ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả các cơ sở kinh doanh du lịch nhỏ tại khu phố II và khu phố VII ở thị trấn Dương Đông, bao gồm quán nước, cửa hàng tạp hóa và dịch vụ bán đồ ăn nhanh, đều được quản lý nhằm phục vụ nhu cầu của khách du lịch và cư dân địa phương.
Người thường xuyên quét dọn , thu gom rác thải tại cơ sở kinh doanh mức độ nhỏ trên địa bàn du lịch bãi biển thị trấn Dương Đông
Ban quản lý công trình công cộng
UBND thị trấn Dương Đông
Chủ các cơ sở kinh doanh mức độ nhỏ
Cơ sở kinh doanh du lịch nhỏ tại bãi biển thị trấn Dương Đông, huyện Phú Quốc, bao gồm các điểm bán nước giải khát, thức ăn nhanh và tạp hóa, phục vụ nhu cầu của người dân và du khách.
Tại trạm Y tế thị trấn Dương Đông, có từ 1 đến 3 người bán hàng, chủ yếu là chủ các cơ sở nhỏ hoặc thành viên trong gia đình, phục vụ khách hàng.
Đối tượng là Phó chủ tịch UBND thị trấn Dương Đông là người phụ trách mảng văn hóa & xã hộ trên địa bàn thị trấn
Lãnh đạo Ban quản lý Công Trình Công Cộng thị trấn chịu trách nhiệm thu gom, vận chuyển và xử lý rác sinh hoạt trong khu vực huyện.
Các loại hình khác trong cơ sở kinh doanh du lịch: như Nhà hàng, khách sạn, Resort, nhà nghỉ và các điểm bán không cố định
Các đối tượng không có khả năng trả lời phỏng vấn và không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: từ tháng 04/ 2017 đến tháng 8/ 2017
Địa điểm nghiên cứu: Tại thị trấn Dương Đông huyện Phú Quốc.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo mô tả cắt ngang kết hợp với định lượng và định tính
Nghiên cứu định lượng về dịch tễ học mô tả được thực hiện thông qua cuộc điều tra cắt ngang, nhằm phân tích thực trạng thu gom, phân loại và xử lý rác thải sinh hoạt Nghiên cứu cũng tập trung vào việc mô tả kiến thức và thực hành của những người thường xuyên quét dọn, thu gom rác tại các cơ sở kinh doanh du lịch nhỏ phục vụ khách tại khu du lịch bãi biển.
Nghiên cứu định tính là phương pháp nhằm phân tích và mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến công tác phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt tại các cơ sở kinh doanh nhỏ, cũng như từ lãnh đạo Ban quản lý Công Trình Công Cộng và UBND thị trấn Dương Đông, huyện Phú Quốc.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Để đánh giá trang thiết bị của các cơ sở kinh doanh mức độ nhỏ và Đội VSMT thị trấn:
Tại thị trấn Dương Đông, khu du lịch có bãi biển, có tổng cộng 125 cơ sở kinh doanh du lịch quy mô nhỏ đáp ứng điều kiện nghiên cứu Tất cả các cơ sở này sẽ được đánh giá về trang thiết bị theo Nghị định số 38/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu.
*Cỡ mẫu định tính: 7 mẫu
Một phó chủ tịch UBND thị trấn Dương Đông phụ trách về văn hóa xã hội
Phó Ban quản lý CTCC thị trấn Dương Đông chịu trách nhiệm về việc thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt tại khu vực này.
Chọn 5 chủ cơ sở kinh doanh mức độ nhỏ trên địa bàn nghiên cứu
2.4.2 Đánh giá kiến thức, thực hành trong phân loại, thu gom xử lý rác:
Tại các cơ sở kinh doanh du lịch nhỏ ở khu vực bãi biển thị trấn Dương Đông, một người được chỉ định để thường xuyên quét dọn và thu gom rác Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn 125 cơ sở về kiến thức phân loại, thu gom và xử lý rác thải thông qua bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn Đồng thời, bảng kiểm cũng được sử dụng để quan sát việc thực hiện phân loại và xử lý rác thải của các chủ cơ sở.
Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
Bộ câu hỏi được thiết kế nhằm đánh giá kiến thức về phân loại, thu gom và xử lý rác thải của những người thường xuyên làm công việc quét dọn tại 125 cơ sở kinh doanh du lịch nhỏ Bộ công cụ này đã được áp dụng thử nghiệm với 10 đối tượng để làm rõ cách hiểu câu hỏi, ngôn ngữ địa phương và thời gian phỏng vấn, từ đó tiến hành chỉnh sửa và hoàn thiện bộ câu hỏi chính thức.
Bảng kiểm quan sát về trang thiết bị thu gom, phân loại và xử lý rác của 125 cơ sở (phụ lục 6)
Bộ câu hỏi phỏng vấn sâu được thiết kế dựa trên sự tham vấn của các chuyên gia môi trường và giáo viên hướng dẫn, nhằm đảm bảo tính phù hợp với đối tượng là chủ cơ sở kinh doanh quy mô nhỏ, Ban quản lý Công Trình Công Cộng, và Lãnh đạo UBND thị trấn Dương Đông.
Hai điều tra viên từ khoa Y tế công cộng của Trung tâm Y tế huyện Phú Quốc đã được đào tạo kỹ lưỡng về kỹ năng và quy trình điều tra, phỏng vấn, cũng như thống nhất nhận định kết quả.
2.5.2 Phương pháp thu thập thông tin
Cuộc phỏng vấn sâu với một phó Ban quản lý Công Trình Công Cộng đã được tiến hành tại phòng làm việc của các đối tượng nghiên cứu, kéo dài từ 15 đến 20 phút.
Hướng dẫn phỏng vấn sâu:
Phỏng vấn sâu phó chủ tịch UBND thị trấn Dương Đông về lĩnh vực văn hóa - xã hội sẽ diễn ra tại Phòng làm việc của UBND, kéo dài khoảng 15 – 20 phút.
Phỏng vấn sâu 5 chủ cơ sở kinh doanh nhỏ được thực hiện tại các cơ sở, kéo dài từ 15 đến 20 phút với bản hướng dẫn cụ thể Trước khi tiến hành phỏng vấn, điều tra viên sẽ giới thiệu mục đích nghiên cứu và xin ý kiến chấp thuận của đối tượng tham gia Đồng thời, điều tra viên cũng giải thích lợi ích của nghiên cứu cũng như những ảnh hưởng có thể xảy ra đối với người tham gia.
Để thu thập thông tin một cách hiệu quả trong các cuộc phỏng vấn sâu, điều tra viên đã xin phép ghi âm và ghi chép trong suốt quá trình phỏng vấn Tổng cộng có 7 cuộc phỏng vấn sâu được thực hiện, mỗi cuộc phỏng vấn đều có biên bản riêng và được lưu giữ làm tài liệu tham khảo.
Biến số trong nghiên cứu
2.6.1 Các biến số tương ứng với mục tiêu 1 - Mô tả kiến thức, thực hành trong phân loại, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt
Các biến số chính về thông tin chung của đối tượng được phỏng vấn: Tuổi, giới tính, trình độ học vấn,…
Các yếu tố quan trọng về kiến thức của những người làm công tác quét dọn và xử lý rác sinh hoạt bao gồm tác hại của rác, sự cần thiết phải thu gom và xử lý rác, cũng như lợi ích của việc thu gom rác hiệu quả và phân loại rác Đối với thực hành phân loại và xử lý rác tại các cơ sở, các yếu tố cần chú ý bao gồm thiết bị chứa rác, thùng rác hợp vệ sinh, cơ sở thu gom rác sạch sẽ, quy trình phân loại rác và biện pháp xử lý rác, cùng với tình trạng thùng rác và môi trường xung quanh.
Các yếu tố quan trọng trong lĩnh vực truyền thông, kiểm tra và giám sát bao gồm: tiếp nhận thông tin về rác thải, phương pháp tiếp cận nguồn thông tin, hoạt động tuyên truyền về xử lý rác thải, quy trình kiểm tra giám sát, các biện pháp xử phạt và hình thức xử phạt liên quan.
(Các biến số được mô tả chi tiết tại Phụ lục 5)
2.6.2 Đánh giá thực hành về phân loại xử lý rác sinh hoạt của các chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch qui mô nhỏ:
HUPH Được lượng hóa bằng phương pháp tính điểm dựa trên kết quả tổng điểm của
13 biến về kiến thức của nhân viên trong việc thu gom, xử lý rác thải tại các cơ sở như sau: Cách chấm điểm kiến thức (phụ lục 7)
Thang điểm phần kiến thức tối đa là 27 điểm Kiến thức tốt khi trả lời được 63% tổng số điểm trở lên của bộ câu hỏi tương đương từ 17 - 27 điểm
- Kiến thức của người trả lời đạt từ ≥17 điểm Kiến thức tốt
- Điểm kiến thức của người trả lời ≤ 16 điểm Kiến thức chưa tốt
Có 9 biến mỗi biến cho điểm cụ thể như sau: Cách chấm điểm (phụ lục 8) Tổng điểm tối đa là 11 điểm Thực hành đạt khi trả lời được ít nhất 54% tổng số điểm trở lên của bộ câu hỏi tương đương từ 6 – 11 điểm
- Thực hành Đạt: Tổng số điểm Đạt từ ≥ 6 điểm
- Thực hành chưa Đạt: Tổng số điểm ≤ 5 điểm
2.6.3 Chủ đề nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định tính được thực hiện nhằm bổ sung cho kết quả nghiên cứu định lượng, đồng thời mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến việc thu gom, lưu trữ và vận chuyển rác thải tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch có bãi biển và Ban quản lý công trình công cộng ở thị trấn Dương Đông, huyện Phú Quốc Các chủ đề sẽ được sử dụng trong phỏng vấn sâu đối tượng nghiên cứu.
Thực trạng hoạt động thu gom lưu trữ tạm rác của các cơ sở kinh doanh du lịch mức độ nhỏ
Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động thu gom và xử lý rác bao gồm nhân lực, trang thiết bị, và cơ sở hạ tầng do Ban Quản lý Chất thải Công cộng huyện quản lý Ngoài ra, các quy định về biện pháp chế tài cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả của quá trình này.
Hạn chế của nghiên cứu, sai số và cách khống chế sai số
2.7.1 Hạn chế, sai số của nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá kiến thức và thực hành liên quan đến phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt của các hộ kinh doanh du lịch quy mô nhỏ tại bãi biển, do đó tài liệu tham khảo trong lĩnh vực này rất hạn chế.
Sai số trong thu thập thông tin có thể xảy ra khi điều tra được thực hiện vào thời điểm không phù hợp Khi người buôn bán đang bận rộn, họ có thể trả lời một cách qua loa, không muốn hợp tác, hoặc không tập trung, dẫn đến việc không trả lời đầy đủ các câu hỏi.
- Sai số do ngôn ngữ địa phương, và do môi trường ồn ào, nhiễu nhiều âm thanh
- Sai số do quan sát môi trường xung quanh tại thời điểm cơ sở mới quét dọn sạch hoặc rác mới được thu gom
2.7.2 Cách khống chế sai số
Đối với nghiên cứu viên
Để đảm bảo chất lượng thông tin và giảm thiểu sai số trong quá trình điều tra, tôi đã tiến hành nghiên cứu thăm dò nhằm kiểm tra bộ câu hỏi trước khi thực hiện nghiên cứu chính thức tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch nhỏ có bãi biển ở thị trấn Dương Đông Dựa trên kết quả thử nghiệm, tôi sẽ chỉnh sửa và hoàn thiện bộ công cụ nghiên cứu.
Tập huấn kỹ cho điều tra viên về bộ công cụ thu thập số liệu
Nghiên cứu viên trực tiếp điều tra 20% số phiếu điều tra
Các nghiên cứu viên thu thập phiếu điều tra hàng ngày từ điều tra viên (ĐTV) và nhập trực tiếp số liệu vào phần mềm SPSS 20.0 Nếu phát hiện phần nào chưa đầy đủ hoặc không phù hợp, họ sẽ yêu cầu ĐTV bổ sung ngay lập tức.
Điều tra viên là hai nhân viên của khoa An toàn Vệ sinh Thực phẩm và Y tế Công cộng thuộc trung tâm Y tế huyện Phú Quốc, sở hữu kỹ năng phỏng vấn xuất sắc để thu thập thông tin chính xác Họ đã được đào tạo bài bản về phương pháp điều tra và thu thập số liệu, đồng thời có khả năng giao tiếp tốt, tạo không khí vui vẻ và thoải mái để dễ dàng tiếp xúc với đối tượng phỏng vấn.
Không nên tiến hành phỏng vấn đối tượng nghiên cứu trong thời gian cao điểm bận rộn Điều này giúp dễ dàng tiếp cận và thu thập thông tin đầy đủ, chính xác hơn từ đối tượng.
Đối tượng được phỏng vấn
HUPH Được giải thích rõmục đích, ý nghĩa của cuộc điều tra, phỏng vấn để đối tượng hiểu rõ và dễ chấp nhận hợp tác
Câu hỏi đạt ra phải phù hợp, dễ hiểu để đối tượng trả lời đúng nghĩa
Liên hệ trước với đối tượng phỏng vấn để chọn thời điểm thích hợp.
Phân tích và xử lý số liệu
Phân tích số liệu định lượng được thực hiện bằng cách làm sạch và nhập dữ liệu vào phần mềm SPSS 20.0 Các phương pháp phân tích thống kê mô tả và phân tích được áp dụng để trình bày kết quả phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.
Phân tích số liệu định tính được thực hiện sau khi các cuộc phỏng vấn sâu được ghi chép và chuyển đổi thành văn bản Nghiên cứu viên chính sẽ đọc và mã hóa thông tin theo chủ đề Thông tin định tính sẽ được tổng hợp và phân tích để bổ sung cho nghiên cứu định lượng, nhằm đạt được mục tiêu nghiên cứu thứ hai Một số ý kiến của đối tượng nghiên cứu sẽ được trích dẫn để minh họa cho kết quả nghiên cứu.
Đạo đức trong nghiên cứu
Tất cả các đối tượng nghiên cứu đều được thông báo rõ ràng về mục đích của nghiên cứu Nghiên cứu tuân thủ các quy tắc đạo đức và phong tục của cộng đồng, không chứa thông tin hay hoạt động trái với những giá trị này Đối tượng nghiên cứu có quyền từ chối tham gia, và chỉ những người tự nguyện mới được điều tra Thông tin cá nhân của đối tượng được bảo mật tuyệt đối Đề cương nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức của trường ĐH Y phê duyệt.
Tế Công Cộng số 183/2017 ngày 12/4/2017 về việc chấp thuận các vấn đề đạo đức NCYSH của Trường Đại Học YTCC
Nghiên cứu được thực hiện với sự cho phép của chính quyền địa phương nhằm nâng cao chất lượng công tác phân loại, thu gom và xử lý rác Kết quả nghiên cứu sẽ được phản hồi về địa phương để cải thiện hiệu quả quản lý rác thải.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kiến thức, thực hành của nhân viên, chủ cơ sở về phân loại, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt
lý rác thải sinh hoạt
3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu:
Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng được phỏng vấn: Đặc điểm về tuổi, giới Tần số (n = 125) Tỷ lệ (%)
Bảng 3.1 chỉ ra rằng 74,4% những người thường xuyên đứng bán và quét dọn rác tại các cơ sở là nữ giới Đặc thù công việc buôn bán nhỏ lẻ và tính chất không nặng nhọc đã khiến phần lớn công việc này được đảm nhận bởi phụ nữ.
Nhóm tuổi chiếm tỷ lệ phỏng vấn cao nhất là từ 31 đến 50 tuổi, với 56% Tiếp theo là nhóm 18 đến 30 tuổi, chiếm 27,2%, và cuối cùng là nhóm trên 50 tuổi, với tỷ lệ 16,8%.
Bảng 3.2 Phân bố đôi tượng theo trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu:
Trình độ học vấn Tần số (n= 125) Tỷ lệ (%)
Bảng 3.2 cho thấy trình độ học vấn tứ THPT trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất 40,8%, kế tiếp là trung học cơ sở 39,2% còn lại là tiểu học chiếm 20%
3.1.2 Đặc điểm cung cấp dịch vụ của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.3 Hình thức kinh doanh
Hình thức kinh doanh Tần số (n= 125) Tỷ lệ (%)
Bán nước giải khát 35 28 Ăn uống, Giải khát 44 35,2
Trong tổng số 125 cơ sở kinh doanh du lịch nhỏ tại khu vực nghiên cứu, có 44 cơ sở chuyên bán đồ ăn và nước uống, chiếm tỷ lệ 35,2% Tiếp theo là 35 cơ sở bán nước giải khát và 30 cơ sở bán tạp hóa Ngoài ra, còn có 16 cơ sở kinh doanh khác như bán bắp nướng, chả chiên, bánh mì, và nước mía, cho thấy sự đa dạng trong các hình thức kinh doanh dịch vụ.
3.1.3 Kiến thức về phân loại, thu gom, xử lý rác thải của nhân viên
Bảng 3.4 Kiến thức của nhân viên các cơ sở biết đến tác hại của rác sinh hoạt
Biết đến tác hại của rác Tần số (n = 125) Tỉ lệ %
Nêu những tác hại của rác 99 Tỉ lệ %
Là nguồn gây ô nhiễm môi trường 75 75,8
Là nơi các côn trùng phát triển 17 17,2
Kết quả từ bảng 3.4 cho thấy 79,2% nhân viên cơ sở nhận thức rõ về tác hại của rác thải, trong khi 20,8% còn lại không biết Mùi hôi thối được 77,9% nhân viên xác định là tác hại chính, tiếp theo là 75,8% cho rằng rác thải là nguồn gây ô nhiễm môi trường Tuy nhiên, chỉ có 30,3% cho rằng rác thải là nguồn gây bệnh và 17,2% nhận định đây là nơi phát triển của côn trùng.
Bảng 3.5 Kiến thức của nhân viên biết về lợi ích của việc thu gom rác Lợi ích thu gom rác tốt Tần số (n = 125) Tỉ lệ %
Giảm thiểu ô nhiễm môi trường 41 32,8
Diệt nơi sinh sản của ruồi, muỗi 28 22,4
Thu gom rác vào đâu là hợp vệ sinh Tần số (n = 125) Tỷ lệ %
Cho vào thùng có nắp đậy 99 79,2
Cho vào thùng không có nắp đậy 2 1,6
Cho váo túi nilong để nơi quy định 9 7,2
Cho vào túi nilong chờ người thu gom 15 12
Kết quả từ bảng 3.5 cho thấy 88% người tham gia phỏng vấn nhận định rằng lợi ích chính của việc thu gom rác là tạo ra môi trường sạch sẽ Ngoài ra, 41,6% cho rằng việc này giúp phòng chống bệnh tật, 32,8% nhấn mạnh vai trò trong việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường, và 22,4% cho rằng nó diệt nơi sinh sản của ruồi, muỗi Về cách thức xử lý rác thải, 79,2% cho biết họ bỏ rác vào thùng có nắp đậy, 12% sử dụng túi nilong chờ người thu gom, 7,2% để đúng nơi quy định, và chỉ 1,6% cho rác vào thùng không có nắp đậy.
Bảng 3.6 Kiến thức của nhân viên về sự cần thiết phải phân loại rác sinh hoạt
Cần thiết phân loại rác Tần số (n = 125) Tỷ lệ %
Không biết 19 15,2 phân loại rác ở đâu là thích hợp Tần số (n = 125) Tỷ lệ %
Ngay tại cơ sở phát thải 62 49,6
Tại nơi tập kết rác 8 6,4
Tại nơi xử lý rác 39 31,2
Lợi ích của phân loại rác Tần số (n = 79) Tỷ lệ %
Tiết kiệm chi phí xử lý rác 9 11,4
Thuận lợi cho quá trình xử lý 30 37,9
Có thể tận dụng tái chế 65 82,3
Giảm thiểu ô nhiễm môi trường 26 32,9
Theo Bảng 3.6, có 15,2% người dân không biết về việc phân loại rác, 21,6% cho rằng không cần thiết, trong khi 63,2% nhận thấy việc này là cần thiết Về địa điểm phân loại, 49,6% cho rằng nên phân loại tại nơi phát thải, 31,2% tại nơi xử lý, 12,8% không biết và 6,4% tại nơi tập kết Những con số này cho thấy nhận thức về vấn đề phân loại rác còn nhiều hạn chế Về lợi ích, 82,3% cho rằng phân loại rác giúp tái chế, 37,9% thấy thuận lợi cho quá trình xử lý, 32,9% cho rằng giảm thiểu ô nhiễm môi trường, và 11,4% cho rằng tiết kiệm chi phí xử lý.
Bảng 3.7 Kiến thức của nhân viên về xử lý rác hợp vệ sinh
Xử lý rác tốt Tần số (n = 125) Tỷ lệ % Đốt 20 16
Chuyển về nhà máy xử lý rác 75 60
Theo Bảng 3.7, 60% ý kiến cho rằng rác thải hợp vệ sinh được vận chuyển về nhà máy xử lý, trong khi 21,6% cho rằng phương pháp chôn lấp là phổ biến Ngoài ra, 16% người được hỏi cho rằng rác thải được đốt, 1,6% không biết và 0,8% cho rằng rác được ủ để làm phân.
Bảng 3.8 Kiến thức của nhân viên biết về rác thải sinh hoạt
Rác thải sinh hoạt Tần số (n = 125) Tỷ lệ %
Thức ăn thừa, rau củ quả hư 97 77,6
Túi nilong, ly, chai nhựa 108 86,4
Chai, lọ thủy tinh, chén (bát) vỡ 38 30,4
Giấy lau tay, vỏ trái cây 47 37,6
Kết quả từ bảng 3.8 cho thấy, trong nghiên cứu, 86,4% người tham gia đã liệt kê các loại rác thải như túi nilong, ly và chai nhựa Ngoài ra, 77,6% cho biết có thức ăn thừa, rau củ quả hư, trong khi 37,6% đề cập đến giấy lau tay và vỏ trái cây Cuối cùng, 11,2% còn lại là các loại rác khác.
Bảng 3.9 Kiến thức của nhân viên về thu gom bao nhiêu lần trong ngày thì hợp vệ sinh
Số lần thu gom rác trong ngày Tần số (n = 125) Tỷ lệ %
Theo bảng 3.9, 86,4% người được phỏng vấn cho rằng việc thu gom rác 2 lần trong ngày là cần thiết, vì điều này giúp ngăn ngừa mùi hôi và tình trạng rác thải quá tải Trong khi đó, 13,6% còn lại có ý kiến khác về tần suất thu gom rác.
1 nần trong ngày là đủ
Biểu đồ 3.1 Tổng hợp kiến thức chung của nhân viên về thu gom rác
Biểu đồ 3.1 cho thấy 36,8% người tham gia đạt từ 17 điểm trở lên, cho thấy kiến thức tốt, trong khi 63,2% còn lại có điểm dưới 17, cho thấy kiến thức chưa đạt yêu cầu.
2 chủ cơ sở cho kết quả như sau:
Trước đây, tôi chưa thấy ai đến tuyên truyền về việc kiểm tra và xử phạt Thỉnh thoảng, có một số nhân viên y tế xuống kiểm tra cơ sở.
HUPH đã kiểm tra việc thực hiện nội quy an toàn thực phẩm, tuy nhiên, thay vì xử phạt, họ chỉ nhắc nhở về những thiếu sót cần khắc phục.
“Hồi nào đến giờ không có ai đến kiểm tra, tuyên truyền gì cả họ chỉ có đến thu tiền rác hàng tháng mà thôi” PVS 02
3.1.4 Thực hành của chủ cơ sở về thu gom, phân loại, xử lý rác sinh hoạt Bảng 3.10 Cơ sở dịch vụ có trang bị thùng rác
Cơ sở có thùng chứa rác Tần số (n 5) Tỷ lệ %
Thùng rác hợp vệ sinh Tần số (n = 106) Tỷ lệ %
Thực trạng thùng rác Tần số (n = 106) Tỷ lệ %
Rác thu gom hết vào thùng 79 74,5
Thùng rác quá tải bỏ ra ngoài 27 25,5
Cơ sở thu gom rác hợp vệ sinh Tần số (n = 125) Tỷ lệ %
Cho vào thùng có nắp 43 34,4
Cho vào thùng không có nắp 63 50,4
Cho vào túi nilong để nơi quy định 8 6,4
Cho vào túi nilong chờ ngưới thu gom 11 8,8
Bảng 3.10 cho thấy phần đông cơ sở có thùng chứa rác tạm thời chiếm 84,8%, chỉ có 15,2% cơ sở không có thùng rác
Trong tổng số 106 hộ có thùng rác, chỉ có 43 hộ sử dụng thùng rác hợp vệ sinh, chiếm 40,6%, trong khi 63 hộ còn lại sử dụng thùng rác không hợp vệ sinh, chiếm 59,4% Thực trạng cho thấy 74,5% rác được cho vào thùng, nhưng 25,5% thùng rác bị quá tải, dẫn đến rác tràn ra ngoài Về cách thức chứa rác tạm thời, 50,4% rác được cho vào thùng không có nắp, 34,4% vào thùng có nắp, 8,8% vào túi nilong chờ thu gom, và 6,4% vào túi nilong đúng nơi quy định.
“Khi thu gom rác nhân viên cần làm nhẹ tay để tránh làm bể thùng hoặc xúc nắp thùng rác” PVS 01
Ban quản lý công trình công cộng sẽ cung cấp thêm thùng rác có nắp đậy tại các khu vực dân cư quá tải Mỗi năm đến sáu mươi mét sẽ được bố trí một thùng rác công cộng.
Bảng 3.11 Cơ sở có thực hiện phân loại rác ngay tại nguồn
Phân loại rác tại cơ sở Tần số (n = 125) Tỷ lệ %
Những loại rác được phân ra 22 Tỷ lệ %
Theo bảng 3.11, 82,4% cơ sở kinh doanh không thực hiện phân loại rác, trong khi chỉ có 17,6% là có phân loại Trong số 22 cơ sở thực hiện phân loại, 50% phân loại rác phân hủy, 31,8% là rác tái chế, và 18,2% là rác tái sử dụng.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến phân loại, thu gom, xử lý rác thải
3.2.1 Yếu tố ảnh hưởng thuộc về cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch quy mô nhỏ
Kiến thức là sự hiểu biết của con người về bản thân và thế giới xung quanh, được hình thành và tích lũy qua các hoạt động xã hội, sách, báo và trải nghiệm trong suốt cuộc đời.
Theo biểu đồ 3.1, chỉ có 36,8% kiến thức được đánh giá là tốt, trong khi 63,2% còn lại là kiến thức chưa đạt yêu cầu Qua phỏng vấn sâu với một số cơ sở, chúng tôi đã thu thập được những thông tin quan trọng về vấn đề này.
Chưa bao giờ có ai thông báo cho tôi về việc tham gia tập huấn quản lý thu gom rác, chỉ thấy các anh thu tiền rác hàng tháng.
Công việc nhà bận rộn và việc chăm sóc gia đình khiến nhiều người không có thời gian để tìm hiểu về các quy định xử lý rác thải.
Nếu có cơ quan mời tham gia tập huấn về quản lý rác thải, tôi sẽ tham gia vì đó là cơ hội tốt để học cách bảo vệ và gìn giữ môi trường hiệu quả hơn.
Tỷ lệ kiến thức về phân loại rác của các hộ kinh doanh trong khu vực nghiên cứu còn rất thấp, chủ yếu do sự thiếu quan tâm từ chính quyền địa phương Công tác chỉ đạo và tập huấn cho các ban, ngành liên quan chưa được thực hiện một cách sâu rộng, ảnh hưởng đến hiệu quả phân loại rác Hơn nữa, tại Ban quản lý công trình công cộng, việc phân loại rác cũng không được thực hiện do thiếu nhà máy xử lý, dẫn đến việc xử lý rác chủ yếu bằng phương pháp thủ công như đốt và chôn lấp.
Thiếu đầu tư thùng chứa rác sinh hoạt
Kinh phí để mua thùng chứa rác tại địa phương hiện nay rất cao, dẫn đến một số cơ sở không thể trang bị thùng chứa Họ buộc phải sử dụng túi nilon để đựng rác và bỏ vào thùng rác công cộng hoặc để ở lề đường chờ người thu gom.
Thùng rác tại cơ sở được trang bị tự mua từ Ban quản lý công trình công cộng của huyện, không phải do họ cung cấp Giá thùng rác phụ thuộc vào tình trạng, với thùng mới có giá 1.600.000 đ/cái, trong khi thùng cũ có giá từ 600.000 đến 700.000 đ.
Nhà em có quán nước nhỏ, nên lượng rác thải chủ yếu là rác sinh hoạt trong gia đình, không nhiều Em thường cho rác vào túi nilon và để vào thùng mốp chờ người thu gom.
Khu vực nhà em không có thùng rác công cộng, chỉ có thùng rác bằng mốp hoặc sọt rác từ các hộ xung quanh Nếu không tin, anh hãy ra xem thực tế.
Các cơ sở kinh doanh cần tự trang bị thùng chứa rác phù hợp với lượng rác thải hàng ngày của họ Việc xã hội hóa trong xử lý rác thải là cần thiết, vì cơ quan không đủ kinh phí để cung cấp thùng rác cho các cơ sở này.
Công tác thu gom rác hợp vệ sinh cần thùng chứa rác chuyên dụng, nhưng nhiều hộ kinh doanh nhỏ phải tự đầu tư mua thùng Ban QLCTCC không đủ kinh phí để trang bị thùng rác trên toàn địa bàn Hơn nữa, nhận thức của người dân và khách du lịch về bảo vệ môi trường còn hạn chế, dẫn đến thói quen vứt rác bừa bãi, ảnh hưởng lớn đến công tác thu gom rác.
3.2.2 Yếu tố ảnh hưởng thuộc về Ban quản lý CTCC thị trấn Dương Đông
Nguồn nhân lực thiếu và chưa chuyên nghiệp
Nhân lực trong thu gom và vận chuyển rác thải sinh hoạt là yếu tố quan trọng để duy trì môi trường xanh, sạch đẹp Tuy nhiên, việc tuyển dụng nhân viên tại địa phương gặp nhiều khó khăn Theo kết quả phỏng vấn, Ban lãnh đạo quản lý CTCC đã chia sẻ những thách thức này.
Việc tuyển dụng nhân công hiện nay gặp nhiều khó khăn, chủ yếu là do phần lớn nhân công được tuyển là phụ nữ và những người từ địa phương khác đến Họ thường không có công ăn việc làm ổn định, vì vậy mới tìm kiếm cơ hội làm việc tại đây.
Công việc diễn ra từ 9 giờ tối đến 5 giờ sáng không phù hợp với nữ công nhân, dẫn đến việc họ không thể làm việc lâu dài.
BÀN LUẬN
Kiến thức, thực hành phân loại, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt của nhân viên tại cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch quy mô nhỏ
4.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu cho thấy, 74,4% người trực tiếp phân loại, thu gom và xử lý rác thải tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch nhỏ là nữ giới Tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Đặng Văn Tiến (49,7%) về thái độ và thực hành của nhân viên nhà hàng, khách sạn tại quận Đồ Sơn, Hải Phòng năm 2015, cũng như nghiên cứu của Khăn Pạ Sợt Sengngam (31,2%) về thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt tại xã Ngũ Hùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương năm 2005 Điều này phản ánh thực trạng tại địa phương, nơi mà công việc buôn bán nhỏ và nhẹ nhàng chủ yếu do nữ giới đảm nhận.
Nhóm đối tượng nghiên cứu từ 31-50 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 56%, gần tương đương với nghiên cứu của Đặng Văn Tiến (64,6%) [24] Độ tuổi này là điều kiện thuận lợi vì nằm trong độ tuổi lao động, có nhiều kinh nghiệm, sức khỏe tốt, và thường xuyên đảm nhận vai trò nội trợ cũng như trực tiếp tham gia vào buôn bán, kinh doanh dịch vụ.
Trình độ học vấn của những người thu gom và xử lý rác tại cơ sở chủ yếu là trung học cơ sở, chiếm 39,2%, cao hơn so với nghiên cứu của Đặng Văn Tiến (17,7%) Tuy nhiên, tỷ lệ người có trình độ trung học phổ thông trở lên chỉ đạt 40,8%, thấp hơn so với kết quả của Đặng Văn Tiến (79,6%) Kết quả này phản ánh thực trạng của các cơ sở kinh doanh nhỏ tại thị trấn Dương Đông, huyện Phú Quốc.
Vào những năm 80 của thế kỷ trước, Phú Quốc còn chậm phát triển và đời sống của nhiều hộ dân gặp nhiều khó khăn, dẫn đến việc cho con em ăn học bị hạn chế, đặc biệt là đối với trẻ em nữ từ 35 tuổi trở lên Tuy nhiên, tỷ lệ học sinh dưới 35 tuổi đạt trình độ trung học phổ thông trở lên là 40,2%, cho thấy một sự tiến bộ đáng kể trong giáo dục tại địa phương.
HUPH chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ lẻ, do đó không có nhu cầu thu hút nhiều công nhân Thay vào đó, nhiều người chọn ở nhà để mở quán nhỏ, buôn bán nhằm hỗ trợ kinh tế gia đình.
Theo bảng 3.3, hình thức kinh doanh trên địa bàn rất đa dạng, trong đó kinh doanh bán ăn kết hợp với bán giải khát chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt 35,2% tổng số hình thức kinh doanh dịch vụ du lịch Điều này cho thấy sự đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khách du lịch cũng như phong tục tập quán địa phương.
4.1.2 Kiến thức về phân loại, thu gom, xử lý rác sinh hoạt của nhân viên tại cơ sở kinh doanh Để xảy ra ô nhiễm môi trường có rất nhiều nguyên nhân nhưng trước hết là do thiếu kiến thức của những người thường xuyên thu gom rác, việc vứt rác bừa bãi của người dân cũng như khách du lịch, Trang thiết bị thu gom không đảm bảo cũng như quá tải sẽ gây ô nhiễm môi trường Vì vậy kiến thức về bảo vệ môi trường
Việc duy trì môi trường “xanh - sạch - đẹp” thông qua phân loại, thu gom và xử lý rác thải là rất quan trọng để ngăn ngừa ô nhiễm Hiểu rõ khái niệm vệ sinh môi trường và giữ gìn môi trường trong sạch là cần thiết để phòng chống hiệu quả các tác hại do ô nhiễm gây ra, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng.
Theo bảng 3.4, 79,2% người được hỏi nhận thức về tác hại của rác thải, trong đó 77,9% cho rằng rác gây mùi hôi thối và 75,8% cho rằng nó là nguồn ô nhiễm môi trường, nhưng chỉ 17,2% nhận biết rằng rác là nơi phát triển của côn trùng Những tỷ lệ này thấp hơn so với các nghiên cứu trước đây Điều này đặt ra câu hỏi về hiệu quả của công tác tuyên truyền và sự quan tâm của những người thu gom rác đối với vệ sinh môi trường Mặc dù 88% cho rằng việc thu gom rác giúp môi trường sạch sẽ, nhưng chỉ dưới 42% nhận thức được rằng nó còn giúp diệt nơi sinh sản của ruồi, muỗi và phòng chống bệnh tật Đây là vấn đề cần chú ý về kiến thức của những người trực tiếp thu gom và xử lý rác trong khu vực nghiên cứu.
Theo khảo sát, 79,2% người tham gia cho rằng việc bỏ rác vào thùng có nắp hoặc túi nilong đúng nơi quy định là hợp vệ sinh, cho thấy họ nhận thức được tầm quan trọng của việc giữ gìn vệ sinh môi trường để tránh ô nhiễm Tuy nhiên, vẫn còn 12% nhân viên vẫn cho rác vào túi nilong chờ người thu gom, cho thấy một số người chưa quan tâm đến vấn đề rác thải Tỷ lệ này tương đồng với nghiên cứu của Đặng Văn Tiến (78,2%) nhưng cao hơn so với nghiên cứu của Khăn Pạ Sợt Sengngam (40,8%), cho thấy sự thay đổi trong nhận thức về vệ sinh môi trường trong 12 năm qua Ngược lại, nghiên cứu của Phan Vĩnh Thịnh (96,8%) cho thấy sự cải thiện rõ rệt nhờ vào các chương trình tập huấn và tuyên truyền từ chính quyền huyện từ năm 2007.
Kiến thức của nhân viên về phân loại rác chỉ đạt 63,2%, với phần lớn cho rằng rác chỉ được chở về nhà máy xử lý, trong khi các biện pháp khác đều dưới 22% Điều này cho thấy nhiều nhân viên thu gom rác chưa hiểu rõ tầm quan trọng của việc phân loại rác, điều này ảnh hưởng đến khả năng tái chế, tái sử dụng và giảm chi phí xử lý Tỷ lệ này vẫn còn thấp so với nghiên cứu của Đặng Văn Tiến và Phan Vĩnh Thịnh, với các con số lần lượt là 86,74% và 98,9%.
Chỉ có 49,6% người được khảo sát cho rằng cần phân loại rác ngay tại cơ sở phát thải, trong khi 50,4% cho rằng nên thực hiện ở các địa điểm khác, cho thấy tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Đặng Văn Tiến tại Đồ Sơn Hải Phòng với 93,58% Nguyên nhân của sự khác biệt này là do nghiên cứu của Đặng Văn Tiến tập trung vào các nhà hàng, khách sạn, trong khi khảo sát hiện tại chủ yếu liên quan đến các cơ sở quy mô nhỏ chưa được chính quyền địa phương chú trọng đào tạo và tuyên truyền Điều này dẫn đến hạn chế về kiến thức của đối tượng nghiên cứu Nếu tỷ lệ phân loại rác tại nguồn cao hơn, sẽ giúp giảm trọng lượng rác thải thu gom và giảm đáng kể chi phí xử lý rác.
Vấn đề xử lý rác thải là một trong những biện pháp quan trọng nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường Theo bảng 3.7, 60% người được phỏng vấn cho rằng việc chở rác về nhà máy xử lý là giải pháp chính, trong khi phần còn lại chọn các phương án khác Tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Đặng Văn Tiến, cho thấy sự cần thiết phải cải thiện nhận thức và áp dụng các biện pháp hiệu quả hơn trong xử lý rác thải.
Nghiên cứu của Đặng Văn Tiến về HUPH tập trung vào các nhà hàng, khách sạn và resort quy mô lớn, nơi mà nhân viên được đào tạo thường xuyên để nâng cao chất lượng dịch vụ.
Kết quả khảo sát cho thấy chỉ có 36,2% nhân viên có kiến thức tốt về phân loại, thu gom và xử lý rác, trong khi 63,8% còn lại có kiến thức chưa tốt Mặc dù một số câu hỏi đạt kết quả khả quan, tổng thể kiến thức chung về vấn đề này vẫn rất thấp Theo nghiên cứu của Phan Vĩnh Thịnh, tỷ lệ kiến thức chung là 74,6%, cho thấy sự khác biệt với thực tế địa phương Thông tin từ phỏng vấn cho thấy 54% người dân nhận thông tin từ truyền hình, 22,4% từ cán bộ y tế, và chỉ 4,8% từ chính quyền địa phương, cho thấy công tác tuyên truyền chưa được chú trọng Trong quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy thiếu băng rôn và áp phích quảng cáo tại các nơi công cộng, chỉ có một pano duy nhất với nội dung khuyến khích bỏ rác đúng nơi quy định và một bảng tuyên truyền về Nghị định số 155/NĐ-CP liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính trong bảo vệ môi trường.
4.1.3 Thực hành phân loại, thu gom xử lý rác của chủ cơ sở
Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác phân loại, thu gom, xử lý rác
4.2.1 Yếu tố về cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch mức độ nhỏ
Kiến thức là sự hiểu biết của con người về bản thân và thế giới xung quanh, được hình thành và tích lũy qua các hoạt động xã hội, sách vở và báo chí trong suốt cuộc đời.
Nghiên cứu về kiến thức phân loại, thu gom và xử lý rác thải tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch ở thị trấn Dương Đông, huyện Phú Quốc cho thấy 63,8% người dân có kiến thức chưa tốt Mặc dù 54,4% thông tin được tiếp nhận qua truyền hình và loa đài, nhưng đây chỉ là hình thức truyền thông gián tiếp Điều này cho thấy các cơ sở chưa chú trọng đến việc đọc báo hoặc không có thời gian, trong khi có nhiều tài liệu báo chí về rác thải Để nâng cao nhận thức của người dân và các cơ sở, cần tập trung vào truyền thông bằng hình ảnh và hình thức trực tiếp.
Kết quả công tác điều tra cộng đồng cho thấy chỉ có 1 Pano mang nội dung
"Bỏ rác đúng nơi quy định là hành động nhỏ nhưng mang ý nghĩa lớn Tuy nhiên, nội dung truyền thông hiện tại còn thiếu sót, chưa đề cập đầy đủ đến các vấn đề như phân loại, xử lý, tái sử dụng và tái chế rác thải Mặc dù địa phương đã chú trọng đến công tác truyền thông, nhưng cần nâng cao chất lượng và sự phong phú của thông tin về thu gom và xử lý rác thải rắn sinh hoạt để người dân hiểu rõ hơn."
Thùng chứa rác hợp vệ sinh đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm không khí, và ngăn chặn sự phát triển của côn trùng, góp phần vào công tác phòng, chống dịch bệnh Theo bảng 3.14, 15,2% cơ sở không có thùng chứa rác và 59,4% thùng rác không đạt tiêu chuẩn vệ sinh Chi phí mua thùng rác hiện tại quá cao đối với các cơ sở kinh doanh nhỏ, do đó, các Ban ngành cần có giải pháp hợp lý để cung cấp và phân bổ thùng rác công cộng theo từng khu vực, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, cơ sở kinh doanh và khách du lịch trong việc bỏ rác đúng nơi quy định.
4.2.2 Yếu tố thuộc về cung cấp dịch vụ VSMT thị trấn Dương Đông
Việc tuyển dụng và giữ chân công nhân lâu dài đang gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là với công nhân hợp đồng làm việc từ 9 giờ tối đến 5 giờ sáng Mức lương khởi điểm chỉ 3.000.000 đ/tháng cộng với hỗ trợ 2.000.000 đ/tháng không đủ hấp dẫn, đặc biệt khi 62,2% là công nhân nữ phải làm việc trong môi trường không thuận lợi Điều này dẫn đến tình trạng công nhân không thể duy trì công việc lâu dài, ảnh hưởng đến công tác thu gom rác thải Để thu hút và giữ chân công nhân, cần có chính sách ưu đãi về tinh thần, vật chất, chỗ ở và điều chỉnh thời gian làm việc nhằm khuyến khích họ gắn bó lâu dài với công ty.
Trang thiết bị thu gom
Thiếu kinh phí cho việc mua sắm và sửa chữa trang thiết bị đã dẫn đến tình trạng thùng rác trên địa bàn nghiên cứu không đủ và phân bổ không hợp lý Nhiều hộ dân vẫn sử dụng thùng mốp không nắp để chứa rác, trong khi nhiều bãi biển công cộng lại thiếu thùng rác mặc dù đã có tờ trình xin kinh phí nhưng chưa được phê duyệt, gây ảnh hưởng lớn đến việc quản lý rác thải.
Cơ sở hạ tầng xử lý rác
Hiện nay, huyện Phú Quốc chưa có nhà máy xử lý rác thải, dẫn đến việc rác thải chủ yếu được tập kết tại bãi rác xã Cửa Cạn, nơi có diện tích hạn chế.
Bãi rác rộng 4 ha này là bãi rác lộ thiên, nơi nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề nhặt rác thải Hình thức xử lý rác chủ yếu là đốt và san lấp, dẫn đến ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đặc biệt vào mùa mưa Tình trạng này phản ánh thực tế chung trên toàn quốc, do thiếu nguồn lực tài chính để xây dựng nhà máy xử lý rác thải.
Công tác truyền thông đại chúng cần được chú trọng hơn và duy trì thường xuyên, vì nhiều hình thức tuyên truyền hiện tại còn đơn giản và không để lại ấn tượng mạnh mẽ cho người tiếp nhận thông tin.
Công tác kiểm tra, giám sát, xử phạt
Quốc Hội và Chính Phủ đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm quản lý rác thải, bao gồm Luật Bảo vệ môi trường và các Nghị định như Nghị định số 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu, cùng Nghị định số 155/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Tuy nhiên, sự phối hợp giữa các ban ngành trong công tác giám sát, kiểm tra và xử phạt vẫn chưa hiệu quả, chủ yếu chỉ dừng lại ở hình thức nhắc nhở, dẫn đến việc thiếu tính răn đe.
Nhóm nghiên cứu đã xác định rằng các yếu tố nêu trên là nguyên nhân chính ảnh hưởng đến công tác phân loại, thu gom và xử lý rác thải trong khu vực nghiên cứu.