BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊNTÊN ĐỀ TÀI: Kiến thức, thái độ, thực trạng sử dụng đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo ASB
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
TÊN ĐỀ TÀI: Kiến thức, thái độ, thực trạng sử dụng đồ uống
chứa chất làm ngọt nhân tạo (ASB) của sinh viên một số trường đại học
tại Hà Nội năm 2022 và một số yếu tố liên quan
MÃ SỐ: SV 21.22-08
Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học y, dược
Hà Nội, 6/2022
HUPH
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊNTÊN ĐỀ TÀI: Kiến
thức, thái độ, thực trạng sử dụng đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo (ASB) của sinh viên một số trường đại học
tại Hà Nội năm 2022 và một số yếu tố liên quan
MÃ SỐ: SV 21.22-08
Thuộc nhóm ngành khoa học: Khoa học y, dược
Sinh viên thực hiện: Đoàn Lê Tuấn Anh Nam, Nữ: Nam Dân tộc: Kinh
Lớp, khoa: CNCQDD2-1A2 Năm thứ: 4 /Số năm đào tạo: 4
Ngành học: Dinh dưỡng học
Người hướng dẫn: Ths Hoàng Khắc Tuấn Anh
Hà Nội, 6/2022
HUPH
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Thông tin chung
- Tên đề tài: Kiến thức, thái độ, thực trạng sử dụng đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo (ASB) của sinh viên một số trường đại học tại Hà Nội năm 2022 và một
số yếu tố liên quan
- Sinh viên thực hiện: Đoàn Lê Tuấn Anh, Trần Thị Hồng Dịu, Vũ Thị Ngọc Bích
- Lớp: CNCQDD2-1A - Chuyên ngành: Dinh dưỡng
- Năm thứ: 04 - Số năm đào tạo: 04
- Người hướng dẫn: Ths Hoàng Khắc Tuấn Anh
Hiện nay, với dân số khoảng 98 triệu người, trong đó phân nửa dân số dưới 30 tuổi, Việt Nam là một trong quốc gia được đánh giá là thị trường tiêu thụ đồ uống tiềm năng Cùng với sự phát triển của kinh tế-xã hội, người tiêu dùng ngày càng có nhiều sự lựa chọn, họ ưu tiên những sản phẩm đồ uống được quảng cáo là tốt cho sức khỏe hay các loại đồ uống được gọi là “phiên bản nâng cấp” của những sản phẩm đồ uống
HUPH
Trang 4truyền thống Việc ưu tiên lựa chọn những sản phẩm đồ uống không calo hoặc chứa ít calo (đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo) ngày càng được giới trẻ ưa chuộng Tuy nhiên các nghiên cứu về thực trạng sử dụng về các loại đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo này tại Việt Nam chưa có Nghiên cứu thực hiện ở sinh viên khối ngành Y tế
có nền tảng Y học so với trường không có kiến thức về Y học nhằm đánh giá được nhận thức, hành vi của các bạn sinh viên khác nhau ra sao Chính vì vậy chúng tôi quyết định thực hiện nghiên cứu để tìm hiểu thực trạng sử dụng và kiến thức, thái độ của sinh viên một số trường đại học tại Hà Nội sử dụng đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo năm 2022 và một số yếu tố liên quan Mong đợi sẽ đưa ra các khuyến nghị về tiêu dùng, quản lý và chính sách sức khỏe, kinh tế riêng biệt dành cho nhóm sản phẩm này
4 Kết quả nghiên cứu
Nhóm đã liệt kê được 7 nguy cơ sức khỏe đối với đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo Kết quả cho thấy, kiến thức của sinh viên về nguy cơ sức khỏe là rất hạn chế và có
sự khác nhau giữa kiến thức nguy cơ giữa các nhóm Đối với thái độ về đồ uống chứa đường nhân tạo, gần 2/3 sinh viên ít hoặc không đồng tình từ bỏ đồ uống chứa đường nhân tạo, kể cả khi biết có nguy cơ về sức khỏe Về thực trạng sử dụng: Mức tiêu thụ
đồ uống chứa đường nhân tạo của đối tượng nghiên cứu khoảng trung vị là 660ml Rất
ít sinh viên sử dụng đồ uống chứa đường nhân tạo hàng ngày (6,9%) Kết quả cho thấy chỉ số BMI, hút thuốc và việc đã từng nhận được góp ý về việc tiêu thụ ASB từ người quen, bạn bè, gia đình là những yếu tố có mối liên quan đến hành vi tiêu thụ ASB trong vòng 1 tháng trở lại Cụ thể, những đối tượng có chỉ số BMI càng cao thì xác suất có tiêu thụ ASB trong một tháng qua sẽ cao gấp 1.07 lần, xác suất đối tượng có tiêu thụ ASB trong vòng 1 tháng qua ở những đối tượng hút thuốc cao hơn 1.88 lần so với các đối tượng không hút thuốc lá Ngoài ra, nghiên cứu cũng nhận thấy các đối tượng bị thừa cân béo phì thì xác suất có sử dụng ASB trong 1 tháng qua cũng cao hơn gấp 1.54 lần so với các đối tượng ở thể trạng bình thường
5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài
- Về khoa học và đào tạo: Cập nhật về thực trạng sử dụng đồ uống chứa chất làm
ngọt nhân tạo, đánh giá kiến thức, thái độ và một số yếu tố liên quan đến thực trạng
HUPH
Trang 5tiêu thụ đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo Kết quả nghiên cứu có thể gợi ý cho
một số nghiên cứu chuyên sâu liên quan đến đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo
- Về phát triển kinh tế: Kết quả của nghiên cứu này sẽ cung cấp bằng chứng khoa
học về kiến thức, thái độ và hành vi tiêu dùng của loại đồ uống chứa chất tạo ngọt
nhân tạo nhằm cung cấp thông tin giúp các chuyên gia xây dựng biện pháp can thiệp
và chính sách thuế phù hợp đối với loại đồ uống này
- Về xã hội: Kết quả của nghiên cứu sẽ cung cấp bằng chứng khoa học về kiến thức,
thái độ và hành vi tiêu dùng, từ đó có những biện pháp tăng cường kiến thức của người
tiêu dùng nhằm giúp họ sáng suốt hơn trong việc lựa chọn thực phẩm cho lợi cho sức
khỏe
6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ tên tạp
chí nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu
có):
Hà Nội, ngày 07 tháng 06 năm 2022
Sinh viên chịu trách nhiệm chính
thực hiện đề tài
(Ký, họ và tên)
Đoàn Lê Tuấn Anh
Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực
hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):
Xác nhận của trường đại học
(Ký tên và đóng dấu)
Hà Nội, ngày 07 tháng 06 năm 2022
Người hướng dẫn
(Ký, họ và tên) HUPH
Trang 6TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN
Họ và tên: Đoàn Lê Tuấn Anh
Sinh ngày: 11/05/2000
Nơi sinh: 43/5 ấp 1 xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai
Khoa: Dinh dưỡng và an toàn thực phẩm
Địa chỉ liên hệ: Số 10, ngõ 351 Thụy Phương, phường Thụy Phương, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội
Điện thoại: 0347496444 Email: 1814010039@studenthuph.edu.vn
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm
đang học):
* Năm thứ 1:
Ngành học: Dinh dưỡng Kết quả xếp loại học tập: Khá
Sơ lược thành tích:
- Bằng khen Ban chấp hành Đoàn thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh Thành phố
Hà Nội “Cá nhân xuất sắc tiêu biểu công tác Đoàn và phong trào Thanh niên khối Đại học, Cao Đẳng, Học viện Thủ đô năm học 2018-2019”
* Năm thứ 2:
Ngành học: Dinh dưỡng Kết quả xếp loại học tập: Khá
Sơ lược thành tích: Tham gia đầy đủ khóa học, tích cực tham gia các hoạt động trường, lớp
* Năm thứ 3:
Ngành học: Dinh dưỡng Kết quả xếp loại học tập: Giỏi
Sơ lược thành tích:
HUPH
Trang 7- Bằng khen Bộ trưởng Bộ Y tế “Đã có thành tích xuất sắc trong công tác hỗ trợ
phòng, chống dịch Covid-19 tại Bắc Giang và Bắc Ninh”
- Bằng khen Ban chấp hành Đoàn thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh Thành phố
Hà Nội “Cá nhân xuất sắc tiêu biểu công tác Đoàn và phong trào Thanh niên khối Đại
học, Cao Đẳng, Học viện Thủ đô năm học 2020-2021”
- Giấy khen Ủy ban nhân dân Quận 7 “Sinh viên có thành tích đóng góp xuất sắc
trong công tác hỗ trợ phòng, chống dịch Covid-19 tại Quận 7, Thành phố Hồ Chí
- Bằng khen Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh “cá nhân đã có thành tích
xuất sắc trong công tác tham gia, hỗ trợ công tác phòng, chống dịch COVID-19
tại TP.HCM”
Xác nhận của trường đại học
(ký tên và đóng dấu)
Hà Nội, ngày 07 tháng 06 năm 2022
Sinh viên chịu trách nhiệm chính
thực hiện đề tài
(ký, họ và tên)
Đoàn Lê Tuấn Anh
HUPH
Trang 8MỤC LỤC
2.2 Kiến thức, thái độ và thực trạng tiêu thụ đồ uống chứa đường nhân tạo 182.3 Một số yếu tố liên quan đến tiêu thụ đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo 19
4.2 Kiến thức, thái độ và thực trạng tiêu thụ đồ uống chứa đường nhân tạo 30
5.2 Kiến thức, thái độ và thực trạng tiêu thụ đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo 45
HUPH
Trang 9KẾT LUẬN 51
1 Kiến thức, thái độ và thực trạng tiêu thụ đồ uống chứa đường nhân tạo: 51
Phụ lục 4: Phiếu điều tra tần suất tiêu thụ đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo 74Phụ lục 5: Một số ảnh mẫu các loại chai, lon đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo thường sử dụng để uống dùng cho phỏng vấn tần suất tiêu thụ 77
HUPH
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 3 2: Tiêu chuẩn đánh giá chỉ số khối cơ thể BMI theo IDI & WPRO (dành riêng
Bảng 4 2: Cân nặng, chiều cao và BMI trung bình của sinh viên 36 Bảng 4 3: Thực trạng sử dụng đồ uống chứa đường nhân tạo 46 Bảng 4 4: Tần suất sử dụng đồ uống chứa đường nhân tạo trong vòng 1 tháng qua cho sinh viên khối ngành sức khỏe và khối ngành ngoài sức khỏe (n=320) 47 Bảng 4 5: Tổng lượng tiêu thụ tất cả các loại đồ uống chứa đường nhân tạo trung bình của 1 người trong vòng 1 tháng trước cuộc điều tra (n=605) 48 Bảng 4 6: Một số yếu tố ảnh hưởng đến tiêu thụ đồ uống chứa đường nhân tạo
HUPH
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4 1: Kiến thức về thông tin đồ uống chứa đường nhân tạo của sinh viên 2 37 Biểu đồ 4 2: Kiến về lợi ích của đồ uống chứa đường nhân tạo của sinh viên 2 khối
Biểu đồ 4 3: Kiến về nguy cơ đối với sức khỏe khi uống đồ uống chứa đường nhân tạo
Biểu đồ 4 4: Nguồn thông tin về sức khỏe khi sử dụng đồ uống chứa đường nhân tạo
HUPH
Trang 12DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
ASB Đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo (Artificial sweetener beverage)
AS Chất làm ngọt nhân tạo (Artificial sweetener)
BMI Chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index)
NNS Chất làm ngọt không dinh dưỡng (Non-nutritive – NNS)
SSB Đồ uống có đường (Sugar-sweetened beverages)
HUPH
Trang 131 ĐẶT VẤN ĐỀ
Đồng hành cùng quá trình toàn cầu hóa, mức sống của con người ngày càng được cải thiện, nhất là về mặt dinh dưỡng, cùng với sự gia tăng của bệnh lý mạn tính thừa cân - béo phì, đái tháo đường, ung thư và bệnh lý về tim mạch do đó người dân có mong muốn, nhu cầu được lựa chọn nguồn thực phẩm an toàn và có công dụng cải thiện được tình trạng sức khoẻ Những năm gần đây, ngành công nghiệp thực phẩm đã
có những chiến lược mới đáp ứng nhanh chóng với nhu cầu tăng cao về những sản phẩm dành cho sức khỏe Các sản phẩm giải khát cũng được mở rộng với những nhóm sản phẩm mới như đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo (Artificially-Sweetened Beverages- ASB); đồ uống thể thao (sport drink, bổ sung điện giải); trà/ cafe pha sẵn; Trong số những dòng sản phẩm mới, đồ uống có chất làm ngọt nhân tạo chứa ít hoặc không calo được người tiêu dùng thích thú với thị phần tiêu dùng không nhỏ [1,2]
Tuy việc sử dụng đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo vẫn có tác dụng giúp cơ thể hạn chế việc hấp thụ calo nhưng chúng lại gây cảm giác thèm ăn Một nghiên cứu khác tại Đại học Texas cho thấy rằng một người uống càng nhiều đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo trong chế độ ăn uống thì nguy cơ bị thừa cân càng cao Vì thế, uống
đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo để thay thế cho nước ngọt thông thường không thật sự giúp giảm cân mà còn gây hại sức khoẻ [3] Thành phần trong sản phẩm ảnh hưởng đến một số chức năng quan trọng của cơ thể, có thể gây rối loạn chuyển hóa và
có thể tăng tỷ lệ mắc phải các bệnh lý như thừa cân – béo phì [4], các bệnh lý liên quan tim mạch, bệnh tiểu đường và một số bệnh lý khác [5]
Thay vì hướng đến nhóm người tiêu dùng có bệnh lý về chuyển hóa đường, các chiến lược tiêu thu lại tập trung vào nhóm đối tượng muốn kiểm soát cân nặng và chế
độ ăn thông qua sử dụng sản phẩm này Thông điệp quảng cáo của loại đồ uống này là hứa hẹn kiểm soát cân nặng hoặc giảm cân cho các đối tượng sử dụng do dòng sản phẩm này không chứa hoặc chứa rất ít lượng calo
Hiện nay, với dân số khoảng 98 triệu người, trong đó phân nửa dân số dưới 30 tuổi, Việt Nam là một trong quốc gia được đánh giá là thị trường tiêu thụ đồ uống tiềm năng Cùng với sự phát triển của kinh tế-xã hội, người tiêu dùng ngày càng có nhiều sự lựa chọn, họ ưu tiên những sản phẩm đồ uống được quảng cáo là tốt cho sức khỏe hay
HUPH
Trang 14các loại đồ uống được gọi là “phiên bản nâng cấp” của những sản phẩm đồ uống truyền thống Việc ưu tiên lựa chọn những sản phẩm đồ uống không calo hoặc chứa ít calo (đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo) ngày càng được giới trẻ ưa chuộng Tuy nhiên các nghiên cứu về thực trạng sử dụng về các loại đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo này tại Việt Nam chưa có Nghiên cứu thực hiện ở sinh viên khối ngành Y tế
có nền tảng Y học so với trường không có kiến thức về Y học nhằm đánh giá được nhận thức, hành vi của các bạn sinh viên khác nhau ra sao Chính vì vậy chúng tôi quyết định thực hiện nghiên cứu để tìm hiểu thực trạng sử dụng và kiến thức, thái độ của sinh viên một số trường đại học tại Hà Nội sử dụng đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo năm 2022 và một số yếu tố liên quan Mong đợi sẽ đưa ra các khuyến nghị về tiêu dùng, quản lý và chính sách sức khỏe, kinh tế riêng biệt dành cho nhóm sản phẩm này
Mục tiêu nghiên cứu:
- Mô tả kiến thức, thái độ và thực trạng sử dụng đồ uống chứa chất làm ngọt nhân
tạo (ASB) của sinh viên một số trường đại học tại Hà Nội năm 2022
- Xác định một số yếu tố liên quan đến thực trạng sử dụng đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo (ASB) của sinh viên một số trường đại học tại Hà Nội năm 2022
HUPH
Trang 152 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đại cương về chất làm ngọt nhân tạo (ASB)
2.1.1 Khái niệm đồ uống chứa đường nhân tạo
Đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo (ASB) được định nghĩa là đồ uống có
chứa chất làm ngọt nhân tạo (Artificial sweeteners – AS) hoặc là chất làm ngọt không dinh dưỡng (Non-nutritive – NNS) cung cấp vị ngọt mà không cần sử dụng đường thông thường cho vào đồ uống [6,7] Chất làm ngọt nhân tạo được sử dụng để thay thế đường thông thường trong đồ uống giúp nạp ít calories hoặc không chứa calories Một
số chất làm ngọt nhân tạo đang được sử dụng cho vào đồ uống để thay thế đường thông thường hiện nay là aspartame, saccharin, sucralose, cyclamates, acesulfame potassium và stevia [7] Tại Việt Nam, một số dòng đồ uống ASB phổ biến được biết đến như Pepsi không đường, Coca- cola không đường, Trà bí đao Wonderfarm ít đường, Suntory All-free, Monster zero ultra và Lavie nước uống có ga hương bạc hà ngọt nhẹ
Lần lượt các sản phẩm đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo được thử nghiệm
và đưa vào sử dụng Nó rất chóng trở thành loại đồ uống bán chạy thứ 4 ở Mỹ [8] Tuy nhiên thị trường đồ uống này nhanh chóng giảm sút do thí nghiệm tại Đại học Wisconsin-Madison phát hiện ra rằng các sản phẩm này gây ra ung thư bàng quang ở chuột thí nghiệm và tiếp sau thí nghiệm của Abbott Lab lại cho rằng các đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo có khả năng gây ung thư ở người[10,11] Cục quản lý dược phẩm và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) ngay lập tức thông báo lệnh cấm chất làm ngọt nhân tạo trong các sản phẩm thực phẩm và đồ uống kiến lượng thị phần của đồ uống
ăn kiêng nhanh chóng giảm từ 20% xuống 3% trên tổng thể các loại đồ uống [8]
HUPH
Trang 16Sau đó, đã có nhiều nghiên cứu sâu hơn về mối liên hệ giữa chất làm ngọt nhân tạo gây ra bệnh ung thư, các nghiên cứu đã chứng minh rằng chất làm ngọt nhân tạo không phải là một yếu tố quan trọng trong các nguy cơ mắc bệnh ung thư Tuy nhiên, hầu hết các nhà sản xuất đã chuyển sử dụng hoạt chất làm ngọt nhân tạo mới thay cho
loại cũ đã bị cho rằng gây ra ung thư vào năm 1983 [8]
2.1.3 Tác dụng và tác hại tiềm tàng
Tác dụng, lợi ích:
Năm 2018, Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ đã đưa khuyến cáo có thể thay thế tạm thời đồ uống có đường (SSB) bằng đồ uống có chứa chất làm ngọt ít calo, bao gồm cả
đồ uống được làm ngọt nhân tạo (ASB) Đây được coi là một phương pháp chuyển đổi
“trung gian” để giảm calo và giảm cân ở một số người lớn dựa trên thực tế rằng việc thay thế (SSB) bằng nước sẽ rất khó để thực hành với nhóm người đã quen với vị ngọt của (SSB) Khuyến cáo được đưa ra dựa trên sự cân nhắc về lợi ích – tác hại của ASB khi đã có những bằng chứng nghiên cứu về chuyển hóa bệnh lý về tim của (SSB) Ngoài ra, các bằng chứng liên quan đến tác động tiêu cực khác đến sức khỏe của đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo vẫn chưa đủ thuyết phục nhưng đang gia tăng về mặt số lượng tác hại của nó Câu hỏi đặt ra là ảnh hưởng sức khỏe của việc tiêu thụ ASB ngày càng thu hút được sự quan tâm của y học bởi sự phát triển mạnh mẽ của nó trong cuộc sống hàng ngày của con người Chất làm ngọt nhân tạo là sản phẩm được phát triển vào cuối thế kỉ 20 như một loại thực phẩm chức năng để hỗ trợ những người
có bệnh lý nền về không dung nạp glucose và đái tháo đường tuýp 2 [12] Tuy nhiên, qua một thời gian dài, ASB đã vượt khỏi ranh giới lâm sàng mà trở thành một sản phẩm được sử dụng rộng rãi trong chế độ ăn hàng ngày trên toàn thế giới ASB có thể gặp ở trong rất nhiều sản phẩm trải dài từ thực phẩm chế biến sẵn, đồ uống hay dạng nguyên chất [13]
Tác hại tiềm tàng, rủi ro sử dụng:
Mối liên hệ giữa việc tiêu thụ ASB thường xuyên với đột quỵ, các lý bệnh tim
và tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân vẫn tương đối không thay đổi và không bị suy giảm Trong các phân tích về các nghiên cứu này, giảm bớt một phần lo ngại về các ý kiến trái chiều việc sử dụng đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo Tuy nhiên, chúng ta
HUPH
Trang 17không thể loại trừ trường hợp tất cả những người tham gia nghiên cứu có thể bị tiền tiểu đường, thừa cân và béo phì, hoặc hội chứng chuyển hóa [14]
Ảnh hưởng đến tim mạch:
Một nghiên cứu của Yasmin Mossavar-Rahmani và các cộng sự, đã chỉ ra mối liên quan giữa việc tiêu thụ đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo và các tác dụng phụ đối với bệnh tim mạch Kết luận rằng tiêu thụ nhiều ASB có liên quan đến nguy cơ đột quỵ do thiếu máu cục bộ do tắc động mạch nhỏ tăng gấp 2 lần, tỷ lệ nguy cơ đột quỵ
do thiếu máu cục bộ do tắc động mạch nhỏ = 2,44 Tiêu thụ ASB có liên quan đến tăng đáng kể nguy cơ đột quỵ do thiếu máu cục bộ ở phụ nữ có chỉ số khối cơ thể ≥30 lần; tỷ lệ nguy hiểm = 2.03 sử dụng một lượng lớn đồ uống chất làm ngọt nhân tạo có liên quan đến tăng nguy cơ đột quỵ, đặc biệt là loại tắc động mạch nhỏ, bệnh tim mạch vành và tử vong do mọi nguyên nhân Mặc dù cần phải nhân rộng, những phát hiện mới này làm tăng thêm mối liên quan giữa sức khỏe đến việc tiêu thụ một lượng lớn ASB với những kết quả [15–17] Một nghiên cứu của Pase MP và cộng sự với 2888 người tham gia >45 tuổi bị đột quỵ và 1484 người tham gia >60 tuổi bị sa sút trí tuệ nhằm tìm ra tác động của đồ uống có đường và đồ uống có chất làm ngọt nhân tạo ảnh hưởng như thế nào đến nguy cơ các bệnh mạch máu và chứng sa sút trí tuệ, nhận thấy rằng việc uống đồ uống có chất làm ngọt nhân tạo có liên quan đến nguy cơ đột quỵ và
sa sút trí tuệ cao hơn [18]
Ảnh hưởng đến rối loạn dung nạp Glucose:
Bằng chứng thực nghiệm cung cấp hỗ trợ cho một số cơ chế nhân quả tiềm ẩn
có thể giải thích nguy cơ gia tăng các bệnh liên quan đến mạch máu, tiêu thụ chất làm ngọt nhân tạo có trong đồ uống đã được chứng minh là do thèm đường và dẫn đến kích thích sự thèm ăn, tăng tiêu thụ, tăng cân và không dung nạp glucose [19–21] ASB thậm chí có thể ảnh hưởng đến khả năng dung nạp glucose thông qua các cơ chế liên quan đến thay đổi hệ tiêu hóa Theo Suez Jotham và cộng sự, việc tiêu thụ đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo không calo làm tăng nguy cơ không dung nạp đường huyết ở người [22] Nghiên cứu này ủng hộ tầm quan trọng của việc tiêu thụ đồ uống
có chất làm ngọt nhân tạo trong điều trị bệnh tiểu đường Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cho thấy rằng chuyển sang đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo có thể không làm
HUPH
Trang 18giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường, vì tiêu thụ đồ uống này không thể loại trừ một yếu
tố nguy cơ tiểu đường khá [14]
Nguy cơ mắc ung thư:
Một nghiên cứu của NutriNet-Santé về đồ uống có đường và đồ uống có chất làm ngọt nhân tạo về bệnh lý tim mạch, nhóm nghiên cứu NutriNet-Santé kết luận rằng việc tiêu thụ đồ uống có đường không có liên quan đến bệnh ung thư, tuy nhiên vẫn có rủi ro về loại đồ uống này do ít người tham gia, thời gian nghiên cứu quá ngắn [6]
2.2 Kiến thức, thái độ và thực trạng tiêu thụ đồ uống chứa đường nhân tạo
Đây là nghiên cứu đầu tiên riêng biệt về sản phẩm đồ uống chứa đường nhân tạo, do đó không tìm thấy tài liệu nào liên quan đến kiến thức, thái độ và thực trạng tiêu thụ riêng biệt cho sản phẩm này Tuy nghiên, một số tài liệu liên quan đến đường nhân tạo cũng sẽ được nhóm đưa vào, do tính chất các sản phẩm này tự tượng loại đồ uống trên là đều chứa đường nhân tạo
2.2.1 Kiến thức
Một nghiên cứu của Inderjit M.G và cộng sự năm 2021 về kiến thức của các đối tượng tiêu thụ đường nhân tạo cho thấy đối tượng nghiên cứu có đến 67,5% đối tượng cho rằng việc sử dụng đường nhân tạo giúp giảm cân và có đến 75,1% cho rằng đường nhân tạo phù hợp với những người bị bệnh tiểu đường [30]
2.2.2 Thái độ
Nghiên cứu của Grace Frahat và cộng sự năm 2021 (khoảng 37%) và nghiên cứu của Inderjit M.G và cộng sự năm 2021 (31,5%) khi nói đến ý định thay đổi hành
vi tiêu thụ sản phẩm đường nhân tạo, các đối tượng ý định giảm tiêu thụ các loại sản
phẩm chứa đường nhân tạo [13]
2.2.3 Thực trạng tiêu thụ đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo (ASB)
Trên thế giới: Trong một cuộc khảo sát về lý do tại sao mọi người tiêu thụ thực
phẩm chứa chất làm ngọt nhân tạo, 31% số người được hỏi cho rằng họ không có đủ kiến thức để hoàn thành cuộc khảo sát [23] Việc xác định được thành phần chất làm
HUPH
Trang 19ngọt nhân tạo thông qua nhãn dán rất quan trọng, để người dân sử dụng đúng mục đích chất làm ngọt nhân tạo và liệu việc sử dụng chất làm ngọt nhân tạo (NNS) trong thực phẩm có liên quan đến việc cải thiện sức khỏe hay không Với sự phổ biến của chất làm ngọt nhân tạo (NNS), có một sự chênh lệch đáng ngạc nhiên về sự kiến thức về các loại thực phẩm chứa chất này và các sinh viên đại học Kiến thức về các thực phẩm chứa chất làm ngọt nhân tạo rất quan trọng, nếu như người tiêu dùng dành thời gian để dọc thành phần trên nhãn thực phẩm thì liệu rằng họ có sử dụng các loại đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo và thực phẩm này Một nghiên cứu ở Mỹ vào năm
2017 được thực hiện đã chỉ ra việc tiêu thụ đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo rất phổ biến ở Hoa Kỳ, ở cả trẻ em và người lớn 25,1% trẻ em và 41,4% người lớn cho biết đã tiêu thụ đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo Hầu hết người tiêu dùng cho biết
họ sử dụng một lần mỗi ngày (80% trẻ em, 56% người lớn) và tần suất tiêu thụ sản phẩm tăng lên theo trọng lượng cơ thể [24]
Tại Việt Nam: Hiện nay chưa tìm được tài liệu chính thức nào về các báo cáo
nghiên cứu liên quan đến thực trạng sử dụng của người dân đối với loại đồ uống có chất làm ngọt nhân tạo ở Việt Nam, cũng như các nghiên cứu về vấn đề này đối với đối tượng sinh viên
2.3 Một số yếu tố liên quan đến tiêu thụ đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo
2.2.1 Yếu tố cá nhân
Tình trạng dinh dưỡng:
Cuộc khảo sát của Hiệp hội Y tế Đại học Hoa Kỳ cho thấy 36,0% trong số
19664 người được hỏi chỉ ra họ đang cố gắng giảm cân khi sử dụng loại đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo [25] Một cuộc nghiên cứu khác đã nghiên cứu trên 1589 người
sử dụng thực phẩm chứa chất làm ngọt nhân tạo Trong tổng số 1589 người sử dụng,
số người biết bản thân đang thừa cân là (48%) và 16% béo phì, trong khi đó 34,2% người tiêu dùng tự nhận tình trạng BMI của mình là bình thường Nghiên cứu chỉ ra mối liên quan đáng kể giữa việc tiêu thụ đồ uống ASB và các sản phẩm chứa chất làm ngọt nhân tạo khác Và BMI NNS, với 67% thừa cân và béo phì người tiêu thụ các sản
phẩm chất làm ngọt nhân tạo, so với 51% ở những người có cân nặng bình thường [13] Kiến thức dinh dưỡng:
HUPH
Trang 20Trong một cuộc khảo sát về lý do tại sao mọi người tiêu thụ thực phẩm chứa chất làm ngọt nhân tạo, 31% số người được hỏi cho rằng họ không có đủ kiến thức để hoàn thành cuộc khảo sát [23] Việc xác định được thành phần chất làm ngọt nhân tạo thông qua nhãn dán rất quan trọng, để người dân sử dụng đúng mục đích chất làm ngọt nhân tạo và liệu việc sử dụng chất làm ngọt nhân tạo (NNS) trong thực phẩm có liên
quan đến việc cải thiện sức khỏe hay không Kết quả nghiên cứu cho thấy tầm hiểu
biết và kiến thức của người dân có ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựa chọn sản phẩm đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo Việc phát triển các chiến lược truyền thông hiệu quả để giáo dục, nâng cao kiến thức và tầm hiểu biết của người tiêu dùng được bởi cơ quan chính phủ, y tế đáng tin cậy và các cơ quan chuyên môn có thể giúp người tiêu dùng đưa ra những lựa chọn sáng suốt trong việc lựa chọn các sản phẩm đồ uống tốt
đã làm cho mức tiêu thụ ASB tăng vọt Các thực phẩm chứa chất làm ngọt nhân tạo và
đồ uống chứa chất làm ngọt nhân tạo được quản lý bởi cơ quan thực phẩm Hoa Kỳ và
Cơ quan Quản lý Dược phẩm (FDA) được xem là an toàn cho con người, mặc dù công dụng của chúng đối với việc quản lý cân nặng, bệnh tim mạch và tỷ lệ tử vong do sử
dụng loại này đã bị một số nhà nghiên cứu cho ý kiến trái chiều [1,2] Tuy nhiên, câu
hỏi về tính an toàn hoặc hiệu quả tương đối của các loại thực phẩm sử dụng chất làm ngọt nhân tạo nói chung không phải là trọng tâm của nghiên cứu này Thay vào đó nghiên cứu tập trung vào lượng tiêu thụ, lượng tiêu thụ đã thay đổi khi các quốc gia đánh thuế vào các sản phẩm chứa đường thông thường khi đã có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tác hại Một nghiên cứu ở Ấn độ đã cho thấy sự thay đổi thị trường đồ uống dần chuyển sang các loại đồ uống có giá rẻ hơn sau khi đánh thuế vào các sản phẩm đồ uống có đường khi mà giá của chúng tăng lên [26]
HUPH
Trang 21Phương tiện truyền thông:
Việc ghi nhãn thành phần chất dinh dưỡng của sản phẩm nói chung giúp người tiêu dùng đưa ra quyết định sáng suốt về chế độ ăn uống của mình, nhưng điều này có thể phản tác dụng nếu thông tin về sản phẩm không được diễn giải chính xác Trong một cuộc khảo sát tiếp thị với 2133 người trả lời khảo sát các yếu tố liên quan đến việc xây dựng thương hiệu thực phẩm tin tưởng, hai mục được mô tả là cực kỳ / rất quan trọng: (1) “Minh bạch / không cố gắng che giấu thông tin ‘’và (2) “ Mở về cách thức thực phẩm được tạo ra / những gì nó chứa ”cho thấy sự quan trọng trong việc ghi nhãn
thành phần chất dinh dưỡng [27]
Khung lý thuyết
HUPH
Trang 223 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực theo phương pháp cắt ngang
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Chọn sinh viên đại học thuộc 4 trường: Đại học Y tế Công cộng, trường Đại học Y Hà Nội, Học viện Tài chính, trường Đại học Mỏ-địa chất, chia theo 2 khối ngành khoa học sức khoẻ và ngoài khối ngành khác Nhằm phân tích sâu hơn mối liên quan kiến thức, thái độ và thực trạng tiêu thụ của khối ngành khoa học sức khoẻ và ngoài khối ngành khoa học sức khỏe
3.2.1 Tiêu chuẩn chọn lựa
Hiện đang là sinh viên hệ cử nhân chính quy đang học tập thuộc 4 trường trong nghiên cứu và đồng ý tham gia nghiên cứu
3.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Sinh viên thuộc 4 trường Đại học tiến hành nghiên cứu từ chối tham gia nghiên cứu sẽ loại ra khỏi đối tượng nghiên cứu
3.3 Thời gian và địa điểm tiến hành nghiên cứu
3.3.1 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12 năm 2021 đến tháng 06 năm 2022
3.3.2 Địa điểm tiến hành nghiên cứu: Trường Đại học Y tế Công Cộng, Học viện tài
chính, trường Đại học Mỏ-Địa chất, trường Đại học Y Hà Nội
3.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Tính theo công thức chọn mẫu ước lượng một tỷ lệ:
n =
n: Cỡ mẫu nghiên cứu
d: Chọn d = 0,05 sai số chấp nhận trong nghiên cứu (5%)
Z: hệ số tin cậy, với α = 0,05, Z (1 - α/2) = 1,96
Z2 (1 - α/ /2) × p (1- p)
d2
HUPH
Trang 23Theo công thức trên thì cỡ mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu là 384 người Để đảm bảo loại bỏ các nguy cơ sai số trong quá trình chọn mẫu, thu thập, cỡ mẫu được tăng thêm 10% và làm tròn là 420 người và mỗi trường cần 105 sinh viên
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai nhóm đã tiến hành thu thập số liệu trên
605 sinh viên
3.5 Phương pháp chọn mẫu:
Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu theo khối thuận tiện Cụ thể là: Mẫu nghiên cứu được chọn theo 2 khối là khối ngành đào tạo về Y dược và khối ngành đào tạo khác
✔ Khối 1 (Ngành đào tạo về Y dược): trường Đại học Y tế Công cộng, trường Đại học Y Hà Nội thuộc khối ngành đào tạo về khoa học sức khỏe
✔ Khối 2 (Ngành đạo tạo khác): Học viện Tài chính, trường Đại học Mỏ- Địa chất
thuộc ngoài khối ngành đào tạo về khoa học sức khỏe
Tổng cỡ mẫu thực tế là 605 sinh viên, trong đó khối đào tạo Y dược có 296 sinh viên và khối ngành đào tạo khác là 309 sinh viên Tỉ lệ từ chối tham gia nghiên cứu
dưới 10%
3.6 Phương pháp thu thập số liệu
Nghiên cứu thu thập số liệu thông qua phương pháp pháp vấn Quá trình thử nghiệm được thực hiện trên phiếu giấy, quá trình thu thập số liệu chính thức thực hiện trên với bộ câu hỏi phát vấn trên google form (để đảm bảo giãn cách trong dịch Covid-19)
Quá trình thử nghiệm trên 20 người tại trường Đại học Y tế Công cộng Sau quá trình thử nghiệm, bộ câu hỏi đã được chỉnh sửa và hoàn thiện dựa trên các phản hồi và chuyển sang google form để chuẩn bị thu thập số liệu chính thức
Đút kết từ quá trình thử nghiệm bộ công cụ, nhóm đã đưa ra một định nghĩa/mô
tả giản dị cho đối tượng hiểu ĐÚNG về sản phẩm đồ uống chứa đường nhân tạo là
“những sản phẩm nước giải khát có vị ngọt và có chứa đường nhân tạo, không tính bia, rượu, bia 0 cồn, nước lọc thuần túy, các sản phẩm này thường được quảng cáo là
HUPH
Trang 24không đường, ít đường, sugar-free hoặc nước lọc hương trái cây, NHƯNG KHI SỬ DỤNG VẪN CÓ VỊ NGỌT NHẸ”
Để tiến hành thu thập số liệu chính thức, nhóm nghiên cứu đã hợp tác cùng đại diện của các trường đại học tham gia nghiên cứu, để đi đến các lớp học giới thiệu về nghiên cứu Sau đó, các bạn sinh viên sẽ được điền phiếu trả lởi khảo sát thông qua mã
QR chứa đường link khảo sát trên google form Nếu đồng ý tham gia nghiên cứu, các điều tra viên sẽ giải thích cụ thể về các câu hỏi trong phiếu khảo sát, để hạn chế sai số nghiên cứu Trong quá trình các đối tượng trả lời khảo sát, điều tra viên sẽ hỗ trợ giải đáp thắc mắc và các câu hỏi liên quan đến nội dung nghiên cứu
3.7 Biến số nghiên cứu
Biến phụ thuộc: Thực trạng tiêu thụ (có tiêu thụ đồ uống chứa đường nhân tạo trong vòng 30 ngày gần nhất)
Biến độc lập: Đặc điểm về đối tượng nghiên cứu, kiến thức, thái độ, mối liên quan
quan
Bảng biến số chi tiết vui lòng tham khảo Phụ lục 1
3.8 Công cụ đo lường
Trong nghiên cứu này các số liệu là tự báo cáo, nên sẽ không có công cụ đo lường, đối với các câu hỏi về mức độ tiêu thụ đồ uống chứa đường nhân tạo nhóm nghiên cứu sẽ sử dụng bộ ảnh minh họa (Showcard) được xây dựng để hỗ trợ cho đối tượng trả lời câu hỏi trong đo lường đơn vị tiêu thụ đồ uống, bao gồm: Tranh ảnh minh họa các sản phẩm đồ uống chứa đường nhân tạo và hoạt động thể lực
3.9 Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu được làm sạch, và quản lý bằng phần mềm Excel Số liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm STATA 16.0 theo các mục tiêu của nghiên cứu Các thuật toán thống kê được sử dụng, bao gồm:
- Thống kê mô tả: tần số, tỷ lệ đối với biến phân loại và biến nhị phân; giá trị trung bình, trung vị, độ lệch chuẩn, khoảng, khoảng phân vị đối với biến rời rạc và biến liên tục
- Thống kê suy luận: So sánh nhiều tỷ lệ bằng kiểm định χ2
HUPH
Trang 25Cách thức tính tuổi: Tuổi được tính theo quy ước của Tổ chức Y tế Thế giới
(WHO) dựa trên ngày tháng năm sinh và ngày tháng năm điều tra và tính theo năm
dương lịch
Bảng 3 1: Tiêu chuẩn đánh giá chỉ số khối cơ thể BMI theo IDI & WPRO (dành
riêng cho người Châu Á)
Cách chấm điểm mức độ hoạt động thể lực trên bộ câu hỏi IPAQ-SF: Mức
độ hoạt động thể lực được xác định dựa trên năng lượng quy đổi từ các câu hỏi tự đánh
giá của đối tượng tham gia nghiên cứu Năng lượng quy đổi, đo lường bằng MET
phút/tuần (metabolic equivalent task, MET = 8*thời gian hoạt động mạnh + 4*thời
gian hoạt động trung bình + 3.3*thời gian đi bộ) được tính theo loại hoạt động (8 MET
cho hoạt động cường độ nặng, 4 MET cho hoạt động cường độ trung bình và 3.3 MET
cho hoạt động đi bộ)
- Hoạt động cường độ mạnh: Bất kỳ 1 trong 2 tiêu chí sau:
✔ Hoạt động cường độ mạnh ít nhất 3 ngày và tích lũy ít nhất 1500
MET phút/tuần, hoặc 7 ngày trở lên bất kỳ sự kết hợp nào của đi bộ, cường độ
trung bình hoặc cường độ mạnh đạt mức tối thiểu ít nhất 3000 MET phút/tuần
- Hoạt động cường độ trung bình: Bất kỳ 1 trong 3 tiêu chí sau:
✔ 3 ngày trở lên hoạt động mạnh ít nhất 20 phút mỗi ngày Hoặc 5
ngày trở lên hoạt động cường độ trung bình hoặc đi bộ ít nhất 30 phút mỗi ngày,
hoặc 5 ngày trở lên bất kỳ sự kết hợp nào của đi bộ, các hoạt động cường độ
trung bình hoặc cường độ mạnh đạt mức tối thiểu ít nhất 600 MET phút/tuần
- Hoạt động cường độ nhẹ: Những đối tượng không đáp ứng tiêu chí cho hoạt
động cường độ mạnh/trung bình được coi là hoạt động cường độ nhẹ/không hoạt động
HUPH
Trang 263.10 Kiểm soát sai số
Bảng 3 2: Sai số nghiên cứu và cách khắc phục
Sai số trong quá trình
thu thập số liệu
- Sai số xảy ra khi sinh viên trả lời sai nội dung câu hỏi
- Trong quá trình trả lời phiếu phát vấn, sinh viên trao đổi, sao chép kết quả với nhau
- Xây dựng bộ câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp với hình thức phát vấn
để thu thập tối đa thông tin chính xác nhất của sinh viên
- Trước khi phát vấn, điều tra viên phổ biến, giải thích rõ nghiên cứu
“Đồ uống chứa đường nhân tạo” Đồng thời hướng dẫn sinh viên cách làm khảo sát thông qua google form
- Chuẩn bị công cụ hỗ trợ nghiên cứu như tranh ảnh minh họa (Showcard) Sai số do chọn mẫu - Sai số xảy ra do
lựa chọn cỡ mẫu chưa đủ lớn để đại diện cho quần thể
- Chọn mẫu ngẫu nhiên và tăng cỡ mẫu thêm 10%, để dự phòng sai số
và từ chối tham gia nghiên cứu
3.11 Đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu được triển khai sau khi đã được Hội đồng đạo đức nghiên cứu Y sinh học trường Đại học Y tế công cộng phê duyệt theo quyết định số 1030 /QĐ-ĐHYTCC
Đối tượng của nghiên cứu đã được giải thích về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành thu thập số liệu và chỉ tiến hành khi có sự chấp nhận hợp tác tham gia của đối tượng Chỉ các đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu mới được
Các số liệu, thông tin thu thập được mã hóa dưới dạng số và chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho mục đích nào khác Trong quá trình nghiên cứu không có sự có mặt của bất cứ cá nhân/tổ chức nào có thể gây áp lực tới việc tham gia nghiên cứu tự nguyên của đối tượng Đối tượng có thể từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào mà bản thân không muốn và có thể dừng cuộc khảo sát mà không chịu bất cứ sự ràng buộc nào về mặt pháp lý Đối tượng tham gia sẽ không bị ảnh hưởng hay chịu bất
kỳ một tác động xấu nào từ nghiên cứu Đối tượng có thể yêu cầu nhóm gửi bản kết quả phân tích sau khi thực hiện nghiên cứu
HUPH
Trang 27Nghiên cứu không gây ảnh hưởng gì tiêu cực cho đối tượng bởi thu thập số liệu
chỉ đơn thuần là phát vấn thông qua bộ câu hỏi google form tự điền khuyết danh
HUPH
Trang 284 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu:
Bảng 4 1: Thông tin về sinh viên Nội dung Chi tiết Khối ngành
sức khỏe (n,%)
Khối ngành ngoài sức khỏe (n,%)
Chung (n,%)
1854,44 (1534,78)
1567,23 (1254,14)
1700,87 (1397,85)
0,016
HUPH
Trang 29cho ăn
uống mỗi
tháng
Trung vị (IQR)
1,400 (750-2,000)
1500 (1,000-2,000)
1500 (1,000-2,000)
Bảng 4.1 cho biết các đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu nhìn chung theo khối ngành Trong số các đối tượng tham gia nghiên cứu, độ tuổi trung bình là 19.8 (20.1 ở khối ngành sức khỏe và 19,4 tuổi ở đối tượng ngoài khối ngành sức khỏe)
Tỷ lệ sinh viên tham gia nghiên cứu chủ yếu là sinh viên năm nhất chiếm đến 48.6% Có sự chênh lệch rõ rệt giữa tỉ lệ nam và nữ tham gia nghiên cứu, cụ thể nữ giới chiếm 69,8% so với tỷ lệ nam giới là 30.2%
Tỉ lệ hút thuốc của sinh viên ngoài khối ngành sức khỏe có tỉ lệ hút thuốc cao hơn sinh viên trong khối ngành sức khỏe (9,7% so với 8,1%)
Về tình trạng sống, đa số sinh viên sống cùng gia đình hoặc người thân/bạn bè chiếm tỉ lệ đa số là 89,6%, trong đó ở cùng bạn bè chiếm đa số 47,1%, ở cùng bố mẹ chiếm 33,7%, một số nhỏ sống cùng người thân/họ hàng chiếm 8,8%
Mức chi tiêu trung bình cho ăn uống của đối tượng nghiên cứu là khoảng 1.700.000 đồng/ tháng (trung vị là 1.500.000 đồng, khoảng phân vị dao động từ 1.000.000-2.000.000 đồng) Mức chi tiêu trung bình của đối tượng thuộc khối y dược
là khoảng 1.854.000 đồng trong khi đó mức chi tiêu trung bình của các đối tượng không thuộc khối y dược thấp hơn vào khoảng 1.567.000 nghìn đồng và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p=0.016)
Bảng 4 2: Cân nặng, chiều cao và BMI trung bình của đối tượng
Theo khối ngành Theo giới Chun
54,0 (10,27)
63,1 (10,38)
49,2 (6,10)
53,4 (9,98)
<0,001
Chiều cao (m)
(trung bình,
1,60 (0,08)
1,63 (0,08)
1,71 (0,06)
1,57 (0,05)
1,62 (0,08)
<0,001
HUPH
Trang 30SD)
BMI (kg/m2) 20,4
(2,64)
20,3 (2,66)
21,6 (3,16)
19,8 (2,18)
20,35 (2,65)
<0,001
Cân nặng trung bình của đối tượng nghiên cứu là 53,4kg trong đó cân nặng trung bình của sinh viên khối y dược là 52,7kg và của khối ngoài y dược là 54,0kg Chiều cao trung bình của 2 trường là 1,62m trong đó chiều cao của sinh viên ngoài khối ngành sức khỏe là 1,63m cao hơn khối ngành sức khỏe là 1,60m BMI trung bình của sinh viên trong khối ngành sức khỏe và ngoài khối ngành sức khỏe (20,4 và 20,3) Phân theo giới, cân nặng, chiều cao và BMI trung bình của nam cao hơn nữ một cách
có ý nghĩa thống kê, trong đó cân nặng của Nam là 63kg và nữ là 49kg, chiều cao của nam là 1,71m và nữ là 1,57m BMI trung bình của nam cũng cao hơn nữ đáng kể (21,6
và 19,8)
4.2 Kiến thức, thái độ và thực trạng tiêu thụ đồ uống chứa đường nhân tạo
Biểu đồ 4 1: Kiến thức về thông tin đồ uống chứa đường nhân tạo của sinh viên 2
khối ngành (n=605)
Có đến 92,6% đối tượng nghiên cứu đều từng nghe đến đường nhân tạo và đồ uống chứa đường nhân tạo, tuy nhiên khi được hỏi về thông tin của đồ uống chứa nhân tạo và chỉ 65,8% đối tượng trả lời đã từng nghe/đọc về thông tin này Chỉ chưa đến 1/2
số lượng đối tượng đã từng nghe về thông tin về lợi ích và tác hại của các loại đồ uống chứa đường nhân tạo (42% và 41,7%)
Từng nghe/đọc thông tin về đồ uống chứa đường nhân tạo
Từng nghe về lợi ích của đồ uống chứa đường nhân tạo
Từng nghe về tác hại của đồ uống chứa đường nhân tạo ChungHUPHKhối ngành sức khỏe Ngoài khối ngành sức khỏe
Trang 31Biểu đồ 4 2: Kiến về lợi ích của đồ uống chứa đường nhân tạo của sinh viên 2
khối ngành (n=605)
Số sinh viên cho rằng đồ uống chứa đường nhân tạo giúp hỗ trợ giảm cân, kiểm soát cân nặng chiếm tỷ lệ cao nhất là 43,3%, sau đó có 38,2% cho rằng đồ uống chứa đường nhân tạo giúp cơ thể sảng khoái, 31,6% số lượng sinh viên cho rằng đồ uống chứa đường nhân tạo phù hợp với người rối loạn chuyển hóa và 1 số lượng nhỏ 19,8% sinh viên cho rằng đồ uống chứa đường nhân tạo cung cấp nước
Kiến thức về lợi ích của đồ uống chứa đường nhân tạo khi 43,6% sinh viên khối ngành sức khỏe so với 33% sinh viên ngoài khối ngành sức khỏe cho rằng đồ uống chứa đường nhân tạo giúp sảng khoái, ở kiến thức về lợi ích khác như phù hợp cho người mắc bệnh chuyển hóa đường/ rối loạn insulin là 33,4% so với 29,8% và cung cấp nước tỉ lệ sinh viên khối ngành sức khỏe cũng có tỉ lệ kiến thức cao hơn 23% so với 16,8%
Cung cấp nước
Chung Khối ngành sức khỏe Ngoài khối ngành sức khỏe
HUPH
Trang 32Biểu đồ 4 3: Kiến về nguy cơ đối với sức khỏe khi uống đồ uống chứa đường
nhân tạo của sinh viên 2 khối ngành (n=605)
Biểu đồ 4.3 cho thấy, kiến thức của sinh viên về nguy cơ sức khỏe là rất hạn chế và có sự khác nhau giữa kiến thức nguy cơ giữa các nhóm Kết quả thấy rằng sinh viên trường khối ngành sức khỏe đều nêu tên một số nguy cơ đối với sức khỏe chiếm tỉ
lệ cao hơn so với sinh viên ngoài khối ngành sức khỏe như nguy cơ mắc bệnh tiểu đường (52% so với 43,7%), nguy cơ thừa cân – béo phì (53% so với 41,1%) và tỉ lệ các nguy cơ còn lại
Tuy nghiên, nguy cơ mắc bệnh tiểu đường được sinh viên kể tên nhiều nhất nhưng cũng chỉ một nửa số đối tượng biết đến nguy cơ này Nhóm nguy cơ tiềm tàng, đối tượng liệt kê được chiếm tỷ lệ cao thứ hai là Thừa cân – béo phì cũng chỉ 46,9% Các nguy cơ còn lại, như nguy cơ loãng xương, thiếu vi chất dinh dưỡng chiếm tỷ lệ rất thấp (11-19%) đối tượng liệt kê được
43.7 41.1 30.1
26.5 22.7 19.1 11.7
52.0 53.0 35.8
27.0 23.3 25.7 16.6
47.8 46.9 32.9
26.8 23.0 22.3 14.0
Nguy cơ mắc bệnh tiểu đường
Nguy cơ Thừa cân – Béo phì
Đầy hơi, khó tiêu Tăng nguy cơ mỡ máu Tăng nguy cơ gây ung thư
Tăng nguy cơ thiếu vi chất dinh dưỡng
Tăng nguy cơ loãng xương
Chung Khối ngành sức khỏe Ngoài khối ngành sức khỏe
HUPH
Trang 33Biểu đồ 4 4: Nguồn thông tin về sức khỏe khi sử dụng đồ uống chứa đường nhân
tạo (n=605)
Biểu đồ 4.4 cho thấy Internet, tivi và tiếp thị tại các cửa hàng, siêu thị là nguồn thông tin chủ yếu (27,2% – 39,2%) sinh viên khối ngành sức khỏe và ngoài sức khỏe nhận biết nguy cơ sức khỏe qua 3 nguồn thông tin này Tiếp theo có từ (10-20%) sinh viên được cung cấp thông tin qua bạn bè, người thân, các sự kiện, băng rôn, trong các đợt giảm giá hoặc là quảng cáo trên xe bus
39.20 36.20 27.20
23.60 19.40 14.60 13.30 12.60 10.70
42.90 44.60 40.50 27.70
21.30 17.20 14.50 8.80 10.10
41.00 40.30 33.70 25.60
20.30 15.90 13.90 10.70 10.40
0.00 5.00 10.00 15.00 20.00 25.00 30.00 35.00 40.00 45.00 50.00 Quảng cáo trên internet
Quảng cáo, tiếp thị trên ti vi
Từ các diễn đàn trên mạng internet
Tiếp thị tại các cửa hàng, siêu thị
Bạn bè, người thân Qua mục tin tài trợ chương trình, sự kiện
Băng rôn trên đường hoặc cửa hàng
, siêu thị Trong các đợt giảm giá Quảng cáo trên xe buýt
Chung Khối ngành sức khỏe Ngoài khối ngành sức khỏe
HUPH
Trang 34Biểu đồ 4 5: Thái độ về một số ý kiến đến đồ uống chứa đường nhân tạo của sinh viên 2 khối ngành (n=605)
Phân tích thái độ về việc tiêu thụ đồ uống chứa đường nhân tạo, kết quả cho thấy 61,2% sinh viên của 2 khối ngành sức khỏe và ngoài khối ngành sức khỏe ít hoặc không quan tâm đến thành phần đồ uống, lượng đường trong đồ uống Khi được hỏi về việc ủng hộ cho việc nhán dãn đồ uống chứa đường nhân tạo có đến 79,8% sinh viên cảm thấy không cần thiết và hoàn toàn không cần thiết, 20,2% là cảm thấy cần thiết cho việc nhán dãn sản phẩm đồ uống chứa đường nhân tạo Có 82,2% sinh viên đồng ý
và rất đồng ý rằng đồ uống chứa đường nhân tạo có chỉ nên dùng cho người rối loạn chuyển hóa đường, rối loạn insulin mới sử dụng loại đồ uống này
Có 78,2% đối tượng đồng ý và hoàn toàn đồng ý quan điểm ASB không có hại tới sức khỏe, khi được hỏi về ý định chuyển từ đồ uống chứa đường sang đồ uống chứa đường nhân tạo thay thế cho các sản phẩm chứa đường tự nhiên có đến 70% sinh viên rất đồng ý và đồng ý với ý kiến này Khi được hỏi nếu đồ uống chứa đường nhân tạo có một số nguy cơ về sức khỏe thì chỉ có khoảng 30% Rất đồng ý và đồng ý từ bỏ
Ủng hộ dãn nhán cho ASB
ASB chỉ dành cho người rối loạn Insulin
Ý định giảm tiêu thụ ASB
ASB không có tác hại đến sức khỏe
Sẽ chuyển qua dùng ASB
Hoàn toàn đồng ý & rất đồng ý Đồng ý Ít đồng ý & không đồng ý
HUPH
Trang 35Biểu đồ 4 6: Lý do lựa chọn đồ uống chứa đường nhân tạo khi sử dụng (n=605)
Biểu đồ 4.6 thể hiện lý do lựa chọn đồ uống chứa đường nhân tạo của sinh viên
2 khối ngành Trong đó có 3 lý do có tỷ lệ cao nhất khiến sinh viên lựa chọn xếp theo thứ tự từ cao đến thấp là do mùi vị thơm ngon, thử sản phẩm mới, có sẵn tại nơi mua,
3 lý do có lựa chọn cao nhất này trùng lặp với sinh viên khối ngành sức khỏe và ngoài khối ngành sức khỏe
Các lý do lựa chọn đồ uống chứa đường nhân tạo như: tốt cho sức khỏe, nhiều người sử dụng, người quen giới thiệu hay là có nhiều người sử dụng chiếm tỉ lệ thấp đối tượng
43.0 33.7
21.7 24.6 13.9
15.9 16.8 10.4 5.5
48.6 42.2 30.4
26.7 19.3 17.9 10.8 7.1 9.5
45.8 37.9 26.0
25.6 16.5
16.9 13.9 8.8 7.4
Mùi vị thơm ngon Tôi muốn thử sản phẩm mới Tôi thấy sản phẩm có sẵn tại nơi tôi đến mua
Mẫu mã, bao bì đẹp Tôi thích sản phẩm này Tôi thấy có nhiều người sử dụng
Tốt cho sức khỏe hơn Tôi được người quen giới thiệu sử dụng
Tôi thấy có nhiều người sử dụng
ChungHUPHKhối ngành sức khỏe Ngoài khối ngành sức khỏe
Trang 36Biểu đồ 4 7: Nhãn hiệu đồ uống chứa đường nhân tạo thường sử dụng (n=605)
Nhóm thống kê được 9 loại đồ uống chứa đường nhân tạo phổ biến trên thị trường Khi được hỏi về nhãn hiệu đồ uống chứa đường nhân tạo, kết quả cho thất các nhãn hiệu lớn nổi tiếng như Coca-cola, Pepsi có trên 50% được sử dụng nhiều nhất
Có 35% đối tượng đã sử dụng đồ uống nhãn hàng Wonderfarm, khoảng (8 - 20%) sinh viên sử dụng đồ uống chứa đường nhân tạo của nhãn hàng 7up, Vfresh, Lavie,
Monster, Aquarius và Suntory
64.40 49.80
35.90 23.00
18.10 15.20 13.60 11.30 6.50
69.60 55.70
34.10 20.60
23.60 22.00 17.90 14.20 10.80
66.90 52.70
35.00 21.80
20.80 18.50 15.70 12.70 8.60
Trang 37Biểu đồ 4 8: Dịp sinh viên thường dùng đồ uống chứa đường nhân tạo (n=605)
Tính chung cả sinh viên khối ngành sức khỏe và ngoài khối ngành sức khỏe, 5 dịp sử dụng đồ uống chứa đường nhân tạo có tỷ lệ cao nhất xếp theo thứ tự từ cao xuống thấp là các dịp liên hoan gặp mặt bạn bè, vui chơi dã ngoại, uống bất cứ khi nào thích, gặp mặt bạn bè và khi thời tiết nóng bức Nếu phân theo khối ngành, 5 dịp sử dụng đồ uống chứa đường nhân tạo nhiều nhất giống nhau ở sinh viên khối ngành sức khỏe và ngoài khối ngành sức khỏe nhưng tỷ lệ đó cao hơn đôi chút ở sinh viên khối ngành sức khỏe và ngoài khối ngành sức khỏe Đáng chú ý, tỷ lệ sử dụng trong các bữa ăn hàng ngày ở snh viên ngoài khối ngành sức khỏe cao hơn sinh viên ngoài khối
ngành sức khỏe (7,8% và 5,4%)
46.9 37.2
31.7 8.4
25.9 14.2
15.9 7.8
55.4 38.2
35.5 32.8 30.7 14.5
13.9 5.4
51.1 37.7
33.6 20.3
28.3 14.4
14.9 6.6
Trong các bữa tiệc liên hoan gia đình, họ hàng
Khi vui chơi, dã ngoại Uống bất cứ khi nào thích Gặp mặt, ăn uống Anh/Chị bè Khi thời tiết nóng bức Sau khi làm việc hoặc lao động
Sau khi chơi thể thao Trong bữa ăn hàng ngày
Chung Khối ngành sức khỏe Ngoài khối ngành sức khỏe
HUPH
Trang 38Biểu đồ 4 9: Nơi sinh viên thường mua đồ uống chứa đường nhân tạo (n=605)
Siêu thị là nơi được cả sinh viên khối ngành sức khỏe và ngoài khối ngành sức khỏe chọn mua nhiều nhất (64,2% và 57%) Cửa hàng tạp hóa là nơi thứ hai thường được lựa chọn để mua (57%) Cửa hàng tiện lợi cũng được cả sinh viên khối ngành sức khỏe và ngoài khối ngành sức khỏe lựa chọn khi mua và xếp thứ ba trong những nơi thường mua (49,9%) Tỉ lệ mua ở máy bán hàng tự động và được người khác cho biếu/tặng hoặc mời sử dụng chiếm tỉ lệ rất thấp (12 – 18%)
57.30 56.60 47.20
18.10 12.30
64.20 59.10 52.70 17.20
18.60
60.70 57.90 49.90
17.70 15.40
Siêu thị Cửa hàng tạp hoá
Cửa hàng tiện lợi
Trang 39Bảng 4 3: Thực trạng sử dụng đồ uống chứa đường nhân tạo
Nội dung Khối ngành sức
khỏe n (%)
Khối ngành ngoài sức khỏe n (%)
là tương đương nhau giữa khối ngành sức khỏe và ngoài khối ngành sức khỏe (53,4%
và 52,4%) Tỷ lệ chung cho cả 2 khối ngành là 52,9% ở bảng 4.3
HUPH