Kết quả nổi bật của đề tài
Đề tài này đã cung cấp thông tin quan trọng về thực trạng và nhu cầu tiếp cận thông tin cũng như phục hồi chức năng (PHCN) cho người khuyết tật (TKT) Đây là một trong số ít nghiên cứu về người khuyết tật tại Việt Nam và trên thế giới Nghiên cứu chỉ ra các đặc điểm nhân khẩu học của TKT, tình hình quản lý TKT, và nhu cầu thông tin của họ về chăm sóc và PHCN.
(b) Kết quả cụ thể (các sản phẩm cụ thể)
Sản phẩm cụ thể: Một bản thảo bài báo đã được hoàn thiện để nộp tạp chí Tên bài báo
“Nghiên cứu thực trạng trẻ khuyết tật tại huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa năm
Nghiên cứu đã đạt được hai mục tiêu quan trọng: đầu tiên, mô tả thực trạng của trẻ khuyết tật đang được quản lý tại huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa trong năm 2020; thứ hai, phân tích nhu cầu tiếp cận thông tin của người chăm sóc về việc chăm sóc và phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại địa phương này.
Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Người chăm sóc trẻ khuyết tật (TKT) chủ yếu là người nhà, với tỷ lệ nữ chiếm 61,8% và nam 38,2% Đối tượng nghiên cứu có tuổi trung bình là 42,4±12, phần lớn thuộc nhóm thu nhập thấp và sinh sống ở nông thôn Bố mẹ là người chăm sóc chính, chiếm tỷ lệ cao nhất với 84,2% TKT phân bố đều ở các nhóm tuổi, trong đó nhóm từ 11 – 15 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 39,9%, và tỷ lệ TKT nam và nữ gần như ngang nhau.
Thực trạng quản lý trẻ khuyết tật (TKT) cho thấy 71,1% trẻ mắc khuyết tật trong hơn 5 năm Trong số đó, khó khăn về vận động chiếm tỷ lệ cao nhất với 50,0%, tiếp theo là khó khăn về học tập 17,1% và khó khăn về nghe, nói 14,0% Nguyên nhân chủ yếu gây ra khuyết tật ở trẻ là do bẩm sinh, chiếm tới 91,2%.
7 có mức độ khuyết tật tại thời điểm nghiên cứu là nặng và đặc biệt nặng trong đó có 167/228 TKT có mức độ khuyết tật nặng, chiếm 73,2%
Nghiên cứu cho thấy, NCS tiếp cận thông tin về chăm sóc và phục hồi chức năng (PHCN) cho trẻ khuyết tật chủ yếu qua nhân viên y tế, chiếm 89%, với 33,3% đánh giá thông tin được cung cấp đầy đủ Tiếp theo là tư vấn từ người thân và bạn bè (43,4%), ti vi (43,0%), và phương tiện phát thanh (30,3%) Đáng chú ý, tỷ lệ NCS đánh giá hiểu biết về các lĩnh vực chăm sóc và PHCN cho trẻ khuyết tật ở mức trung bình là khá cao.
Nhu cầu thông tin của NCS về chăm sóc và PHCN cho TKT
Tất cả 100% đối tượng nghiên cứu đều có nhu cầu thông tin Trong đó, 61,4% mong muốn được cung cấp thông tin về cách tập PHCN tại nhà, 61% về cách chăm sóc, và 56,6% về dinh dưỡng Các hình thức cung cấp thông tin được ưa chuộng bao gồm tư vấn từ nhân viên y tế (92,5%), ti vi (49,1%) và phương tiện phát thanh (44,7%) Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng hệ thống thông tin trực tuyến cho NCS TKT trong thời gian tới.
Kết quả nghiên cứu định tính và định lượng đều cho thấy nhu cầu thông tin của người chăm sóc trẻ khuyết tật (TKT) xuất phát từ vai trò và gánh nặng của họ Đặc biệt, nhu cầu thông tin về sàng lọc và phát hiện sớm TKT, cũng như thông tin liên quan đến chăm sóc và phục hồi chức năng cho TKT với các loại khuyết tật phổ biến như khó khăn trong học tập, nghe nói và vận động cần được ưu tiên.
Nghiên cứu định tính nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cung cấp thông tin cho người chăm sóc trẻ khuyết tật (TKT) trong các chương trình hỗ trợ tài chính, xã hội và y tế Cần ưu tiên cập nhật thông tin về các chính sách hỗ trợ hàng tháng cho người chăm sóc, cũng như chính sách cho trẻ khuyết tật được đến trường và thông tin về các cơ sở chăm sóc trẻ khuyết tật tại địa phương Đặc biệt, nhu cầu về thông tin trực tuyến thông qua website hoặc ứng dụng di động cho người chăm sóc trẻ khuyết tật đang ngày càng rõ ràng.
Kết quả nghiên cứu hỗ trợ việc xây dựng hệ thống thông tin phù hợp và đề xuất các chính sách thích hợp cho đối tượng NCS TKT Nghiên cứu chỉ ra rằng cần thiết phải có
Chương trình tập huấn cho cán bộ y tế nhằm tăng cường can thiệp hệ thống cho NCS, giúp họ chăm sóc sức khỏe tốt hơn Đồng thời, cần chú trọng xây dựng hệ thống PHCN với các dụng cụ trợ giúp cần thiết trong thời gian tới.
Đề tài này mang lại cơ hội cho sinh viên và giảng viên nâng cao kỹ năng nghiên cứu, tiếp cận thực địa, cũng như thu thập dữ liệu định lượng và định tính Đặc biệt, nghiên cứu tập trung vào nhóm NCS TKT với độ tuổi trung bình là 42,4 tuổi tại huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
Giảng viên và sinh viên trường đại học Y tế công cộng đã tích cực tham gia thu thập số liệu, tạo cơ hội quý giá cho sinh viên và giảng viên trẻ trong việc học hỏi về tổ chức và thực hiện nghiên cứu.
Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng và vai trò của NCS trong hệ thống y tế, đồng thời chỉ ra thực trạng quản lý TKT tại huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa Bài viết đề cập đến các hình thức tiếp cận thông tin cần thiết cho NCS TKT, cũng như nội dung thông tin và các hình thức hỗ trợ phù hợp để nâng cao chăm sóc, điều trị và phục hồi chức năng cho TKT Cuối cùng, nghiên cứu cho thấy hiệu quả và lợi ích của việc cung cấp kiến thức và kỹ năng chăm sóc, phục hồi chức năng cho TKT thông qua các hình ảnh minh họa trong thời gian tới.
(e) Các hiệu quả khác: Không có
Áp dụng vào thực tiễn đời sống xã hội
Nghiên cứu này cung cấp thông tin về đặc điểm và thực trạng của NCS TKT, cũng như nhu cầu thông tin liên quan đến chăm sóc và PHCN Từ đó, đề xuất các biện pháp hỗ trợ phù hợp cho NCS và chính sách cho TKT Đồng thời, nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của NCS TKT trong cộng đồng, nhằm tìm ra giải pháp hỗ trợ họ phối hợp hiệu quả với cán bộ y tế và các tổ chức xã hội Cuối cùng, nghiên cứu khuyến nghị xây dựng hệ thống thông tin trực tuyến và nâng cao năng lực chăm sóc cho NCS TKT.
Nghiên cứu này đề xuất 9 biện pháp chăm sóc tâm lý, y tế và xã hội cho trẻ khuyết tật (TKT) và người chăm sóc (NCS) trong thời gian tới Các khuyến nghị về nội dung, hình thức và cách thức thực hiện các can thiệp này sẽ cung cấp thông tin quan trọng cho Bộ Y tế và các ban ngành địa phương Kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợ lập kế hoạch dựa trên bằng chứng cho hoạt động sàng lọc, chẩn đoán, quản lý, chăm sóc, điều trị và phục hồi chức năng cho TKT trong cộng đồng, đồng thời cung cấp thông tin cần thiết cho người chăm sóc về các vấn đề liên quan đến tâm lý, phục hồi chức năng và hòa nhập xã hội.
Đánh giá thực hiện đề tài đối chiếu với đề cương nghiên cứu đã được phê duyệt
(b) Thực hiện mục tiêu nghiên cứu: đảm bảo
(c) Các sản phẩm tạo ra so với dự kiến của bản đề cương: đảm bảo
(d) Đánh giá việc sử dụng kinh phí (phù hợp)
Các ý kiến đề xuất khác: không có
Phần C: Nội dung báo cáo chi tiết kết quả nghiên cứu đề tài cấp cơ sở ĐẶT VẤN ĐỀ
Trẻ khuyết tật (TKT) là những trẻ em có khiếm khuyết về cấu trúc cơ thể và chức năng, dẫn đến khó khăn trong sinh hoạt, học tập và vui chơi Nguyên nhân khuyết tật có thể do mẹ bị ốm trong thai kỳ, nhiễm độc, bệnh di truyền, hoặc do các yếu tố như suy dinh dưỡng và tai nạn Theo Tổ chức Y tế thế giới, có 7 dạng khuyết tật chính, bao gồm vận động, nghe nói, nhìn, học, hành vi xa lạ, mất cảm giác và động kinh Kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê và UNICEF năm 2016-2017 cho thấy khuyết tật tâm lý xã hội là phổ biến nhất ở trẻ em, ảnh hưởng đến sự phát triển và tham gia xã hội của TKT.
Hơn 7% dân số từ 2 tuổi trở lên, tương đương khoảng 6,2 triệu người, là người khuyết tật (NKT) Điều tra cho thấy cơ hội học tập của trẻ khuyết tật (TKT) thấp hơn nhiều so với trẻ không khuyết tật.
Thanh Hóa, một tỉnh quan trọng trong Dự án chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng cho nạn nhân chất độc hóa học Dioxin, hiện có khoảng 240.000 người khuyết tật (NKT) Đặc biệt, huyện Quảng Xương có hơn 246.000 trẻ em từ 0 đến 16 tuổi, trong đó có 228 trẻ khuyết tật cần được chăm sóc và phục hồi chức năng Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào về thực trạng trẻ khuyết tật tại đây Tỷ lệ trẻ khuyết tật nặng và rất nặng cao, và huyện Quảng Xương dự kiến sẽ can thiệp trong tương lai Việc chăm sóc và phục hồi chức năng tại nhà rất quan trọng, nhưng hiện nay chủ yếu do người chăm sóc (NCS) thực hiện, trong khi họ thiếu kiến thức và kỹ năng cần thiết Do đó, cần cung cấp thông tin để nâng cao năng lực cho NCS Hiện tại, có rất ít nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam về thực trạng trẻ khuyết tật và nhu cầu thông tin về chăm sóc và phục hồi chức năng của NCS.
1 TKT dưới 16 tuổi có các đặc điểm gì?
2 Thực trạng TKT dưới 16 tuổi đang được quản lý tại huyện Quảng Xương, Thanh Hóa là gì?
3 NCS chính TKT là ai?
4 Thực trạng tiếp cận thông tin của NCS về chăm sóc và PHCN cho TKT dưới
16 tuổi là gì? (Tiếp cận những nội dung gì? Cách tiếp cận như thế nào? Hình thức tiếp cận nào là nhiều nhất, phù hợp nhất?)
Nhu cầu thông tin của NCS về chăm sóc và phục hồi chức năng cho TKT bao gồm việc tìm kiếm thông tin qua các kênh khác nhau, xác định nội dung thông tin cần thiết và mức độ quan trọng của thông tin đó Đồng thời, hình thức trình bày nội dung thông tin cũng cần được chú trọng để đảm bảo tính hiệu quả trong việc tiếp cận và sử dụng thông tin.
6 Giải pháp nào phù hợp nhằm tăng cường thông tin cho NCS TKT?
Từ những lý do trên, nghiên cứu “Thực trạng trẻ khuyết tật và nhu cầu thông tin về
Nghiên cứu "Chăm sóc và phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật tại Quảng Xương, Thanh Hóa năm 2020" nhằm mục đích tìm hiểu thực trạng quản lý trẻ khuyết tật cũng như nhu cầu thông tin của người chăm sóc Qua đó, nghiên cứu sẽ đề xuất các giải pháp can thiệp hiệu quả để đáp ứng nhu cầu thông tin của họ.
1 Mô tả thực trạng khuyết tật của trẻ khuyết tật đang được quản lý tại huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa năm 2020
Nhu cầu tiếp cận thông tin của người chăm sóc trẻ khuyết tật tại huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, năm 2023, rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc và phục hồi chức năng Người chăm sóc cần thông tin đầy đủ và chính xác về các phương pháp, dịch vụ hỗ trợ, cũng như các chương trình can thiệp sớm để giúp trẻ phát triển tốt nhất Việc cung cấp thông tin kịp thời và hiệu quả sẽ góp phần nâng cao nhận thức và khả năng chăm sóc cho trẻ khuyết tật trong cộng đồng.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
TKT dưới 16 tuổi (có năm sinh tính đến năm 2020) sinh sống trên địa bàn huyện Quảng Xương- Thanh Hóa năm 2020
NCS TKT tham gia nghiên cứu đáp ứng các tiêu chí sau:
Tuổi: từ 18 tuổi trở lên
Đang là NCS cho các TKT
Đồng ý tham gia nghiên cứu
Không phải là NCS của TKT Định tính
Phỏng vấn các bên liên quan bao gồm
NCS TKT đã chọn một số NCS một cách có chủ đích từ các đối tượng phỏng vấn định lượng, bao gồm cả hai giới tính, để tham gia vào thảo luận nhóm trọng tâm (TLNTT) và phỏng vấn sâu (PVS).
Nhân viên phụ trách PHCN của xã, thôn bản
Tỉnh táo, có khả năng trả lời phỏng vấn
Đồng ý tham gia nghiên cứu
- Nhân viên y tế huyện phụ trách PHCN: Thu thập số liệu từ cán bộ y tế huyện nơi tiến hành nghiên cứu, đáp ứng các tiêu chuẩn sau:
Phụ trách chương trình PHCN của huyện
Tỉnh táo, có khả năng trả lời phỏng vấn
Đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ: Loại những đối tượng không đủ tiêu chí trên,
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Địa điểm: Tại địa bàn huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa
Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu cắt ngang, định lượng kết hợp với định tính.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Toàn bộ TKT dưới 16 tuổi ở huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa năm 2020
Chọn NCS của toàn bộ TKT dưới 16 tuổi (228 TKT) tại huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa đang sinh sống từ tháng 11/2020 đến hết tháng 12/2020
- Định tính: PVS và TLNTT với tổng số 24 đối tượng nghiên cứu (xem bảng 1)
- Chọn mẫu định lượng: Chọn mẫu toàn bộ TKT dưới 16 tuổi sau đó chọn NCS của
TKT tại huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa đáp ứng được những tiêu chuẩn của đối tượng nghiên cứu (như trên)
- Chọn mẫu định tính: Chọn mẫu có chủ đích
Bảng 2 1 Danh sách các đối tượng tham gia nghiên cứu định tính
STT Đối tượng nghiên cứu PVS TLNTT
4 x 4 người/nhóm (bao gồm 8 xã mỗi xã 2 đối tượng, 1 nam,
2 Nhân viên PHCN của thôn/xã 6
3 Nhân viên PHCN của huyện 2
Phương pháp thu thập số liệu
Sử dụng bộ câu hỏi có cấu trúc để phỏng vấn trực tiếp nhằm thu thập thông tin về thực trạng và nhu cầu thông tin của NCS liên quan đến chăm sóc và phục hồi chức năng cho TKT.
Thực trạng trẻ em dưới 16 tuổi mắc TKT đang được theo dõi và thu thập thông qua số liệu thứ cấp từ hồ sơ quản lý tại trung tâm y tế huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
- Qui trình chọn mẫu và thu thập thông tin
Nghiên cứu của chúng tôi xác định nhân viên phụ trách PHCN tại thôn/xã thông qua ủy ban nhân dân xã ở huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa Danh sách mẫu được thu thập để thực hiện chọn mẫu ngẫu nhiên Để gặp NCS TKT, chúng tôi đã liên hệ trước với cán bộ phụ trách PHCN để hẹn thời gian gặp Danh sách đối tượng nghiên cứu được lập dựa trên thông tin từ cán bộ y tế phụ trách PHCN cộng đồng và phòng Lao động, thương binh xã hội huyện.
Thử nghiệm bộ công cụ: chúng tôi tiến hành phỏng vấn thử 10 đối tượng nghiên cứu sau đó chỉnh sửa lại bộ câu hỏi định lượng cho phù hợp
Bộ công cụ: hướng dẫn PVS và TLNTT các đối tượng như đã liệt kê trong bảng trên (bảng 2.1) được xây dựng theo các chủ đề nghiên cứu
Quy trình thu thập thông tin bao gồm việc lựa chọn đối tượng mục tiêu dựa trên các tiêu chí đã nêu Các đối tượng sẽ được phỏng vấn trực tiếp trong khoảng thời gian từ 45 đến 60 phút, sử dụng hướng dẫn phỏng vấn bán cấu trúc đã được chuẩn bị (Phụ lục 5).
Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu định lượng: được nhập bằng phần mềm EpiData và phân tích bằng phần mềm
SPSS 22.0 Phân tích mô tả theo các biến số thuộc mục tiêu nghiên cứu
Số liệu định tính: phân tích theo chủ đề không sử dụng phần mềm
Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
Trẻ em bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể, giác quan hoặc chức năng thường gặp nhiều khó khăn trong các hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập và vui chơi.
- Là người trưởng thành, từ 18 tuổi trở lên, có trách nhiệm, vai trò lớn trong chăm sóc và hỗ trợ PHCN (nếu có) tại gia đình của TKT
Người chăm sóc chính của TKT: Là người hàng ngày trực tiếp chăm sóc
TKT nhiều nhất trong gia đình Ví dụ: bố, mẹ, ông, bà, anh, chị, em
Điều tra viên và nghiên cứu viên
Điều tra viên là những cán bộ tham gia dự án “Chăm sóc sức khỏe và PHCN đối với NKT, TKT”, được đào tạo chuyên sâu về nội dung và yêu cầu của cuộc điều tra, cũng như các kỹ năng tiếp cận và phỏng vấn nhằm đảm bảo độ chính xác cao trong quá trình thu thập thông tin.
Việc thu thập số liệu định tính được thực hiện bởi ba nghiên cứu viên có kinh nghiệm trong lĩnh vực y tế và nghiên cứu định tính, là giảng viên của trường Đại học Y tế công cộng Các nghiên cứu viên này không chỉ tham gia vào quá trình thu thập mà còn trực tiếp giám sát điều tra, đồng thời giải quyết những khó khăn phát sinh trong quá trình thu thập số liệu.
Biến số và các nội dung nghiên cứu
Các nhóm biến số bao gồm các nội dung dưới đây Chi tiết về bảng biến số xin xem ở Phụ lục 1
Đối tượng nghiên cứu bao gồm các thông tin chung như tuổi, giới tính, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, tiền sử gia đình, mức sống và địa bàn sinh sống.
Thông tin về TKT: Tuổi, giới, trình độ học vấn
Thực trạng TKT dưới 16 tuổi đang được quản lý: Thời gian mắc khuyết tật của trẻ, dạng khuyết tật, nguyên nhân dẫn đến khuyết tật, mức độ khuyết tật
Thực trạng tiếp cận thông tin của NCS về chăm sóc và PHCN cho TKT
Nhu cầu thông tin về chăm sóc và PHCN của NCS cho TKT
Nội dung nghiên cứu định tính
Các chủ đề nghiên cứu định tính bao gồm:
Thông tin chung về NCS và TKT dưới 16 tuổi
Nhận thức về vai trò chăm sóc và PHCN của NCS
Thực hành về chăm sóc và PHCN Thực trạng khuyết tật của TKT dưới 16 tuổi đang được quản lý
Thực trạng chăm sóc, PHCN của TKT
Thực trạng và khó khăn trong tiếp cận thông tin
Nhu cầu thông tin về chế độ dinh dưỡng, hỗ trợ tâm lý, và cách chăm sóc cho người bị tai biến (TKT) ngày càng tăng cao Người dân cần biết về các phương pháp phục hồi chức năng tại nhà, cũng như các hình thức truyền thông như ti vi và loa đài để tiếp cận thông tin hiệu quả.
Các rào cản với tiếp cận thông tin về chăm sóc và PHCN cho TKT
Đề xuất giải pháp phù hợp nhằm tăng cường thông tin cho NCS TKT.
Sai số và khống chế sai số
Đây là nghiên cứu cắt ngang nên chỉ cho kết quả tại một thời điểm
Để đảm bảo kết quả phỏng vấn chính xác và kịp thời giải quyết các khó khăn trong quá trình điều tra, chúng tôi thực hiện giám sát thường xuyên việc thu thập số liệu Cụ thể, trong thời gian phỏng vấn, chúng tôi đồng hành cùng cán bộ điều tra để trực tiếp phỏng vấn đối tượng nghiên cứu hoặc kiểm tra ngẫu nhiên 10% số phiếu đã phỏng vấn nhằm xác minh thông tin.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu đã được phê duyệt bởi hội đồng đạo đức với mã số 421/2020/YTCC-HD3 tại trường Đại học Y tế Công cộng Đối tượng nghiên cứu là trẻ em trong quá trình lựa chọn mẫu, sử dụng danh sách từ xã và huyện liên quan đến TKT Phỏng vấn được thực hiện với NCS mà không phỏng vấn trực tiếp đối tượng.
TKT nên quá trình xin phép về mặt đạo đức thông qua NCS và bên liên quan tham gia vào nghiên cứu
Tất cả các đối tượng nghiên cứu được thông báo rõ ràng về mục đích và nội dung nghiên cứu, đồng thời được cung cấp Trang thông tin về nghiên cứu để quyết định tham gia một cách tự nguyện Họ có quyền từ chối tham gia, và nếu đồng ý, sẽ ký vào Giấy chấp thuận tham gia nghiên cứu.
Trong quá trình nghiên cứu, nếu cần thiết, đối tượng nghiên cứu sẽ được tư vấn về cách chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng tại cộng đồng Tất cả thông tin thu thập được sẽ được bảo mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu.
Các đối tượng nghiên cứu không phải chịu bất kỳ rủi ro gì về sức khỏe cũng như tinh thần
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm về đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm chung của NCS TKT
Trong nghiên cứu, có 141/228 đối tượng là nữ giới, chiếm 61,8% Nhóm tuổi từ 30-49 chiếm khoảng 2/3 tổng số đối tượng, với tuổi trung bình là 42,4±12 tuổi Trình độ học vấn chủ yếu là trung học cơ sở, chiếm 43,4% Hầu hết các đối tượng sống ở nông thôn (99,6%) 167/228 đối tượng có thu nhập hàng tháng thấp, từ 1.000.000-1.500.000 VNĐ, chiếm 73,2% Nghề nghiệp chủ yếu là nông dân (61,8%), trong khi tỷ lệ NCS trẻ thất nghiệp ở nhà chăm trẻ là 7,5% Tất cả đối tượng đều có thời gian chăm sóc TKT lâu, với 80,7% có thời gian chăm sóc từ 5 năm trở lên.
Bảng 3 1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm n (%)
Tuổi trung bình (Min- Max) 42,4±12
Trung cấp, Cao đẳng 9 (3,9) ĐH, trên ĐH 7 (3,1)
Nơi sinh sống Nông thôn 227 (99,6)
Nghề tự do 31 (13,6) Ở nhà/nội trợ 4 (1,8)
Thất nghiệp (chỉ ở nhà chăm trẻ) 17 (7,5)
3.1.2 Mối quan hệ của người chăm sóc đối với TKT
Trong nhóm đối tượng nghiên cứu, 100% là người nhà, trong đó bố mẹ chiếm tỷ lệ cao nhất với 84,2%, và ông bà của trẻ chiếm 15,4% (Bảng 3.2).
Bảng 3 2 Mối quan hệ của người chăm sóc đối với TKT Quan hệ của người chăm sóc đối với TKT n %
Trong phỏng vấn định tính, người chăm sóc chính cho trẻ thường là người thân sống cùng nhà, chủ yếu là mẹ Nhiều người tham gia nghiên cứu cho biết, bố là người kiếm tiền chính trong gia đình Trong các gia đình ba thế hệ, ông bà thường đảm nhận việc chăm sóc trẻ vào ban ngày khi bố mẹ đi làm Nghiên cứu cho thấy gia đình đóng vai trò rất quan trọng trong việc chăm sóc trẻ khuyết tật, khi trẻ gần như hoàn toàn phụ thuộc vào sự chăm sóc của gia đình, bao gồm chăm sóc hàng ngày, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, cũng như hỗ trợ tâm lý, tài chính và xã hội.
Theo tôi, việc chăm sóc trẻ em khuyết tật, đặc biệt là những em bị khuyết tật nặng, là rất vất vả Người chăm sóc phải lo lắng cho mọi khía cạnh từ ăn uống đến di chuyển, thực sự là một công việc đòi hỏi sự quan tâm và nỗ lực toàn diện.
3.1.3 Đặc điểm nhân khẩu học của trẻ TKT
TKT phân bố đồng đều giữa các nhóm tuổi, với tỷ lệ cao nhất ở độ tuổi 11 – 15 chiếm 39,9% Tỷ lệ TKT nam cao hơn nữ, lần lượt là 56,1% và 43,9% Đặc biệt, có đến 43,0% TKT không hoặc chưa từng đi học.
Bảng 3 3 Đặc điểm nhân khẩu học của TKT Đặc điểm nhân khẩu học Nội dung Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Trình độ học vấn của trẻ
Không/chưa từng đi học 98 43,0
Thực trạng trẻ khuyết tật
3.2.1 Thời gian mắc khuyết tật của trẻ Đa số thời gian mắc khuyết tật của trẻ là trên 5 năm chiếm 71,0% (Biểu đồ 3.1).
Dưới 1 năm 1- 5 năm Trên 5 năm
Biểu đồ 3.1 Thời gian mắc khuyết tật của trẻ
3.2.2 Phân bố số trẻ khuyết tật theo dạng khuyết tật
Trong số các trẻ khuyết tật, khó khăn về vận động chiếm tỷ lệ cao nhất với 50,0%, tiếp theo là khó khăn về học tập với 17,1%, và khó khăn về nghe, nói chiếm 14,0%.
Bảng 3 4 Phân bố theo dạng khuyết tật
TT Dạng khuyết tật Số trẻ khuyết tật Tỷ lệ (%)
1 Khó khăn về vận động 114 50,0
2 Khó khăn về nghe, nói 32 14,0
3.2.3 Nguyên nhân dẫn đến khuyết tật của trẻ
Hầu hết nguyên nhân mắc khuyết tật ở trẻ là do bẩm sinh, chiếm 91,2%
Bảng 3 5 Nguyên nhân mắc khuyết tật
TT Nguyên nhân mắc khuyết tật Số trẻ khuyết tật Tỷ lệ (%)
2 Mắc phải (Tai nạn, bệnh lý, thiên tai) 20 8,8
3.2.4 Mức độ khuyết tật của trẻ tại thời điểm nghiên cứu Đa số TKT có mức độ khuyết tật tại thời điểm nghiên cứu là nặng và đặc biệt nặng trong đó có 167/228 TKT có mức độ khuyết tật nặng, chiếm 73,2%
Bảng 3 6 Mức độ khuyết tật của trẻ tại thời điểm nghiên cứu
TT Mức độ khuyết tật Số trẻ khuyết tật Tỷ lệ (%)
TT Mức độ khuyết tật Số trẻ khuyết tật Tỷ lệ (%)
Thực trạng tiếp cận thông tin về chăm sóc và phục hồi chức năng cho TKT của NCS
3.3.1 Hình thức tiếp cận thông tin về chăm sóc và phục hồi chức năng cho TKT của NCS Đối tượng nghiên cứu là NCS tiếp cận thông tin thông qua các hình thức phổ biến là từ nhân viên y tế chiếm tỉ lệ cao nhất (89,0%), tiếp theo tư vấn từ người thân, bạn bè (43,4), Ti vi (43,0%), phương tiện phát thanh loa đài (30,3%) (Bảng 3.8) Ngoài ra còn một số hình thức khác như tờ rơi, sách báo, internet chiếm tỉ lệ thấp
Bảng 3 7 Hình thức tiếp cận thông tin về chăm sóc và phục hồi chức năng cho
Không có nguồn thông tin 17 7,5
Tư vấn từ nhân viên y tế 203 89,0
Tư vấn từ bạn bè, người thân 99 43,4
Thông tin từ hội thảo, tập huấn 20 8,8
Tài liệu in ấn (sách, báo, tờ rơi …) 29 12,7
Phương tiện phát thanh: loa đài 69 30,3
Mạng xã hội (facebook, instragram, yahoo, …) 45 19,7
Thông tin từ NCS TKT khác 21 9.2
Kết quả phỏng vấn định tính cho thấy NCS TKT tiếp cận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, với nguồn từ nhân viên y tế là phổ biến nhất Các nguồn thông tin khác như loa đài, tờ rơi, TV, internet, mạng xã hội, và từ những NCS TKT khác khá ít Bên cạnh đó, báo chí và thông tin từ các tổ chức uy tín được coi là nguồn thông tin chính thống hơn, nhưng dữ liệu định tính cho thấy chúng không cung cấp nhiều thông tin về chăm sóc và phục hồi chức năng cho TKT.
Qua phỏng vấn cho thấy, chưa có các buổi tập huấn về chăm sóc và PHCN cho NCS TKT trên địa bàn nghiên cứu (xã, huyện)
Thông tin về sức khỏe có thể được cung cấp qua nhiều kênh khác nhau, như từ cán bộ y tế, chương trình truyền hình, hoặc loa phát thanh Mặc dù tôi thỉnh thoảng nghe được, nhưng những thông tin này thường chỉ mang tính chất chung chung.
Các hình thức tiếp cận thông tin như TV, loa phát thanh, tờ rơi và internet thường thiếu nội dung về người khuyết tật (NKT) và chăm sóc, đặc biệt là thông tin về phục hồi chức năng (PHCN) cho trẻ khuyết tật (TKT) Do đó, hiệu quả thông tin từ các kênh truyền thông gián tiếp thường thấp Một nghiên cứu từ một NCS TKT đã chỉ ra rằng sự tiếp cận và hiệu quả của các kênh truyền thông này đối với NCS TKT hiện nay là rất hạn chế.
Nói chung loa rồi TV là hình thức gián tiếp, nghe tai nọ ra tai kia, tôi không thấy vào, nhớ trước quên sau (PVS, NCS 4)
Trước tình trạng thiếu thông tin từ các kênh truyền thông, nhiều NCS trong nghiên cứu cho biết họ thường tìm kiếm kinh nghiệm từ những người xung quanh hoặc từ các NCS TKT đang sinh sống trong khu vực để có thêm thông tin về chăm sóc.
Chủ yếu thỉnh thoảng mình hỏi xung quanh, chứ báo chí ít, cũng không đọc, mà tờ rơi thì chưa có (TLN 1, NCS)
Một số NCS và CBYT đã đề cập đến việc sử dụng thông tin từ Internet trong chăm sóc và phục hồi chức năng cho TKT Tuy nhiên, thời gian mà họ dành để tìm hiểu thông tin trên các trang web liên quan đến chăm sóc TKT là rất hạn chế Nguyên nhân chính là do họ không có đủ thời gian, vì công việc chăm sóc TKT đòi hỏi nhiều kỹ năng và chiếm nhiều thời gian của họ Do đó, việc truy cập vào các trang mạng để tìm hiểu về cách chăm sóc và phục hồi chức năng cho TKT trở nên khó khăn.
Tôi dành cả ngày để chăm sóc nó, cảm thấy rất mệt mỏi và không có thời gian để tìm hiểu thông tin Hơn nữa, tôi không có mạng, và với chiếc điện thoại cũ này, tôi không thể truy cập được Dù có vào được mạng, tôi cũng không biết phải tìm thông tin ở đâu.
Nhiều NCS không truy cập internet để tìm kiếm thông tin do không có điều kiện, chủ yếu sử dụng điện thoại “cục gạch” và không sở hữu máy tính hay điện thoại thông minh Hơn nữa, một số người đã cố gắng tìm kiếm thông tin cần thiết cho việc chăm sóc nhưng không nhận được nhiều kết quả, dẫn đến việc họ không còn xem internet là kênh thông tin hữu ích cho chăm sóc và phục hồi chức năng trẻ em Theo chia sẻ từ NCS TKT, họ rất ít sử dụng internet để tra cứu thông tin liên quan đến TKT và cách chăm sóc trẻ.
Tôi ít dùng internet, chưa thể dùng được, nhưng có tìm cũng không thấy thông tin đâu (TLN NCS TKT, nam)
3.3.2 Tần suất tiếp cận thông tin về chăm sóc và phục hồi chức năng cho TKT của NCS từ nhân viên y tế Đa số tỷ lệ đối tượng nghiên cứu đánh giá họ có tần suất tiếp cận thông tin về chăm sóc và PHCN cho TKT qua các hình thức ở mức độ thỉnh thoảng chiếm tỷ lệ cao nhất Trong đó không bao giờ tiếp cận thông tin về chăm sóc và PHCN cho TKT chiếm 39,5% (Bảng 3.9)
Bảng 3 8 Tần suất tiếp cận thông tin về chăm sóc và phục hồi chức năng cho
TKT của NCS Tần suất n (%)
Thông tin từ NCS TKT khác 3,5 0,9 36,0 35,1 24,5
3.3.3 Tự đánh giá về mức độ cung cấp kiến thức kỹ năng chăm sóc và PHCN cho TKT của người chăm sóc chính
Hình thức tư vấn từ nhân viên y tế đạt tỷ lệ đánh giá cung cấp thông tin đầy đủ cao nhất, với 33,3%, cho thấy hiệu quả trong việc cung cấp kiến thức và kỹ năng chăm sóc cũng như phục hồi chức năng.
Bảng 3 9 Tự đánh giá về mức độ cung cấp thông tin về chăm sóc và PHCN cho
TKT của người chăm sóc Hiệu quả n (%)
Hình thức Đầy đủ Chấp nhận được
Hình thức Đầy đủ Chấp nhận được
Thông tin từ NCS TKT khác 8,8 30,2 32,5 28,5
3.3.4 Hiểu biết của NCS về chăm sóc và PHCN cho TKT
Tỷ lệ người đánh giá hiểu biết của họ về các lĩnh vực chăm sóc và phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật (TKT) đạt mức trung bình cao nhất, như thể hiện trong Bảng 3.11.
Bảng 3 10 Tự đánh giá về hiểu biết của người chăm sóc chính về chăm sóc và
PHCN cho TKT Hiểu biết n (%)
Cách vệ sinh cá nhân 7 (3,1) 39 (17,1) 144 (63,2) 34 (14,8) 4 (1,8) Chế độ ăn uống hợp lý 9 (3,9) 45 (29,7) 157 (68,9) 17 (7,5) 0 (0,0) Cách cho TKT ăn uống 3 (1,3) 54 (23,7) 142 (62,3) 27 (11,8) 2 (0,9)
Hỗ trợ tắm rửa 1 (0,4) 50 (21,9) 56 (68,4) 21 (9,3) 0 (0,0) Cho TKT uống thuốc 4 (1,8) 60 (26,2) 147 (64,5) 15 (6,6) 2 (0,9) Các cơ sở y tế chuyên 25 (11,0) 77 (33,8) 113 (49,6) 12 (5,2) 1 (0,4) Tiếp cận dịch vụ y tế 11 (4,8) 86 (37,8) 120 (52,6) 11 (4,8) 0 (0,0)
Tự làm dụng cụ PHCN 53 (23,2) 81 (35,5) 90 (39,5) 4 (1,8) 0 (0,0)
Tư vấn học tập 27 (11,8) 95 (41,7) 101 (44,3) 5 (2,2) 0 (0,0) Chính sách 19 (8,3) 82 (36,0) 116 (50,9) 11 (4,8) 0 (0,0)
Tư vấn việc làm 40 (17,6) 94 (41,2) 91 (39,9) 2 (0,9) 1 (0,4) Cách kết nối hội KT 62 (27,2) 68 (29,8) 95 (41,7) 3 (1,3) 0 (0,0) Hướng nghiệp 39 (17,1) 90 (39,4) 92 (40,4) 7 (3,1) 0 (0,0)
Nhiều NCS tham gia nghiên cứu cho biết họ có kiến thức hạn chế về khuyết tật và chăm sóc trẻ khuyết tật, dẫn đến nhu cầu thông tin cụ thể về chăm sóc và phục hồi chức năng cho trẻ Thiếu thông tin và kiến thức về bệnh liên quan đến khuyết tật của trẻ gia tăng gánh nặng cho người chăm sóc, khiến họ cảm thấy thiếu tự tin về chất lượng và phương pháp chăm sóc của mình Một NCS đã chia sẻ rằng họ không chắc chắn liệu mình có đang thực hiện đúng cách hay không.
Tôi nhận thức rằng hiểu biết về khuyết tật của bản thân, dù từ gia đình, vẫn còn hạn chế Hiện tại, tôi cần chú trọng đến việc chăm sóc sức khỏe dinh dưỡng và tâm lý Kinh nghiệm của tôi trong việc chăm sóc bệnh nhân vẫn còn rất ít.
Nhu cầu thông tin của người chăm sóc chính về chăm sóc và phục hồi chức năng cho TKT
3.4.1 Nhu cầu thông tin của người chăm sóc
100% người chăm sóc chính cần thông tin về chăm sóc và phục hồi chức năng cho TKT, theo Bảng 3.12 Nghiên cứu cho thấy rằng tất cả người chăm sóc đều có nhu cầu này.
45 đối tượng NC là NCS TKT đều mong muốn tiếp cận thông tin về CS TKT với các kênh thông tin đa dạng
Bảng 3 11 Nhu cầu thông tin của người chăm sóc chính về chăm sóc và PHCN
Có nhu cầu được cung cấp thông tin 228 100
3.4.2 Nhu cầu về hình thức cung cấp thông tin về chăm sóc và phục hồi chức năng cho TKT của người chăm sóc chính
Trong nhóm đối tượng cần thông tin, 92,5% mong muốn nhận tư vấn về chăm sóc và phục hồi chức năng từ nhân viên y tế Hình thức truyền thông được ưa chuộng là ti vi và phát thanh, với tỷ lệ lựa chọn lần lượt là 49,1% và 44,7%.
TV tư NV YT Từ hộ i th ảo, tập Lo a ph át than h B áo m ạng Tr ang W eb
Biểu đồ 3.2 Nhu cầu về hình thức cung cấp thông tin về chăm sóc và PHCN cho
Thông tin từ nhân viên y tế là nguồn thông tin mà NCS TKT mong muốn nhận được nhất, vì nó được truyền tải trực tiếp và phù hợp với từng trường hợp TKT khác nhau Nhân viên y tế, với chuyên môn cao, cung cấp thông tin chính xác và có thể hỗ trợ NCS trong việc chăm sóc TKT về sức khoẻ thể chất, phục hồi chức năng hàng ngày, cũng như hướng dẫn hỗ trợ tâm lý cho cả NCS và TKT.
Truyền thông trực tiếp mang lại hiệu quả cao hơn vì cho phép cán bộ y tế (CBYT) giao tiếp và tư vấn trực tiếp với người dân, giúp họ lắng nghe và hiểu rõ hơn Mặc dù truyền thông gián tiếp có thể tiếp cận được nhiều người, nhưng nó không thể truyền tải thông điệp một cách sâu sắc như phương pháp trực tiếp Thông qua truyền thông gián tiếp, người nghe có thể bỏ lỡ thông tin quan trọng, dẫn đến hiểu lầm và không đạt được hiệu quả mong muốn Hơn nữa, với chuyên môn trong tư vấn các vấn đề sức khỏe và tâm lý, CBYT có thể cung cấp thông tin chính xác và hữu ích hơn cho cộng đồng.
Thông tin về PHCN cho TKT và chăm sóc hàng ngày là điều mà NCS mong muốn nhận được từ cán bộ y tế Mặc dù đây là kênh thông tin phổ biến nhất, nhưng vai trò cung cấp thông tin của CBYT cho NCS vẫn còn hạn chế và chưa thực sự hiệu quả.
Thông tin về chăm sóc và sàng lọc cho trẻ khuyết tật (TKT) chưa được chú trọng bởi cán bộ y tế (CBYT) do thiếu đào tạo chuyên sâu Tại các trạm y tế, nội dung chăm sóc TKT chỉ là một phần nhỏ trong nhiều lĩnh vực y tế mà trạm phải thực hiện Do đó, việc sàng lọc, phát hiện và chăm sóc cho TKT thường không được quan tâm đúng mức, chủ yếu phụ thuộc vào các dự án hỗ trợ Cán bộ y tế mong muốn nhận được sự hỗ trợ về phục hồi chức năng (PHCN) và trang bị các dụng cụ trợ giúp cần thiết cho công tác này.
NCS hiếm khi đến trạm y tế, nơi không có sàng lọc hay tư vấn Hàng năm, có chương trình mời người nhiễm chất độc Dioxin đến trung tâm y tế khám, nhưng tại xã thì không có Hiện tại, vấn đề phục hồi chức năng (PHCN) đang thiếu thốn, không có chương trình tài trợ nào Người khuyết tật phải tự chịu đựng Trạm chỉ khám các bệnh lý thông thường, trong khi thuốc cho các bệnh lý thần kinh không có tác dụng Tôi rất mong nhận được sự hỗ trợ từ cấp trên về PHCN, đặc biệt là các dụng cụ y tế như xe lăn và nạng cho những người khuyết tật.
CBYT tại TYT thiếu thông tin về sàng lọc và chẩn đoán TKT, cũng như chăm sóc y tế và tâm lý cho trẻ Tại tuyến xã, hoạt động can thiệp chủ yếu chỉ dừng lại ở việc quản lý danh sách TKT và giới thiệu chuyển tuyến cho trẻ khi cần chẩn đoán khuyết tật và phục hồi chức năng.
Xã chưa có chương trình hỗ trợ cho người khuyết tật (TKT) từ trước đến nay, trong khi TKT cần các biện pháp khắc phục khuyết tật như bài tập phục hồi chức năng để hạn chế ảnh hưởng Những người làm trong lĩnh vực y tế như tôi thường hướng dẫn gia đình bệnh nhân tai biến cách tránh teo cơ và loét ép Nếu có lớp tập huấn về kỹ năng chăm sóc người khuyết tật và hỗ trợ kinh phí, tôi sẵn sàng tham gia Phỏng vấn từ một trạm trưởng y tế xã khác cho thấy hầu hết TKT được chuyển lên huyện để chẩn đoán và điều trị, trong khi họ thường tự tìm hiểu về chăm sóc mà chưa được đào tạo chính thức Nhiều cán bộ y tế tham gia nghiên cứu bày tỏ mong muốn tham gia các lớp tập huấn để nâng cao khả năng hỗ trợ cho bệnh nhân và người chăm sóc.
Tập huấn là rất quan trọng và mang lại nhiều lợi ích Ai cũng mong muốn được học hỏi và nâng cao kỹ năng để có thể hỗ trợ bệnh nhân tốt hơn Dù vẫn dựa vào kinh nghiệm cá nhân, việc tham gia các khóa tập huấn sẽ giúp cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe.
Hỗ trợ cho trẻ khuyết tật tại tuyến huyện còn rất hạn chế, với nhiều cán bộ y tế chỉ thực hiện sàng lọc và tư vấn mà không cung cấp hướng dẫn về phục hồi chức năng Sự thiếu hụt dịch vụ chăm sóc cho trẻ khuyết tật và hỗ trợ cho những người chăm sóc trẻ khuyết tật là một vấn đề cần được giải quyết.
PHCN cho trẻ khuyết tật (TKT) tại tuyến huyện thường bị hạn chế do cán bộ y tế (CBYT) thiếu đào tạo về nội dung này, chủ yếu chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ cho trẻ khuyết tật vận động Hệ thống hỗ trợ như dụng cụ trợ giúp tại tuyến xã và huyện gần như không tồn tại Mặc dù bảo hiểm y tế hiện tại có một phần hỗ trợ cho PHCN, nhưng TKT không thể tiếp cận dịch vụ này tại tuyến huyện Theo chia sẻ từ cán bộ ngành y tế và lao động thương binh xã hội, hỗ trợ PHCN cho TKT chủ yếu tập trung vào các thiết bị vận động như xe lăn, được cấp phát miễn phí từ các chương trình dự án.
Nhiều NCS và CBYT cho rằng cần tổ chức các lớp tập huấn định kỳ để nâng cao kiến thức và hướng dẫn thực hành PHCN cho NCS TKT Những lớp tập huấn này không chỉ cung cấp thông tin về chế độ chính sách và hỗ trợ tài chính mà còn giúp NCS TKT hòa nhập xã hội tốt hơn Tuy nhiên, việc mở lớp tập huấn thường gặp khó khăn về kinh phí, điều này trở thành một rào cản lớn trong quá trình thực hiện.
Tôi đề xuất tổ chức các lớp tập huấn cho NCS TKT, vì hiện tại xã có nhu cầu nhưng thiếu kinh phí Hơn nữa, cán bộ y tế xã cũng chưa nắm rõ nhiều về nội dung này.
Một số NCS cho biết họ có thể tham gia tập huấn với tần suất thấp và vào ngày nghỉ do phải chăm sóc cho TKT Hình thức chia sẻ thông tin phổ biến trong câu lạc bộ NCS được đề xuất là giữa các NCS và CBYT Tập huấn có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng bởi CBYT tại câu lạc bộ của NCS.
Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Trong nghiên cứu với 228 đối tượng, 100% là người nhà của nạn nhân, trong đó nữ giới chiếm 61,8% Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Hồ Thị Hiền và cộng sự năm 2020 về người chăm sóc nạn nhân chất độc hóa học Dioxin, có cỡ mẫu 124 NCS Tỷ lệ nữ giới trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu của Danielle Husle và cộng sự năm 2000, nơi tỷ lệ nữ giới là 87,7% trong nhóm người chăm sóc trẻ khuyết tật bị động kinh hoặc bại não Sự khác biệt này có thể do đối tượng nghiên cứu của Danielle chỉ bao gồm bố hoặc mẹ của trẻ khuyết tật.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, đối tượng nghiên cứu là những người chăm sóc trẻ khuyết tật, bao gồm bố/mẹ, ông/bà, và anh/chị em ruột, những người có vai trò quan trọng trong việc chăm sóc trẻ khuyết tật tại gia đình và cộng đồng Đáng chú ý, 99,6% đối tượng nghiên cứu sống ở vùng nông thôn, do nghiên cứu được thực hiện tại Huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa, nơi chỉ có một thị trấn Tân Phong và 26 xã Hầu hết các đối tượng đã có kinh nghiệm chăm sóc nạn nhân từ 5 năm trở lên.
Trong nghiên cứu về mối quan hệ giữa đối tượng nghiên cứu và trẻ khuyết tật, 84,2% đối tượng là bố mẹ của trẻ khuyết tật, tỷ lệ này cao hơn so với 49% trong nghiên cứu năm 2014 tại Quảng Trị Sự khác biệt này có thể do độ tuổi của đối tượng nghiên cứu, từ 15-60 tuổi, trong khi nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào nhóm khác Đặc biệt, 15,4% đối tượng là ông bà của trẻ khuyết tật, phản ánh sự tồn tại của gia đình nhiều thế hệ trong xã hội Việt Nam, điều không phổ biến ở các gia đình phương Tây Trong các gia đình này, ông bà có thể hỗ trợ chăm sóc cháu để cha mẹ có thể đi làm, hiện tượng này thường thấy hơn ở khu vực nông thôn so với thành phố, nơi mà các cặp vợ chồng thường phải làm việc xa để kiếm sống.
Trẻ khuyết tật chủ yếu là trẻ nam, với nhóm tuổi từ 11 đến 15 chiếm 39,9%, tiếp theo là nhóm từ 6 đến 10 tuổi với tỷ lệ 35,5% Đặc biệt, 40,4% trẻ khuyết tật không hoặc chưa từng đi học, cho thấy một thực trạng đáng lo ngại về giáo dục Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai Phương và Đỗ Chí Hùng về tình hình trẻ khuyết tật tại tỉnh Bắc Ninh năm 2018.
Thực trạng trẻ khuyết tật
Thời gian mắc khuyết tật chủ yếu trên 5 năm chiếm 71,1%, nguyên nhân chủ yếu là do bẩm sinh (91,2%) Tỉ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Đỗ Chí Hùng tại Từ Sơn, Bắc Ninh năm 2018, có thể do cỡ mẫu khác nhau Các chấn thương trong sinh hoạt do tính hiếu động của trẻ không ảnh hưởng lớn Mức độ khuyết tật chủ yếu là nặng, chiếm 73,2%, khác với nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân Hương, nơi mức độ khuyết tật nhẹ chiếm 65,5% Sự khác biệt này có thể do đối tượng nghiên cứu khác nhau; nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào TKT từ 0 đến 16 tuổi, trong khi nghiên cứu của Nguyễn Thị Xuân Hương chỉ về TKT trí tuệ.
Khó khăn về vận động chiếm tỷ lệ cao nhất trong các dạng khuyết tật, với 50,0%, tiếp theo là khó khăn về học (17,1%) và khó khăn về nghe, nói (14,0%) Kết quả này khác với nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Thủy và Đỗ Chí Hùng (2017), trong đó khuyết tật về nói có tỷ lệ mắc cao nhất (52,12%) ở trẻ dưới 6 tuổi tại Hà Nội Sự khác biệt này có thể do độ tuổi nghiên cứu khác nhau; nghiên cứu của chúng tôi bao gồm trẻ từ 0-16 tuổi, dẫn đến sự đa dạng hơn về các dạng khuyết tật, trong khi nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Thủy chỉ tập trung vào trẻ từ 0-6 tuổi, độ tuổi chưa đi học và đang trong giai đoạn tập nói.
Thực trạng về tiếp cận thông tin về chăm sóc và phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật của người chăm sóc chính
Kết quả nghiên cứu cho thấy, đối tượng nghiên cứu chủ yếu tiếp cận thông tin về chăm sóc và phục hồi chức năng (PHCN) từ nhân viên y tế (89%), tư vấn từ người thân và bạn bè (43,4%), ti vi (43,0%) và phương tiện phát thanh (30,3%) Tuy nhiên, chất lượng thông tin mà NCS TKT nhận được chủ yếu chỉ ở mức độ trung bình, dẫn đến cảm giác thiếu thông tin trong đa số trường hợp NCS TKT cũng tự đánh giá rằng tần suất tiếp cận thông tin của họ còn hạn chế.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tuổi trung bình của đối tượng là 42,4, cho phép việc tìm kiếm thông tin từ bạn bè và người thân trở nên dễ dàng hơn Điều này khác biệt với nghiên cứu của tác giả Hồ Thị Hiền, trong đó tuổi trung bình cao hơn (61,5) và nạn nhân chủ yếu nhận thông tin từ nhân viên y tế và tư vấn qua ti vi Sự khác biệt này phản ánh nhu cầu tiếp cận thông tin của nạn nhân chất độc hóa học Dioxin.
Tỷ lệ người đánh giá có hiểu biết mức độ trung bình về chăm sóc và phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật là cao nhất, tương đồng với nhiều nghiên cứu khác Các nghiên cứu này cho thấy rằng, tùy thuộc vào hoàn cảnh và trải nghiệm cá nhân, người chăm sóc có thể gặp khó khăn trong việc hiểu và áp dụng thông tin về chăm sóc, dẫn đến việc thông tin nhận được không hỗ trợ hiệu quả cho họ trong việc chăm sóc bệnh nhân.
Đa phần NCS TKT đánh giá rằng tư vấn từ nhân viên y tế là nguồn thông tin hiệu quả Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Suzanne Nikoletti trên NCS ung thư vú và Hồ Thị Hiền trên NCS nạn nhân chất độc hóa học Dioxin Nghiên cứu cho thấy nhu cầu thông tin của nhóm được y tá chuyên chăm sóc ung thư vú tư vấn thấp hơn so với nhóm còn lại.