TNGT gặp phải và tình trạng rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương do TNGT của đối tượng nghiên cứu 51
4.3 Mối liên quan giữa các yếu tố độc lập và tình trạng rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương do TNGT của đối tượng nghiên cứu 55
4.4 Hạn chế của nghiên cứu 59
KẾT LUẬN 60
KHUYẾN NGHỊ 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Tiếng Việt 62
PHỤ LỤC 68
Phụ lục 1: Bộ công cụ thu thập thông tin cá nhân của đối tượng 68
Phụ lục 2: Bộ công cụ tự đánh giá Rối loạn căng thẳng cấp tính (ASD-5) 73
Phụ lục 3: Khung thời gian tiến hành nghiên cứu 75
Phụ lục 4: Kinh phí thực hiện nghiên cứu 77
Phụ lục 5: Thông tin các biến số sử dụng trong nghiên cứu 78
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ Bảng 2.1 Các câu hỏi đánh giá trong các phân loại triệu chứng của rối loạn căng thẳng cấp tính 26
Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng tham gia nghiên cứu 30
Bảng 3.2 Thông tin về chấn thương do TNGT của đối tượng 32
Bảng 3.3 Thông tin liên quan đến vụ TNGT đối tượng gặp phải 33
Bảng 3.4 Đặc điểm các hỗ trợ từ gia đình, bạn bè và đối tượng khác của đối tượng nghiên cứu 34
Bảng 3.5 Đánh giá chung hỗ trợ ở các khía cạnh của đối tượng nghiên cứu 36
HUPH
Trang 5Bảng 3.6 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu theo phân loại triệu chứng dễ bị xâm nhập 37 Bảng 3.7 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu theo phân loại triệu chứng về tâm trạng tiêu cực 38 Bảng 3.8 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu theo phân loại triệu chứng về việc phân
ly 39 Bảng 3.9 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu theo phân loại triệu chứng tránh gặp mặt tiếp xúc 40 Bảng 3.10 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu trong phân loại triệu chứng về việc bị kích thích 40 Bảng 3.11 Đặc điểm Rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương của đối tượng nghiên cứu 42 Bảng 3.12 Mối liên quan đơn biến giữa tình trạng rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương và các đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu 43 Bảng 3.13 Mối liên quan giữa tình trạng rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương
và các đặc điểm chấn thương do TNGT và tiền sử bệnh tật 45 Bảng 3.14 Mối liên quan đơn biến giữa tình trạng rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương và hỗ trợ xã hội từ gia đình, bạn bè và các đối tượng khác 47 Bảng 3.15 Mối liên quan đơn biến giữa tình trạng rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương và các khía cạnh hỗ trợ xã hội* 48 HUPH
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AIS Thang đo tai nạn thương tích rút gọn (Abbreviated Injuy Scale)
ASD Rối loạn căng thẳng cấp tính (Acute Stress Disorder)
CAPS Bộ câu hỏi có cấu trúc đánh giá rối loạn căng thẳng sau chấn
thương với sự hướng dẫn của bác sĩ (Clinician Administered PTSD Scale)
DSM Hướng dẫn Chẩn đoán và Thống kê các rối loạn tâm thần
(Diagnostics and Statistical Manual of Mental Disorder)
ISS Thang đo mức độ nghiêm trọng của chấn thương (Injury Severity
Score)
MSPSS Thang đo đa chiều về nhận thức với hỗ trợ xã hội
(Multidimensional Scale of Perceived Social Support)
PTSD Rối loạn căng thẳng sau chấn thương (Posttraumatic Stress
Trang 7TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Rối loạn căng thẳng cấp tính (Acute Stress Disorder – ASD) là một tình trạng khi
các triệu chứng cảm thấy đau buồn về mặt tinh thần của bệnh nhân xảy ra trong vòng
1 tháng đầu tiên sau khi mắc bệnh và các triệu chứng đó xảy ra từ 3 ngày trở lên [14] Loại rối loạn căng thẳng này là một trong những tình trạng tâm lý chính ảnh hưởng đến nạn nhân trong các vụ tai nạn, đặc biệt là tai nạn giao thông (TNGT) đường bộ Việc đánh giá tỷ lệ rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương do TNGT là cần thiết nhằm góp phần cung cấp thêm thông tin về thực trạng này, đặc biệt tại bệnh viện Đa khoa Thái Bình nơi có tỷ lệ chấn thương nhập viện do TNGT là cao nhất so
với các loại chấn thương khác Nghiên cứu này được tiến hành với hai mục tiêu: 1)
Mô tả thực trạng rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương của bệnh nhân nhập viện do TNGT và 2) Phân tích một số yếu tố liên quan tới tình trạng rối loạn này tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2019
Đây là một nghiên cứu cắt ngang được tiến hành từ tháng 04/2019 đến tháng 12/2019 trên tổng số 215 bệnh nhân tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình sử dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên thuận tiện Bộ công cụ ASD-5 được sử dụng các tiêu chí nhằm đánh giá các biểu hiện rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương ở các bệnh nhân trong thời gian từ 3 – dưới 30 ngày sau khi nhập viện Kết quả cho thấy tỷ lệ đối tượng có nguy cơ rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương do TNGT trong nghiên cứu này là 15,4% (KTC 95%: 10,8 – 20,9%), trong đó nữ có tỷ lệ rối loạn căng thẳng cao hơn nam Các yếu tố liên quan đến việc xuất hiện tình trạng rối loạn căng thẳng sau chấn thương do TNGT của các đối tượng bao gồm: là nữ giới, việc
có vợ/chồng, trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống, sử dụng xe đạp, tham gia bồi thường/kiện cáo sau khi xảy ra vụ TNGT và việc có được hỗ trợ xã hội từ gia đình ở mức cao và những người đặc biệt trong cuộc sống
Nghiên cứu đưa ra khuyến nghị đối với người gặp tai nạn giao thông cần cân nhắc đến việc tham gia bồi thường/kiện cáo sau này liên quan tới vụ việc, vì đó có thể là nguyên nhân khiến cho bệnh nhân cảm thấy lo âu, buồn phiền dẫn đến rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương Đối với bác sĩ điều trị (bao gồm cả điều trị tâm lý), cần lưu tâm và có những chăm sóc về mặt tinh thần đặc biệt cho những đối tượng là
nữ, sử dụng phương tiện thô sơ, những đối tượng đã có vợ/ chồng hoặc có trình độ
HUPH
Trang 8học vấn không cao Đối với các nghiên cứu tiến hành trong tương lai liên quan tới chủ đề rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương cần lưu ý tiến hành sử dụng kèm theo bộ công cụ ASDS nhằm khẳng định tình trạng rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương trên bệnh nhân
HUPH
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Rối loạn căng thẳng cấp tính (Acute Stress Disorder – ASD) là một tình trạng khi
các triệu chứng cảm thấy đau buồn về mặt tinh thần của bệnh nhân xảy ra trong vòng
1 tháng đầu tiên sau khi mắc bệnh và các triệu chứng đó xảy ra từ 3 ngày trở lên [14] Một trong những mục đích của việc chẩn đoán rối loạn căng thẳng cấp tính là nhằm xác định những người trong tháng đầu tiên sau khi gặp phải chấn thương không gặp phải những phản ứng căng thẳng ở dạng nhẹ, mà thay vào đó là các phản ứng cấp tính nghiêm trọng và các triệu chứng tiền khởi phát của rối loạn căng thẳng sau chấn thương [6]
TNGT đường bộ là một nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên thế giới, theo báo cáo về tai nạn thương tích của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2015, TNGT gây
tử vong hơn 1,2 triệu người, tổn thất khoảng 76 triệu DALY và là nguyên nhân thứ
6 về gánh nặng bệnh tật và tử vong trên thế giới [87] Nhiều bằng chứng đã chỉ ra rằng việc là nạn nhân của tai nạn giao thông đường bộ có thể đặt một cá nhân nguy
cơ cao cho một loạt các rối loạn tâm thần, trong đó có rối loạn căng thẳng sau chấn thương, trầm cảm và lo âu [68], [73], [78] Tỷ lệ hiện mắc rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương tai nạn giao thông năm 2018 trên 13 nghiên cứu cùng chủ đề dao động trong khoảng từ 3,0 – 41,1% [9]
Tại Việt nam, TNGT hàng năm gây ra khoảng gần 9.000 trường hợp tử vong và hàng chục ngàn trường hợp bị thương khác Tại Việt Nam hiện chưa có nhiều nghiên cứu
về rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương do tai nạn thương thích nói chung hoặc TNGT nói riêng, có một nghiên cứu đã tiến hành trên đối tượng TNTT và đưa
ra tỷ lệ rối loạn căng thẳng sau chấn thương do TNGT vào khoảng 17,8% [37] Tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình, mỗi năm có hàng ngàn bệnh nhân nhập viện do TNGT, năm 2018 có 3.333 bệnh nhân và chỉ tính riêng 9 tháng đầu năm 2019, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình đã tiếp nhận điều trị 2.526 bệnh nhân Nguyên nhân nhập viện do TNGT là nguyên nhân nhập viện do chấn thương hàng đầu tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình, trong đó những hậu quả về mặt tinh thần sau tai nạn giao thông để lại cho bệnh nhân có thể gây ảnh hưởng đến quá trình điều trị và hậu
HUPH
Trang 10quả có thể kéo dài đến mãi về sau Để góp phần cung cấp thêm bằng chứng về các rối loạn căng thẳng cấp tính do chấn thương sau TNGT tại Việt Nam Chúng tôi tiến
hành nghiên cứu “Rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương tai nạn giao thông và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2019” Nghiên cứu được tiến hành nhằm đánh giá tỷ lệ mắc rối
loạn này ở các bệnh nhân đang điều trị, đồng thời tìm hiểu một số yếu tố liên quan
để có thể đưa ra những khuyến nghị trong việc điều trị và hỗ trợ các nạn nhân trong thời gian sắp tới
HUPH
Trang 11MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Xác định tỷ lệ rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương tai nạn giao thông của bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2019
2 Phân tích một số yếu tố liên quan tới rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương tai nạn giao thông ở bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2019
HUPH
Trang 12CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
Rối loạn căng thẳng cấp tính (Acute Stress Disorder – ASD) là một tình trạng khi các
triệu chứng cảm thấy đau buồn về mặt tinh thần của bệnh nhân xảy ra trong vòng 1 tháng đầu tiên sau khi mắc bệnh và các triệu chứng đó xảy ra từ 3 ngày trở lên [14] Chấn thương là một sự kiện gây sốc và nguy hiểm mà họ nhìn thấy hoặc điều đó xảy
ra với họ Trong loại sự kiện này, những người bị rối loạn nghĩ rằng cuộc sống của họ
hoặc của người khác đang gặp nguy hiểm [73]
Loại rối loạn căng thẳng này là một trong những tình trạng tâm lý chính ảnh hưởng đến nạn nhân trong các vụ tai nạn, đặc biệt là tai nạn giao thông (TNGT) đường bộ Loại rối loạn này được giới thiệu như một chẩn đoán mới vào năm 1994 trong cuốn Sổ tay hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tinh thần lần 4 (DSM-4) Có 2 lý do phân loại về rối loạn này ra đời [5] Thứ nhất do việc chẩn đoán Rối loạn căng thẳng sau chấn thương không thể tiến hành trong vòng 1 tháng sau khi sự kiện xảy ra, khi đó người ta quan tâm đến việc nhiều người ngay trong tháng đầu tiên này đã gặp phải những rối loạn căng thẳng sau chấn thương nhưng không được tiếp cận với các dịch
vụ chăm sóc y tế về tinh thần phù hợp Thứ hai việc chẩn đoán rối loạn này giúp tìm
ra những người có khả năng bị rối loạn căng thẳng sau chấn thương mạn tính, từ đó giúp đưa họ vào những can thiệp sớm nhằm giải quyết vấn đề
Rối loạn căng thẳng sau chấn thương (Post Traumatic Stress Disorder - PTSD) là một
rối loạn tâm lý, tổn thương về mặt tinh thần mà một số người mắc phải khi trải qua hoặc chứng kiến một sự kiện đau thương, đe dọa đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, tai nạn giao thông hoặc bạo hành và vẫn tiếp tục kéo dài rối loạn sau khi sự kiến
đó đã kết thúc từ lâu [68] Rối loạn căng thẳng sau chấn thương có thể xảy ra sau khi
họ đã trải qua một chấn thương Những người bị rối loạn căng thẳng sau chấn thương
có những suy nghĩ và cảm xúc mãnh liệt, đáng lo ngại liên quan đến trải nghiệm của
họ kéo dài rất lâu sau khi sự kiện đau thương kết thúc Những người này có thể sống lại sự kiện thông qua hồi tưởng hoặc ác mộng; họ có thể cảm thấy buồn, sợ hãi hoặc tức giận; và họ có thể cảm thấy tách rời hoặc ghẻ lạnh với người khác Những người
bị rối loạn căng thẳng sau chấn thương có thể tránh các tình huống hoặc những người nhắc nhở họ về sự kiện đau thương và họ có thể có phản ứng tiêu cực mạnh mẽ đối với
HUPH
Trang 13một điều gì đó bình thường như một tiếng động lớn hoặc một cú chạm vô tình Chẩn đoán rối loạn căng thẳng sau chấn thương đòi hỏi phải gợi nhớ lại sự kiện chấn thương
ở bệnh nhân bị mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương Tuy nhiên, hai loại rối loạn này có một vài điểm khác biệt như sau:
- Chẩn đoán rối loạn căng thẳng sau chấn thương yêu cầu bệnh nhân gặp phải
chính xác các triệu chứng theo các phân nhóm triệu chứng đã định ra, trong khi
với rối loạn căng thẳng cấp tính, điều này là không bắt buộc Khi đó, một bệnh nhân có thể được chẩn đoán là rối loạn căng thẳng cấp tính có thể dựa vào việc
mô tả một nhóm các triệu chứng gặp phải
- Rối loạn căng thẳng sau chấn thương bao gồm cả các triệu chứng không liên quan tới sự sợ hãi (ví dụ: các hành vi nguy cơ hoặc phá phách, các suy nghĩ tiêu cực quá mức về bản thân và xã hội, hay như việc đổ lỗi quá mức cho mình hoặc người khác vì đã gây ra chấn thương ), hay được hiểu là các triệu chứng gặp phải sau khi chấn thương xảy ra một khoảng thời gian Trong khi đối với rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương, những triệu chứng này là không cần thiết
- Rối loạn căng thẳng sau chấn thương bao gồm một phân nhóm phụ, trong khi với rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương, việc tự tách mình khỏi xã hội, cũng như việc trốn tránh khỏi xã hội được đặt trong nhóm các triệu chứng liên quan tới sự phân ly
Như đã trình bày ở trên, một trong những mục đích của việc chẩn đoán rối loạn căng thẳng cấp tính là nhằm xác định những người trong tháng đầu tiên sau khi gặp phải chấn thương không gặp phải những phản ứng căng thẳng ở dạng nhẹ, mà thay vào
đó là các phản ứng cấp tính nghiêm trọng và các triệu chứng tiền khởi phát của rối
HUPH
Trang 14loạn căng thẳng sau chấn thương [6] Kết quả tổng quan tài liệu hệ thống đã chỉ ra rằng những người bị rối loạn căng thẳng cấp tính trong vòng một tháng đầu sau khi gặp phải chấn thương có mối liên quan tới tiến triển rối loạn căng thẳng sau chấn thương sau này [4]
1.3 Các loại chấn thương gây ra rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương
Theo phân loại của Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ, các rối loạn căng thẳng sau chấn
thương thường được gây ra bởi những loại chấn thương từ các sự kiện sau:
1.3.1 Do chiến tranh
Trong chiến tranh hoặc xung đột, quân nhân và người dân thường phải đối mặt với một số sự kiện có khả năng gây chấn thương Ngoài các tình huống chiến đấu đe dọa đến tính mạng, những người tham gia có thể chứng kiến thương tích và tử vong, có liên quan đến các vụ tai nạn xe cộ nghiêm trọng hoặc trong những tình huống xử lý hài cốt của con người Sự tiếp xúc này có thể làm tăng cơ hội mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương hoặc các vấn đề sức khỏe tâm thần khác
1.3.2 Do tấn công tình dục
Tấn công tình dục được định nghĩa là bất kỳ loại hoạt động tình dục nào giữa hai hoặc nhiều người trong đó một trong những người có liên quan chống lại ý muốn của
họ Bao gồm: Tấn công tình dục nam/nữ, Tấn công tình dục trẻ em, Phụ nữ bị hiếp
dâm trong vùng chiến tranh
1.3.3 Do bạo lực
Bạo lực trong cộng đồng: Ảnh hưởng chủ yếu đến với trẻ em và thanh thiếu niên
Bạo lực cộng đồng bao gồm nhiều sự kiện: Nó có thể là một người lạ sử dụng mối
đe dọa vật lý hoặc bạo lực trực tiếp để lấy thứ gì đó hoặc làm tổn thương ai đó Nó cũng có thể là bạo lực giữa các thành viên trong gia đình, đối tác thân thiết hoặc đồng nghiệp
Bạo lực từ người thân: Đề cập đến bạo lực và xâm phạm cơ thể từ người thân Bạo
lực từ người thân có thể bao gồm lạm dụng thể chất, tình dục hoặc tâm lý hoặc rình rập Hành vi của bạo lực từ người thân có thể xảy ra với phụ nữ hoặc đàn ông có mối quan hệ mật thiết với phụ nữ, đàn ông hoặc cả hai Nó có thể xảy ra bất kể ở tuổi tác, thu nhập, chủng tộc, sắc tộc, văn hóa, tôn giáo hay tình trạng khuyết tật nào
HUPH
Trang 151.3.4 Do thảm họa và khủng bố
Các sự kiện hoặc thảm họa đột ngột hàng loạt có thể dẫn đến thương tích, tử vong, mất mát và đau khổ, ví dụ như: tai nạn giao thông, động đất, sóng thần [68]
1.3.5 Do tai nạn giao thông
Với việc tăng lên liên tục số các phương tiện giao thông xe máy trong vài thập niên vừa qua, tai nạn giao thông đường bộ đã trở thành một vấn đề y tế công cộng đáng lưu tâm Theo báo cáo toàn cầu của Tổ chức Y tế thế giới, hơn 1,2 triệu người tử vong do tai nạn giao thông đường bộ hàng năm, bên cạnh đó hàng triệu người phải đối mặt với những chấn thương nghiêm trọng và sống với những di chứng lâu dài về mặt sức khỏe, trong đó có sức khỏe tâm thần [87] Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tai nạn giao thông đường bộ được coi là một sự kiện gây chấn thương không có chủ đích, không chỉ dẫn đến tử vong hoặc các chấn thương về mặt thể chất, mà còn gây
ra cho những người sống sót những nguy cơ gặp phải các rối loạn về mặt tinh thần, trong đó có rối loạn căng thẳng và rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương [83], [86]
1.4 Các triệu chứng của rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương
Tiêu chí A (gặp phải ít nhất 1 triệu chứng): Đối tượng đã từng trải qua: suýt tử
vong, bị đe dọa tử vong, thương tích nghiêm trọng thực tế hoặc đe dọa bị thương tích, bạo lực tình dục thực tế hoặc đe dọa bị bạo lực tình dục, theo các cách sau:
- Tiếp xúc trực tiếp
- Chứng kiến chấn thương
- Biết rằng một người thân hoặc bạn thân đã bị tổn thương
- Tiếp xúc gián tiếp với các chi tiết gây khó chịu của chấn thương, thường là trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn (ví dụ: người trả lời đầu tiên, điều trị)
Tiêu chí B (gặp phải ít nhất 9 triệu chứng trong số 5 phân loại): các phân loại
bao gồm: cảm thấy bị xâm phạm, tâm trạng tiêu cực, triệu chứng phân ly, triệu chứng tránh gặp mặt tiếp xúc, triệu chứng bị kích thích Các triệu chứng gặp phải này có thể mới xuất hiện hoặc trở nên tệ hơn sau khi sự kiện chấn thương xảy ra
Tiêu chí C: thời gian gặp phải những sự xáo trộn (các triệu chứng đề cập trong Tiêu
chí B) kéo dài trong khoảng từ 3 ngày đến 1 tháng sau khi sự kiện xảy ra
HUPH
Trang 16Tiêu chí D: sự xáo trộn gặp phải gây nên đau khổ hoặc suy yếu đáng kể về mặt lâm
sàng trong các lĩnh vực hoạt động xã hội, nghề nghiệp hoặc các lĩnh vực quan trọng khác
Tiêu chí E: sự xáo trộn không liên quan đến tác động sinh lý của một chất (ví dụ:
thuốc hoặc rượu) hoặc một tình trạng y tế khác (ví dụ: chấn thương sọ não nhẹ) và không được giải thích khác với những rối loạn tâm thần ngắn
1.5 Tiêu chuẩn đánh giá và các bộ công cụ chẩn đoán rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương
Việc khẳng định một ai đó bị rối loạn căng thẳng sau chấn thương bao gồm một số bước Chẩn đoán rối loạn căng thẳng sau chấn thương thường được thực hiện bởi một bác sỹ có chuyên môn về tâm thần học Để chẩn đoán Rối loạn căng thẳng sau chấn thương, bác sỹ tâm thần sẽ quan sát, đánh giá các triệu chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương mà một người có thể gặp phải sau chấn thương [68]
1.5.1 Công cụ chẩn đoán rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương
Tương tự với việc chẩn đoán rối loạn căng thẳng sau chấn thương, rối loạn căng thẳng cấp tính được chẩn đoán sử dụng nhiều loại công cụ, trong đó phổ biến nhất là hai loại công cụ:
- Bộ câu hỏi phỏng vấn có cấu trúc: thường gặp nhất là bộ 19 câu hỏi ASDI-5
(Acute Stress Disorder Structure Interview – 5) Bộ câu hỏi ASDI gốc được phát triển và xác chuẩn theo các tiêu chí chẩn đoán rối loạn căng thẳng cấp tính trong DSM-4 Tuy nhiên các yếu tố tâm lý trong ASDI-5 vẫn chưa được cập
nhật theo hướng dẫn mới nhất của DSM-5 [84]
- Bộ câu hỏi tự điền: thường gặp nhất là Thang đo đánh giá rối loạn căng thẳng
cấp tính ASDS (Acute Stress Disorder Scale) với 14 câu hỏi tự điền Công cụ này hiện nay đã được cập nhật cho phù hợp với tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn căng thẳng cấp tính theo hướng dẫn của DSM-5 [82]
Hiện nay, DSM-5 được khuyến khích sử dụng để đánh giá thay vì DSM-4 trước đó
do DSM-5 đem lại nhiều ưu điểm hơn Kết quả DSM-5 là cẩm nang đại diện tốt nhất cho khoa học chuyên ngành tâm thần hiện tại và sẽ hữu ích cho bác sĩ lâm sàng và bệnh nhân [3] Kết quả từ một tổng quan hệ thống cho thấy tỷ lệ mắc rối loạn căng
HUPH
Trang 17thẳng sau chấn thương được đánh giá bằng bộ câu hỏi phỏng vấn có cấu trúc cao hơn đáng kể so với đánh giá bằng bộ câu hỏi tự điền Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng so với các bộ câu hỏi phỏng vấn có cấu trúc, các bộ câu hỏi tự điền, chẳng hạn như danh mục và thang đánh giá triệu chứng căng thẳng sau chấn thương, có độ đặc hiệu và độ nhạy cao [50] Nhìn chung, các nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn có cấu trúc có nhiều khả năng người tham gia là những người có chấn thương nặng, được phỏng vấn tại các địa điểm điều trị như: bệnh viện, phòng khám, v.v , trong khi các nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi tự điền có nhiều khả năng áp dụng hơn đối với những người có chấn thương nhẹ hơn, những người mới nhập viện với chấn thương không quá nghiêm trọng, hoặc người dân tại cộng đồng [55]
1.6 Tình hình rối loạn căng thẳng và rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương do TNGT ở người trưởng thành
1.6.1 Thế giới
Phản ứng tâm lý đối với các sự kiện chấn thương rất khác nhau giữa các nền văn hóa khác nhau, nhưng các nghiên cứu ở các nước đang phát triển là rất ít [22] Hơn 50 triệu người trên toàn thế giới trải qua chấn thương do tai nạn giao thông đường bộ hàng năm và ước tính đến năm 2020, chấn thương do tai nạn giao thông đường bộ gây ra sẽ là nguyên nhân gây tàn tật đứng thứ 3 [78] Nhiều bằng chứng đã chỉ ra rằng việc là nạn nhân của tai nạn giao thông đường bộ có thể đặt một cá nhân nguy
cơ cao cho một loạt các rối loạn tâm thần, trong đó có rối loạn căng thẳng sau chấn thương, trầm cảm và lo âu [68], [73], [78]
Rối loạn căng thẳng sau chấn thương là một trong những tình trạng tâm lý chính ảnh hưởng đến nạn nhân trong các vụ tai nạn, đặc biệt là tai nạn giao thông đường
bộ Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) (2004), tai nạn giao thông đường
bộ hiện đang đứng thứ chín về gánh nặng bệnh tật toàn cầu và dự kiến sẽ chuyển sang vị trí thứ ba vào năm 2020 Các biến chứng tâm thần liên quan đến chấn thương được thống kê là đã gia tăng trên toàn cầu, cụ thể hơn ở những người sống sót sau tai nạn giao thông đường bộ thường xuất hiện các triệu chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương Tỷ lệ hiện mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương được báo cáo trong số những người sống sót sau tai nạn giao thông đường bộ dao động trong khoảng 6,3% đến 58,3% trong số các nghiên cứu và tỷ lệ ước tính là 22,25% (KTC
HUPH
Trang 1895%: 16,71%-28,33%) [55] Tỷ lệ mắc suốt đời của rối loạn căng thẳng sau chấn thương ở Canada được ước tính vào khoảng 9,2%, và hiện mắc sau 1 tháng là 2,4% Báo cáo nghiên cứu tỷ lệ mắc suốt đời của rối loạn căng thẳng sau chấn thương tại
Mỹ và cộng đồng châu Âu lần lượt là 6,4 và 6,8%, trong khi đó tỷ lệ trong 12 tháng
lần lượt là 1,1 và 3,5% [2]
Tỷ lệ hiện mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương có xu hướng giảm chung theo thời gian, điều này có thể do việc thuyên giảm một cách tự nhiên các triệu chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương trong khoảng từ 1 tháng đến 12 tháng sau TNGT Một tháng sau TNGT, ước tính tỷ lệ hiện mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương dao động từ 8% đến 45% (trung bình = 27,0%), sau ba tháng dao động từ 8% đến 30% (trung bình = 16,5%), sau sáu tháng dao động trong khoảng từ 6% - 28% (trung bình = 18,0%) và sau mười hai tháng là từ 7% đến 26% (trung bình = 14,0%) [50] Mặc dù hậu quả về sức khỏe tâm thần thường bị bỏ qua hoặc cắt giảm chi phí do trọng tâm chính là sức khỏe thể chất, các nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng các rối loạn tâm lý sau chấn thương có thể kéo dài, và kết quả tác động đến sự phục hồi về mặt tâm lý và thể chất là như nhau [43]
Các yếu tố về quốc gia, chủng tộc, văn hóa và kinh tế xã hội, giới tính, trình độ học vấn có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương [22], [65], [72] Tỷ lệ ước tính mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương trong các nghiên cứu cộng đồng chung là 6 – 8,5% [68] Tỷ lệ này đặc biệt cao ở những nhóm đối tượng đặc thù như nhóm cựu chiến binh Mỹ tham gia chiến tranh tại Việt Nam (18,7%) [24]; hoặc ở nhóm những bệnh nhân có bệnh đau mãn tính (28%) [19] Những người
là nữ giới sống sót sau các vụ TNGT và trình độ học vấn thấp hơn có nguy cơ mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương cao hơn [22] Rối loạn căng thẳng sau chấn thương được đánh giá sau 4 đến 12 tháng sau tai nạn và tỷ lệ lưu hành cho thấy sự khác biệt lớn giữa các quốc gia: 17-32% ở Anh, Mỹ và Israel, 10,4% ở Úc, 8,5% ở Nhật Bản và 1,9% 3,1% ở Thụy Sĩ Cỡ mẫu cũng xuất hiện trong ước tính tỷ lệ hiện mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương và có sự khác biệt: 6-45% cho các mẫu nhỏ hơn 200, 13-29% cho các mẫu từ 200 đến 499 và 11-23% cho các mẫu từ 500 người trở lên [50]
Sự khác biệt trong ước tính tỷ lệ rối loạn căng thẳng sau chấn thương được giải thích
HUPH
Trang 19bởi ba yếu tố: thời điểm khi rối loạn căng thẳng sau chấn thương được đánh giá (nghĩa là ước tính tỷ lệ lưu hành cao hơn sau một tháng xảy ra TNGT), cỡ mẫu và các yếu tố văn hóa – kinh tế xã hội liên quan đến quốc gia nơi nghiên cứu được tiến hành Đánh giá này cho thấy kích thước mẫu lớn hơn cung cấp ước tính tỷ lệ lưu hành rối loạn căng thẳng sau chấn thương có độ chính xác cao hơn Cỡ mẫu lớn hơn
có thể cung cấp ước tính đại diện hơn về tỷ lệ dân số thực sự vì sai số ngẫu nhiên và
sự thiếu chính xác trong đo lường đã giảm [50]
Đối với rối loạn căng thẳng cấp tính do TNGT, hiện chưa có nhiều nghiên cứu tiến hành đánh giá riêng lẻ triệu chứng rối loạn này ở những bệnh nhân sống sót sau các
vụ TNGT mà chủ yếu đánh giá và theo dõi để xem xét cùng với sự tiến triển rối loạn căng thẳng sau chấn thương ở những bệnh nhân đó Kết quả của tác giả Wenjie và cộng sự năm 2018 trên 13 nghiên cứu cùng chủ đề cho thấy tỷ lệ rối loạn căng thẳng cấp tính ở bệnh nhân sống sót sau các vụ TNGT dao động trong khoảng từ 3,0 – 41,1% với tỷ lệ cao nhất ở những người trưởng thành sống sót tại Thổ Nhĩ Kỳ và thấp nhất ở những trẻ em vị thành niên sống sót sau TNGT tại Thụy sỹ Tỷ lệ ước tính chung rối loạn căng thẳng cấp tính ở những người sống sót sau những vụ TNGT
áp dụng phương pháp phân tích gộp (meta-analysis) là 15,81% (KTC 95%: 8,27 – 25,14%) Cũng trong tổng quan này, một số yếu tố được chỉ ra có mối liên quan tới
tỷ lệ rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương do TNGT như: tuổi, giới tính, việc
sử dụng bộ câu hỏi tự điền và bộ câu hỏi phỏng vấn có cấu trúc [9]
1.6.2 Việt Nam
Tại Việt Nam, hiện chưa có nhiều nghiên cứu về rối loạn căng thẳng sau chấn thương
do tai nạn giao thông, do vậy nguồn số liệu để trích dẫn tham khảo liên quan tới vấn
đề này là khá hạn chế Có một số nghiên cứu đề cập tới tỷ lệ mắc sang chấn tâm lý nói chung ước tính vào khoảng 16,2% [1] Nghiên cứu của Đỗ Thị Hạnh Trang và cộng sự nghiên cứu về tỷ lệ trầm cảm, lo âu và rối loạn căng thẳng sau chấn thương
ở người trưởng thành tại tỉnh Thừa Thiên – Huế cho tỷ lệ rối loạn căng thẳng sau chấn thương do TNGT vào khoảng 17,8% [37]
Mặc dù tỷ lệ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần được báo cáo trong các nghiên cứu tài liệu có sẵn là tương đối thấp, quan điểm chung cho rằng vấn đề sức khỏe tâm thần
và tâm lý xã hội đều đang gia tăng ở Việt Nam Số lượng các nghiên cứu về rối loạn
HUPH
Trang 20căng thẳng sau chấn thương do TNGT cũng rất hạn chế khi đối tượng nghiên cứu phần lớn là cựu chiến binh Tỷ lệ rối loạn căng thẳng sau chấn thương trong các cựu chiến binh ở Việt Nam hiện nay trong giai đoạn 2007-2009 là khoảng 22,2% [48] Hơn 30 năm sau khi kết thúc chiến tranh ở Việt Nam, nhiều cựu chiến binh tiếp tục bị rối loạn căng thẳng sau chấn thương, điều này nhấn mạnh sự cần thiết phải tiếp tục được điều trị trong suốt cuộc đời [48]
Rối loạn căng thẳng sau chấn thương nói chung và rối loạn căng thẳng sau chấn thương do tai nạn giao thông nói riêng gây ra hậu quả nghiêm trọng cho nạn nhân, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, giảm chất lượng cuộc sống, ảnh hưởng đến công việc và trở thành gánh nặng cho cộng đồng [21], [30] Do đó, việc đánh giá tỷ lệ rối loạn căng thẳng sau chấn thương do tai nạn giao thông là yếu tố tiền đề quan trọng góp phần cung cấp thêm dữ liệu cho các nhà hoạch định chính sách có những can thiệp phù hợp
1.7 Các yếu tố liên quan tới rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương do TNGT ở người trưởng thành
Như đã trình bày ở trên, rối loạn cấp tính sau chấn thương đóng vai trò quan trọng trong việc tiến triển lên giai đoạn rối loạn sau chấn thương ở bệnh nhân [4], [82], bên cạnh đó kết quả từ một tổng quan tài liệu [17] cũng như một số nghiên cứu liên quan [39], [86] cũng cho thấy hầu hết các yếu tố nguy cơ cho rối loạn căng thẳng sau chấn thương đều có thể áp dụng cho rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương ở bệnh nhân Để có cái nhìn bao quát về vấn đề, các yếu tố liên quan được trình bày sau đây bao gồm kết quả tổng quan tài liệu từ các yếu tố có liên quan tới rối loạn căng thẳng sau chấn thương
1.7.1 Yếu tố cá nhân
Tuổi
Tuối tác cũng là một trong những yếu tố liên quan đến rối loạn căng thẳng sau chấn thương ở những người bị tai nạn giao thông Dựa vào bộ công cụ điều tra SF-36v2, Kenardy và cộng sự đã phát hiện ra biến số “Nghiêm trọng và mạn tính” cùng với biến số “Hồi phục dần dần” của các rối loạn căng thẳng sau chấn thương sau các TNGT là tăng cùng với số tuổi (p<0,001) [54] Ví dụ, một người 60 tuổi ở trong quần thể nghiên cứu này có nguy cơ rơi vào tình trạng “nghiêm trọng và mạn tính” cao
HUPH
Trang 21gấp 4,4 lần (95% CI:1,9–10,0) so với một người 30 tuổi [54] Một nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng những người có độ tuổi dưới 30 tuổi ít có nguy cơ mắc chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương hơn so với những người còn lại [70]
Giới tính
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh được mối liên quan giữa giới tính và rối loạn căng thẳng sau sang chấn tâm lý do tai nạn giao thông ở người trưởng thành Theo những nghiên cứu này, đa phần những nghiên cứu chỉ ra những người mang giới tính nữ thường có xu hướng bị rối loạn căng thẳng sau sang chấn tâm lý [34], [38], [39], [66], [75], [81] Nghiên cứu của Blanchard (1996) cho thấy nữ giới thường
có khả năng mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương sau TNGT cao hơn nam giới (Điểm CAPS: 0,187; p<0,05) [25] Nghiên cứu của Yohannes và cộng sự được thực hiện vào năm 2018 đã cho thấy được mối liên quan giữa những người mang giới tính
nữ và nguy cơ mắc phải rối loạn căng thẳng sau chấn thương [81] Nghiên cứu của Ehring (2008) cũng cho thấy đối với phụ nữ, nồng độ cortisol thấp và việc nằm ở phòng cấp cứu có liên quan đến các vấn đề tình cảm trong quá khứ (p<0,01) và các
sự kiện chấn thương trong quá khứ (p<0,05) [40] Ngoài ra, nhiều nghiên cứu trước
đó cũng đã đưa ra kết quả tương tự [34], [38], [39], [75] Một nghiên cứu được thực hiện trên 264 đối tượng còn sống sót sau những vụ tai nạn giao thông tại bệnh viện quốc gia Kenyatta, Nairobi năm 2004 chỉ ra rằng số người phụ nữ mắc chứng rối loạn căng thẳng sau sang chấn tâm lý chiếm 17% (n=67), cao hơn con số 11,7% (n=197) ở nam giới Một nghiên cứu khác của Ursano và cộng sự cũng chỉ ra rằng nạn nhân là phụ nữ có nguy sơ mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương trong một tháng đầu cao gấp 4,64 lần nam giới [75] Mối liên quan này cũng được chứng minh
từ một nghiên cứu được thực hiện trên 198 bệnh nhân khám lại sau 3 tháng và sau 1 năm [39] Tỷ lệ người bị rối loạn căng thẳng sau chấn thương sau TNGT ở nữ giới cao hơn (17,9%) so với nam giới (11,7%) (p<0,05) [66]
Thu nhập
Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương ở những nạn nhân tai nạn giao thông là thu nhập của họ Một nghiên cứu được thực hiện trên đối tượng là những người đang sinh sống ở vùng ngoại ô nước
Mỹ đã chỉ ra rằng với thu nhập bình quân hàng năm ít hơn 20,000$, những người
HUPH
Trang 22thuộc nhóm này có nguy cơ mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương cao gấp 2,94 lần so với những người có thu nhập cao hơn mức nói trên [75] Ngoài ra, một nghiên cứu khác cũng chỉ ra mối liên quan giữa thu nhập bình quân nạn nhân TNGT và tình trạng mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương của họ [53]
Trình độ học vấn
Nghiên cứu của Ongecha-Owuor (2004) cho thấy những người có trình độ học vấn dưới tiểu học có nguy cơ mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương là 8,3% so với tỷ
lệ ở những người chỉ học đến bậc tiểu học chỉ là 4,2% (p<0,05) [66]
1.7.2 Yếu tố đặc điểm của TNGT mà đối tượng gặp phải
Tiền sử chấn thương trước đây
Yếu tố này được chứng minh có mối liên quan đến nạn nhân rối loạn căng thẳng sau chấn thương ở cả thời điểm theo dõi là 6 tháng (OR=2,7; KTC 95%= 1,12-6,52) cũng như 1 năm (OR=3,04; KTC 95%=1,18-7,84) [71] Mức độ nghiêm trọng của chấn thương trước đây có khả năng dự đoán rối loạn căng thẳng sau chấn thương sau 4 tháng (OR = 1,207; 95% CI=1,085-1.342; p = 0,001) [34] Trong khi đó nghiên cứu của Ehring (2008) chỉ ra rằng, mức độ nghiêm trọng của chấn thương đã từng gặp phải trước đây (khi được đánh giá với Điểm tổn thương nghiêm trọng) không có mối liên quan với Rối loạn căng thẳng sau chấn thương ở bất kỳ đánh giá nào (p >0,12) [41] Trong nghiên cứu của Delahanty (2003) về rối loạn căng thẳng sau chấn thương cấp tính, bệnh nhân rối loạn căng thẳng sau chấn thương báo cáo trải qua chấn thương trước kia trong quá khứ nhiều hơn đáng kể so với bệnh nhân không có chấn thương trong quá khứ (p<0,01) [36]
Mức độ chấn thương sau TNGT ban đầu
Nghiên cứu của Chossegros (2011) chỉ ra rằng mức độ chấn thương ban đầu có liên quan có ý nghĩa thống kê với rối loạn căng thẳng sau chấn thương, cụ thể những người gặp chấn thương trong TNGT cũng có mối liên quan tới việc họ mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương sau TNGT (p<0,001), những người phải điều trị trong phòng hồi sức hoặc phòng chăm sóc đặc biệt (p<0,001) [31] Một nghiên cứu của Blanchard (2008) cũng cho thấy có mối liên quan giữa mức độ nặng của chấn thương sau TNGT và việc mắc Rối loạn căng thẳng sau chấn thương (Điểm CAPS:0,260; p<0,001) [25] Nghiên cứu của Ehring (2008) cũng cho kết quả tương tự [39] Nghiên
HUPH
Trang 23cứu của Mayou (2002) cũng cho thấy những người gặp phải chấn thương càng nghiêm trọng sau TNGT (được định nghĩa là nằm từ 3 đêm trở lên trong bệnh viện) thì càng có khả năng mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương sau TNGT (p<0,05 ở thời điểm 3 tháng sau TNGT và p<0,01 thời điểm 1 năm sau TNGT) [60] Nghiên cứu Ehring (2008) cũng chỉ ra rằng rối loạn căng thẳng sau chấn thương mãn tính có liên quan đến một số yếu tố khách quan như mức độ nghiêm trọng của chấn thương [39] Mức độ nghiêm trọng của chấn thương là một trong những yếu tố liên quan đến việc mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương sau này ở nạn nhân bị tai nạn giao
thông [28], [32], [34], [35], [49], [56]
Loại phương tiện sử dụng khi gặp TNGT
Kết quả nghiên cứu của Chossegros (2011) cho thấy loại phương tiện được người đi đường sử dụng có liên quan tới việc họ mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương (p<0,001) [31] Nghiên cứu của Ehring (2008) cũng chỉ ra rằng những người lái xe
ô tô và hành khách đi đường có những triệu chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương nặng cao hơn là những người đi xe máy và đi xe đạp [41]
Mất trí nhớ sau TNGT
Sau TNGT việc người bệnh có gặp hiện tượng bị mất trí nhớ hay không cũng được nhiều nghiên cứu trên thế giới chỉ ra là yếu tố có liên quan tới việc mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương Tuy nhiên kết quả này còn chưa đồng nhất ở các nghiên cứu Nghiên cứu của Flesher (2001) chỉ ra rằng những người không bị mất trí nhớ sau TNGT thường có khả năng bị rối loạn căng thẳng sau chấn thương cao hơn là những người bị mất trí nhớ (p<0,05) [44] Trong khi đó nghiên cứu của Chossegros (2011) cũng chỉ ra rằng 6 tháng sau khi xảy ra TNGT có 61% đối tượng nghiên cứu nghi ngờ mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương không nhớ gì về tai nạn đã xảy ra với
họ (so với 29% những người không mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương) với p<0,001 [31]
Trạng thái về sức khỏe tâm thần trước TNGT
Việc người bệnh gặp vấn đề về cảm xúc trước TNGT cũng được các nghiên cứu trên thế giới chỉ ra là có mối liên quan tới việc họ mắc rối loạn căng thẳng sau chấn
thương sau TNGT Nghiên cứu của Ehring (2008) chỉ ra rằng mức độ nghiêm trọng
của chấn thương càng lớn thì sau TNGT người bệnh thường sợ hãi hơn, bị ám ảnh
HUPH
Trang 24về TNGT và tránh không đi đường [41] Một nghiên cứu khác cũng của Ehring (2008) chỉ ra rằng những người trước TNGT đã gặp phải những vấn đề về cảm xúc trước đó có liên quan tới việc họ bị rối loạn căng thẳng sau chấn thương [40] Nghiên cứu của Ehlers (2008) thực hiện đánh giá 967 bệnh nhân liên tiếp đến bệnh viện cấp cứu ngay sau tai nạn xe cơ giới cũng cho kết quả tương tự về mối liên quan giữa rối loạn căng thẳng sau chấn thương và các vấn đề về cảm xúc trước TNGT [39] Những người gặp sự kiện lớn ảnh hưởng tới cảm xúc trong năm trước khi gặp TNGT như ly hôn, ly thân (p<0,001) [31]
Phản ứng cảm xúc tiêu cực trong chấn thương là không thể tránh khỏi Tiền sử lo lắng (OR=2,88; KTC 95%=1,26-6,59), phiền muộn (OR=2,54; KTC 95%= 1,56-4,15) được báo cáo là yếu tố ảnh hưởng tới rối loạn căng thẳng sau chấn thương sau
6 tháng theo dõi [71] Việc lo lắng, tức giận (p<0,001) trong nghiên cứu của Mayou (2002) cũng là một ví dụ cho mối liên quan giữa cảm xúc và rối loạn căng thẳng sau chấn thương được theo dõi trong 3 năm [58]
Theo Chossegros (2008), những người có tiền sử rối loạn tâm thần cũng có liên quan
tới việc họ mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương sau TNGT (đối với những người thường xuyên có lịch hẹn khám với bác sỹ tâm lý (p<0,01), hoặc phải uống thốc chống trầm cảm (p<0,001) [31] Ehring (2008) chỉ ra rằng tỷ lệ rối loạn căng thẳng sau chấn thương là 23,1% sau 3 tháng và 16,5% sau 1 năm [39] Những người có tiền sử mắc Rối loạn căng thẳng sau chấn thương trước vụ tai nạn có nguy cơ mắc lại trong một tháng sau vụ tai nạn cao gấp 8,02 lần so với người không mắc trước đó [75] Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi Yohannes và cộng sự cũng chỉ ra rằng những người mắc chứng trầm cảm có nguy cơ mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương sau tai nạn giao thông cao hơn những người không mắc chứng trầm cảm [81]
Nhiều nghiên cứu cho thấy việc những người có gặp vấn đề lo âu/ trầm cảm trước
đó có liên quan có ý nghĩa thống kê với việc họ có thể mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương sau TNGT Nghiên cứu của Blanchard (1996) cho thấy có mối liên quan đơn biến có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương
và việc gặp vấn đề/ rối loạn lo âu trước đó (CAPS score 0,242; p<0,001), nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan này giữa việc mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương và việc có rối loạn trầm cảm trước đó (CAPS score 0,242; p<0,05) [25] Blanchard
HUPH
Trang 25(2002) chỉ ra những người mắc trầm cảm trước khi xảy ra TNGT có liên quan tới việc họ mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương sau này (X2=6,68; p = 0,009) [26] các nghiên cứu của Frommberger [46], Usano (1999) [74], Ryb [71] cũng cho kết quả tương tự
Có mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương trước đó cũng là yếu tố liên quan tới
việc mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương sau TNGT như trong nghiên cứu của
Blanchard (1996) (CAPS score 0,242; p<0,001) [25] nghiên cứu của Delahanty (2003) [36], Usano (1999) [74] cũng cho kết quả tương tự
Một vài nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nhịp tim, nồng độ cortisol có thể ảnh hưởng tới rối loạn căng thẳng sau chấn thương Trong nghiên cứu của Thomas Ehring (2008)
về các phản ứng tâm sinh lý cấp tính với chấn thương phát hiện, nồng độ cortisol (6 tháng) cao có liên quan đến rối loạn căng thẳng sau chấn thương nặng hơn Mức độ nghiêm trọng của cơn đau (6 tháng) có mối liên quan với mức độ cortisol vào buổi tối (r = 0,69) và mức độ nghiêm trọng của triệu chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương (r = 0,37) [40] Tuy nhiên, nghiên cứu không tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa giữa mức độ nghiêm trọng của triệu chứng đối với nhịp tim và huyết áp tâm thu hay cortisol một ngày sau TNGT Huyết áp hay nhịp tim trong phòng cấp cứu cũng không có mối tương quan có ý nghĩa với nồng độ cortisol hoặc bất kỳ biến số nào của quá trình xử lý nhận thức và cảm xúc trong vụ tai nạn Trong khi đó, nghiên cứu của Blanchard (2002) lại có những phát hiện không đồng nhất với kết quả trên
Cụ thể, những người rối loạn căng thẳng sau chấn thương hiện tại (khoa cấp cứu) có nhịp tim và huyết áp tâm trương thấp hơn đáng kể (p<0,05) Hơn nữa, nhịp tim đo được là thấp hơn (p<0,01) ở nhóm đối tượng được chẩn đoán rối loạn căng thẳng sau chấn thương ngay sau va chạm xe cơ giới (83,9) so với nhóm không được chẩn đoán
là không mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương (90,8) tại thời điểm tương tự [27] Nhịp tim trên 10 nhịp/phút (OR=1,65; KTC 95%=1,14-2,39) có tác động tiêu cực đến rối loạn căng thẳng sau chấn thương được phát hiện trong nghiên cứu về bệnh tâm thần sau tai nạn xe ở Nhật Bản (2008) [56] Trong một nghiên cứu khác của Coronas (2011) cũng phát hiện, nhịp tim được đo khi vận chuyển xe cứu thương hay khi nhập viện có thể dự đoán rối loạn căng thẳng sau chấn thương sau 1 tháng (OR
= 1,156; KTC 95%=1,094-1,221) và chỉ có nhịp tim đo được khi vận chuyển xe cứu
HUPH
Trang 26thương có thể dự đoán rối loạn căng thẳng sau chấn thương sau 4 tháng (OR = 1,059; KTC 95%=1,013-1,108) [34]
Sự xuất hiện cấp tính của cơn đau được chứng minh có liên quan đáng kể đến chứng loạn thần kinh (chênh lệch 28%; KTC 95%=10-46; p<0,01) và không bị bất tỉnh (chênh lệch 23% 95% CI=10-36; p<0,05) sau tai nạn trong nghiên cứu của Mayou (1993) [61] Tuy nhiên, mất ý thức hay bất tỉnh trong tai nạn giao thông lại là yếu tố bảo vệ cho sự tiến triển của rối loạn căng thẳng sau chấn thương Cụ thể, theo thang điểm hôn mê Glasgow, GCS ban đầu<13 chứng tỏ nạn nhân bị hôn mê (OR=0,4; CI=0,14-0,98; p=0,04) có liên quan theo chiều hướng bảo vệ đến sự tiến triển rối loạn căng thẳng sau chấn thương sau 6 tháng theo dõi [71] và trong nghiên cứu của Mayou (2000) về các triệu chứng tâm thần sau chấn thương TNGT cũng có kết luận
tương tự (p<0,001) [57]
Nhận thức về mối đe dọa tính mạng trong quá trình gặp TNGT
Một số nghiên cứu chỉ ra rằng việc nạn nhân nhận thức được về sự đe dọa tính mạng trong TNGT có liên quan tới việc tiến triển thành rối loạn căng thẳng sau chấn thương
sau TNGT của họ Nghiên cứu của Ehlers (1998) [39], Blanchard (1996) [25], một
nghiên cứu thuần tập của Mayou và cộng sự (2001) trên 1148 đối tượng sau TNGT tại 2 thời điểm là sau 3 tháng và sau 1 năm cho thấy dù tại thời điểm nào thì việc nạn nhân của TNGT cảm thấy rất sợ hãi đều có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với việc họ bị rối loạn căng thẳng sau chấn thương (p<0,001) (34% ở thời điểm 3 tháng sau TNGT và 25% thời điểm 1 năm sau TNGT) [60] Delahanty (2003) chỉ ra rằng những người được chẩn đoán là rối loạn căng thẳng sau chấn thương sau TNGT thường có nỗi sợ hãi về những TNGT trước đây lớn hơn là những người không bị rối loạn căng thẳng sau chấn thương (p<0,01), những người sợ hãi về sự đe dọa tính mạng trong TNGT cũng có nguy cơ bị Rối loạn căng thẳng sau chấn thương cao hơn những người khác (p<0,05) [36], Frommberger (1988) kết quả của mô hình phân tích
đa biến cũng chỉ ra ý thức về mối đe dọa tính mạng trong TNGT có liên quan tới việc nạn nhân mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương 1 năm (p<0,05) và 3 năm sau TNGT (p<0,05) [46] Các nghiên cứu của Ehring (2008) [41], Ehring (2008) [39], Dougall (2001) [10], Matsuoka (2008) [16], Irish (2011) [53] cũng cho kết quả tương
tự
HUPH
Trang 27Một số nghiên cứu khác cũng chỉ ra những những người cảm thấy sợ hãi trong quá trình bị TNGT thường có nguy cơ tiến triển thành rối loạn căng thẳng sau chấn thương cao hơn những người khác như Ehring (2008) [41], Ehring (2008) [42] Nghiên cứu của Blanchard (1996) chỉ ra những người phải trải qua cảm giác nguy hiểm tính mạng có liên quan tới việc họ mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương sau này (CAPS score: 0,275; p<0,001) [25]
Tham gia vào vụ kiện/yêu cầu bồi thường sau TNGT
Nhiều nghiên cứu trên thế giới chỉ ra việc sau TNGT những người tham gia/liên quan đến việc kiện tụng/yêu cầu bồi thường sau tai nạn có nguy cơ cao mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương như nghiên cứu của Ehlers (1998) [39] Nghiên cứu của Blanchard (1996) cũng cho thấy mối liên quan giữa việc tham gia kiện tụng sau TNGT và rối loạn căng thẳng sau chấn thương (điểm CAPS: 0,370; p<0,001) [25] Các nghiên cứu của Mayou (2002) [59], Bryant (2003) [29], Ehring (2008) [39] cũng
có kết quả tương tự
1.7.3 Yếu tố gia đình và môi trường xã hội
Gia đình cũng là một trong những yếu tố nghiêm trọng liên quan tới sự hồi phục cũng như nguy cơ mắc chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương ở những nạn nhân tai nạn giao thông Một nghiên cứu ở Wenzhou, Trung quốc vào năm 2016 đã chỉ ra rằng những ca mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương ở trẻ em có liên quan tới môi trường trong gia đình và sự chăm sóc trẻ [79] Nghiên cứu phát hiện ra can thiệp sớm về mặt tâm lý cùng với sự chăm sóc phù hợp của gia đình có thể thúc đẩy sức khỏe về mặt thể chất và tinh thần Đồng thời, đây cũng có thể là một phương pháp điều trị rối loạn căng thẳng sau chấn thương hiệu quả Ngoài ra, nhận được sự hỗ trợ
từ gia đình cũng là yếu tố liên quan đến việc giảm thiểu yếu tố nguy cơ mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương [77]
Sự trợ giúp từ môi trường xã hội cũng đóng một vài trò không kém phần quan trọng trong việc điều trị rối loạn căng thẳng sau chấn thương ở những nạn nhân tai nạn giao thông Năm 2018, một nghiên cứu được thực hiện tại Ethiopia đã chỉ chỉ ra rằng một trong những yếu tố liên quan tới rối loạn căng thẳng sau chấn thương là sự thiếu thốn những hỗ trợ từ xã hội (OR= 2,1; KTC 95%: 1,34-3,46), đặc biệt trong giai đoạn 1-3 tháng sau tai nạn (OR = 1,72; KTC 95%: 1,07-2,76) [81] Các nghiên cứu của
HUPH
Trang 28Ehring [41], Dougall [10], Yasan [80], Clapp [33] cũng cho kết quả tương tự Sự hỗ trợ đến từ bạn bè cũng đóng vai trò liên quan đến việc giảm thiểu nguy cơ mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương [77]
1.8 Thông tin chung về bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình là cơ sở khám chữa bệnh đa khoa tuyến tỉnh, trực thuộc Sở Y tế Thái Bình Bệnh viện được xếp hạng bệnh viện hạng I năm 2007 với quy mô 1200 giường bệnh kế hoạch, thực kê 1554 giường bệnh Hiện tại Bệnh viện
Đa khoa tỉnh Thái Bình có 45 khoa phòng và 01 trung tâm cùng 1326 cán bộ công tác trực tiếp tại bệnh viện Năm 2018, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình đã tiếp nhận 272.968 lượt khám bệnh; 46.717 lượt điều trị ngoại trú và 67.988 lượt điều trị nội trú; thời gian điều trị trung bình 6,6 ngày giúp bệnh nhân giảm chi phí điều trị Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình cũng là đơn vị tiếp nhận cấp cứu và điều trị chấn thương nhiều nhất tại tỉnh Thái Bình Theo báo cáo thống kê tai nạn thương tích, số bệnh nhân tai nạn thương tích cấp cứu và điều trị tại bệnh viện các năm 2018, 2017,
2016 lần lượt là 10.399; 11.345 và 12.565 trong đó tai nạn giao thông là nguyên nhân
số một trong số các nguyên nhân gây tai nạn thương tích của bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện: chiếm tỷ lệ lần lượt: 32,0%, 22,8% và 28,1% trong tổng số các nguyên nhân tai nạn thương tích nhập viện trong 3 năm nói trên
Số bệnh nhân nhập viện do tai nạn giao thông tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình chủ yếu là nam giới gấp gần 6 lần so với nữ giới Năm 2018 có 2818 trường hợp nam giới nhập viện do tai nạn giao thông, trong khi nữ giới chỉ có 515 trường hợp Tương
tự ở các năm 2017 là 2146 nam giới – 438 nữ giới; năm 2016 là 2889 nam giới – 647
nữ giới Nhóm tuổi 20 – 60 tuổi là nhóm tuổi bị chấn thương tai nạn giao thông nhiều nhất tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình Chỉ tính riêng 2018 đã có 1998 bệnh nhân tai nạn giao thông nằm trong độ tuổi 20 – 60 tuổi Con số này lần lượt ở các năm 2017 và 2016 là 1551 và 2184 bệnh nhân Theo báo cáo của hai khoa tiếp nhận bệnh nhân tai nạn thương tích nhiều nhất bệnh viện thì số ngày nằm viện điều trị trung bình của bệnh nhân tai nạn giao thông tại khoa Chấn thương chỉnh hình và khoa Phẫu thuật thần kinh cột sống là 6,6 và 6,5 ngày Các bệnh nhân tai nạn thương tích điều trị tại bệnh viện chủ yếu bị tổn thương tại các chi: 2725 bệnh nhân; 1981
HUPH
Trang 29bệnh nhân tổn thương tại các vùng đầu, mặt, cổ; 930 bệnh nhân tổn thương vùng bụng; 313 bệnh nhân bị đa chấn thương, còn lại là các tổn thương khác
1.9 Khung lý thuyết
Nghiên cứu này áp dụng khung lý thuyết với 3 nhóm yếu tố chính tác động đến rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương Các nhóm yếu tố này được xây dựng từ tổng quan tài liệu và được mô tả như hình dưới đây
Vị trí chấn thương; Mức độ chấn thương;
Xử trí sau chấn thương Loại phương tiện sử dụng;
Mức độ hồi phục chấn thương;
Có bảo hiểm y tế;
Tham gia kiện cáo, bồi thường;
Rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương do tai nạn giao thông
Yếu tố gia đình xã hội
Tiền sử có người mắc các bệnh tâm thần;
Sự hỗ trợ quan tâm từ gia đình, bạn bè và xã hội
HUPH
Trang 30CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân TNGT đang điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình
Tiêu chuẩn lựa chọn
- Điều trị tại bệnh viện với nguyên nhân nhập viện được chẩn đoán là do Tai nạn giao thông (TNGT) (Mã ICD: V01-V09);
- Thời gian điều trị ít nhất 3 ngày và chưa xuất viện tại thời điểm phỏng vấn, tại thời điểm phỏng vấn bệnh nhân chưa điều trị tại viện quá 1 tháng
- Bệnh nhân không bị mất trí nhớ sau TNGT và/hoặc đủ sức khỏe cũng như tỉnh táo
để đọc và trả lời phỏng vấn;
- Độ tuổi từ 18 – 80 tuổi;
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 04/2019 đến tháng 12/2019 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu cắt ngang
- 𝑧1−∝ 22 ⁄ : Mức ý nghĩa thống kê mong muốn (với α=0,05 ta có giá trị z=1,96);
- p: (=0,148) Tỷ lệ người bị mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương sau khi gặp phải
chấn thương (Theo kết quả nghiên cứu Đỗ Thị Hạnh Trang và cộng sự năm 2018 về
tỷ lệ rối loạn căng thẳng sau chấn thương) [37]
- d: sai số tuyệt đối (=0,05)
Thay vào công thức tính được cỡ mẫu là 194 người Dự trù 10% bỏ cuộc và làm tròn
HUPH
Trang 31ta được cỡ mẫu là 215 người Trên thực tế, đã lựa chọn đủ 215 bệnh nhân theo tiêu chí chọn và hoàn thành phỏng vấn
2.5 Phương pháp chọn mẫu
Dựa vào danh sách bệnh nhân nhập viện do TNGT tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2019 theo từng ngày, danh sách các bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn được tổng hợp và tiến hành thu thập thông tin Nghiên cứu được thu thập số liệu từ tháng 4 đến tháng 7 và dừng lại khi đủ số lượng bệnh nhân là 215 người
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Công cụ thu thập số liệu
Nghiên cứu này thu thập thông tin sử dụng bộ công cụ tự điền (self-interview) về Rối loạn căng thẳng cấp tính theo thang điểm 5 (Acute Stress Disorder Scale – 5) Đây là bộ công giúp liệt kê các triệu chứng của căng thẳng ngay sau khi gặp phải chấn thương, từ đó giúp chẩn đoán Rối loạn căng thẳng cấp tính theo khuyến nghị trong Hướng dẫn Chẩn đoán và Thống kê các rối loạn tâm thần lần thứ 5 (DSM - 5)
do Hội Tâm thần học Hoa kỳ phát triển và khuyến nghị [20] Đây là bộ công cụ tự điền dành cho những người sống sót sau những vụ tai nạn trong khoảng thời gian từ
3 ngày cho đến 1 tháng sau khi sự kiện xảy ra Bộ công cụ được chuẩn hóa theo quy trình đơn giản: dịch xuôi/dịch ngược và xin ý kiến của chuyên gia
Ngoài ra, nghiên cứu này cũng đánh giá nhận thức về hỗ trợ xã hội của đối tượng nghiên cứu đối với: gia đình, bạn bè, và đối tượng khác sử dụng bộ công cụ MSPSS (Thang đo đa chiều về nhận thức với hỗ trợ xã hội – Multidimensional Scale of Perceived Social Support) Thang đo MSPSS đã được chuẩn hóa tại Việt Nam Mức độ chấn thương của đối tượng được đánh giá thông qua điểm đo lường mức độ trầm trọng của chấn thương (Injury Severity Score – ISS) Đây là thang đo mức độ trầm trọng được chuẩn hóa trong quy trình cấp cứu và điều trị tại viện
2.6.2 Quy trình thu thập số liệu
Số liệu được được tiến hành thu thập vào các giai đoạn sau:
- Giai đoạn 1 (giai đoạn thử nghiệm): 15 bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn
được phỏng vấn sử dụng bộ công cụ đánh giá Rối loạn căng thẳng cấp tính theo thang điểm 5 (Acute Stress Disorder Scale – 5) (chi tiết xin xem Phụ lục 2) Kết
HUPH
Trang 32quả của giai đoạn này nhằm điều chỉnh các nội dung, từ ngữ của bộ công cụ Kết quả phỏng vấn thử nghiệm được rà soát và giúp chỉnh sửa bộ công cụ hoàn chỉnh
- Giai đoạn 2: Thu thập số liệu chính thức
+ Bước 1: Bệnh nhân tai nạn giao thông sau khi sơ cứu tại Khoa Cấp cứu được phân
loại điều chuyển về các khoa điều trị chuyên sâu Dựa vào danh sách chuyển khoa điều trị cho bệnh nhân nhập viện do TNGT tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2019 theo từng ngày tại Khoa Cấp Cứu, nhóm nghiên cứu tiến hành theo dõi và xây dựng danh sách bệnh nhân thỏa mãn các tiêu chí lựa chọn tại các khoa Phẫu thuật thần kinh cột sống, Chấn thương chỉnh hình bằng phần mềm quản lý bệnh nhân của bệnh viện
+ Bước 2: Liên hệ với điều dưỡng trưởng các khoa có các bệnh nhân được lựa chọn
đang điều trị hẹn gặp sau ít nhất 3 ngày (và không quá 30 ngày) nằm điều trị tại khoa nhưng, giới thiệu về nghiên cứu đồng thời xin sự đồng ý tham gia phỏng vấn của đối tượng Trước khi phát phiếu tự điền, ĐTV xin phép đối tượng nghiên cứu để bệnh nhân lựa chọn địa điểm điền phiếu cho phù hợp với điều kiện sức khỏe của đối tượng nghiên cứu Nếu đối tượng từ chối, điều tra viên cảm ơn và chọn sang bệnh nhân tiếp theo trong danh sách
+ Bước 3: Sau khi đối tượng nghiên cứu hoàn thành phiếu tự điền, nhóm nghiên cứu
liên hệ bác sỹ điều trị bệnh nhân tiến hành đánh giá thang đo mức độ chấn thương AIS và ISS Các bác sỹ này được hướng dẫn cách sử dụng thang đo AIS và ISS trước
đó bởi nghiên cứu viên chính
+ Bước 4: Số lượng bệnh nhân thực hiện phiếu tự điền từng tuần được tổng hợp lại,
và việc thu thập số liệu được tiến hành theo từng tuần cho đến khi đủ cỡ mẫu như tính toán (mỗi tuần phỏng vấn mỗi khoa 9 bệnh nhân và phỏng vấn trong vòng 2 tháng)
2.7 Các biến số nghiên cứu
Biến số phụ thuộc chính: Tình trạng rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương
do TNGT Biến số này được đo lường dưới 2 dạng:
1 Dạng biến liên tục: điểm đo lường mức độ trầm trọng rối loạn căng thẳng sau chấn thương (từ 14 – 70 điểm, bằng tổng điểm của 14 câu hỏi đánh giá triệu chứng theo
HUPH
Trang 33thang điểm từ 1 đến 5)
2 Dạng biến nhị phân: biến số bao gồm hai phân loại: (1) Có nguy cơ rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương và (2) Không có nguy cơ bị rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương Một đối tượng được đánh giá là có nguy cơ rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương khi họ đạt điểm 3 ở ít nhất 9 câu hỏi trong tổng số 14 câu hỏi, tương đương với điểm cắt là 27 điểm theo khuyến nghị [82]
Biến số độc lập: bao gồm các nhóm biến số sau
1 Nhóm biến số về thông tin nhân khẩu – xã hội học
2 Nhóm biến số về thông tin chấn thương và tiền sử bệnh tật của đối tượng
3 Nhóm biến số về hỗ trợ gia đình, xã hội (theo thang điểm MSPSS – Multidimensional Scale of Perceived Social Support)
Chi tiết các nhóm biến số được trình bày trong Phụ lục 5 (trang 57)
2.8 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá
2.8.1 Tiêu chuẩn đánh giá rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương
Để đánh giá một cá nhân có nguy cơ rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương, Hướng dẫn Chẩn đoán và Thống kê các rối loạn tâm thần (DSM-5) [20] khuyến nghị khi họ gặp phải các triệu chứng sau, bao gồm:
Tiêu chí A (gặp phải ít nhất 1 triệu chứng): Đối tượng đã từng trải qua: suýt tử
vong, bị đe dọa tử vong, thương tích nghiêm trọng thực tế hoặc đe dọa bị thương tích, bạo lực tình dục thực tế hoặc đe dọa bị bạo lực tình dục, theo các cách sau:
- Tiếp xúc trực tiếp
- Chứng kiến chấn thương
- Biết rằng một người thân hoặc bạn thân đã bị tổn thương
- Tiếp xúc gián tiếp với các chi tiết gây khó chịu của chấn thương, thường là trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn (ví dụ: người trả lời đầu tiên, điều trị)
Tiêu chí B (gặp phải ít nhất 9 triệu chứng trong số 5 phân loại): các phân loại
bao gồm: cảm thấy bị xâm phạm, tâm trạng tiêu cực, triệu chứng phân ly, triệu chứng tránh gặp mặt tiếp xúc, triệu chứng bị kích thích Các triệu chứng gặp phải này có thể mới xuất hiện hoặc trở nên tệ hơn sau khi sự kiện chấn thương xảy ra
HUPH
Trang 34Các câu hỏi để đánh giá trong từng phân loại được trình bày trong bảng sau đây:
Bảng 0.1 Các câu hỏi đánh giá trong các phân loại triệu chứng của rối loạn
căng thẳng cấp tính
Phân loại
Bị xâm phạm 1 Những ký ức không mong muốn về (sự kiện) làm phiền bạn
chúng cứ lặp đi lặp lại, làm bạn thấy khó chịu
2 Những giấc mơ khó chịu lặp đi lặp lại về (sự kiện) đã gặp phải
3 Đột nhiên cảm thấy hoặc hành động cứ như thể (sự kiện) đã gặp phải đó thực sự lại xảy ra một lần nữa
4 Có phản ứng vật lý mạnh mẽ khi một cái gì đó nhắc nhở bạn về (sự kiện) (ví dụ: tim đập thình thịch, khó thở, đổ mồ hôi)
Tâm trạng
tiêu cực
5 Gặp khó khăn trong việc cảm nhận những cảm giác tích cực
Phân ly 6 Cảm thấy xa cách hoặc cách biệt với những người xung quanh
7 Gặp phải khó khăn trong việc nhớ lại những phần quan trọng của (sự kiện)
Tránh gặp
mặt tiếp xúc
8 Tránh nhớ lại, suy nghĩ, hoặc cảm xúc liên quan đến (sự kiện)
9 Tránh nhắc đến những vấn đề khác làm gợi nhớ tới (sự kiện)
Bị kích thích 10 Gặp khó khăn trong việc ngủ hoặc rơi vào các giấc ngủ triền
miên
11 Có hành vi cáu kỉnh, hay nóng giận bất thường, hoặc thái độ hung hăng
12 Trở nên cảnh giác, quá cảnh giác hoặc dè chừng
13 Gặp khó khăn trong việc tập trung
14 Cảm thấy giật mình hoặc dễ bị giật mình
Tiêu chí C: thời gian gặp phải những sự xáo trộn (các triệu chứng đề cập trong Tiêu
HUPH
Trang 35chí B) kéo dài trong khoảng từ 3 ngày đến 1 tháng sau khi sự kiện xảy ra
Tiêu chí D: sự xáo trộn gặp phải gây nên đau khổ hoặc suy yếu đáng kể về mặt lâm
sàng trong các lĩnh vực hoạt động xã hội, nghề nghiệp hoặc các lĩnh vực quan trọng khác
Tiêu chí E: sự xáo trộn không liên quan đến tác động sinh lý của một chất (ví dụ:
thuốc hoặc rượu) hoặc một tình trạng y tế khác (ví dụ: chấn thương sọ não nhẹ) và không được giải thích khác với những rối loạn tâm thần ngắn
2.8.2 Bộ công cụ MSPSS (Thang đo đa chiều về nhận thức với hỗ trợ xã hội
Multidimensional Scale of Perceived Social Support)
Thang đo đánh giá hỗ trợ về mặt gia đình, xã hội MSPSS (Multidimensional Scale
of Perceived Social Support) bao gồm 12 câu hỏi đánh giá hỗ trợ từ khía cạnh: gia đình (4 câu), bạn bè (4 câu), những người xung quanh khác (4 câu) đến một cá nhân
cụ thể Việc tính điểm của bộ công cụ này theo nguyên tắc:
- Đối với điểm hỗ trợ theo từng khía cạnh (gia đình, bạn bè, người xung quanh khác): tính tổng điểm 4 câu hỏi thuộc từng khía cạnh, sau đó chia trung bình để
có điểm đánh giá mức độ hỗ trợ của khía cạnh tương ứng
- Đối với tổng điểm hỗ trợ: được tính toán bằng việc cộng tổng điểm đánh giá theo từng khía cạnh, sau đó chia cho 12 để có điểm đánh giá mức độ hỗ trợ xã hội nói chung
- Về ngưỡng đánh giá: chia ra 3 mức như sau dựa trên điểm trung bình được tính toán:
o Từ 1 – 1,9 điểm: Hỗ trợ xã hội ở mức thấp
o Từ 2 – 3,9 điểm: Hỗ trợ xã hội ở mức trung bình
o Từ 4 – 5 điểm: Hỗ trợ xã hội ở mức cao
2.9 Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu được nhập bằng phần mềm EpiData 3.1 và được làm sạch trước khi phân tích Phần mềm Stata phiên bản 15 được sử dụng để phân tích số liệu
Thống kê mô tả sử dụng để mô tả thông tin chung của đối tượng nghiên cứu và thực trạng rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương do TNGT Số liệu được trình bày trong bảng bằng tần số, tỷ lệ (đối với biến phân loại) hoặc bằng trung bình, độ lệch
HUPH
Trang 36chuẩn (đối với biến định lượng phân bố chuẩn) hoặc bằng trung vị, giá trị lớn nhất – nhỏ nhất (đối với biến định lượng không có phân bố chuẩn)
Thống kê suy luận sử dụng để xác định và ước lượng tác động của các yếu tố liên quan lên rối loạn căng thẳng cấp tính sau chấn thương do TNGT ở các đối tượng trong nghiên cứu Kiểm định λ2 được sử dụng để xác định mối liên quan giữa biến phụ thuộc dạng nhị phân với các biến độc lập Kiểm định so sánh giá trị trung bình được sử dụng để xác định mối liên quan giữa biến phụ thuộc dạng nhị phân với các biến độc lập dạng liên tục Các kiểm định tiến hành ở mức ý nghĩa α = 0,05
2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Đối tượng tham gia nghiên cứu hoàn toàn tự nguyện, đối tượng nghiên cứu và/hoặc người bảo trợ hợp pháp của họ đã đọc, nghe và hiểu các thông tin trong Trang thông tin nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ về ý nghĩa và mục đích tiến hành nghiên cứu, họ có quyền không trả lời, từ chối tham gia hoặc ngừng tham gia tại bất cứ thời điểm nào trong nghiên cứu
Các thông tin thu thập trong nghiên cứu được mã hóa, mỗi bệnh nhân được gán một
mã số nghiên cứu, tên, địa chỉ cụ thể của bệnh nhân không được thu thập Nghiên cứu viên chính là người duy nhất tiếp xúc với số liệu đầy đủ của nghiên cứu
Nghiên cứu tuân thủ theo những quy định về đạo đức trong nghiên cứu Nghiên cứu được Hội đồng Đạo đức trường Đại học Y tế công cộng thông qua theo quyết định
số 148/2019/YTCC-HD3
2.11 Sai số và biện pháp khắc phục
Việc thu thập thông tin về một sự kiện gây đau buồn đã xảy ra có thể gây khó chịu/bất tiện cho người được phỏng vấn Các điều tra viên được tập huấn cụ thể về cách thức phỏng vấn cũng như cách thức trao đổi thông tin để cuộc phỏng vấn diễn ra trôi chảy,
tự nhiên mà vẫn đảm bảo chất lượng thông tin
Sai số phỏng vấn có thể xảy ra khi cách diễn đạt của điều tra viên dẫn đến việc hiểu cùng một câu hỏi khác nhau của các đối tượng nghiên cứu khác nhau Sai số này được khắc phục bằng cách tuyển chọn điều tra viên là bác sĩ chuyên môn hoặc người
có kinh nghiệm trong lĩnh vực tâm lý, cũng như triển khai tập huấn về bộ công cụ cho điều tra viên trước khi tiến hành điều tra chính thức
HUPH
Trang 37Sai số nhớ lại có thể xảy ra khi đối tượng nghiên cứu không nhớ/nhớ sai về một việc
đã xảy ra trong quá khứ Nghiên cứu này được tiến hành trong vòng 1 tuần sau TNGT nên khả năng sai số xảy ra là thấp
HUPH
Trang 38CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Tổng số có 215 bệnh nhân tham gia cung cấp thông tin cho nghiên cứu, thông tin nhân khẩu – xã hội học của các đối tượng được thể hiện trong bảng 3.1 sau đây:
Bảng 0.1 Thông tin chung của đối tượng tham gia nghiên cứu
Tình trạng hôn nhân hiện
Trang 39Nội trợ 1 0,7 3 4,8 4 1,9 Thất nghiệp/Nghỉ hưu 17 11,2 2 3,2 19 8,8
Trong tổng số 215 đối tượng nghiên cứu, chủ yếu các đối tượng học hết cấp 2 (40,5%), tiếp đó là các đối tượng học hết cấp 3 (27,0%) và trình độ cao hơn (chiếm khoảng 20%) Nghề nghiệp phổ biến của các đối tượng trong nghiên cứu này là công nhân (xấp xỉ 25%) hoặc nông dân (xấp xỉ 28%) Cùng với nghề nghiệp, thu nhập chủ yếu của các bệnh nhân tham gia cung cấp thông tin rơi vào khoảng từ 5 đến dưới 10 triệu (chiếm 40%), tiếp theo là những bệnh nhân có thu nhập dưới 3 triệu (30,2%) Một tỷ lệ nhỏ các đối tượng nghiên cứu có thu nhập từ 10 triệu trở lên (chiếm khoảng 7,0%) Nghiên cứu này ghi nhận tỷ lệ hiện có bảo hiểm y tế của các đối tượng là hơn 80% và tỷ lệ hiện sử dụng rượu bia của đối tượng rơi vào khoảng hơn 30%
HUPH
Trang 40Bảng 0.2 Thông tin về chấn thương do TNGT của đối tượng
Đặc điểm chấn thương nhập viện do TNGT
Xử trí sau khi nhập viện
HUPH