1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng tư vấn sức khỏe của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại khoa khám bệnh, bệnh viện nhân dân gia định, thành phố hồ chí minh năm 2019

91 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng tư vấn sức khỏe của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại khoa khám bệnh, Bệnh viện Nhân dân Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh năm 2019
Tác giả Trần Quốc Hưng
Người hướng dẫn PGS.TS. Bùi Thị Tú Quyên
Trường học Trường đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Tổ chức Quản lý Y tế
Thể loại Luận văn chuyên khoa
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Khái niệm Tư vấn sức khỏe (16)
  • 1.2. Những qui định về hoạt động Tư vấn sức khỏe (17)
  • 1.3. Thực trạng tư vấn sức khỏe tại các cơ sở y tế (18)
  • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (27)
  • 2.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (27)
  • 2.2. Thiết kế nghiên cứu (27)
  • 2.3. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu (27)
  • 2.4. Biến số và chủ đề trong nghiên cứu (28)
  • 2.5. Phương pháp và công cụ thu thập số liệu (30)
    • 2.5.1 Công cụ thu thập số liệu: 18 (30)
    • 2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu 18 2.5.3. Qui trình thu thập số liệu: 18 2.6. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu (30)
  • 2.7. Các chỉ số, định nghĩa dùng trong nghiên cứu (32)
  • 2.8. Đạo đức của nghiên cứu (33)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22 3.1. Thông tin chung về nhân viên y tế khoa Khám bệnh (34)
    • 3.2. Thực trạng tư vấn sức khỏe của nhân viên y tế tại khoa Khám bệnh23 3.3. Một sốyếu tố ảnh hưởng đến hoạt động TVSK của NVYT (35)
      • 3.3.1. Một số khó khăn nhân viên y tế gặp khi thực hiện Tư vấn sức khỏe tại (44)
      • 3.3.2. Nhóm các yếu tố về qui định, chính sách đối với hoạt động Tư vấn sức khỏe tại khoa Khám bệnh: 33 3.3.3. Nhóm các yếu tố về nhân lực thực hiện Tư vấn sức khỏe: 34 3.3.4. Nhóm các yếu tố về vấn đề cơ sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ cho hoạt động Tư vấn sức khỏe: 35 3.3.5. Nhóm 36 các yếu tố về kinh phí: 36 3.3.6. Nhóm các yếu tố về thời gian: 36 CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN 37 4.1. Thực trạngTư vấn sức khỏe của nhân viên y tế tại khoa Khám b ệnh (45)
    • 4.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động Tư vấn sức khỏe của nhân viên y tế tại khoa Khám bệnh (52)
      • 4.2.1. Yếu tố các qui định về Tư vấn sức khỏe tại khoa Khám bệnh: 40 4.2.2. Yếu tố nhân lực thực hiện Tư vấn sức khỏe: 40 4.2.3. Yếu tố về cơ sở vật chất, trang thiết b ị hỗ trợ cho hoạt động Tư vấn sức khỏe: 40 4.2.4. Yếu tố về thời gian: 42 4.2.5. Yếu tố về kinh phí: 42 4.3. Hạn chế của nghiên cứu (52)
    • 5. KẾT LUẬN 44 1. Thực trạng Tư vấn sức khỏe của nhân viên y tế tại khoa Khám bệnh: ........ 44 2. .. Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động TVSK của NVYT tại K.Khám bệnh44 (56)

Nội dung

Khái niệm Tư vấn sức khỏe

Tư vấn là một quá trình hỗ trợ khách hàng giải quyết xung đột cá nhân, theo Philip Burnard Carl Rogers định nghĩa tư vấn là sự tương tác và tiềm năng tự quyết Thuật ngữ "thân chủ" nhấn mạnh vai trò chủ động của khách hàng trong việc tìm kiếm giải pháp cho vấn đề của mình, không chỉ là người bệnh thụ động chờ đợi sự giúp đỡ từ nhà tư vấn.

Tư vấn, theo Từ điển Tiếng Việt, là việc đưa ra ý kiến về một vấn đề mà không có quyền quyết định, mang tính chất một chiều như tư vấn luật pháp hay tư vấn xây dựng Bên cạnh đó, tư vấn còn được xem là một hình thức giáo dục sức khỏe cá nhân, trong đó người tư vấn cung cấp thông tin, khuyến khích cá nhân và gia đình suy nghĩ về vấn đề của họ, giúp họ hiểu rõ nguyên nhân và lựa chọn cách hành động phù hợp để giải quyết vấn đề.

Trong một số trường hợp, tư vấn cần bảo đảm tính bí mật cho những đối tượng đặc biệt, đặc biệt là những người mắc các bệnh xã hội như HIV/AIDS và các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục Người tư vấn thường chủ động hỗ trợ đối tượng trong việc đưa ra quyết định liên quan đến sức khỏe, từ đó xây dựng lòng tin và gỡ bỏ các định kiến trong mối quan hệ với bạn bè, gia đình và cộng đồng.

Tư vấn là những buổi tiếp xúc và thảo luận chính thức, thường mang lại kết quả tích cực Qua quá trình này, tư vấn giúp đối tượng, gia đình và cộng đồng thay đổi những hành vi nhất định, đồng thời duy trì những thay đổi này suốt đời Ngoài ra, tư vấn còn cung cấp hỗ trợ tâm lý cho đối tượng trong những lúc họ cảm thấy hoang mang.

HUPH mang lo sợ về vấn đề sức khỏe nghiêm trọng hoặc vấn đề đối tượng cho là nghiêm trọng khi họ chưa hiểu rõ

Tư vấn sức khỏe là một hoạt động có vai trò quan trọng và là một phương pháp truyền thông mang lại nhiều hiệu quả

Hoạt động tư vấn, đặc biệt là tư vấn sức khỏe từ nhân viên y tế, nhằm cung cấp thông tin và hỗ trợ để người được tư vấn hiểu rõ vấn đề của mình Mục tiêu của tư vấn là giúp họ đưa ra quyết định đúng đắn và phù hợp nhất với lợi ích cá nhân.

Những qui định về hoạt động Tư vấn sức khỏe

TVSK là một phần quan trọng trong hoạt động của các cơ sở y tế Theo Thông tư 07/2011/TT-BYT của Bộ Y tế, nhiệm vụ tư vấn, hướng dẫn và giáo dục sức khỏe là ưu tiên hàng đầu của điều dưỡng trong việc chăm sóc người bệnh Điều này cũng được quy định trong quy chế bệnh viện và là một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện hàng năm của Bộ Y tế.

[7], qua đó người bệnh phải được tư vấn, giáo dục sức khỏe khi điều trị và trước khi ra viện

Theo Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện của Bộ Y tế ban hành năm

Theo quy định của Luật năm 2013 và các sửa đổi bổ sung năm 2016, người bệnh cần được cung cấp đầy đủ thông tin, tư vấn và giải thích về tình trạng sức khỏe, bệnh tật, phương pháp điều trị cũng như dịch vụ khám chữa bệnh phù hợp với bệnh lý của họ.

Trong hoạt động điều dưỡng và chăm sóc người bệnh, bệnh viện cần có các tài liệu như tờ rơi, pano, áp phích và hình ảnh để hỗ trợ công tác hướng dẫn, tư vấn điều trị và giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân Nhân viên y tế tại các khoa phòng phải tuân thủ đầy đủ các quy định của bệnh viện về hướng dẫn và tư vấn điều trị Bệnh viện cũng thực hiện các biện pháp cải tiến chất lượng trong công tác này để nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe cho người bệnh.

HUPH tập trung vào việc điều trị, chăm sóc và giáo dục sức khỏe dựa trên đánh giá hiệu quả của công tác hướng dẫn và tư vấn Tỷ lệ điều dưỡng được đào tạo về kỹ năng tư vấn và giáo dục sức khỏe được đánh giá theo các mức chất lượng Để đạt mức 5, mức cao nhất trong tiêu chí, tỷ lệ điều dưỡng và hộ sinh được đào tạo kỹ năng tư vấn, truyền thông và giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân phải đạt từ 90% trở lên.

Bộ Y tế yêu cầu các bệnh viện phải có nhân viên tư vấn chuyên trách về sức khỏe sinh sản và chăm sóc trước, sau sinh, với trình độ từ cao đẳng trở lên hoặc bác sĩ Các cơ sở y tế có sản khoa cần thiết lập phòng tư vấn về sức khỏe sinh sản và chăm sóc trước, sau sinh Tiêu chí thứ 5 quy định rằng các lớp học tiền sản phải được tổ chức ít nhất một lần mỗi tuần và công khai thông tin cho cộng đồng, đồng thời tiến hành đánh giá kiến thức của học viên sau khi tham gia tập huấn.

Hàng năm, Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe Trung ương (T5G) đưa ra kế hoạch cho hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe tại các địa phương Dựa trên đó, Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe thành phố Hồ Chí Minh (T4G) xây dựng các “Định hướng truyền thông giáo dục sức khỏe” phù hợp cho các cơ sở khám chữa bệnh trong thành phố Kế hoạch nâng cao năng lực truyền thông giáo dục sức khỏe ngành Y tế thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2017 – 2020 đã quy định một số trang thiết bị cần thiết cho hoạt động truyền thông sức khỏe tại các T3G và T2G.

Thực trạng tư vấn sức khỏe tại các cơ sở y tế

Qua việc tham khảo các đề tài nghiên cứu về hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe, nhóm đánh giá nhận thấy nhiều nghiên cứu mô tả chung về các hoạt động truyền thông, điều kiện phương tiện, cơ sở vật chất, cũng như kiến thức và hành vi của nhóm đối tượng như người bệnh và các bà mẹ Tuy nhiên, chỉ có một số nghiên cứu tập trung đánh giá thực trạng của các hoạt động này.

Hoạt động tuyên truyền vệ sinh cộng đồng (TVSK) của nhân viên y tế tại các cơ sở y tế tuyến huyện và trạm y tế phường, xã trên toàn quốc đã được thực hiện theo các quy định và hướng dẫn của ngành y tế Tuy nhiên, phương thức triển khai hoạt động này có sự khác biệt tùy thuộc vào đặc điểm riêng của từng đơn vị và địa phương.

Nghiên cứu về cơ sở vật chất và trang thiết bị hỗ trợ cho hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe (TTGDSK) cho thấy, mặc dù các trang bị cơ bản như máy tính, tivi, loa, bàn ghế, và tủ đựng hồ sơ đạt từ 83% đến 90%, chỉ có 30% cơ sở đáp ứng tốt nhu cầu hoạt động TTGDSK Điều này cho thấy việc chỉ trang bị những phương tiện cơ bản là chưa đủ để đáp ứng đầy đủ nhu cầu ngày càng cao về nghe nhìn của người dân.

Kết quả khảo sát về kiến thức, thái độ và thực hành trong hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe (TTGDSK) của cán bộ y tế tại tỉnh Vĩnh Phúc và Bệnh viện Nhân dân Gia Định cho thấy đa số nhân viên y tế (NVYT) đều có thái độ tích cực Cụ thể, từ 79,3% đến 92,5% NVYT nhận thức rằng TTGDSK và hoạt động tuyên truyền sức khỏe (TVSK) là nhiệm vụ của tất cả nhân viên y tế.

Nguồn nhân lực thực hiện tư vấn sức khỏe tại các địa phương có sự khác biệt về số lượng, trình độ học vấn và kỹ năng Nghiên cứu của Trung tâm TTGDSK tỉnh Long An cho thấy chỉ 32,84% nhân viên y tế tại các phòng tư vấn tuyến huyện được tập huấn về kỹ năng tư vấn Hơn nữa, tỷ lệ nhân viên y tế thiếu kiến thức cơ bản về tư vấn sức khỏe có thể lên đến 20,7% Việc thực hiện tư vấn sức khỏe đúng quy định tại nhiều cơ sở vẫn còn thấp, chỉ đạt từ 15% đến 40,8%.

Hoạt động tư vấn tại các phòng tư vấn tuyến huyện của HUPH chưa đạt chất lượng cao do thiếu tài liệu truyền thông và sự giám sát từ tuyến trên Nguyên nhân một phần là do nhân viên y tế (NVYT) chưa được tập huấn đầy đủ và không có đủ thời gian để thực hiện đúng các bước tư vấn Nghiên cứu tại một số địa phương và Bệnh viện Nhân dân Gia Định cho thấy hình thức tư vấn sức khỏe trực tiếp và tư vấn nhóm rất phổ biến, chiếm tỷ lệ trên 90%.

Hoạt động tư vấn của bác sĩ diễn ra hàng ngày tại các phòng khám, nơi họ giải thích và cung cấp thông tin cho bệnh nhân về tình trạng bệnh của họ Khi bệnh nhân có thắc mắc, bác sĩ cần hướng dẫn điều trị phù hợp Đối với điều dưỡng, việc tư vấn thường được thực hiện khi tiếp nhận bệnh nhân hoặc sau khi bác sĩ đã thăm khám và kê đơn Điều dưỡng có trách nhiệm hướng dẫn và cung cấp thông tin về các thủ tục và chế độ bảo hiểm cho bệnh nhân.

Hầu hết các đánh giá hiện nay chưa đề cập đến các quy định cụ thể cho hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe (TVSK) Nghiên cứu các văn bản quy định và hướng dẫn của Bộ Y tế, Sở Y tế, và các Trung tâm TVSK cho thấy chỉ có các quy định chung về định hướng hoạt động truyền thông và một số quy định về trang thiết bị cơ bản Quy định cụ thể về hoạt động TVSK chỉ được nhắc đến trong một phần của các văn bản như “Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện” và trong “Quy định hoạt động TTGDSK, TVSK trong bệnh viện” do Bệnh viện Nhân dân Gia Định xây dựng Điều này có thể lý giải cho việc ít có đề tài nghiên cứu đề cập đến các quy định cụ thể về hoạt động TVSK.

1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tư vấn sức khỏe tại các cơ sở y tế:

Các nghiên cứu chỉ ra rằng hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe (TVSK) bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó trình độ học vấn của nhân viên y tế là một yếu tố quan trọng Sự đào tạo và kiến thức chuyên môn của nhân viên y tế đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao hiệu quả của các hoạt động TVSK.

HUPH chưa được đào tạo về kỹ năng truyền thông sức khỏe, thời gian tham gia công tác chuyên môn, các phương tiện và tài liệu truyền thông được cung cấp, cũng như mức độ hài lòng của nhân viên y tế với công việc hiện tại.

Trình độ học vấn của cán bộ truyền thông y tế không tạo ra sự khác biệt đáng kể trong hiệu quả hoạt động, với 100% thực hiện các hoạt động truyền thông, trong đó 80% là tư vấn cá nhân và 46,7% là tư vấn nhóm Nghiên cứu năm 2012 cho thấy chỉ 19,7% cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học, trong khi 80,3% có trình độ trung cấp Dù vậy, hoạt động truyền thông vẫn đạt kết quả tốt, với tỷ lệ thực hiện vượt chỉ tiêu đề ra Điều này chứng tỏ rằng tư vấn sức khỏe là trách nhiệm của tất cả nhân viên y tế, không phân biệt trình độ học vấn, và hiệu quả không chỉ phụ thuộc vào trình độ chuyên môn mà còn vào trách nhiệm và quy định chung trong hoạt động này.

Nghiên cứu năm 2014 về hoạt động Truyền thông giáo dục sức khỏe tại tỉnh Hòa Bình cho thấy mặc dù thiếu thốn phương tiện hỗ trợ như loa, màn hình tivi và bảng viết, các hoạt động TTGDSK vẫn được triển khai hiệu quả Một nghiên cứu khác năm 2012 cũng chỉ ra rằng các phương tiện này chỉ hỗ trợ một phần trong việc nâng cao chất lượng tư vấn sức khỏe, nhưng nhân viên y tế vẫn có khả năng khắc phục và tổ chức tốt các hoạt động tư vấn.

Các tài liệu hướng dẫn và nội dung tờ rơi, bướm có ảnh hưởng lớn đến chất lượng tư vấn sức khỏe Nghiên cứu về tình hình và giải pháp nâng cao công tác truyền thông giáo dục sức khỏe tại tỉnh Quảng Nam chỉ ra rằng việc cung cấp tài liệu chuyên môn là rất cần thiết, giúp nhân viên y tế có thông tin và kiến thức chính xác khi tư vấn cho bệnh nhân.

Các kỹ năng đạt được trong quá trình tập huấn có ảnh hưởng rõ rệt đến hiệu quả hoạt động tư vấn Nghiên cứu cho thấy, mức độ ảnh hưởng của các kỹ năng này đến nhiệm vụ thực hiện tư vấn sức khỏe là rất lớn, với 64% ý kiến cho rằng ảnh hưởng mạnh mẽ và 31% cho rằng có ảnh hưởng Chỉ có 5% ý kiến cho rằng kỹ năng ít ảnh hưởng đến hoạt động tư vấn.

Thời gian công tác có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng tư vấn của nhân viên y tế Những nhân viên có thâm niên lâu năm thường sở hữu kinh nghiệm và kỹ năng tư vấn tốt hơn, giúp họ thực hiện việc tư vấn sức khỏe hiệu quả hơn so với những nhân viên trẻ mới vào nghề Theo một số nghiên cứu, thời gian công tác trong lĩnh vực truyền thông phổ biến nhất là từ 2-4 năm, chiếm 36%, tiếp theo là từ 5-10 năm, chiếm 27%.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: từ tháng7/2019 đến tháng 10/2019

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả, kết hợp định tính

Các số liệu nghiên cứu định lượng nhằm mô tả các hoạt động tư vấn sức khỏe được thực hiện tại khoa Khám bệnh của bệnh viện

Các số liệu nghiên cứu định tính được thu thập sau khi thực hiện nghiên cứu định lượng nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tư vấn và giáo dục sức khỏe (GDSK) tại khoa Khám bệnh của bệnh viện.

Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

Mẫu cho nghiên cứu định lượng

Cỡ mẫu: Tổng số NVYT của khoa Khám bệnh là 95 người vì vậy, toàn bộ

NVYT khoa khám bệnh đã được chọn vào nghiên cứu để tiến hành phát vấn theo bộ câu hỏi đã xây dựng và chỉnh sửa

NCV đã quan sát 40 buổi tư vấn tại các phòng khám Nội, Ngoại, Sản, Nhi và chuyên khoa, cùng với 8 buổi tư vấn nhóm tại 2 phòng khám Tư vấn Sức khỏe sinh sản và phòng khám Tư vấn điều trị cai nghiện thuốc lá.

Mẫu chonghiên cứu định tính

NCV đã chọn lọc 11 người cung cấp thông tin chính, bao gồm 01 bác sĩ trưởng khoa, 02 bác sĩ phó khoa khám, và 01 tổ trưởng công tác Ngoài ra, những nhân viên y tế khác tham gia vào hoạt động tư vấn sức khỏe gồm nhân viên phụ trách T2G, bác sĩ phụ trách phòng khám tư vấn, điều dưỡng trưởng khoa và 03 nhân viên y tế khác.

Biến số và chủ đề trong nghiên cứu

2.4.1 Biến số cho nghiên cứu định lượng:

Biến số sơ cấp về cơ sở vật chất bao gồm các thiết bị như phòng TVSK, màn hình ti-vi, máy chiếu, tủ đựng tài liệu TTGDSK, tài liệu và sổ ghi chép.

Các biến số liên quan đến đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu bao gồm chức danh nghề nghiệp, thâm niên công tác, việc đã được tập huấn kỹ năng tư vấn sức khỏe (TVSK), kiến thức về các quy định liên quan đến TVSK, và mức độ tham gia vào hoạt động TVSK.

Biến số về các hoạt động TVSK(các hình thức TVSK, Thời gian TVSK, các khó khăn gặp khi TVSK)

Các biến số ghi nhận từ quan sát các cuộc TVSK

Trong bài viết này, chúng tôi ghi nhận các quan sát tại các phòng khám về cách thức nhân viên y tế (NVYT) thực hiện tư vấn sức khỏe (TVSK) Thời gian thực hiện quan sát và địa điểm nơi quan sát, cụ thể là tên phòng khám, cũng như đối tượng NVYT tham gia vào cuộc tư vấn được nêu rõ.

Cách thức mở đầu cuộc tư vấn (chào hỏi, giới thiệu…)

Thái độ, hoạt động của NVYT khi thực hiện TVSK

Thái độ, cảm xúc của BN

Thời gian cuộc tư vấn tại phòng khám

Việc sử dụng phương tiện hỗ trợ, tài liệu truyền thông Đánh giá buổi tư vấn

Ghi nhận Quan sát tại 2 phòng tư vấn của khoa khám bệnh (hoạt động tư vấn nhóm):

Số người tham gia/số người được tư vấn/ buổi tư vấn Đối tượng NVYT thực hiện cuộc tư vấn

Cách thức mở đầu cuộc tư vấn (chào hỏi, giới thiệu…)

Số người tham dự / 1 buổi tư vấn nhóm

Có sử dụng các phương tiện hỗ trợ không

Thái độ của NVYT khi thực hiện tư vấn

Thái độ, cảm xúc của người bệnh tham gia buổi tư vấn

Sự tham gia của người bệnh trong buổi tư vấn (Tích cực/ thụ động…)

Việc thực hiện lượng giá hiệu quả buổi tư vấn

Thời gian một cuộc tư vấn tại phòng tư vấn Đánh giá buổi tư vấn

2.4.2 Biến số cho nghiên cứu định tính

Các chủ đề phỏng vấn sâu:

Các qui định về TVSK tại khoa Khám bệnh

Việc cung cấp trang thiết bị, tài liệu hỗ trợ NVYT tư vấn sức khỏe tại Khoa Khám bệnh Đánh giá về nhân lực thực hiện hoạt động TVSK

Yếu tố thời gian cho hoạt động TVSK

Yếu tố kinh phí thực hiện cho hoạt động TVSK

Một số ý kiến, đề xuất giải pháp hỗ trợ cho hoạt động TVSK của NVYT

Phương pháp và công cụ thu thập số liệu

Công cụ thu thập số liệu: 18

Phiếu câu hỏi phát vấn được thiết kế dựa trên thông tin cần thu thập cho nội dung nghiên cứu Bảng câu hỏi này đã được thử nghiệm trên 10 nhân viên y tế, sau đó được điều chỉnh bởi nhóm nghiên cứu và chính thức áp dụng cho nghiên cứu.

Bảng kiểm quan sát hoạt động tư vấn sức khỏe (TVSK) của nhân viên y tế (NVYT) được xây dựng dựa trên quy định về hoạt động tư vấn của bệnh viện NDGĐ, cùng với hướng dẫn tư vấn sức khỏe sinh sản (SKSS) và hướng dẫn tư vấn cai nghiện thuốc lá của Bộ Y tế.

Hướng dẫn phỏng vấn sâu những người cung cấp thông tin chính: Được xây dựng dựa trên khung lý thuyết và mục tiêu nghiên cứu.

Phương pháp thu thập số liệu 18 2.5.3 Qui trình thu thập số liệu: 18 2.6 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Thu thập số liệu thứ cấp: nghiên cứu viên liên hệ với các phòng ban trong

BV để thu thập các qui định, qui trình, báo cáo

Phỏng vấn cán bộ y tế được thực hiện bằng cách sử dụng Phiếu phỏng vấn có cấu trúc đã được xây dựng trước (Phụ lục 3) Nghiên cứu viên chính cùng với ba thành viên trong nhóm nghiên cứu, bao gồm ba nhân viên y tế thuộc T3G, đã tiến hành phỏng vấn.

Quan sát các cuộc TVSK dựa trên bảng kiểm nội dung (Phụ lục 4) là một quy trình quan trọng Nội dung quan sát được thực hiện theo bảng kiểm và được ghi chép đầy đủ theo thứ tự thời gian.

Nghiên cứu viên chính thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu với những người cung cấp thông tin chính, dựa trên Hướng dẫn phỏng vấn sâu được quy định trong Phụ lục 5 và 6.

2.5.3 Qui trình thu th ậ p s ố li ệ u:

Thu thập số liệu theo Bảng kiểm được tiến hành ghi nhận theo thực tế tại khoa Khám bệnh

Trong thử nghiệm phiếu phát vấn, NCV đã tiến hành thử nghiệm trên 10 NVYT Sau đó, phiếu phát vấn và quy trình thu thập số liệu được điều chỉnh để phù hợp trước khi thực hiện thu thập số liệu chính thức.

Để thu thập số liệu định lượng chính thức, NCV chính cần xin phép Ban giám đốc bệnh viện và thông báo về nghiên cứu đến toàn bộ nhân viên y tế thuộc khoa Khám bệnh.

Bước 2: Nhóm NCV chính và các thành viên lập danh sách các NVYT đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu của Khoa Khám bệnh, xác định và tiếp cận đối tượng nghiên cứu, giới thiệu về nghiên cứu, lấy Giấy đồng ý tham gia và sắp xếp thời gian phù hợp để phát vấn NVYT Bước 3: Nhóm nghiên cứu phân công người phát bảng câu hỏi, giải thích nội dung và yêu cầu NVYT điền tại chỗ.

Bước 4 - Thu phiếu: Nhóm nghiên cứu sẽ thu thập các phiếu NVYT đã được điền, tiến hành rà soát nhanh để đảm bảo không có thông tin nào bị khuyết hoặc bỏ sót, đồng thời gửi lời cảm ơn đến các NVYT đã hoàn thành phiếu.

Thông báo trước cho khoa việc tiến hành quan sát các cuộc tư vấn của NVYT Tuy nhiên không báo cụ thể ngày giờ các buổi quan sát

Tiến hành quan sát thực tế các cuộc tư vấn sức khỏe của nhân viên y tế tại các phòng khám bệnh và hai phòng tư vấn sức khỏe sinh sản cũng như tư vấn cai nghiện thuốc lá.

Với cấu phần định tính:

Trong quá trình phỏng vấn sâu, NCV xác định và tiếp cận người cung cấp thông tin chính, lấy giấy đồng ý tham gia nghiên cứu và hẹn thời gian phỏng vấn Việc thực hiện phỏng vấn được tiến hành theo bảng hướng dẫn và do nghiên cứu viên chính phụ trách, với việc ghi chép và ghi âm buổi phỏng vấn để đảm bảo tính chính xác và đầy đủ của thông tin.

2.6 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Số liệu định lượng: Các số liệu định lượng được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng phầm mềm SPSS 23

Các biến phân loại được mô tả bằng tần số và tỷ lệ phần trăm

Thông tin định tính được thu thập từ các bản gỡ băng và được chuyển đổi sang định dạng Word để phân tích theo chủ đề Những nội dung phù hợp sẽ được trích dẫn nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu.

Các chỉ số, định nghĩa dùng trong nghiên cứu

Theo các quy định về tuyên truyền giáo dục sức khỏe (TTGDSK), chỉ số nhân viên y tế (NVYT) được đánh giá dựa trên việc tham gia tập huấn về TTGDSK ít nhất một lần trong thời gian công tác Mức độ đạt được của chỉ số này được xác định theo mục C6.2 trong Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng Bệnh viện của Bộ Y tế.

Nhân viên y tế (NVYT) được coi là đã được tập huấn về kỹ năng tư vấn sức khỏe (TVSK) khi tham gia ít nhất một lần trong quá trình công tác Mức độ đạt được của chỉ số này được đánh giá dựa trên mục C6.2 trong Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện của Bộ Y tế.

Chỉ số có tham gia TVSK được đánh giá “Có”/ “Không” dựa trên trả lời của NVYT

Chỉ số được đánh giá mức đạt dựa theo mục C6.2 của Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng Bệnh viện – Bộ y tế

Trang thiết bị hỗ trợ cho hoạt động TVSK đạt yêu cầu dựa theo qui định của

Kế hoạch nâng cao năng lực TTGDSK ngành Y tế thành phố Hồ Chí Minh 2017-

2020 và dựa theo mục E1.2 của Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng Bệnh viện – Bộ y tế

Buổi tư vấn sức khỏe đạt yêu cầu cần thực hiện đầy đủ các bước theo quy định của bệnh viện, đồng thời tuân thủ Hướng dẫn tư vấn sức khỏe sinh sản và Hướng dẫn tư vấn điều trị cai nghiện thuốc lá của Bộ Y tế.

Cuộc tư vấn tốt: Có đầy đủ các bước theo qui định về TVSK, người được tư vấn có thái độ hài lòng, vui vẻ

Cuộc tư vấn được coi là đạt yêu cầu ngay cả khi thiếu 1 hoặc 2 bước không quan trọng theo quy định về tư vấn sức khỏe, chẳng hạn như thiếu phần giới thiệu bản thân, không hẹn lịch tư vấn lần sau, hoặc không ghi chép lại thông tin.

Cuộc tư vấn không đạt yêu cầu khi thiếu từ 2 bước trở lên theo quy định về tư vấn sức khỏe, hoặc khi thái độ của tư vấn viên không nhiệt tình, không vui vẻ Ngoài ra, nếu người bệnh có thái độ chưa hài lòng sau cuộc tư vấn cũng là một dấu hiệu cho thấy chất lượng tư vấn cần được cải thiện.

Đạo đức của nghiên cứu

Nghiên cứu này đã được phê duyệt bởi Hội đồng Khoa học kỹ thuật của bệnh viện Nhân dân Gia Định và Hội đồng đạo đức của trường Đại học Y tế Công cộng theo Quyết định số 366/2019/YTCC-HD3, ban hành ngày 26 tháng 6 năm 2019.

2019 về việc chấp thuận các vấn đề đạo đức NCYSH

Việc thu thập thông tin thông qua phiếu tự điền, khuyết danh đảm bảo sự riêng tư và tính tự nguyện của người tham gia nghiên cứu Dữ liệu của nhân viên y tế chỉ được thu thập khi có sự đồng ý tham gia đánh giá, với cam kết rõ ràng Số liệu thu thập sẽ chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu và không được áp dụng cho bất kỳ mục đích nào khác.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22 3.1 Thông tin chung về nhân viên y tế khoa Khám bệnh

Thực trạng tư vấn sức khỏe của nhân viên y tế tại khoa Khám bệnh23 3.3 Một sốyếu tố ảnh hưởng đến hoạt động TVSK của NVYT

3.2.1 Một số nội dungvề hình thức tư vấn sức khỏe, sự tham gia tư vấn sức khỏeđãđược nhân viên y tế thực hiện tại khoa Khám bệnh:

Bảng 3.1: Các hoạt động tư vấn sức khoẻ của nhân viên y tế (n = 95) Đặc điểm n %

Tham gia hoạt động TVSK cho người bệnh tại phòng khám

Trong quá trình TVSK được trang bị các phương tiện hỗ trợ

73 76,8 Được cung cấp tài liệu truyền thông để tham khảo khi thực hiện TVSK

Hình thức TVSK thường được thực hiện (n)

Thời gian trung bình mỗi ngày dành cho TVSK

Kết quả khảo sát cho thấy 76,8% nhân viên y tế tại phòng khám được trang bị phương tiện hỗ trợ cho hoạt động tư vấn sức khỏe (TVSK) Khoảng 78% nhân viên có tài liệu truyền thông để tham khảo trong quá trình thực hiện TVSK Đáng chú ý, 87,4% nhân viên tham gia hoạt động TVSK cho bệnh nhân, với hình thức tư vấn trực tiếp chiếm ưu thế (87,4%) Tư vấn gián tiếp và tư vấn nhóm nhỏ chỉ chiếm 6% và 4,8% tương ứng Hơn nữa, 78,4% nhân viên y tế dành tối đa 30 phút mỗi ngày cho hoạt động TVSK.

HUPH đó dưới 10 phút mỗi ngày chiếm 41% và thời gian tư vấn trung bình trên 30 đến 60 phút chiếm tỉ lệ thấp nhất với 8,4%

3.2.2 Đánh giá thực trạng tư vấn sức khỏequa quan sát thực tế các cuộc tư vấn tại các phòng khám:

Nghiên cứu đã quan sát 40 cuộc tư vấn sức khỏe trực tiếp giữa nhân viên y tế và người bệnh tại các phòng khám Nội, Ngoại, Chuyên khoa, phòng khám sản khoa, cũng như phòng khám quản lý hen và tư vấn cai nghiện thuốc lá Kết quả của nghiên cứu được trình bày qua bảng dưới đây.

Bảng 3.2 Thực tế quan sát các cuộctư vấn tại các phòng khám Đặc điểm n %

Chức danh của NVYT thực hiện TVSK

Cách thức bắt đầu cuộc TVSK

Kỹ năng, thái độ của NVYT khi thực hiện TVSK

Nói rõ ràng, lưu loát 39 97,5

Thái độ vui vẻ, cởi mở 38 95

Thái độ, cảm xúc của bệnh nhân khi nghe tư vấn

Vui vẻ, chăm chú lắng nghe: 39 97,5

Ghi nhận việc sử dụng phương tiện hỗ trợ khi tư vấn 15 37,5

Ghi nhận việc ghi chép nội dung tư vấn 5 12,5 Đánh giá kết thúc cuộc tư vấn

Trong 40 cuộc tư vấn, có 27 bác sĩ (67,5%), 11 điều dưỡng (27,5%) và 2 hộ sinh (5%) Hầu hết nhân viên y tế (NVYT) đều chào hỏi và mời bệnh nhân ngồi, nhưng phần lớn không giới thiệu bản thân NVYT thể hiện thái độ vui vẻ, kỹ năng tư vấn lưu loát và hướng dẫn rõ ràng, nhiệt tình Chỉ có một trường hợp tư vấn không rõ ràng và một trường hợp nhân viên y tế không vui vẻ khi tư vấn.

Đa số bệnh nhân thể hiện thái độ tích cực và hài lòng khi nhận tư vấn, với 92,5% cảm thấy vui vẻ và chăm chú lắng nghe nhân viên y tế, trong khi chỉ có 7,5% không hài lòng.

Tất cả nhân viên y tế đều tư vấn cho bệnh nhân về cách sử dụng thuốc, chế độ ăn uống và sinh hoạt phù hợp với tình trạng sức khỏe của họ Tại phòng khám sản khoa, nhân viên y tế hướng dẫn cách sử dụng thuốc trong thai kỳ, vệ sinh âm đạo, chế độ dinh dưỡng và sinh hoạt, cũng như cách theo dõi thai máy và nhận biết các triệu chứng có thể xảy ra trong quá trình mang thai.

Tỷ lệ nhân viên y tế (NVYT) không sử dụng phương tiện hỗ trợ trong tư vấn trực tiếp đạt 70% Chỉ có nhân viên y tế tại các phòng khám tư vấn cai nghiện thuốc lá và tư vấn sản khoa là có sử dụng phương tiện hỗ trợ.

Thời gian tư vấn trung bình là 3,6±1,7 phút Thời gian tư vấn ngắn nhất là 1,9 phút Thời gian tư vấn dài nhất là 5,3 phút

Chỉ có 4 nhân viên y tế tại phòng khám tư vấn cai nghiện thuốc lá sử dụng sổ ghi chép, chiếm 10% tổng số Trong khi đó, các phòng khám khác không có nhân viên y tế nào thực hiện việc ghi chép Đánh giá về việc thực hiện hoạt động tư vấn trực tiếp tại các phòng khám được thể hiện qua biểu đồ.

Bi ể u đồ 3.2 Th ự c t ế quan sát các cu ộ c TVSK tr ự c ti ế p t ạ i các phòng khám 1

Chào hỏi Tự giới thiệu Kỹ năng của

BN hài lòng SD phương tiện hỗ trợ

Kết quả đánh giá kết thúc các cuộc tư vấn trực tiếp giữa nhân viên y tế (NVYT) và từng người bệnh tại các phòng khám cho thấy tỷ lệ đạt yêu cầu là 67,5%, trong khi tỷ lệ không đạt yêu cầu là 10% và tỷ lệ đạt yêu cầu nhưng chưa hoàn toàn thỏa mãn là 22,5% Biểu đồ dưới đây minh họa rõ ràng các kết quả này.

Bi ể u đồ 3.3 Đ ánh giák ế t thúc các cu ộ c t ư v ấ n tr ự c ti ế p1

Theo đánh giá chung của NVYT, hoạt động TVSK tại khoa Khám bệnh hoạt động tương đối tốt và theo đúng qui định

Tôi nhận thấy rằng mình đã thực hiện tốt công tác tư vấn sức khỏe tại khoa Khám, với đội ngũ nhân viên y tế nhiệt tình và sẵn sàng hỗ trợ bệnh nhân, điều này khiến bệnh nhân cảm thấy hài lòng và vui vẻ.

Hoạt động TVSK diễn ra thường xuyên tại khoa khám, và theo ý kiến của một nhân viên y tế tham gia, điều này mang lại nhiều lợi ích Họ cảm nhận rằng hoạt động này là tích cực và có ý nghĩa, dù không biết ý kiến của người khác ra sao.

Tuy nhiên cũng còn có đánh giá về hoạt động TVSK chỉ mới đạt yêu cầu:

Tốt Đạt yêu cầu Không đạt yêu cầu

Hoạt động tư vấn sức khỏe tại khoa khám hiện chỉ đáp ứng yêu cầu theo quy định, nhưng vẫn còn nhiều thiếu sót và chưa đạt tiêu chuẩn mong đợi.

3.2.3 Đánh giá thực trạngtư vấn sức khỏe qua quan sát thực tế các cuộc tư vấn nhóm:

Nhóm nghiên cứu đã tiến hành quan sát 08 cuộc tư vấn sức khỏe theo nhóm tại phòng khám, bao gồm 5 cuộc tư vấn sản khoa và 3 cuộc tư vấn cai nghiện thuốc lá.

Bảng 3.3 Thực tế quan sát tại các cuộc TVSK hình thức thảo luận nhóm Đặc điểm n %

Chức danh của NVYT thực hiện TVSK

Cách thức bắt đầu cuộc TVSK

Kỹ năng, thái độ của NVYT khi thực hiện TVSK

Nói rõ ràng, lưu loát 8 100,0

Thái độ vui vẻ, cởi mở 8 100,0

Sự tương tác, cảm xúc của bệnh nhân khi nghe tư vấn

Vui vẻ, chăm chú lắng nghe: 8 100,0

Tham gia đặt câu hỏi, tương tác tốt: 7 87,5

Ghi nhận việc sử dụng phương tiện hỗ trợ khi tư vấn 8 100,0

Ghi nhận việc lượng giá sau cuộc tư vấn ( bảng câu hỏi post test)

Ghi nhận việc ghi chép nội dung tư vấn 8 100,0 Đánh giá kết thúc cuộc tư vấn

HUPH Đặc điểm n % Đạt yêu cầu 1 12,5

Kết quả quan sát cho thấy 100% nhân viên y tế tham gia tư vấn nhóm đều là bác sĩ, với số lượng người tham dự trung bình là 15 ± 2 người.

100% nhân viên tư vấn đều chào hỏi bệnh nhân, giới thiệu bản thân, giới thiệu mọi người trong nhóm với nhau

100% NVYT tại phòng khám tư vấn đều có thái độ vui vẻ, nhiệt tình và có kỹ năng tư vấn tốt thể hiện qua việc nói rõràng, dễ hiểu

Tại phòng khám sản phụ khoa, cuộc tư vấn tập trung vào việc làm mẹ an toàn, bao gồm lịch khám thai, lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ, cách theo dõi thai kỳ và hướng dẫn cho con bú đúng cách Trong khi đó, tại phòng khám tư vấn cai nghiện thuốc lá, các chuyên gia thảo luận về tác hại của thuốc lá, các độc chất có trong khói thuốc và phương pháp cai thuốc hiệu quả.

Tất cả bệnh nhân đều thể hiện thái độ tích cực khi tham gia buổi tư vấn, với 100% nhóm chăm chú lắng nghe và cảm thấy vui vẻ, hài lòng Sự tương tác giữa các nhóm diễn ra tốt đẹp thông qua việc đặt nhiều câu hỏi và chia sẻ ý kiến một cách tích cực.

100% NVYT có sử dụng phương tiện hỗ trợ khi thảo luận nhóm với bệnh nhân tại phòng khám sản phụ khoa như: laptop, máy chiếu, tờ rơi, poster

100% các buổi thảo luận nhóm đều được lượng giá bằng các bài kiểm tra sau buổi thảo luận và có sử dụng sổ ghi chép nội dung tư vấn

Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động Tư vấn sức khỏe của nhân viên y tế tại khoa Khám bệnh

tế tại khoa Khám bệnh:

4.2.1 Y ế u t ố các qui đị nh v ề T ư vấ n s ứ c kh ỏ e t ạ i khoa Khám b ệ nh: Đa số ý kiến cho rằng hoạt động TVSK tại khoa Khám bệnh là tốt, thực hiện đúng theo qui định Tuy nhiên cũng còn có đánh giá về hoạt động TVSK chỉ mới đạt yêu cầu Điều này phù hợp với kết quả khảo sát chung về hoạt động tư vấn của NVYT và những quan sát ghi nhận được trong thời gian thực hiện nghiên cứu.Mặt khác cũng còn một số NVYT chưa thực sự hiểu rõ về các qui định TVSK (25,4%) Điều này cho thấy bệnh viện cần phải quan tâm hơn nữa việc xây dựng, phổ biến và giám sát việc thực hiện các qui định về TVSK tại khoa Khám bệnh

4.2.2 Y ế u t ố nhân l ự c th ự c hi ệ n T ư vấ n s ứ c kh ỏ e:

Theo khảo sát, 88,4% nhân viên có thâm niên công tác trên 10 năm và hầu hết đã được tập huấn về phương pháp tư vấn sức khỏe (TTGDSK) cũng như kỹ năng tư vấn sức khỏe (TVSK) Với nguồn nhân lực dày dạn kinh nghiệm, hoạt động tư vấn sức khỏe sẽ được cải thiện đáng kể Đa số ý kiến phỏng vấn cho thấy nhân lực có đủ năng lực và kinh nghiệm thực hiện TVSK, đồng thời các y bác sĩ cũng nhận được sự tin tưởng từ bệnh nhân.

Một số ý kiến cho rằng tình trạng thiếu nhân sự, đặc biệt trong thời điểm bệnh đông, đã ảnh hưởng đến hoạt động của TVSK Hơn nữa, việc chưa có nhân sự chuyên trách cho TVSK cũng là một vấn đề cần được giải quyết.

4.2.3 Y ế u t ố v ề c ơ s ở v ậ t ch ấ t, trang thi ế t b ị h ỗ tr ợ cho ho ạ t độ ng T ư v ấ n s ứ c kh ỏ e:

Tỷ lệ nhân viên y tế tại phòng khám cho biết rằng gần 80% được trang bị các phương tiện hỗ trợ và tài liệu truyền thông cho hoạt động tư vấn sức khỏe (TVSK) Điều này cho thấy bệnh viện cần tăng cường đầu tư vào các phương tiện và tài liệu hỗ trợ để nâng cao hiệu quả của hoạt động TVSK.

Kết quả nghiên cứu HUPH tương đồng với bảng kiểm quan sát các trang thiết bị hỗ trợ hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe (TTGDSK) và tuyên truyền vệ sinh cộng đồng Tỷ lệ nghiên cứu cũng giống với đánh giá của Nguyễn Thị Mai Hoa về chất lượng hoạt động của cán bộ truyền thông ngành y tế năm 2012 tại Lai Châu Ngoài ra, các tác giả Vũ Quốc Hải và Lê Văn Huy cũng đã thực hiện đánh giá về hoạt động TTGDSK tại hệ thống thôn bản tỉnh Hòa Bình vào năm 2014, thông qua nghiên cứu mô tả cắt ngang từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2014 với 15 phòng tư vấn.

Các trung tâm Y tế huyện tại tỉnh Long An, theo báo cáo của Trung tâm Truyền thông GDSK tỉnh, cho thấy rằng các trang thiết bị cơ bản như máy tính, tivi, loa, bàn ghế và tủ đựng hồ sơ đã được trang bị đạt từ 83% đến 90%.

Hơn một nửa nhân viên gặp khó khăn trong việc thực hiện tư vấn sức khỏe, và hơn 2/3 số nhân viên gặp khó khăn do thiếu phương tiện hỗ trợ Tỷ lệ nhân viên y tế gặp khó khăn do thiếu thông tin và tài liệu tư vấn cũng khá cao Mặc dù bệnh viện đã trang bị đầy đủ các phương tiện truyền thông giáo dục sức khỏe theo quy định, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của nhân viên y tế trong việc thực hiện tư vấn sức khỏe Nghiên cứu từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2014 cho thấy chỉ có 30% cơ sở đáp ứng tốt nhu cầu về hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe Điều này cho thấy việc chỉ trang bị những phương tiện cơ bản là chưa đủ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về thông tin và tài liệu tư vấn của người dân.

Qua phỏng vấn sâu, nhiều ý kiến cho rằng trang thiết bị và tài liệu hỗ trợ tư vấn hiện có chưa đáp ứng đủ nhu cầu cho hoạt động tư vấn sức khỏe (TVSK) Điều này cho thấy các quy định về trang thiết bị cho hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe (TTGDSK) chỉ đáp ứng yêu cầu tối thiểu Trong khi đó, nhu cầu thực tế của bệnh nhân và nhân viên y tế lại cao hơn và cần sự thuận tiện hơn Do đó, cần có sự đầu tư nhiều hơn vào lĩnh vực này.

HUPH trang thiết bị hỗ trợ và tài liệu truyền thông cho hoạt động TVSK tại khoa Khám bệnh trong thời gian tới

Kết quả khảo sát chỉ ra rằng đa số nhân viên gặp khó khăn trong việc thực hiện tư vấn sức khỏe (TVSK) do thiếu thời gian Vấn đề này cần được chú trọng, bởi tình trạng quá tải tại các phòng khám khiến nhân viên y tế (NVYT) không có đủ thời gian để tiến hành TVSK một cách hiệu quả.

Cần triển khai các quy trình và ứng dụng công nghệ thông tin để rút ngắn thời gian chờ đợi của bệnh nhân, từ đó giảm tải cho nhân viên y tế và tạo điều kiện cho họ có thêm thời gian tư vấn trong quá trình thăm khám.

Thời gian là một trong những thách thức lớn trong hoạt động tư vấn sức khỏe (TVSK), với nhiều ý kiến cho rằng số lượng bệnh nhân đông và thời gian không đủ để thực hiện TVSK hiệu quả Yếu tố này ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng hoạt động TVSK Do đó, cần triển khai các giải pháp như quy trình giảm tải và tư vấn nhóm để giúp nhân viên y tế (NVYT) có thêm thời gian cho công tác TVSK.

Kinh phí cho việc mua sắm trang thiết bị và sản xuất tài liệu hỗ trợ cho hoạt động truyền thông sức khỏe (TVSK) đã có đầu tư, nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu Hiện tại, chưa có kinh phí hỗ trợ hay trả thù lao cho nhân viên y tế tham gia hoạt động TVSK Nhiều ý kiến cho rằng nên triển khai TVSK chuyên sâu và có thu phí.

Trong các nghiên cứu về hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe (TTGDSK), hầu hết đều nhấn mạnh nhu cầu về cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài liệu chuyên môn và nguồn nhân lực cho hoạt động tuyên truyền sức khỏe (TVSK) Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai Hoa (2012) đã đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của cán bộ truyền thông ngành y tế Tương tự, Vũ Quốc Hải và Lê Văn Huy (2014) đã khảo sát thực trạng hoạt động TTGDSK tại hệ thống thôn bản tỉnh Hòa Bình Một nghiên cứu mô tả cắt ngang năm 2014 cũng đã được thực hiện tại 15 phòng tư vấn thuộc 15 trung tâm y tế huyện tỉnh Long An bởi Trung tâm Truyền thông GDSK tỉnh Long An Tuy nhiên, các nghiên cứu này vẫn chưa đề cập đến

HUPH đề cập đến vấn đề tư vấn sức khỏe (TVSK) chuyên sâu và có thu phí, phù hợp với các điều kiện khách quan và nhu cầu từ các nghiên cứu đã thực hiện Nghiên cứu của nhóm được tiến hành trong môi trường bệnh viện, cho thấy hoạt động TVSK chuyên sâu và có thu phí là một đặc thù nhằm đáp ứng nhu cầu của người bệnh, đồng thời phản ánh xu hướng chung trong hoạt động tư vấn sức khỏe lồng ghép với khám chữa bệnh hiện nay.

4.3 Hạn chế của nghiên cứu:

Nghiên cứu mới đã đánh giá hoạt động tư vấn sức khỏe (TVSK) của nhân viên y tế (NVYT), nhưng chưa xác định được hiệu quả của hoạt động này đối với bệnh nhân Do đó, cần tiếp tục thực hiện nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của hoạt động TVSK.

KẾT LUẬN 44 1 Thực trạng Tư vấn sức khỏe của nhân viên y tế tại khoa Khám bệnh: 44 2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động TVSK của NVYT tại K.Khám bệnh44

Đa số nhân viên tại phòng khám tham gia hoạt động tư vấn sức khỏe cho bệnh nhân, với tỷ lệ lên đến 87,4% Trong đó, hình thức tư vấn trực tiếp chiếm ưu thế, cũng với tỷ lệ 87,4% Các hình thức tư vấn gián tiếp và tư vấn nhóm nhỏ chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ, lần lượt là 6% và 4,8%.

Hầu hết nhân viên y tế tại phòng khám đều được trang bị đầy đủ phương tiện hỗ trợ cho hoạt động tư vấn sức khỏe (TVSK) và có tài liệu truyền thông để tham khảo trong quá trình thực hiện TVSK.

Kết quả đánh giá cho thấy hoạt động tư vấn nhóm đạt chất lượng tốt với tỷ lệ 84%, không có cuộc tư vấn nào không đạt yêu cầu Trong khi đó, các cuộc tư vấn trực tiếp giữa nhân viên y tế và từng bệnh nhân có tỷ lệ đánh giá tốt là 67,5%, đạt yêu cầu 22,5% và không đạt yêu cầu 10%.

5.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động Tư vấn sức khỏe của nhân viên y tế tại khoa Khám bệnh

Hơn 54,2% nhân viên gặp khó khăn trong việc thực hiện tư vấn sức khỏe (TVSK) do thiếu phương tiện hỗ trợ, thông tin và tài liệu cần thiết, cũng như kỹ năng tư vấn Đặc biệt, khoảng 89% nhân viên cho biết họ không có đủ thời gian để thực hiện TVSK hiệu quả.

Hoạt động tư vấn sức khỏe tại khoa Khám bệnh nhìn chung diễn ra tốt và tuân thủ đúng các quy định Tuy nhiên, vẫn còn một số nhân viên y tế (25,4%) chưa hiểu rõ về các quy định liên quan đến tư vấn sức khỏe.

Yếu tố nhân lực trong thực hiện TVSK rất quan trọng, bao gồm nguồn nhân lực có đủ năng lực và kinh nghiệm Hầu hết nhân viên y tế đã được đào tạo về phương pháp TTGDSK và TVSK, và các y bác sĩ nhận được sự tin tưởng từ bệnh nhân Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có nhân sự chuyên trách cho lĩnh vực TVSK.

Cơ sở vật chất và trang thiết bị hỗ trợ cho hoạt động tư vấn sức khỏe hiện có nhưng chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của hoạt động này.

Yếu tố về thời gian: hầu hết ý kiến cho rằng đông bệnh, không đủ thời gian để TVSK

Kinh phí cho việc mua sắm trang thiết bị hỗ trợ và sản xuất tài liệu cho hoạt động truyền thông sức khỏe (TVSK) đã được đầu tư, nhưng vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu Hiện tại, kinh phí hỗ trợ và trả thù lao cho nhân viên y tế tham gia hoạt động TVSK vẫn còn thiếu.

6 KHUYẾN NGHỊ Đố i v ớ i B ệ nh vi ệ n:

Cần tăng cường phổ biến các quy định về tiêm vắc xin (TVSK) đến từng nhân viên y tế để đảm bảo 100% nhân viên y tế nắm rõ các quy định này Đồng thời, cần quan tâm giám sát việc thực hiện TVSK trực tiếp tại các phòng khám nhằm đưa ra giải pháp và hướng dẫn nhân viên y tế thực hiện TVSK một cách hiệu quả hơn.

Tăng cường hoạt động tư vấn nhóm về số lượng buổi và thu hút thêm người bệnh tham gia

Trang bị thêm cơ sở vật chất, tài liệu tư vấnđể đáp ứng được nhu cầu hỗ trợ NVYT khi TVSK

Tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng tư vấn chuyên sâu cho nhân viên y tế, nhằm lựa chọn những người có năng khiếu và đam mê trong lĩnh vực tư vấn sức khỏe Mục tiêu là thành lập nhóm tư vấn chuyên sâu, đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân.

Mở các phòng dịch vụ tư vấn sức khỏe theo yêu cầu không chỉ nâng cao sự hài lòng của người bệnh mà còn tạo ra nguồn thu nhập bổ sung cho nhân viên y tế.

1 Ngô Thị Kiều Anh (2015) Khảo sát nhu cầu tư vấn sức khỏe của bệnh nhân tại khoa Ngoại thận tiết niệu bệnh viện Nhân dân Gia Định năm 2015,

2 Bệnh viện Nhân dân Gia Định (2018) Báo cáo tình hình triển khai Đề án cải tiến sự không hài lòng người bệnh, Tp.HCM

3 Bệnh viện Nhân dân Gia Định (2018) Báo cáo tổng kết hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe năm 2018, Tp.HCM

4 Bệnh viện Nhân dân Gia Định (2019) Kế hoạch hoạt động Truyền thông giáo dục sức khỏe năm 2019 Tp.HCM

5 Bệnh viện Nhân dân Gia Định (2018) Qui định về hoạt động Truyền thông giáo dục sức khỏe Tp.HCM

6 Bệnh viện Nhân dân Gia Định (2018) Thang điểm đánh giá hoạt động TTGDSK của T2G năm 2018 Bệnh viện NDGĐ Tp.HCM

7 Bộ Y tế (2016) Bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện Việt Nam phiên bản 2.0 BYT

8 Bộ Y tế (2016) Hướng dẫn Quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản

9 Bộ Y tế (2019) Hướng dẫn thực hiện công tác truyền thông y tế năm 2019

10 Bộ Y tế (2018) Tài liệu hướng dẫn tổ chức tư vấn điều trị cai nghiện thuốc lá tại Việt Nam BYT Hà Nội

11 Bộ Y tế (2011) Thông tư Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện BYT Hà Nội

12 Vũ Quốc Hải, Lê Văn Huy (2014) Thực trạng hoạt động Truyền thông giáo dục sức khỏe hệ thống thôn bản tỉnh Hòa Bình năm 2014 Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe Trung ương - Bộ Y Tế

13 HAIVN (2017) Tài liệu Tư vấn cơ bản,TP.HCM,

14 Nguyễn Văn Hiến (2006) Khoa học hành vi và Giáo dục sức khỏe, NXB Y học,Hà Nội, tr 35

15 Nguyễn Văn Hiến, Lê Thị Tài (2012) Truyền thông giáo dục sức khỏe, NXB Y

16 Nguyễn Thị Mai Hoa (2012) Đánh giá thực trạng và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của cán bộ truyền thông ngành y tế năm

17 Lê Xuân Khởi (2016) Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành về truyền thông giáo dục sức khỏe của cán bộ y tế xã, phường tỉnh Vĩnh Phúc năm 2016,

18 Nguyễn Thị Liên (2012) Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao công tác truyền thông giáo dục sức khỏe cho người dân tại tỉnh Quảng Nam,

19 Trần Hữu Lộc (2016) Đánh giá chất lượng hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe của y tế tuyến huyện trên địa bàn tỉnh Kiên Giang năm 2016,

20 Ngô Thị Bích Ly, Phạm Thị Rê, Võ Phan Như Ngọc (2018) Sự hiểu biết về hoạt động vật lý trị liệu của nhân viên y tế bệnh viện Nhân dân Gia Định,

21 Tạ Thị Tuyết Mai, và cộng sự (2017) Khảo sát tình hình hướng dẫn, tư vấn chế độ ăn phù hợp với bệnh lý của 20 khoa lâm sàng tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định,

22 Hoàng Phê, và cộng sự (2003) Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr 1072

23 Đặng Vạn Phước, Lương Ngọc Khuê (2018) Sổ tay hướng dẫn tư vấn điều trị cai nghiện thuốc lá tại Việt Nam, Bộ Y tế,Hà Nội,

24 Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh (2017) Kế hoạch nâng cao năng lực Truyền thông Giáo dục sức khỏe ngành Y tế Thành phố Hồ Chí Minh 2017-2020 SYT Tp.HCM

25 Phùng Thị Thảo, Đào Thị Tuyết, và cộng sự (2014) Thực trạng hoạt động truyền thông về sức khỏe tâm thần tại các tỉnh/thành phố trong cả nước năm

26 Nguyễn Quang Thuận, và CS (2007) Một số khái niệm cơ bản về truyền thông- giáo dục sức khỏe, Trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe Trung ương -

27 Trung tâm truyền thông GDSK Trung ương - Dự án Y tế Nông thôn (2010)

Thực trạng công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ tại 13 tỉnh dự án y tế nông thôn, Nhà xuất bản Khoa học Kỹ Thuật,

28 Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe thành phố Hồ Chí Minh (2019)

Thang điểm đánh giá hoạt động TTGDSK các BV ĐK, CK năm 2019 T4G Tp.HCM

29 Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe tỉnh Long An (2014) Khảo sát thực trạng hoạt động phòng tư vấn các đơn vị y tế tuyến huyện năm 2014,

30 Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe Tp Hồ Chí Minh (2019) Báo cáo hoạt động TTGDSK năm 2018 - Phương hướng hoạt động 2019, Tp Hồ Chí

31 Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe Trung ương (2019) Hướng dẫn hoạt động TTGDSK năm 2019 T5G-BYT Hà Nội

32 PhD Philip Burnard (2005) Counselling skills for Health Professionals, Nelson

33 Mark C Gillen, Richard S Balkin (2006) "Adventure Counseling as an

Adjunct to Group Counseling in Hospital and Clinical Settings" The Journal for Specialists in Group Work, (2), pg 32

34 MD Scott D Lifchez, MPH Carisa M Cooney, MD Richard J Redett III

(2015) "The Standardized Professional Encounter: A New Model to Assess

Professionalism and Communication Skills" Journal of Graduate Medical Education, (21), pg 23

35 Farquhar LJ Hoppe RGB, Henry R, Stoffelmayr B (1990) Residents' attitudes towards and skills in counseling: using undetected standardized patients J

36 WHO (1978) "2_Dec_Alma-Ata.pdf" WHO

Phụ lục 1 trình bày thông tin nghiên cứu về thực trạng tư vấn sức khỏe và các yếu tố ảnh hưởng tại Khoa Khám Bệnh, Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, Thành phố Hồ Chí Minh trong năm 2019.

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Các hoạt động tư vấn sức khoẻ của nhân viên y tế (n = 95) - Thực trạng tư vấn sức khỏe của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại khoa khám bệnh, bệnh viện nhân dân gia định, thành phố hồ chí minh năm 2019
Bảng 3.1 Các hoạt động tư vấn sức khoẻ của nhân viên y tế (n = 95) (Trang 35)
Bảng 3.2. Thực tế quan sát các cuộctư vấn tại các phòng khám - Thực trạng tư vấn sức khỏe của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại khoa khám bệnh, bệnh viện nhân dân gia định, thành phố hồ chí minh năm 2019
Bảng 3.2. Thực tế quan sát các cuộctư vấn tại các phòng khám (Trang 36)
Bảng 3.3. Thực tế quan sát tại các cuộc TVSK hình thức thảo luận nhóm - Thực trạng tư vấn sức khỏe của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại khoa khám bệnh, bệnh viện nhân dân gia định, thành phố hồ chí minh năm 2019
Bảng 3.3. Thực tế quan sát tại các cuộc TVSK hình thức thảo luận nhóm (Trang 41)
Bảng 3.5: Các khó khăn ảnh hưởng đến hoạt động tư vấn ( n = 95) - Thực trạng tư vấn sức khỏe của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại khoa khám bệnh, bệnh viện nhân dân gia định, thành phố hồ chí minh năm 2019
Bảng 3.5 Các khó khăn ảnh hưởng đến hoạt động tư vấn ( n = 95) (Trang 44)
Phụ lục 4: BẢNG KIỂM NỘI DUNG QUAN SÁT CÁC CUỘC TVSK TẠI  CÁC PHÒNG KHÁM - Thực trạng tư vấn sức khỏe của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại khoa khám bệnh, bệnh viện nhân dân gia định, thành phố hồ chí minh năm 2019
h ụ lục 4: BẢNG KIỂM NỘI DUNG QUAN SÁT CÁC CUỘC TVSK TẠI CÁC PHÒNG KHÁM (Trang 68)
Hình thức lượng giá - Thực trạng tư vấn sức khỏe của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại khoa khám bệnh, bệnh viện nhân dân gia định, thành phố hồ chí minh năm 2019
Hình th ức lượng giá (Trang 72)
Hình thức và cách trang trí bảng TT-GDSK - Thực trạng tư vấn sức khỏe của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại khoa khám bệnh, bệnh viện nhân dân gia định, thành phố hồ chí minh năm 2019
Hình th ức và cách trang trí bảng TT-GDSK (Trang 75)
Hình quan sát hoạt động tư vấn nhóm - Thực trạng tư vấn sức khỏe của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại khoa khám bệnh, bệnh viện nhân dân gia định, thành phố hồ chí minh năm 2019
Hình quan sát hoạt động tư vấn nhóm (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w