1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan về dự phòng dị tật bẩm sinh ở phụ nữ có con dưới 6 tháng tuổi tại thành phố điện biên phủ, tỉnh điện biên năm 2021

160 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan về dự phòng dị tật bẩm sinh ở phụ nữ có con dưới 6 tháng tuổi tại thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên năm 2021
Tác giả Lê Thị Mỹ Hạnh
Người hướng dẫn PGS.TS. Đinh Thị Phương Hòa, TS. Lê Thị Vui
Trường học Trường Đại Học Y Tế Công Cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2021
Thành phố Điện Biên
Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có cơ sở cho các can thiệp phòng DTBS sớm, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan về dự phòng dị tật bẩm sinh ở phụ nữ có con dưới 6 tháng tuổ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

LÊ THỊ MỸ HẠNH

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

VỀ DỰ PHÒNG DỊ TẬT BẨM SINH Ở PHỤ NỮ CÓ CON DƯỚI 6 THÁNG TUỔI TẠI THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

NĂM 2021

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701

HÀ NỘI, 2021 HUPH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

LÊ THỊ MỸ HẠNH

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

VỀ DỰ PHÒNG DỊ TẬT BẨM SINH Ở PHỤ NỮ CÓ CON DƯỚI 6 THÁNG TUỔI TẠI THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

NĂM 2021

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 PGS.TS Đinh Thị Phương Hòa

2 TS Lê Thị Vui

HÀ NỘI, 2021 HUPH

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU .4

Một số khái niệm chính 4

Các nguyên nhân gây ra dị tật bẩm sinh ở người 4

1.2.1 Nguyên nhân do yếu tố di truyền 5

1.2.2 Nguyên nhân do yếu tố môi trường 5

1.2.3 Nguyên nhân do di truyền đa yếu tố 9

Thực trạng dị tật bẩm sinh 9

1.3.1 Thực trạng dị tật bẩm sinh trên thế giới 9

1.3.2 Thực trạng dị tật bẩm sinh tại Việt Nam 10

Dự phòng dị tật bẩm sinh 11

1.4.1 Phòng ngừa sơ cấp 11

1.4.2 Phòng ngừa thứ cấp 14

1.4.3 Phòng ngừa cấp ba 14

Một số nghiên cứu về kiến thức và thực hành về dự phòng Dị tật bẩm sinh 15

1.5.1 Kiến thức và thực hành dự phòng Dị tật bẩm sinh trên Thế giới 15

1.5.2 Kiến thức và thực hành dự phòng Dị tật bẩm sinh tại Việt Nam 17

Các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành của ĐTNC về dự phòng Dị tật bẩm sinh 18

1.6.1 Yếu tố cá nhân và gia đình 18

HUPH

Trang 4

1.6.2 Yếu tố cung cấp và tiếp cận dịch vụ y tế 20

1.6.3 Yếu tố truyền thông và chính sách pháp luật 21

Một số đặc điểm về địa bàn nghiên cứu 21

Khung lý thuyết 22

CHƯƠNG 2.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .24

Đối tượng nghiên cứu 24

Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24

Thiết kế nghiên cứu 24

Cỡ mẫu 24

Phương pháp chọn mẫu 25

Phương pháp thu thập số liệu 26

2.6.1 Công cụ thu thập số liệu 26

2.6.2 Phương pháp tổ chức thu thập số liệu 26

Các biến số nghiên cứu 27

Tiêu chuẩn đánh giá 28

Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 29

Đạo đức trong nghiên cứu 29

CHƯƠNG 3.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .31

Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 31

Kiến thức về dị tật bẩm sinh của Đối tượng nghiên cứu 34

HUPH

Trang 5

3.2.2 Kiến thức về những yếu tố nguy cơ gây sinh con bị dị tật bẩm sinh 36

3.2.3 Kiến thức về dự phòng dị tật bẩm sinh 39

3.2.4 Kiến thức về sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh 41

3.2.5 Tổng kiến thức chung về dị tật bẩm sin h 46 3.2.6 Nguồn thông tin 46

Thực hành về dự phòng dị tật bẩm sinh của đối tượng nghiên cứu 47

3.3.1 Thực hành dự phòng dị tật bẩm sinh trước khi mang thai 47

3.3.2 Thực hành dự phòng dị tật bẩm sinh trong khi mang thai 49

3.3.3 Thực hành sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh 51

3.3.4 Tổng thực hành chung về dự phòng dị tật bẩm sinh 53

Một số yếu tố liên quan đến dự phòng dị tật bẩm sinh của ĐTNC 54

3.4.1 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức dự phòng DTBS 54

3.4.2 Một số yếu tố liên quan đến thực hành dự phòng DTBS 57

Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 62

Kiến thức dự phòng dị tật bẩm sinh của đối tượng nghiên cứu 63

Thực hành về dự phòng dị tật bẩm sinh của đối tượng nghiên cứu 71

Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành dự phòng dị tật bẩm sinh 73

Hạn chế nghiên cứu 74

HUPH

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

SLTS Sàng lọc trước sinh

HUPH

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1.Thông tin về Đối tượng nghiên cứu (N = 216) 31

Bảng 3.2 Tiền sử sinh đẻ của Đối tượng nghiên cứu (N = 216) 32

Bảng 3.3 Tiền sử dị tật bẩm sinh của Đối tượng nghiên cứu và người thân (N = 216)

33

Bảng 3.4 Kiến thức cơ bản về dị tật bẩm sinh của Đối tượng nghiên cứu (N = 216) 34

Bảng 3.5 Kiến thức về yếu tố nguy cơ gây sinh con bị dị tật bẩm sinh của Đối tượng nghiên cứu (N = 216) 36

Bảng 3.6 Kiến thức về dự phòng Dị tật bẩm sinh của Đối tượng nghiên cứu (N = 216) 39

Bảng 3.7 Kiến thức về sàng lọc trước sinh của ĐTNC (N = 216) 41

Bảng 3.8 Kiến thức về sàng lọc sơ sinh của Đối tượng nghiên cứu (N = 216) 43

Bảng 3.9 Nguồn thông tin cung cấp kiến thức về DTBS cho ĐTNC (N = 216) 46

Bảng 3.10 Các biện pháp dự phòng DTBS trước khi kết hôn của ĐTNC (N = 216) 47

Bảng 3.11 Các biện pháp dự phòng DTBS trước khi mang thai của ĐTNC (N = 216) 47

Bảng 3.12 Các biện pháp dự phòng DTBS trong khi mang thai của ĐTNC 49

Bảng 3.13 Hình thức và thời điểm sàng lọc sơ sinh của ĐTNC 51

Bảng 3.14 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học và Kiến thức về dự phòng DTBS của ĐTNC 54

Bảng 3.15 Mối liên quan giữa tiền sử sinh sản và bệnh tật với kiến thức về dự phòng DTBS của ĐTNC 56

Bảng 3.16 Yếu tố tác động tới thực hiện SLTS và SLSS của ĐTNC 57

Bảng 3.17 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học và thực hành về dự phòng DTBS của ĐTNC 58

Bảng 3.18 Mối liên quan giữa tiền sử sinh sản và bệnh tật với thực hành về dự phòng DTBS của ĐTNC 60

HUPH

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ ĐTNC có kiến thức cơ bản tốt về DTBS (N = 216) 36

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ ĐTNC có kiến thức tốt về những YTNC gây DTBS (N = 216) 38

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ ĐTNC có kiến thức tốt về dự phòng DTBS (N = 216) 41

Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ ĐTNC có kiến thức tốt về SLTS và SLSS (N = 216) 45

Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ ĐTNC biết về sàng lọc trước sinh và sơ sinh của ĐTNC (N = 216) 45

Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ ĐTNC có kiến thức chung về DTBS tốt (N = 216) 46

Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ ĐTNC có thực hành dự phòng DTBS trước khi mang thai đạt (N = 216) 48

Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ ĐTNC có thực hành dự phòng DTBS trong khi mang thai đạt (N = 216) 50

Biểu đồ 3.9 Tỷ lệ khám thai định kỳ của ĐTNC (N = 216) 50

Biểu đồ 3.10 Tỷ lệ khám thai từ 3 lần trở lên của ĐTNC (N = 216) 50

Biểu đồ 3.11 Tỷ lệ ĐTNC có thực hành SLTS và SLSS đạt (N = 216) 52

Biểu đồ 3.12 Tỷ lệ thực hiện sàng lọc trước sinh của ĐTNC 52

Biểu đồ 3.13 Tỷ lệ thực hiện sàng lọc sơ sinh của ĐTNC 52

Biểu đồ 3.14 Tỷ lệ ĐTNC có thực hành chung về DTBS đạt (N = 216) 53

HUPH

Trang 9

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Dị tật bẩm sinh là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tử vong ở trẻ sơ sinh và tàn tật suốt đời, mang lại nhiều bệnh tật và gánh nặng kinh tế cho gia đình và xã hội Khoảng 50% DTBS là không rõ nguyên nhân nhưng phần còn lại có thể phòng tránh được hoặc can thiệp sớm Để có cơ sở cho các can thiệp phòng DTBS sớm, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan về dự phòng dị tật bẩm sinh ở phụ nữ có con dưới 6 tháng tuổi tại thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên năm 2021” với 2 mục tiêu: 1 Mô tả kiến thức và thực hành về dự phòng dị tật bẩm sinh trẻ em ĐTNC; 2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành phòng chống dị tật bẩm sinh trẻ em của ĐTNC

Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, phỏng vấn trực tiếp 216 phụ

nữ có con dưới 6 tháng tuổi tại 3 xã/phường thuộc thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên Số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 22.0

Kết quả nghiên cứu: tỷ lệ phụ nữ có kiến thức tốt về dự phòng DTBS là 68,1% và thực hành đạt về dự phòng DTBS là 65,7% Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa Dân tộc, Trình độ học vấn và Nghề nghiệp với kiến thức về dự phòng dị tật bẩm sinh của ĐTNC (p<0,05) Nhóm phụ nữ dân tộc Kinh có kiến thức tốt về dự phòng DTBS cao gấp 2,1 lần so với nhóm phụ nữ dân tộc thiểu số; phụ nữ có trình độ THPT trở lên

có kiến thức tốt về dự phòng DTBS cao gấp 4 lần so với nhóm phụ nữ có trình độ dưới THPT Những phụ nữ làm nghề nghiệp tự do, nương rẫy có kiến thức tốt thấp hơn nhiều

so với nhóm phụ nữ là cán bộ nhà nước (OR = 0,13; 95% KTC = 0,1 – 0,3) Về thực hành, nhóm phụ nữ làm kinh doanh và nhóm phụ nữ làm nương rẫy, lao động tư do có thực hành đạt về dự phòng DTBS thấp hơn so với nhóm phụ nữ là cán bộ nhà nước (OR lần lượt là 0,4 và 0,2; p<0,05)

Khuyến nghị: Sở Y tế cần đẩy mạnh các hoạt động truyền thông về dự phòng DTBS Nội dung và hình thức truyền thông cần phù hợp với người dân tộc thiếu số Trạm

HUPH

Trang 10

Y tế và cộng tác viên cần vận động phụ nữ mang thai khám thai đúng lịch, tiêm phòng đầy đủ Nhân viên khám thai cần tư vấn về DTBS

HUPH

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Với sự phát triển của xã hội hiện đại, sức khỏe của trẻ em ngày càng được quan tâm Không chỉ dừng lại ở việc phòng chống các bệnh truyền nhiễm, các vấn đề liên quan đến còi xương – suy dinh dưỡng hoặc thừa cân béo phì, việc tầm soát, phát hiện

và điều trị các dị tật bẩm sinh (DTBS) ở trẻ em cũng là vấn đề cần được chú trọng hơn bao giờ hết Các dị tật bẩm sinh này xảy ra từ giai đoạn bào thai và đa số có thể phát hiện từ rất sớm trước khi sinh hoặc ngay ở thời kì sơ sinh Một số dị tật lại chỉ

có thể được phát hiện khi trẻ đến tuổi thiếu niên

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước tính rằng hàng năm trên toàn cầu có tới 295.000 trẻ sơ sinh tử vong trong vòng 4 tuần ngay sau sinh do các DTBS và khoảng 6% trẻ được sinh ra mắc một DTBS bao gồm cả trẻ sống và chết lúc sinh (1) Các loại DTBS tùy theo mức độ nặng nhẹ sẽ ảnh hưởng đến khả năng sống, sinh hoạt bình thường, khả năng hòa nhập với cộng đồng của trẻ Gia đình có trẻ mắc DTBS thường phải chịu áp lực rất lớn trong chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ (1) Tại Việt Nam, ước tính mỗi năm có 2-3% trong tổng số 1,5 triệu trẻ sơ sinh mắc một loại DTBS Đáng lưu ý

là một nửa trong số các DTBS này có thể phòng tránh thông qua các can thiệp sớm

từ ngay trong những tháng đầu thai kỳ cho tới khi vừa sinh ra (2) Tuy vậy, chưa tới 1/3 thai nhi và trẻ sơ sinh có nguy cơ được sàng lọc DTBS, cụ thể là sàng lọc trước sinh (SLTS) và sàng lọc sơ sinh (SLSS) (2)

Tỉnh Điện Biên là một tỉnh miền núi nghèo nằm phía Tây Bắc, người dân sinh sống chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số như Thái, Mông, Tày,… Điều kiện kinh tế

và trình độ văn hóa nơi đây còn thấp do đó, công tác tuyên truyền phòng chống DTBS còn là một thách thức lớn Mặc dù, Sở Y tế tỉnh Điện Biên đã tiến hành các hoạt động tuyên truyền phòng chống DTBS tuy nhiên còn những hạn chế nhất định Việc cung cấp dịch vụ quản lý thai nghén và triển khai các hoạt động truyền thông về phòng tránh DTBS còn nhiều khó khăn do đặc thù địa hình hiểm trở, mật độ dân cư thưa thớt và tỷ lệ người dân tộc thiểu số lớn (người dân tộc Thái chiếm 39% và dân tộc Mông chiếm 30%) (3) Công tác cung cấp dịch vụ sàng lọc trước sinh và ngay sau

HUPH

Trang 12

huyện trở lên Bởi những lý do đó, kiến thức và thực hành của người dân về phòng tránh dị tật bẩm sinh nhìn chung còn thấp, đặc biệt ở đối tượng phụ nữ Bên cạnh đó, tại địa bàn thành phố Điện Biên Phủ chưa có nghiên cứu nào đánh giá kiến thức và thực hành phòng chống DTBS Nhận thấy đây là một vấn đề mang tính cấp thiết, ảnh hưởng lớn tới mục tiêu nâng cao chất lượng dân số tại tỉnh Điện Biên, chúng tôi triển

khai thực hiện đề tài: “Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan về dự phòng

Dị tật bẩm sinh ở phụ nữ có con dưới 6 tháng tuổi tại thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên năm 2021” nhằm cung cấp bằng chứng về thực trạng và yếu tố liên quan

tới kiến thức và thực hành về dự phòng DTBS trên phụ nữ có con dưới 6 tháng tuổi Những bằng chứng này hy vọng sẽ góp phần nâng cao công tác chăm sóc trước, trong

và sau sinh cho phụ nữ, làm giảm thiểu tỉ lệ DTBS ở trẻ sơ sinh

HUPH

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả kiến thức và thực hành về dự phòng dị tật bẩm sinh trẻ em của phụ nữ có con dưới 6 tháng tuổi tại thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên năm 2021

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành phòng chống dị tật bẩm sinh trẻ em của phụ nữ có con dưới 6 tháng tuổi tại thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên năm 2021

HUPH

Trang 14

Các khái niệm khác liên quan:

 Sàng lọc là “việc sử dụng các biện pháp thăm dò đơn giản, dễ áp dụng, có độ chính xác tương đối cao để phát hiện các cá thể trong một cộng đồng nhất định có nguy cơ cao hoặc có thể mắc một bệnh lý nào đó” (4)

 Sàng lọc trước sinh (SLTS) là sử dụng biện pháp sàng lọc để tìm hoặc phát hiện nguy cơ gây DTBS ở thai nhi (4)

 Sàng lọc sau sinh (SLSS) là sử dụng biện pháp sàng lọc để tìm hoặc phát hiện DTBS ngay sau khi sinh ở trẻ sơ sinh từ 24 đến 72 giờ sau sinh (4)

 Chẩn đoán trước sinh là “việc sử dụng các biện pháp thăm dò đặc hiệu được tiến hành trong thời gian mang thai để chẩn đoán xác định những trường hợp nghi ngờ mắc bệnh thông qua việc sàng lọc” (4)

 Bất thường nhiễm sắc thể là “sự bất thường về số lượng hoặc cấu trúc của một hoặc nhiều nhiễm sắc thể” (4)

Các nguyên nhân gây ra dị tật bẩm sinh ở người

Nhiều nghiên cứu y khoa đã chỉ ra rằng có 3 nhóm nguyên nhân chính gây ra DTBS là (1) yếu tố di truyền; (2) yếu tố môi trường và (3) di truyền đa yếu tố (5) Ngoài ra, khoảng 1/2 các DTBS hiện vẫn chưa rõ nguyên nhân

HUPH

Trang 15

1.2.1 Nguyên nhân do yếu tố di truyền

Mặc dù đã có rất nhiều thành công trong việc xác định các yếu tố môi trường liên quan đến DTBS của thai nhỉ, chẳng hạn như tiếp xúc với chất độc hay vấn đề dinh dưỡng nhưng rõ ràng các rối loạn do yếu tố di truyền bắt nguồn từ trước khi thụ thai cũng là một trong những căn nguyên quan trọng (chiếm 65 – 70%) dẫn đến DTBS (7-9)

DTBS do di truyền gồm 2 loại: (1) Đột biến nhiễm sắc thể (10) và (2) Đột biến gen (5, 7)

a Do đột biến nhiễm sắc thể

Đột biến NST là bất thường trong cấu trúc NST hoặc biến đổi về số lượng do khi NST phân chia nhưng không tách rời và như vậy một giao tử sẽ có một NST thừa trong khi giao tử khác lại thiếu NST, điều này dẫn đến dị dạng về hình thể và mặc bệnh với số lượng NST nhiều hoặc ít hơn bình thường Một số trường hợp số lượng

bộ NST tăng lên quá mức được gọi là đa bội (11) Trong nhóm này, phổ biến là bất thường ở NST số 21 (Trisomy 21) gây ra hội chứng Down, NST số 13 gây ra bệnh Patau (Trisomy 13), Edward (Trisomy 18), hội chứng Turner, …

b Do đột biến đơn gen

Nguyên nhân do đột biến đơn là các biến đổi của thông tin di truyền, chúng tác động đến các phân tử AND ở giai đoạn nhân đôi, thường xảy ra ở tế bào sinh dục (như tế bào trứng hoặc tinh trùng) sẽ di truyền sang thế hệ sau (11) Đột biến đơn gen chiếm 7,5% nguyên nhân gây DTBS ở các nước công nghiệp (12) Hơn 6000 khiếm khuyết đơn gen được tìm ra (13) Một số DTBS thường gặp như: bệnh máu khó đông Hemophile (đột biến gen yếu tố VIII – hemophile A, yếu tố IX – hemophile B), hội chứng X dễ gãy làm giảm trí tuệ, bệnh bạch tạng, não úng thủy, …

1.2.2 Nguyên nhân do yếu tố môi trường

Nguyên nhân do yếu tố môi trường chiếm 5 – 10% các ca DTBS ở thai nhi, những yếu tố này có thể tác động vào bất cứ giai đoạn phát triển nào của phôi thai

HUPH

Trang 16

(14), bao gồm: tuổi tác, chế độ dinh dưỡng của người mẹ, bệnh truyền nhiễm, sử dụng chất kích thích, sống trong môi trường ô nhiễm,…(8, 9)

1.2.2.1 Yếu tố thuộc về bà mẹ

a Tuổi mẹ:

Tuổi mẹ cao trên 35 tuổi làm tăng nguy cơ sinh con mắc DTBS, phổ biến nhất

là bất thường về NST số 13 gây ra bệnh Down (6, 9) Ngược lại, sinh con ở tuổi vị thành niên cũng làm tăng nguy cơ trẻ mắc DTBS do cơ thể người mẹ chưa phát triển đầy đủ để đảm bảo dinh dưỡng cho bào thai (15)

b Chế độ dinh dưỡng của mẹ:

Khi mang thai, nhu cầu dinh dưỡng và năng lượng của phụ nữ đều cao hơn người bình thường để phát triển một số cơ quan của cơ thể nhằm thích ứng với quá trình mang thai và nuôi dưỡng thai nhi (16) Chế độ ăn thiếu dinh dưỡng trong thời

kỳ mang thai có thể ảnh hưởng đến tần suất sinh con mắc DTBS (9)

Axit folic (vitamin B9) đã được chứng minh làm giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh dị tật ống thần kinh (17, 18) Các nghiên cứu cũng chỉ ra khoảng 95% trẻ bị tật ống thần kinh là do thiếu hụt axit folic mà không liên quan đến tiền sử gia đình (19) Chế độ ăn thiếu I ốt là nguyên nhân chính gây ra chận phát triên trí tuệ, tổn thương não và khuyết tật trí tuệ, thính giác và gây sẩy thai tự nhiên,… (20) Ngoài ra, chế độ ăn thiếu các chất như photpho, magie và các yếu tố vi lượng khác có thể dẫn đến biến dạng bộ xương, gây ra còi xương bẩm sinh (6)

c Sử dụng vitamin A liều cao

Theo WHO, bổ sung vitamin A liều cao ở dạng vi chất có thể ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của thai nhi (1, 21) Một báo cáo của Rothman và công sự đã chỉ ra rằng cứ 7 đứa trẻ được sinh ra từ những phụ nữ đã dùng hơn 10.000 IU vitamin

A mỗi ngày dưới dạng vi chất bổ sung thì có 1 đứa trẻ bị dị tật (22) Một nghiên cứu đối chứng về bổ sung vitamin A cho người mẹ của Martha M Werler và cộng sự

HUPH

Trang 17

cũng đưa ra kết luận rằng những người phụ nữ bổ sung vitamin A hàng ngày trong giai đoạn đầu thai kỳ có nguy sinh con mắc DTBS cao khoảng 2 lần (23)

d Nhiễm trùng thai kỳ

Có nhiều nhiễm trùng thai kỳ rất nguy hiểm cho thai nhi và gây ra DTBS như

mắc giang mai bẩm sinh hay rubella (1, 24) Rubella đặc biệt rất nguy hiểm cho PNMT vì có thể gây chết thai, sinh non, gây các khuyết tật bẩm sinh nghiêm trọng cho thai nhi (25) Trẻ sinh ra từ PNMT nhiễm Herpes-Zoster virus (thủy đậu) có thể viêm phổi nặng với tỷ lệ tử vong lên đến 20%, đồng thời có nguy cơ mắc các DTBS (hội chứng thủy đậu bẩm sinh) như teo các chi, bất thường về phát triển hệ thần kinh, tổn thương mắt, da gây tàn phế suốt đời (26) PNMT nhiễm virus Zika cũng làm tăng nguy cơ sảy thai và trẻ sinh ra mắc bệnh đầu nhỏ bẩm sinh với khả năng tử vong cao Ngoài ra, phụ nữ mắc các bệnh trong khi mang thai như giang mai, Chlamydia trachomatis, Toxoplasma, liên cầu nhóm B, v.v… đều làm tăng các nguy cơ gây ra

các biến chứng thai nghén cũng như DTBS cho trẻ sinh ra

e Mắc các bệnh mạn tính và sử dụng thuốc khi mang thai

Thừa cân hoặc béo phì trước khi mang thai có nhiều nguy cơ tiền sản giật, tăng kích thước thai, trẻ sinh ra bị khuyết tật về sương, bàn chân khoèo,… (16) Một nghiên cứu của Cai và cộng sự đã thực hiện một đánh giá và tổng hợp kết quả của 14 nghiên cứu bệnh chứng và thuần tập cho thấy rằng phụ nữ mắc bệnh béo phì có nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của thai nhi như khuyết tật ống thần kinh, hở hàm ếch, suy hậu môn trực tràng, não úng thủy Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê giữa mức độ béo phì của mẹ với các chứng bệnh ở trẻ sơ sinh như khuyết tật cụm tim trái, hẹp van phối, tứ chứng Fallot (27)

Mẹ mắc tiểu đường thai kỳ tuýp 1 và 2, trẻ sơ sinh có nguy cơ di tật bộ phận sinh dục, dị tật tim (dị tật vách ngăn tâm nhĩ, thông liên thất, (27)

Sử dụng một số thuốc như thuốc gây ức chế angiotensin, thuốc giảm cholesterol trong máu (statins), thuốc chống động kinh, co giật, an thần (thalidomide)… cũng làm tăng nguy cơ sinh con mắc DTBS về tim, hệ thần kinh, thận… (27, 28)

HUPH

Trang 18

f Sử dụng chất kích thích

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng rượu (ethanol) có ảnh hưởng tiêu cực đến thai nhi như làm hạn chế tăng trưởng, suy giảm trí tuệ, dị tật các bộ phận như nứt vòm họng, đầu nhỏ, lòng bàn chân nhẵn, môi trên mỏng Khi PNMT sử dụng rượu trong thai kỳ, ethanol ngấm vào máu và tăng cao trong nước ối, nó tồn tại ở đó vài giờ kể

cả khi không phát hiện được ethanol trong máu mẹ nữa, điều này chứng tỏ rằng thai nhi phải tiếp xúc với rượu trong một thời gian dài, điều này gây nên chứng nghiện rượu ở thai nhi (Fetal alcoholic effects) (9, 24) Hội chứng này bao gồm chậm tăng trưởng, dị tật tim, rối loạn về thể chất, tâm thần và hành vi Đây không phải là DTBS đơn thuần, nó là một nhóm hoặc một mô hình rối loạn có liên quan Mức độ năng phụ thuộc vào tuổi thai khi tiếp xúc với ethanol và độ nhạy cá nhân và liệu lượng ethanol tiếp xúc

Người mẹ hút thuốc lá (chủ động hoặc thụ động) là một trong những nguyên nhân quan trọng, nicotine trong khói thuốc là chất độc gây ra sinh non, nhẹ cân, chậm phát triển trí tuệ và DTBS ở thai nhi như sứt môi, hở hàm ếch, dị tật tim, khuyết tật các chi,…(27) Không chỉ vậy, methamphetamine trong khói thuốc lá còn làm tăng nguy cơ mắc chứng đột tử ở trẻ sơ sinh (Sudden infant death syndrome) (29)

Ngoài rượu và thuốc lá, sử dụng các chất gây nghiện như ma túy làm tăng nguy

cơ sẩy thai, thai chết lưu, sinh non, DTBS, chậm phát triển thể chất và trí tuệ ở trẻ sơ sinh (30, 31)

1.2.2.2 Tác nhân vật lý - hóa học

Môi trường làm việc độc hại của người mẹ là nguyên nhân gây ra DTBS ở trẻ

sơ sinh (32) Cha mẹ thường xuyên tiếp xúc với thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật hay sống gần hoặc trong các bãi thải, lò luyện kim loại nặng, hầm mỏ,… cũng là một trong những nguy cơ sinh con mắc DTBS (1) Riêng dioxin có thể gây nên DTBS cao gấp khoảng 2 lần những tác nhân khác

HUPH

Trang 19

Tác nhân vật lý như các chất phóng xạ có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình hình thành phôi thai (embryogenesis), tia rơn ghen, tia gamma, tia tử ngoại cũng có thể gây nên sự rối loạn phát triển hình thái các cơ quan của thai nhi (5)

1.2.2.3 Một số yếu tố dịch tễ khác

Một số bệnh thường gặp do đột biến đơn gene như hồng cầu hình lưỡi liềm bắt nguồn từ những người di cư ở Châu Phi lây lan sang Châu Mỹ, Nam Phi,… dưới hình thức buôn bán nô lệ (24)

Hoàn cảnh kinh tế xã hội cũng ảnh hưởng một phần đối với việc gia tăng tỷ lệ DTBS ở trẻ sơ sinh Các bà mẹ sống trong tình trạng đói nghèo và môi trường độc hại dễ bị suy dinh dưỡng bào thai, ảnh hưởng đến sức khỏe của mẹ và thai nhi (24) Hôn nhân cận huyết: Cha mẹ có quan hệ huyết thống bậc một có nguy cơ 4 – 6% mắc các bệnh di truyền Các bệnh này được xác định là do bệnh di truyền trên gene bệnh có tính trạng lặn, nghĩa là một người phải đồng thời có cả 2 gene này thì bệnh mới xuất hiện ở kiểu hình Nếu cả bố và mẹ đều là người mang gene lặn bất thường cùng di truyền một loại bệnh thì những đứa con sinh ra sẽ có 25% khả năng mắc bệnh (33, 34) Tình trạng hôn nhân cận huyết phổ biến ở trong cộng đồng người dân tộc thiểu số Các cuộc hôn nhân này làm tăng tỷ lệ bẩm sinh, tan máu bẩm sinh thalassemia, mù màu, thiếu men G6PD, bạch tạng, da vảy cá,…(35)

1.2.3 Nguyên nhân do di truyền đa yếu tố

DTBS do di truyền đa yếu tố xảy ra do sự tương tác phức tạp giữa yếu tố di truyền với các yếu tố môi trường, đến nay vẫn chưa có các nghiên cứu phân tích cụ thể cơ chế của nó Một số dị tật như sứt môi, hở hàm ếch, tim bẩm sinh, khuyết tật ống thần kinh… là các DTBS do di truyền đa yếu tố gây ra (36)

Thực trạng dị tật bẩm sinh

1.3.1 Thực trạng dị tật bẩm sinh trên thế giới

Dị tật bẩm sinh là một vấn đề toàn cầu với ảnh hưởng nghiêm trọng đặc biệt ở những quốc gia có thu nhập trung bình và thấp Ước tính hàng năm có 8 triệu trẻ sơ

HUPH

Trang 20

sinh hay 6% tổng số trẻ sinh ra trên toàn thế giới mắc một DTBS nghiêm trọng do hoặc một phần do di truyền (9, 37) Do hạn chế trong công tác thống kê và tìm hiểu nguyên nhân, tỷ lệ DTBS có thể rất khác biệt trong báo cáo giữa các quốc gia Theo CDC Hoa Kỳ, tỷ lệ DTBS ở Mỹ là 3% còn ở Ấn Độ là 2,5% và ở Trung Quốc là 1,3% (38)

Có tới 94% trẻ mắc dị tật ở thể nặng trong tổng số trẻ sơ sinh bị DTBS và 95%

số chúng chết vì DTBS (9) Báo cáo Thế giới về phòng chống thương tích ở trẻ em năm 2008 cũng cho thấy gần 1/5 trẻ ở các nước có thu nhập cao và khoảng 3% trẻ ở các nước có thu nhập thấp và trung bình tử vong do DTBS (39) Hàng năm, WHO ước tính hơn 300.000 trẻ sơ sinh tử vong (tử vong trong vòng 4 tuần sau sinh) do DTBS và một số lượng tương tự trẻ sinh ra sống cả đời với một loại DTBS (1, 40) Theo số liệu thống kê từ 16 nước trên hơn 4,2 triệu ca sinh cho thấy tỷ lệ mắc DTBS

là 1,73% (4)

1.3.2 Thực trạng dị tật bẩm sinh tại Việt Nam

Theo Bộ Y tế năm 2018, mỗi năm 1,5% - 2% trẻ sinh ra mắc một DTBS tại Việt Nam, tức là mỗi năm chúng ta có khoảng 40.000 trẻ sinh ra mắc DTBS, trong số này, 1.700 trẻ tử vong (41) Năm 2006, nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng tại bệnh viện Bạch Mai với số liệu thu thập trong 6 năm (1999-2005) chỉ ra tỷ lệ thai vô sọ là 10,4%, thoát vị não 2,0% và thoát vị cột sống là 0,7% (6)

Tại phòng sơ sinh Khoa Phụ sản bệnh viên Phụ sản Trung Ương Huế, một nghiên cứu mô tả cắt ngang được Trần Thị Hoàn và cộng sự tiến hành trên 201 đối tượng trẻ sơ sinh mắc 1 hoặc nhiều tật bẩm sinh từ 4/2012 đến 4/2014 cho biết rằng

tỷ lệ trẻ sơ sinh mắc DTBS là 1,8%, trong đó 54% trẻ mắc dị tật hệ tiêu hóa và 1 trường hợp mắc bệnh Down Tỷ lệ các bà mẹ nằm trong nhóm tuổi từ 20 – 35 có con mắc dị tật bẩm sinh khá cao, chiếm 56%, các bà mẹ ở nông thông là 51%, các bà mẹ làm nông là 49%, chỉ có 19% trẻ được chẩn đoán mắc DTBS trước sinh (42)

Năm 2015, một nghiên cứu cắt ngang của Trần Thị Thúy Phượng và Lê Hồng

HUPH

Trang 21

có khoảng 2156 trường hợp thai nhi bị DTBS được chẩn đoán, 432 trường hợp đã phải chấm dứt thai kỳ do mắc DTBS nặng Từ tháng 12/2015 đến 5/2016 có 585 trẻ

sơ sinh mắc DTBS chiếm 3,8% số trường hợp trẻ sinh sống Báo cáo cũng cho thấy

2 yếu tố thật sự có liên quan đến tỷ lệ thai nhi bị DTBS chấm dứt thai kỳ ở giai đoạn muộn là nhóm khám thai lần đầu trên 14 tuần và nhóm thai nhi mắc dị tật bất thường cấu trúc (43)

Một khảo sát khác được thực hiện trong 36 tháng từ tháng 10/2013 đến 04/2016 của BS Nguyễn Văn Sáng và cộng sự tiến hành trên đối tượng nghiên cứu là trẻ em

từ 0 – 36 tháng tại địa bàn thành phố Nha Trang, Cam Ranh và thị xã Ninh Hòa cho thấy 87/1493 trẻ (5,82%) được phát hiện có dị tật bẩm sinh, số trẻ em nam cao hơn

nữ với tỷ lệ xấp xỉ 2/1 Trong đó, có 37,93% trường hợp được phát hiện dị tật bẩm sinh sau 1 tuổi, 31,03% trường hợp phát hiện trong giai đoạn 1-12 tháng tuổi, 28,74% trường hợp phát hiện trong giai đoạn sơ sinh, chỉ có 2,3% trường hợp được phát hiện trong thai kỳ và 2,69% trường hợp mới được khám phát hiện trong nghiên cứu (44)

a Khám sức khỏe tiền hôn nhân

Khám sức khỏe tiền hôn nhân là được coi là bước sàng lọc đầu tiên và quan

HUPH

Trang 22

và điều trị sớm bệnh lý ở người mẹ và thai nhi cũng như dự phòng được DTBS ở trẻ (45) Căn cứ vào kết quả thăm khám, các cặp đôi sẽ được khuyến cáo nguy cơ về DTBS cũng như biện pháp ngăn ngừa để giảm thiểu mắc các bệnh truyền nhiễm trước khi thụ thai như viêm gan B, rubella, hội chứng tan máu bẩm sinh (46)

b Không tảo hôn và/hoặc kết hôn cận huyết

Tình trạng tảo hôn và kế hôn cận huyết vẫn khá phổ biến ở nhóm đồng bào dân tộc thiểu số tại các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa Việc ban hành luật cấm tảo hôn

và kết hôn cận huyết góp phần giảm thiểu tình trạng DTBS ở trẻ, cải thiện chất lượng dân số, giảm gánh nặng cho cá nhân, gia đình và xã hội (47)

c Phòng tránh thai ngoài ý muốn

Mang thai ngoài ý muốn rất phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt là ở nữ tuổi vị thành niên và thanh niên hay ở nữ tuổi trên 35 tuổi và đã có đủ số con mong muốn Do vậy,

nữ cần thực hiện các biện pháp tránh thai phù hợp để giảm thiểu việc mang thai và sinh con không mong muốn từ đó giảm số lượng trẻ sinh ra mắc DTBS

d Tiêm chủng vắc xin trước khi mang thai

Trong thời gian mang thai, hệ thống miễn dịch bị suy giảm, cơ thể thay đổi rất nhiều về thể chất, nên phụ nữ rất dễ dị ứng thời tiết, nhiễm cúm và một số bệnh có thể gây ra DTBS như sởi, rubella, Những bệnh này có ảnh hưởng nghiêm trọng đến thai nhi do gây ra các vấn đề như chậm phát triển, chết lưu, sinh non và mắc DTBS,

Do đó phụ nữ trước khi mang thai được khuyến cáo tiêm phòng một số bệnh nhiễm trùng thường gặp giúp đảm bảo sức khỏe và sự phát triển toàn diện của cả bà mẹ và thai nhi

HUPH

Trang 23

e Bổ sung axit folic sớm

Theo khuyến nghị WHO, phụ nữ sử dụng liều lượng axit folic trung bình 0,4 mg/ ngày, ít nhất một tháng trước khi thụ thai và trong suốt giai đoạn thai kỳ đầu tiên

có thể giúp ngăn ngừa dị tật ống thần kinh ở thai nhi từ 50% - 70% (9, 16)

f Chế độ dinh dưỡng

Như đã nói ở trên, tỷ lệ mang thai ngoài ý muốn khá cao Do vậy, tất cả phụ nữ trong độ tuổi sinh sản cần ăn uống đủ chất và bổ sung các loại vitamin cần thiết hằng ngày Đặc biệt ở PNMT, nhu cầu bổ sung Sắt, I ốt tăng nhiều hơn bình thường Theo khuyến cáo của WHO, PNMT nên sử dụng 200-300 μg I ốt, 30 – 40 μg Sắt mỗi ngày (48)

g Không sử dụng vitamin A liều cao

Vitamin A là cần thiết cho sức khỏe của người mẹ cũng như sức khỏe và sự phát triển của thai nhi do nó tham gia vào quá trình phân chia tế bào, hình thành các bộ phận của cơ thể, duy trì hệ thống miễn dịch, chống nhiễm trùng và phát triển thị lực của bà mẹ (49) (10) Tuy nhiên, vitamin A có thể gây ảnh hưởng xấu cho người mẹ

và thai nhi khi lượng hấp thụ vào cơ thể quá 10.000 IU mỗi ngày hoặc 25.000 IU hàng tuần sẽ gây dị tật bẩm sinh cho thai nhi (50) WHO khuyến nghị phụ nữ không

tự bổ sung vitamin A trong thời kỳ chuẩn bị hoặc đang mang thai, nếu sống tại những vùng có vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng liên quan đến việc thiếu hụt viatmin

A trầm trọng, phụ nữ cần bổ sung để vitamin A theo chỉ định của bác sĩ (51) Ngoài

ra, việc bổ sung vitamin A tự nhiên là β-caroten (tiền chất của vitamin A) có trong hoa quả có màu vàng cam hoặc xanh đậm như bí ngô, đu đủ, cà rốt,… ngược lại rất

có lợi cho sức khỏe của phụ nữ và thai nhi

h Không sử dụng chất kích thích

Rượu, thuốc lá, ma túy là những chất độc hại nguy hiểm gây ảnh hưởng trực tiếp lên sức khỏe người mẹ và thai nhi Do đó phụ nữ cần ngưng sử dụng những loại chất kích thích này trước khi mang thai, trong khi có thai và ngay sinh

HUPH

Trang 24

1.4.2 Phòng ngừa thứ cấp

Mục đích của phòng ngừa thứ cấp nhằm giảm số lượng trẻ sinh ra bị dị tật bẩm sinh thông qua sàng lọc di truyền và chuẩn đoán trước sinh để có các biện pháo điều trị kịp thời

Dù nhiều DTBS do di truyền không thể phòng tránh được, sàng lọc trước sinh như siêu âm, sàng lọc huyết thanh mẹ, xét nghiệm nước ối giúp can thiệp sớm để phát hiện các bất thường nghiêm trọng (52)

Theo hướng dẫn của bộ Y tế, phụ nữ mang thai trong 3 tháng đầu cần thực hiện siêu âm để xác định số lượng thai, đo chiều dài đầu mông của thai với mục đích xác định tuổi thai tương ứng 11 tuần đến 13 tuần 6 ngày, khảo sát cấu trúc thai, đo khoảng sáng sau gáy, xương mũi và các dấu hiệu khác Bên cạnh đó, phụ nữ cần được xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu ngoại vi để phát hiện ra các bệnh như tan máu bẩm sinh Thalassemia (4)

Giai đoạn 3 tháng giữa thai kỳ, phụ nữ cần được siêu âm để phát hiện thêm các bất thường về hình thái của thai nhi, đồng thời làm thêm xét nghiệm ADN của thai nhi lưu hành trong máu mẹ để lọc hội chứng Down, Edward, Patau hoặc một số bất thường khác (4)

Tại 3 tháng cuối thai kỳ, phụ nữ mang thai cần siêu âm thai sản trong thời kỳ này để đánh giá tình trạng phát triển của thai nhi và tiên lượng cho cuộc đẻ (4)

1.4.3 Phòng ngừa cấp ba

Phòng ngừa bằng việc phát hiện sớm và điều trị các DTBS của trẻ trong giai đoạn sớm Các bệnh di truyền như suy giáp bẩm sinh, Thalassemia, rối loạn chuyển hóa có thể được phát hiện qua sàng lọc sơ sinh sớm (4) Ngoài ra, nhiều DTBS có thể điều trị sớm giúp trẻ giảm thiểu tác hại do mắc các bệnh như tim bẩm sinh, bệnh tan máu, rối loạn hồng cầu, v.v (40) Theo Hướng dẫn của Bộ Y tế, các biện pháp sàng lọc sơ sinh bao gồm xét nghiệm máu gót chân trong vòng 48h sau sinh, sàng lọc khiếm thính bẩm sinh, sàng lọc bệnh tim bẩm sinh bằng cách đo độ bão hòa oxy máu

HUPH

Trang 25

Với các nhóm bệnh sàng lọc bằng kỹ thuật xét nghiệm trên mẫu máu khô, cần lấy máu gót chân trẻ sơ sinh tốt nhất là 48 giờ sau sinh để phát hiện các bệnh suy giáp bẩm sinh, tăng sản thượng thận, thiếu men G6PD và một số rối loại chuyển hóa axit amin, axit hữu cơ, (4)

Với các nhóm bệnh liên quan đến khả năng nghe, trẻ cần được sàng lọc bằng kỹ thuật đo âm ốc tai (4)

Với bệnh tim bẩm sinh, trẻ sơ sinh có tuổi từ 24 – 48 giờ cần được đo độ bão hòa oxy máu qua da để phát hiện bất thường (4)

Một số nghiên cứu về kiến thức và thực hành về dự phòng Dị tật bẩm sinh

1.5.1 Kiến thức và thực hành dự phòng Dị tật bẩm sinh trên Thế giới

Dị tật bẩm sinh đang ngày càng phổ biến ở mọi quốc gia Tuy nhiên do thiếu kiến thức và thực hành dự phòng DTBS của bản thân phụ nữ và cả cộng đồng dẫn đến phát hiện muộn và can thiệp chậm vì thế tỷ lệ DTBS ở trẻ nhỏ vẫn chưa có dấu hiệu cải thiện Đặc biệt ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, các can thiệp dự phòng cũng như phát hiện DTBS còn rất ít được thực hiện

Ajediran I Bello và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu tại các bệnh viện ở khu vực Ridge vùng Greater Accra của Ghana cho biết 33,6% phụ nữ thấy rằng DTBS không phải là một vấn đề dễ gặp phải khi mang thai, 18,7% phụ nữ nghĩ rằng DTBS có thể

bị lây truyền khi tiếp xúc với người mắc DTBS Ngược lại, 62,1% phụ nữ biết DTBS gây ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi, 74,5% biết DTBS có thể phòng ngừa được, 86% biết DTBS có thể được điều trị hoặc quản lý về mặt y tế và 47% biết có thể làm giảm ảnh hưởng của DTBS thông qua các biện pháp phụ hồi chức năng (53) Đánh giá kiến thức về các yếu tố nguy cơ sinh con bị DTBS, một nghiên cứu ở

Mỹ năm 2010 cho thấy có 87,8% phụ nữ cho rằng nguyên nhân chủ yếu gây DTBS khi mang thai là do sử dụng thuốc không theo chỉ định của bác sĩ (54) Cũng nghiên cứu về yếu tố nguy cơ, Ajediran I Bello cho thấy rằng chỉ 43,3% số ĐTNC xác định tuổi mẹ trên 40 là yếu tố nguy cơ gây DTBS cho con Tỷ lê ĐTNC có kiến thức cao

HUPH

Trang 26

dị tật bẩm sinh theo thứ tự là 48,1% và 50,6% Hầu hết những người tham gia nghiên cứu (48,1%) tin rằng DTBS có nguồn gốc từ siêu nhiên, 42,9% cho rằng DTBS do

mẹ mắc các bệnh lý và 8,1% tin rằng một người mẹ có thể sinh ra con mắc dị tật bẩm sinh nếu sinh quá nhiều con (53)

Về kiến thức và thực hành của phụ nữ về dự phòng DTBS có khác nhau giữa các quốc gia Một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để phòng tránh các dị tật về não ở trẻ sơ sinh từ sớm đó là người mẹ bổ sung axit folic trước và trong khi mang thai (55) Phụ nữ ở Croatia có dự địnhmang thai ủng hộ việc dự phòng DTBS bằng axit folic trong một nghiên cứu năm 2009 (56) Trong khi đó, ở Thổ Nhĩ Kỳ, chỉ 22% phụ nữ đã kết hôn và sinh con dưới 12 tháng trước đó có nghe về axit folic và dưới 13% phụ nữ hiểu rằng axit folic giúp giảm DTBS ống thần kinh Nhóm phụ nữ nằm trong độ tuổi từ 26 – 35 tuổi có kiến thức tốt nhất và nhóm phụ nữ đã tốt nghiệp đại học có nhiều khả năng biết về axit hơn những nhóm còn lại (57) Tương tư, nghiên cứu của Danyang Li và cộng sự tiến hành ở Thiểm Tây, Trung Quốc giai đoạn 2015

- 2017 lại cho thấy 81,6% phụ nữ trong tuổi sinh đẻ kể cả những phụ nữ chưa có gia đình, chưa có kế hoạch sinh con không ủng hộ sử dụng axit folic hàng ngày (58) Nghiên cứu này cũng chỉ ra 28,8% phụ nữ có kiến thức chưa đạt về chăm sóc trước sinh (58) Có 50,2% số phụ nữ dự kiến mang thai và 62,5% phụ nữ đã từng kết hôn

đi khám tiền sản Về thực hành, chỉ có 40,2% số phụ nữ bổ sung axit folic trước khi mang thai và chỉ 37,9% trong số đó duy trì uống axit folic thường xuyên Ngoài ra, vấn đề tuổi tác là yếu tố chính ảnh hưởng đến thái độ và thực hành của phụ nữ, điều này tác động tích cực đến nhận thức về việc bổ sung axit folic đúng thời điểm và tỷ

lệ khám tiền hôn nhân trước khi mang thai cao (58) Một nghiên cứu khác về “kiến thức, thái độ, thực hành liên quan đến việc bổ sung axit folic và một số yếu tố ảnh hưởng đến việc khuyến nghị và kê đơn ở sáu tỉnh miền Bắc Trung Quốc, năm 2009” của Ting Liu và cộng sự cho thấy kiến thức, thái độ và thực hành của phụ nữ về sử dụng axit folic còn hạn chế 60,3% (24.235 trên 40173 đối tượng) trả lời đúng kiến thức về axit folic và bổ sung axit folic Hầu hết các câu hỏi về thực hành và thái độ

HUPH

Trang 27

77,2% phụ nữ ít có khả năng sử dụng axit folic khi có kế hoạch mang thai vì phải làm việc (59)

Về kiến thức và thực hành về dự phòng dị bẩm sinh bằng việc thực hiện sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh, tại Thổ Nhĩ Kỳ, Seven và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 274 phụ nữ mang thai đã thực hiện dịch vụ sàng lọc trước sinh để xác định tỷ lệ sử dụng các xét nghiệm sàng lọc trước sinh và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định làm xét nghiệm SLTS của họ Kết quả nghiên cứu cho biết mức

độ hiểu biết của nhóm đối tượng này về sàng lọc trước sinh nói chung là rất thấp, trung bình 3,43 ± 3,21 điểm trên thang điểm 10 Chỉ 36,1% (99 người) cho biết đã thực hiện sàng lọc trước sinh bằng phương pháp xét nghiệm máu Báo cáo cũng cho biết thêm một số yếu tố như phụ nữ có tiền sử bị sảy thai, sinh con mắc DTBS, kết hôn cận huyết

và thời gian chung sống với chồng hoặc bạn tình đều có ảnh hưởng tới việc thực hiện sàng lọc trước sinh (p < 0,005) (60) Một nghiên cứu cắt ngang khác được tiến hành năm 2015 tại Ả Rập Xê Út trên 425 phụ nữ đã mang thai ít nhất một lần cho thấy rằng

tỷ lệ phụ nữ ủng hộ chương trình sàng lọc sơ sinh rất cao chiếm 91,1% Tuy nhiên, kiến thức của họ còn rất hạn chế, chỉ 34,6% phụ nữ biết rằng SLSS là một xét nghiệm phát hiện ra các rối loạn di truyền (61)

1.5.2 Kiến thức và thực hành dự phòng Dị tật bẩm sinh tại Việt Nam

Như đã trình bày tại phần trước, kiến thức và thực hành của phụ nữ ở các nước

có thu nhập thấp và trung bình về dự phòng DTBS và phát hiện sớm DTBS còn nhiều hạn chế Tại Việt Nam hiện nay, số lượng đề tài nghiên cứu về kiến thức, thực hành

dự phòng dị tật bẩm sinh chưa thực sự nhiều

Theo nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành tại Trung tâm CSSK tại Huế trên 400 đối tượng là phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ của Nguyễn Thị Túy Hà, 61% phụ

nữ biết hầu hết DTBS có thể phòng ngừa được, 72,5% biết một số DTBS có thể được sàng lọc phát hiện để can thiệp và điều trị sớm (5) Tương tự vậy, nghiên cứu mô tả cắt ngang của Hoàng Thị Thu Hoài tại huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk năm 2020 cũng cho biết hầu hết phụ nữ mang thai đều biết rằng DTBS có thể được phát hiện

HUPH

Trang 28

ngay khi mang thai, tuy nhiên, chưa tới 50% biết rằng DTBS có thể phát hiện ngay sau khi sinh (62)

Kiến thức về những yếu tố nguy cơ gây DTBS, hầu hết các nghiên cứu đều chỉ

ra rằng kiến thức của phụ nữ về nội dung này còn rất hạn chế Một số yếu tố nguy cơ

mà phụ nữ biết đến nhiều nhất là tuổi mẹ ngoài 35 tuổi, mẹ sử dụng các chất kích thích như thuốc lá, rượu bia hoặc nhiễm các bệnh nhiễm khuẩn như rubella, thủy đậu, quai bị, (5, 19, 62) Bên cạnh đó, nghiên cứu của Nguyễn Thị Túy Hà cũng cho biết rằng phụ nữ trong nhóm từ 25-34 tuổi có kiến thức tốt hơn về yếu tố nguy cơ gây DTBS tốt hơn so với nhóm phụ nữ dưới 25 hoặc trên 35 tuổi (p < 0,05) (5)

Về nội dung dự phòng DTBS, nghiên cứu của Thu Hoài cho biết rằng chỉ 2/3 số phụ nữ mang thai có kiến thức đạt về dự phòng DTBS, trong đó nội dung mà phụ nữ

có kiến thức tốt nhất là SLTS và SLSS (84%) Bên cạnh đó, khoảng 90% PNMT có thái độ tích cực nhưng chỉ 1/3 số PNMT tham gia thực hiện đúng SLTS và SLSS Khoảng 50% số PNMT có điểm thực hành đạt liên quan tới dự phòng DTBS Các yếu

tố được chỉ ra có mối liên quan tới kiến thức và thực hành DTBS là dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp và tình trạng kinh tế (62) Tương tự, nghiên cứu tại Huế của Nguyễn Thị Túy Hà cho biết Chỉ có 2/3-3/4 phụ nữ có kiến thức đúng về phòng ngừa

và lợi ích của SLTS và SLSS trong chẩn đoán và phát hiện sớm DTBS (5) Một nghiên cứu khác của Đỗ Thị Nhiên tiến hành tại thành phố Buôn Mê Thuột trên nhóm phụ nữ mang thai từ 20-35 tuổi cho thấy 64,5% PNMT có kiến thức đạt về dự phòng DTBS, 81,8% phụ nữ có thái độ tích cực về dự phòng DTBS, trong đó 90% đồng ý rằng DTBS

có thể dự phòng được, 88,8% đồng ý sàng lọc trước sinh Ngoài ra, kết quả cũng chỉ ra rằng một số yếu tố liên quan bao gồm dân tộc, kiến thức của PNMT tới thực hành đúng liên quan tới dự phòng DTBS (19)

Các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành của ĐTNC về dự phòng

Dị tật bẩm sinh

1.6.1 Yếu tố cá nhân và gia đình

HUPH

Trang 29

Yếu tố đầu tiên có tác động quan trọng tới kiến thức và thực hành về dự phòng DTBS là trình độ học vấn của người phụ nữ Phụ nữ trình độ học vấn càng cao thì càng có kiến thức tốt về xã hội và chăm sóc sức khoẻ Những phụ nữ này cũng dễ dàng nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của dự phòng và phát hiện sớm DTBS

từ đó họ cũng sẽ có những thực hành hay quyết định phù hợp hơn (63) Tại Việt Nam, nghiên cứu của Lê Phạm Sỹ Cường năm 2016 cũng cũng cho thấy phụ nữ có trình độ học vấn đại học, trung cấp và cao đẳng có khả năng ra quyết định thực hiện chẩn đoán trước sinh cao gấp 6 lần so với những phụ nữ có trình độ học vấn tiểu học, trung học

cơ sở và trung học phổ thông (63)

b Dân tộc

Trong các nghiên cứu ở nhóm người dễ bị tổn thương, phụ nữ đồng bào dân tộc thiểu số thường có kiến thức và thực hành đúng thấp hơn phụ nữ người Kinh Tỉnh Điện Biên là nơi sinh sống chủ yếu của đồng bào dân tộc như Thái, Mông, chiếm khoảng 80% tổng dân số Ngoài những dân tộc có dân số lớn kể trên, còn có một số dân tộc thiểu số khó khăn khác như La Hủ, Cống, Si La, Mảng Kết quả thu thập được

từ nghiên cứu của Nguyễn Phúc Hưng và cộng sự năm 2018 cho thấy rằng tình trạng hôn nhân cận huyết của người dân tộc thiểu số là 2,2%, chủ yếu ở dân tộc Mông, Lào, Kháng (64) Nguyên nhân là do phong tục tập quán lâu đời đồng thời đời sống lạc hậu, không biết tiếng Kinh, không dễ dàng tiếp cận được với các phương tiện truyền thông, dịch vụ chăm sóc sức khỏe còn vô cùng hạn chế

c Tiền sử và tình trạng thai nghén

Các yếu tố bao gồm tình trạng, tiền sử thai nghén, số con hiện có và di truyền của người phụ nữ cũng có liên quan đến kiến thức và thực hành về DTBS Thường những phụ nữ từng gặp vấn đề liên quan tới mang thai và sinh con có xu hướng tự tìm hiểu những kiến thức về DTBS một cách chủ động cũng như chú ý hơn trong việc thực hiện các biện pháp dự phòng DTBS ở ngay trước khi mang thai cho tới sau sinh (65, 66)

HUPH

Trang 30

d Thu nhập và kinh tế gia đình

Thu nhập của bản thân người phụ nữ và kinh tế gia đình ảnh hưởng trực tiếp tới lựa chọn dịch vụ và sử dụng SLTS và SLSS Đồng thời, điều kiện kinh tế cũng tác động tới sử dụng dịch vụ khám sức khỏe và bổ sung dinh dưỡng trước và trong thời gian thai kỳ (24) Phụ nữ không có đủ điều kiện về kinh tế thường sẽ ít tham gia hơn các hoạt động dự phòng và phát hiện DTBS nhất là các dịch vụ sàng lọc trước, trong

và sau sinh Ngược lại, phụ nữ có kinh tế khá giả sẽ quan tâm và chăm sóc hơn tới sức khỏe bản thân cũng như sức khoẻ của thai nhi Nghiên cứu cũng chỉ ra những phụ

nữ sống trong gia đình kinh tế khá hơn có trình độ hiểu biết cao hơn về các yếu tố nguy cơ cũng như biện pháp dự phòng DTBS (67-69)

e Gia đình tiền sử có người bị DTBS

Phụ nữ có tiền sử sinh con mắc dị tật bẩm sinh hoặc trong gia đình có người bị

dị tật bẩm sinh là yếu tố nguy cơ hàng đầu với DTBS ở trẻ sơ sinh Vì vậy, phụ nữ ở trong hoàn cảnh này thường có kiến thức và thực hành tốt hơn phụ nữ bình thường liên quan tới dự phòng DTBS (65) Điều này là do phụ nữ có tiền sử sinh con DTBS hoặc có người thân trong gia đình bị DTBS thường chủ động tìm hiểu, được người thân nhắc nhở và/hoặc tiếp cận sớm tới dự phòng và phát hiện sớm DTBS (70)

1.6.2 Yếu tố cung cấp và tiếp cận dịch vụ y tế

Sự sẵn có, dễ tiếp cận (cả về giá cả cũng như khoảng cách) của các dịch vụ chăm sóc trước, trong và sau sinh là điểm thu hút phụ nữ đang dự kiến mang thai hoặc đã

và đang mang thai tiếp cận và sử dụng SLTS và SLSS Dịch vụ tốt, đội ngũ y bác sĩ

có chuyên môn cao cũng giúp bà mẹ giảm thiểu e ngại khi tiếp cận và sử dụng dự phòng DTBS Ngược lại thiếu dịch vụ y tế (sẵn có), chất lượng dịch vụ chưa tốt hoặc khó tiếp cận cũng là rào cản chính làm giảm tỷ lệ thực hành sàng lọc sớm DTBS ở thai nhi của phụ nữ

HUPH

Trang 31

1.6.3 Yếu tố truyền thông và chính sách pháp luật

Công tác truyền thông và tư vấn về dự phòng DTBS được thực hiện sẽ giúp người dân dễ tiếp cận về kiến thức từ đó thay đổi thái độ và hành vi liên quan tới dự phòng và phát hiện sớm DTBS

Việc tư vấn về chăm sóc sức khỏe sinh sản giúp phụ nữ hiểu được tầm quan trọng, từ đó tăng khả năng tham gia tự nguyện với tinh thần thoải mái hơn trong phát hiện và dự phòng DTBS Ngoài ra, nếu người tư vấn có kiến thức chuyên môn sâu và

kỹ năng truyền đạt tốt sẽ tạo được lòng tin cho các bà mẹ, giúp phụ nữ tuân thủ quy trình SLTS và SLSS tốt hơn với hiệu quả cao hơn (52)

Song song với việc tuyên truyền về dị tật bẩm sinh, nạn tảo hôn và kết hôn cận huyết vẫn còn xảy ra khá phổ biến ở các tỉnh miền núi như Sơn La, Điện Biên, Hà Giang, Cao Bằng, Mặc dù đã đưa việc cấm tảo hôn và kết hôn cận huyết thông vào luật nhưng tình trạng này vẫn còn xảy ra ở nhiều nơi và có tỷ lệ gia tăng Do đó, luật pháp không những cần làm nghiêm hơn để mang tính răn đe mà truyền thông cũng cần được đẩy mạnh để nâng cao nhận thức của người dân về điều này, góp phần làm giảm tình trạng suy thoái nòi giống do tảo hôn và kết hôn cận huyết

Một số đặc điểm về địa bàn nghiên cứu

Thành phố Điện Biên Phủ trung tâm kinh tế, chính trị xã hội của tỉnh Điện Biên, đạt đô thị loại 3 Nằm chọn trong lòng chảo Mường Thanh Phía đông nam giáp huyện Điện Biên Đông, các phía còn lại giáp huyện Điên Biên, Mường Chà, Mường Ẳng có diện tích tự nhiên 308,18km2, dân số 81.630 người, gồm 26 dân tộc sinh sống: dân tộc Kinh 56,60%, dân tộc Thái 29,65%, dân tộc Mông 6,63%, dân tộc Khơ

Mú 2,76% còn lại là các dân tộc khác; với 12 đơn vị hành chính (7 phường và 5 xã Thành phố Điện Biên có mô hình kinh tế nông lâm nghiệp kết hợp với tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ Tỷ lệ hộ nghèo chiếm 3,8%, cận nghèo chiếm 3,32% Đường giao thông liên bản của một số xã đi lại còn khó khăn nhất là về mùa mưa lũ Trình

độ dân trí không đồng đều, đồng bào dân tộc Mông ở một số bản tại một số xã còn

HUPH

Trang 32

một số hủ tục lạc hậu và ảnh hưởng của tôn giáo, khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc y tế và truyền thông công đồng

Bên cạnh đó, công tác giáo dục truyền thông cho người dân về chăm sóc sức khỏe sinh sản và sàng lọc sơ sinh, trước sinh chưa được chú trọng nhiều Các hình thức truyền thông còn sơ sài, kém hấp dẫn người xem Do đó, người dân chưa tham gia các chương trình khám tiền hôn nhân Đồng thời, một số hủ tục lạc hậu vẫn còn như nạn tảo hôn và kết hôn cận huyết thống vẫn còn xảy ra

Theo báo cáo của Trung tâm Y tế tỉnh Điện Biên, trong 9 tháng đầu năm 2020

tỷ lệ sàng lọc trước sinh chỉ có 149 ca và 214 ca được sàng lọc sơ sinh trên toàn tỉnh, trong đó phát hiện 3 trẻ sơ sinh có DTBS Vì vậy, công tác sàng lọc và phát hiện sớm DTBS trên địa bàn thành phố cần được quan tâm hơn nữa nhằm giảm thiểu những trường hợp trẻ sinh ra bị DTBS nặng tạo gánh nặng lớn cho gia đình và xã hội

Khung lý thuyết

Nghiên cứu của chúng tôi xây dựng khung lý thuyết dựa trên mô hình các yếu

tố quyết định sức khỏe của Lalonde (Marc Lalonde, 1981) và tham khảo nghiên cứu của Hoàng Thị Thu Hoài tại Đắk Lắk (62)

Tuy nhiên, do nguồn lực có hạn, nên nghiên cứu này chỉ tập trung vào các nhóm yếu tố liên quan thuộc cá nhân, gia đình

HUPH

Trang 33

Thực hành dự phòng DTBS

˗ Dự phòng sơ cấp: khám tiền hôn nhân, tiêm vacxin, bố sung vi chất dinh dưỡng

trước khi mang thai,…

˗ Dự phòng thứ cấp: khám thai, siêu âm, xét nghiệm sàng lọc, bổ sung vi chất và

dinh dưỡng khi mang thai

(cận huyết, tảo hôn)

tiếp cận

HUPH

Trang 34

˗ Phụ nữ có con dưới 6 tháng tuổi phù đang sinh sống tại thành phố Điện Biên Phủ

ít nhất 1 năm trước thời điểm thực hiện nghiên cứu

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

˗ Thời gian thu thập dữ liệu: từ tháng 03/2021 đến 05/2021

˗ Địa điểm: 3 xã Mường Thanh, Noong Bua, Him Lam của thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên

Thiết kế nghiên cứu

Sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang để mô tả thực trạng kiến thức và thái độ của đối tượng nghiên cứu và một số yếu tố liên quan

Trang 35

Trong đó:

 n: cỡ mẫu dự kiến

 p: tỷ lệ ước tính Do nghiên cứu đánh giá hai tỷ lệ là kiến thức và thực hành nên chúng tôi tính cả 2 tỷ lệ này p tham khảo từ tỷ lệ phụ nữ có kiến thức đúng là 77,1% ( p=0,771) thực hành đúng là 49% (p=0,49) về dự phòng DTBS theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Thị Thu Hoài năm 2020 trên nhóm phụ nữ mang thai tại huyện Krông Buk - tỉnh Đắk Lắk (62)

 d=0,08 là độ chính xác tuyệt đối mong muốn

 Z(1-α/2) = 1,96 (α = 0,05, với độ tin cậy 95%)

 DE= 1,4 là hệ số thiết kế dành cho phương pháp chọn mẫu phân tầng

Thay vào công thức, cỡ mẫu tối thiểu tính ra được nếu p = 0,771 là 149 ĐTNC

và p = 0.49 là 210 ĐTNC Sau khi xem xét, chúng tôi lựa chọn cỡ mẫu tối thiểu của nghiên cứu là 210 đối tượng để đảm bảo tính đại diện Chúng tôi dự trù thêm 5% đối tượng nghiên cứu bỏ cuộc hay đi vắng, tổng cơ mẫu cần thu thập là 220 ĐTNC Số mẫu thực tế chúng tôi thu thập được là 216 phụ nữ có con dưới 6 tháng tuổi tại 3 xã của thành phố Điện Biên

Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu theo 3 bước sau:

˗ Bước 1: Coi mỗi xã/phường là một cụm, TP Điện Biên Phủ có 7 phường và 5 xã nên chúng tôi đã bốc thăm ngẫu nhiên 2 phường và 1 xã vào nghiên cứu Các xã/phường được chọn là Mường Thanh, Noong Bua, Him Lam

˗ Bước 2: Lập danh sách toàn bộ các bà mẹ có con dưới 6 tháng tuổi tại 3 xã/phường được chọn, xếp theo tên các bà mẹ theo vần ABC, đánh số thứ tự từ 1 đến hết trong danh sách Tổng số đã có 528 bà mẹ có con dưới 6 tháng tại 3 xã/phường (Mường Thanh, Noong Bua, Him Lam)

HUPH

Trang 36

˗ Bước 3: Chọn bà mẹ vào danh sách phỏng vấn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống, bằng cách lấy tổng số bà mẹ có con dưới 6 tháng của 3 xã/phường, chia cho

220 là cỡ mẫu cần thu thập để tìm hệ số k: 528 : 220 = 2,4 Người đầu tiên được chọn là người có số thứ tự ngẫu nhiên từ 1 đến k=2; chọn người đầu tiên là người

có số thứ từ là 1, vậy người thứ hai được chọn là người có số thứ tự là 1+k = 1+ 2= 3, người thứ ba được chọn là 3+k=3 + 2 = 5, cứ như vậy cho đến khi đủ cỡ mẫu

220 ĐTNC

Phương pháp thu thập số liệu

2.6.1 Công cụ thu thập số liệu

Bộ công cụ được xây dựng dựa trên “Hướng dẫn phát hiện các DTBS phổ biến”

và “Hướng dẫn sàng lọc trước sinh và sơ sinh” và “Hướng dẫn tư vấn, sàng lọc, chẩn đoán, điều trị trước sinh và sơ sinh” ở Thông tư 34/2017/TT-BYT (52), Thông tư 34/2016/TT-BYT (71) cũng như của các luận văn trước đó với chủ đề tương tự (5, 62) Bộ công cụ gồm 3 nội dung chính (chi tiết xem trong Phụ lục 1):

˗ Thông tin cá nhân

˗ Kiến thức về dự phòng DTBS

˗ Thực hành về dự phòng DTBS

Nhóm nghiên cứu đã điều tra thử trên 15 đối tượng là phụ nữ có con dưới 6 tháng tuổi tại một xã không nằm trong 3 xã/phường tiến hành thu thập số liệu Về cơ bản, bộ công cụ là phù hợp nên chúng tôi chỉ chỉnh lại một số từ cho dễ hiểu (phù hợp với địa phương)

2.6.2 Phương pháp tổ chức thu thập số liệu

Chúng tôi đã tuyển 3 Điều tra viên (ĐTV) là cán bộ y tế phụ trách công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản của 3 trạm y tế (TYT) xã Giám sát viên (GSV) là học viên

Tổ chức tập huấn cho ĐTV về nội dung bộ câu hỏi và cách Phỏng vấn và ghi vào Bảng hỏi định lượng

HUPH

Trang 37

˗ Mỗi ĐTV chịu trách nhiệm thu thập thông tin tại 1 xã

˗ ĐTV đến nhà đối tượng đã được chọn trong danh sách để phỏng vấn Nếu đối tượng không có ở nhà thì hẹn lịch và đến lần sau (2 lần)

˗ ĐTV phổ biến thông tin nghiên cứu và xin đồng ý tham gia tự nguyện trước khi

Các biến số nghiên cứu

˗ Các nhóm biến số chính được xây dựng theo khung lý thuyết, bao gồm:

+ Nhân khẩu học

+ Tiền sử thai sản của ĐTNC

+ Tiền sử bệnh, mắc DTBS của ĐTNC và gia đình

+ Kiến thức về dự phòng DTBS

+ Thực hành về dự phòng DTBS

+ Biến nhân khẩu học và tiền sử sinh sản, tiền sử DTBS liên quan đến kiến thức dự phòng DTBS

+ Yếu tố nhân khẩu học liên quan đến thực hành dự phòng DTBS

+ Do hạn chế về nguồn lực và thời gian, nên nghiên cứu không thu thập và phân tích về các biến số trong nhóm truyền thông, vì với giả định các các

bà mẹ trong cùng thành phố Điện Biên Phủ là được tiếp cận với nguồn truyền thông về dự phòng dịc tật bẩm sinh là như nhau

˗ Các biến số chi tiết vui lòng xem thêm tại Phụ lục 3

HUPH

Trang 38

Tiêu chuẩn đánh giá

 Về kiến thức

˗ Phần kiến thức chung về dự phòng DTBS có 24 câu hỏi gồm 4 phần là kiến thức

cơ bản về DTBS, các yếu tố nguy cơ gây DTBS, dự phòng DTBS và Sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh

˗ Điểm cắt 50% được chọn trong nghiên cứu này được tham khảo từ nghiên cứu của Hoàng Thị Thu Hoài và một số đề tài tương tự trước đó (62) (19) Điểm tối đa cho phần đánh giá Kiến thức chung về dự phòng DTBS là: 72 điểm Do vậy, chúng tôi

chọn mức độ đạt về kiến thức được gọi là Tốt khi số điểm của ĐTNC ≥ 36 điểm

và Chưa Tốt số điểm của ĐTNC < 36 điểm (Phụ lục 2)

Nội dung Số câu hỏi Tổng điểm Mức điểm tốt

˗ Phần thực hành về dự phòng DTBS gồm 12 câu hỏi gồm 3 nội dung là thực hành

dự phòng về DTBS trước khi mang thai, dự phòng về DTBS trong thời gian mang thai và Sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh

˗ Tương tự như kiến thức, điểm thực hành đạt khi lớn hơn điểm cắt 50% Như vậy, với 24 điểm là mức thực hành tối đa, mức độ đạt về thực hành được xác định khi

HUPH

Trang 39

Nội dung Số câu hỏi Tổng điểm Mức điểm đạt

Thực hành dự phòng về DTBS trước

Thực hành dự phòng về DTBS trong

Thực hiện sàng lọc trước sinh và

Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Sau khi các phiếu thu thập xong, GSV chính là học viên sẽ đọc và làm sạch phiếu trước khi nhập số liệu.Phân tích số liệu

Bộ số liệu được nhập bằng Epidata 3.2 và xử lý trên phần mềm SPSS 24

 Thống kê mô tả: Đặc điểm nhân khẩu học và Kiến thức - Thực hành của

ĐTNC về DTBS gồm tần số và tỷ lệ phần trăm

 Thống kê phân tích: Xác định mối liên quan giữa biến nhân khẩu học và

Kiến thức – thực hành dự phòng DTBS của ĐTNC thông qua phân tích hồi quy logistic đơn biến cho các biến nhân khẩu học, tiền sử sinh sản và DTBS của ĐTNC với mức ý nghĩa 5%

Đạo đức trong nghiên cứu

˗ Nghiên cứu đã được phê duyệt của hội đồng đạo đức Trường Đại học Y tế công cộng số 82/2021/YTCC-HD3 ngày 01 tháng 03 năm 2021 (Phụ lục 4)

˗ Các số liệu thu thập một cách trung thực, đầy đủ, chính xác và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu khoa học Trước khi triển khai, nghiên cứu cũng được sự

HUPH

Trang 40

chấp nhận phối hợp triển khai của Lãnh đạo Trung tâm Y tế TP Điện Biên Phủ; Trạm Y tế và sự ủng hộ của các điều tra viên, cộng tác viên, cán bộ nghiên cứu

˗ Nghiên cứu chỉ thực hiện đối với những đối tượng đáp ứng đủ tiêu chí lựa chọn

˗ ĐTNC được chọn vào mẫu nghiên cứu được thông báo trước, được giải thích đầy

đủ về mục đích, nội dung nghiên cứu một cách rõ ràng và ký vào phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu (Phụ lục 5)

˗ ĐTNC được quyền từ chối những câu trả lời mà họ không muốn hoặc rút khỏi nghiên cứu bất kỳ lúc nào

˗ Các NCV đảm bảo giữ kín bí mật với những thông tin được thu thập

˗ Kết quả nghiên cứu cuối cùng được phản hồi cho địa phương tham gia nghiên cứu

HUPH

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w