Một số khái niệm
Bạo lực và phân loại bạo lực
Theo báo cáo của WHO (2002), bạo lực được định nghĩa là “việc sử dụng vũ lực có chủ ý để đe dọa chính bản thân, người khác hoặc một cộng đồng, gây ra hậu quả nghiêm trọng, bao gồm tử vong, thương tích, ảnh hưởng tâm lý và sự phát triển.” Định nghĩa này nhấn mạnh bản chất của hành động bạo lực mà không phân biệt hậu quả, đồng thời loại trừ các sự cố không chủ ý như tai nạn giao thông và bỏng khỏi khái niệm bạo lực.
Theo báo cáo của WHO năm 2002 về bạo lực và sức khỏe, bạo lực được phân loại thành ba loại dựa trên đặc điểm của người thực hiện và nạn nhân của hành vi bạo lực.
1/ Bạo lực tự thân (Self-directed violence): được chia thành 2 nhóm:
• Tự sát (suicide): Bao gồm các hoạt động như nghĩ đến việc tự sát, đã cố gắng tự sát nhưng không thành hoặc thành
• Tự hành hạ bản thân (self-abuse): Bao gồm các hoạt động như tự gây thương tích
2/ Bạo lực giữa các cá nhân (Interpersonal violence): được chia thành gồm 2 nhóm:
Bạo lực gia đình và bạo lực giữa những người thân là hành vi bạo lực xảy ra giữa các thành viên trong gia đình, bạn tình hoặc người thân trong quan hệ tình dục Hành vi này không chỉ diễn ra tại nơi ở mà còn bao gồm lạm dụng trẻ em, bạo lực tình dục và bạc đãi người cao tuổi.
Bạo lực cộng đồng là hành vi bạo lực xảy ra giữa những người có thể quen biết hoặc không, thường diễn ra bên ngoài khu vực cư trú Hành vi này bao gồm các hình thức như hiếp dâm và quấy rối tình dục.
3/ Bạo lực tập thể (Collective violence): Hành vi này gắn với cam kết để thúc đẩy lợi ích của một nhóm xã hội cụ thể như tội ác của một tổ chức, hành vi khủng bố và bạo lực đám đông Bạo lực tập thể thường bao gồm bạo lực về các mục đích liên quan đến xã hội, chính trị và kinh tế Khác với hai loại bạo lực trước thì bạo lực tập thể đề cập đến những động cơ bạo lực rõ ràng của nhóm lớn hoặc của quốc gia Vì vậy, hình thức và diễn biến của loại bạo lực này rất phức tạp
Như vậy, theo các định nghĩa trên, bạo lực học đường thuộc nhóm thứ 2: Bạo lực giữa các cá nhân.
Bạo lực học đường và phân loại bạo lực học đường
1.1.2.1 Khái niệm bạo lực học đường
Theo CDC, bạo lực học đường là bạo lực giữa giới trẻ xảy ra trong trường học hoặc trên đường đến trường Hình thức bạo lực này có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình trưởng thành của cá nhân Bạo lực học đường được phân loại thành bốn nhóm chính: bạo lực thể chất, bạo lực bằng lời nói, bạo lực xã hội và bạo lực điện tử.
Theo quyết định số 80/2017/ND-CP của Chính phủ Việt Nam ban hành ngày 17/7/2017, môi trường giáo dục cần phải an toàn và thân thiện Bạo lực học đường được định nghĩa là các hành vi lạm dụng, đánh đập, đe dọa sức khỏe và thể chất, cũng như các hành vi nhạo báng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, phân biệt đối xử, xa lánh và gây tổn hại đến sức khỏe của học sinh trong lớp học hoặc trường học.
1.1.2.2 Phân loại hình thức bạo lực học đường
Theo tài liệu Phòng chống bạo lực của CDC thì BLHĐ được phân loại thành 4 nhóm (18):
1/ Bạo lực về thể chất: Là “bất kỳ hình thức nào xâm phạm thể xác với ý định làm tổn thương người khác bao gồm các hành vi như đánh, đấm, đá, đẩy, tát, dứt tóc, xé quần áo, trần lột, cướp đồ vật, gây ảnh hưởng đến thân thể của một/một nhóm học sinh khác”;
2/ Bạo lực về lời nói: Là “lạm dụng lời nói và cảm xúc bao gồm các hành vi như gán/gọi biệt danh (mang ý nghĩa xấu), chế nhạo làm tổn thương, sỉ nhục, dùng lời nói đe dọa/ép buộc một/một nhóm học sinh khác làm theo ý mình”;
3/ Bạo lực xã hội: Bao gồm “các hành vi như phân biệt đối xử, cô lập, tẩy chay, tạo/phát tán tin đồn (mang ý nghĩa xấu) cho một/một nhóm học sinh khác”;
4/ Bạo lực điện tử: Bao gồm “các hành vi như nhắn tin, gọi điện để uy hiếp đe dọa/ép buộc một/một nhóm học sinh khác làm theo ý mình, lập/tham gia các hội trên mạng để cô lập/tẩy chay một/một nhóm học sinh khác…”;
1.1.2.3 Phân loại theo đối tượng
Mặc dù cường độ và loại bạo lực học đường (BLHĐ) có thể khác nhau giữa các cộng đồng và nhóm nhân khẩu học, nhưng tác động tiêu cực của BLHĐ ảnh hưởng đến tất cả thanh thiếu niên, bao gồm cả nạn nhân và những kẻ gây bạo lực Trong nhiều trường hợp, những người thực hiện hành vi bạo lực cũng có thể là nạn nhân của bạo lực, được gọi là người bị bắt nạt và đi bắt nạt (bully-victims), trong khi những người chỉ chứng kiến vụ bắt nạt lại không tham gia vào hành vi này.
Người bị bạo lực, hay còn gọi là nạn nhân, là những cá nhân bị bắt nạt bởi bạn cùng trang lứa, chịu ảnh hưởng và hậu quả từ hành vi bắt nạt có tính chất cố ý và lặp đi lặp lại, thường từ một người hoặc một nhóm người.
Người đi bắt nạt, hay còn gọi là người thực hiện hành vi bạo lực, là những cá nhân có hành động cố ý nhằm lấn át, làm tổn thương, dọa dẫm và uy hiếp những người khác hoặc những đối tượng yếu thế hơn.
Người vừa bị bạo lực vừa đi bạo lực (bullying – victims) là nhóm người có hành vi bắt nạt người khác trong khi cũng là nạn nhân của các vụ bắt nạt Hành vi này thường xuất phát từ sự phản kháng của những người đã chịu đựng sự bắt nạt trong thời gian dài Những nạn nhân bị ức hiếp về tâm lý thường nuôi dưỡng cảm giác báo thù, dẫn đến việc họ có thể uy hiếp lại kẻ đã từng bắt nạt mình hoặc thậm chí bắt nạt những người yếu thế hơn.
The National Center for Injury Prevention and Control (NCIPC) under the CDC categorizes school violence based on different target groups.
1/ Học sinh bị BLHĐ là người bị học sinh khác hoặc một nhóm học sinh khác có những hành động bạo lực thể chất, các biện pháp sử dụng vũ khí, khống chế bằng sức mạnh cơ thể (đánh đấm, đá,…), bạo lực bằng lới nói (đe doạ, xúc phạm, ), bạo lực xã hội (phân biệt đối xử, cô lập, tẩy chay,…) và bạo lực điện tử (phát tán tạo tin đồn xấu,…) hoặc bị ép buộc thực hiện bất cứ hành vi nào ở trên Học sinh bị bạo lực là học sinh được xác định đã từng bị bạo lực vào một hay nhiều hành vi nào trong các hành vi trên
2/ Học sinh thực hiện BLHĐ là học sinh trực tiếp thực hiện các hành vi bạo lực như: cào cấu, xô đẩy, vật ngã, cắn xé, làm nghẹt thở, giật tóc, tát, đấm, đánh, chế nhạo làm tổn thương, sỉ nhục, dùng lời nói đe dọa cô lập, tẩy chay, tạo/phát tán tin đồn, uy hiếp đe dọa/ép buộc, sử dụng các biện pháp khống chế đối với học sinh khác, hoặc ép buộc học sinh khác thực hiện bất cứ hành vi nào đó Ở nghiên cứu này, tôi sẽ dùng theo định nghĩa bạo lực học đường của tài liệu Phòng chống bạo lực của CDC cũng như tìm hiểu bạo lực học đường chung (trên cả 4 khía cạnh: Bạo lực về thể chất, bạo lực về lời nói, bạo lực về xã hội, bạo lực về điện tử) và trên 2 nhóm học sinh thực hiện BLHĐ, học sinh bị BLHĐ.
Các thang đo đánh giá bạo lực học đường
Hiện nay, nhiều thang đo lường bạo lực học đường đã được xây dựng để phù hợp với từng vùng miền và hình thức bạo lực Các yếu tố cá nhân có thể giải thích hành vi hung hăng và đóng vai trò trung gian cho hành vi bạo lực Niềm tin và thái độ có ảnh hưởng lớn đến việc sử dụng bạo lực, liên quan đến hành vi bắt nạt và hung hăng Ngược lại, thái độ tin tưởng cao hơn vào việc sử dụng hành vi phi bạo lực trong xung đột thường dẫn đến hành vi ít bắt nạt hơn Nghiên cứu của Spaccarell và cộng sự chỉ ra rằng niềm tin và thái độ về bạo lực ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa tiếp xúc với bạo lực và hành vi bạo lực ở thanh thiếu niên tham gia vào các hành vi phạm pháp Thang đo bạo lực theo thái độ (ATV) được phát triển bởi Lonsway và Fitzgerald (1995) dựa trên bộ câu hỏi 48 câu do Velicer và cộng sự phát triển.
Họ sử dụng thang đo để đánh giá mức độ chấp nhận bạo lực giữa các cá nhân, theo định nghĩa của Burt (1980) Một phương pháp đo lường khác cũng đã được phát triển.
Nghiên cứu của Funk và cộng sự (1999) đã phát triển một thang đo bạo lực dành riêng cho thanh thiếu niên, nhằm khắc phục sự thiếu hụt trong các công cụ đo lường hiện có Thang đo này bao gồm hai thành phần: phản ứng với bạo lực và văn hóa bạo lực, với độ tin cậy Cronbach alpha lần lượt là 0,75 và 0,80, được kiểm tra trên 1266 thanh thiếu niên Nó phản ánh thái độ của cá nhân đối với bạo lực, cho thấy sự khác biệt giữa nam và nữ, với nam đạt điểm cao hơn Tuy nhiên, tình trạng bạo lực học đường đang có sự chuyển dịch giữa các loại bạo lực sau khi áp dụng các biện pháp can thiệp.
Nghiên cứu của Digdem M Siyeza trên 564 học sinh trung học tại Izmir và Malatya đã sử dụng thang đo thái độ với bạo lực, trong đó người tham gia hoàn thành bộ câu hỏi gồm 11 câu với bốn mức điểm (rất đồng ý, đồng ý, không đồng ý, rất không đồng ý) Thang đo này có điểm số từ 11 đến 44, với điểm cao hơn cho thấy sự chấp nhận thái độ đối với bạo lực Được phát triển bởi Blevins (2001), thang đo này chỉ đánh giá tính hợp lệ của bảng câu hỏi bạo lực mà chưa tìm hiểu về nguyên nhân hay các hình thức bạo lực học đường.
Bộ công cụ đo lường của Solberg và Olweus, được phát triển vào năm 2003, bao gồm 9 câu hỏi chuẩn hóa về các hành vi bạo lực, như: bị gọi tên lóng, bị cô lập, bị đánh đập, bị tung tin đồn, bị trộm đồ, và bị đe dọa Công cụ này đã cụ thể hóa các hành vi bạo lực học đường, giúp nâng cao nhận thức và hiểu biết về vấn đề này.
Vào năm 2003, HUPH đã ghi nhận tình trạng bạo lực chủ yếu tập trung vào bạo lực thể chất, trong khi các hình thức bạo lực khác vẫn chưa được chú ý đầy đủ trong bộ công cụ đo lường.
BalkÕs và cộng sự (2005) đã nghiên cứu tính hợp lệ và độ tin cậy của bảng câu hỏi tại Thổ Nhĩ Kỳ, cho thấy rằng thái độ đối với bạo lực có sự phân biệt theo nhận thức và thành tích học tập Học sinh có kết quả thấp hơn thường báo cáo thái độ chấp nhận bạo lực nhiều hơn Điều này có thể được giải thích bởi việc học sinh có thành tích cao hơn thường có thái độ tích cực hơn và có xu hướng tìm kiếm các giải pháp hiệu quả thay vì sử dụng bạo lực khi gặp vấn đề.
Nghiên cứu trước đây cho thấy vai trò của thái độ đối với bạo lực trong việc giải quyết mối liên quan giữa hành vi của thanh thiếu niên và hành vi bắt nạt vẫn chưa rõ ràng Các biện pháp can thiệp đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thay đổi thái độ của thanh thiếu niên đối với vấn đề bắt nạt, như được nêu trong Chương trình phòng ngừa vấn đề thanh thiếu niên (Jenson và cộng sự, 2013).
Dựa trên bộ công cụ của Olweus (2003) và Ybarra (2012), nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hải Hà đã xây dựng và chuẩn hóa các câu hỏi thiết kế theo thang đo Likert.
Bộ công cụ nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hải Hà có độ tin cậy cao, bao gồm 5 phần chính liên quan đến hành vi bị bắt nạt và sức khỏe tâm thần của học sinh Các phần này bao gồm: thông tin chung, sử dụng internet và điện thoại di động, câu hỏi về hiện tượng bắt nạt, vấn đề sức khỏe tâm thần, và mối quan hệ gia đình - nhà trường Trong đó, có 46 câu hỏi về tần suất bị bắt nạt và mức độ lo lắng của học sinh, cùng với 32 câu hỏi về tần suất đi bắt nạt Khi chuẩn hóa bộ công cụ cho nhóm học sinh vùng nông thôn, 32 câu hỏi về tần suất bị bắt nạt đã được điều chỉnh, trong khi các câu hỏi về hiện tượng bắt nạt được giữ nguyên để so sánh giữa khu vực thành thị và nông thôn Dựa trên bộ công cụ này, tác giả Vũ Hồng Anh đã tiến hành chuẩn hóa công cụ đo lường hành vi bị bắt nạt tại huyện Ba Vì.
Bộ công cụ của tác giả Lê Thị Hải Hà năm 2017 đã tập trung vào các hành vi bắt nạt và sức khỏe tâm thần của học sinh, trong khi Vũ Hồng Anh chuẩn hóa công cụ đo lường cho khu vực nông thôn Hiện tại, bộ công cụ này đang được phát triển cho nhóm học sinh trung học, bao gồm cả trung học cơ sở và trung học phổ thông.
Tình hình BLHĐ trên Thế giới và Việt Nam
Tình hình BLHĐ trên Thế giới
Nghiên cứu về bạo lực học đường cho thấy hiện tượng này rất phổ biến và ảnh hưởng nghiêm trọng đến giới trẻ, bao gồm cả những người thực hiện và nạn nhân Dù sử dụng các định nghĩa và công cụ đo lường khác nhau, các nghiên cứu từ nhiều quốc gia đều khẳng định tính chất nghiêm trọng của vấn đề này.
Theo UNICEF (2014), tỷ lệ trẻ vị thành niên trải qua bạo lực học đường (BLHĐ) cao nhất ở châu Phi, Đông Á và Thái Bình Dương Cụ thể, 54% nam vị thành niên đã trải qua hành vi này từ 15 tuổi, trong khi 34% đã gặp bạo lực trong 12 tháng qua Đối với nữ vị thành niên, hơn 50% đã trải qua BLHĐ ở độ tuổi từ 15 đến 19, với tỷ lệ cao nhất tại Congo và Uganda Tại Mỹ, nghiên cứu năm 2015 cho thấy 7,8% học sinh từ lớp 9 đến lớp 12 đã tham gia vào một trận đánh nhau tại trường trong vòng 12 tháng trước khảo sát.
Một nghiên cứu của Shari Kesel Schneider vào năm 2012 trên học sinh lớp 9 đến lớp 11 tại 17 trường công ở Boston cho thấy tỷ lệ nạn nhân bị bắt nạt qua mạng thấp hơn so với bắt nạt tại trường (21% so với 23%) Hành vi bắt nạt qua mạng tăng mạnh hơn ở nhóm nữ, từ 17% lên 27%, trong khi nhóm nam chỉ tăng từ 12% lên 15% trong 6 năm quan sát Đối với bắt nạt tại trường, tỷ lệ ở nhóm nữ không thay đổi (khoảng 26%), nhưng giảm ở nhóm nam từ 25% xuống 18% Đáng chú ý, 1/3 nạn nhân đã chia sẻ với người lớn về việc bị bắt nạt, trong đó 29% nói với cha mẹ và 17% với thầy cô giáo.
Một nghiên cứu năm 2015 tại Canada đã khảo sát 8.194 học sinh từ 14 đến 20 tuổi ở trường trung học phổ thông Quebec để đánh giá hành vi bắt nạt qua mạng.
Theo điều tra trong vòng 12 tháng qua, bắt nạt tại trường học hoặc bất kỳ nơi nào khác là hành vi phổ biến nhất, chiếm 26,1%, tiếp theo là bắt nạt qua mạng với 22,9% và bắt nạt đồng tính với 3,6% Kết quả cũng cho thấy, hành vi bắt nạt thường xảy ra nhiều hơn ở nhóm nữ và nhóm giới tính thứ ba, hai nhóm này thường phải đối mặt với chấn thương tâm lý, lòng tự trọng thấp và có suy nghĩ về tự tử.
Khảo sát Hành vi rủi ro của thanh niên trên toàn quốc (YRBS) tại Hoa Kỳ tiến hành
Mỗi hai năm, một cuộc khảo sát được thực hiện để giám sát các hành vi sức khỏe có thể dẫn đến tử vong, tàn tật và các vấn đề xã hội ở thanh thiếu niên và người trưởng thành Dữ liệu được thu thập từ đại diện học sinh lớp 9-12 tại các trường công lập và tư thục, bắt đầu từ năm 1991.
Năm 2017, tỷ lệ bạo lực trong trường học vẫn chưa có dấu hiệu giảm, với 3,8% học sinh mang vũ khí đến trường và 6% bị đe dọa hoặc bị thương bởi vũ khí Hơn 8% học sinh đã tham gia vào ẩu đả trong 12 tháng trước khảo sát, trong khi 6,7% không đi học vì cảm thấy không an toàn Đặc biệt, 19% học sinh bị bắt nạt và 15% học sinh lớp 9-12 gặp phải bạo lực điện tử, với nữ sinh có nguy cơ cao hơn gấp đôi so với nam sinh Đến năm 2019, 25% học sinh cho biết đã bị bắt nạt, trong khi 8% báo cáo bị bạo lực thể xác.
Nghiên cứu của Jung YE và cộng sự năm 2017 tại Hàn Quốc cho thấy tỷ lệ học sinh bị bắt nạt là 6,4%, với nữ giới bị ảnh hưởng nhiều hơn nam giới Tỷ lệ này có liên quan đến tình trạng kinh tế xã hội thấp, học lực trung bình, biểu hiện trầm cảm và mối quan hệ bất hòa với bố mẹ.
Vấn đề bạo lực học đường (BLHĐ) đang diễn ra phổ biến và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến giới trẻ, do đó cần được giải quyết ở mọi quốc gia trên thế giới.
HUPH trong Phát triển bền vững (SDGs) đã nhấn mạnh vấn đề bạo lực đối với trẻ em từ năm 2015 Nhiều mục tiêu bổ sung đã được tích hợp để giải quyết các yếu tố liên quan đến vấn đề này Các hoạt động quốc gia do UNICEF tài trợ đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong việc giảm bạo lực ở trẻ em Năm 2017, UNICEF đã hỗ trợ phòng chống bạo lực trong trường học tại Campuchia thông qua Chương trình Kỷ luật tích cực, cung cấp khóa tập huấn cho giáo viên Khóa đào tạo này bao gồm sách hướng dẫn và công cụ về kỷ luật và quản lý lớp học tích cực, giúp giáo viên nhận thức về các loại bạo lực và trách nhiệm của họ trong việc ngăn chặn Trách nhiệm này không chỉ thuộc về giáo viên mà còn cả phụ huynh và học sinh.
Tình hình BLHĐ tại Việt Nam
Theo Tổng cục thống kê, khoảng 91,7% dân số trong độ tuổi phổ thông đang đi học, cho thấy tầm quan trọng của việc tạo ra môi trường giáo dục lành mạnh cho nhóm này Thanh thiếu niên thường phải đối mặt với bạo lực, đặc biệt là trong môi trường học đường, nơi họ dành nhiều thời gian Theo điều tra GSHS năm 2013, 1 trong 6 học sinh từ lớp 8 đến lớp 12 đã tham gia vào đánh nhau ít nhất một lần trong 12 tháng qua, với tỷ lệ cao hơn ở nam (26%) so với nữ (10%).
Năm 2014, Cơ quan Quản lý môi trường y tế ghi nhận có 88 trẻ em dưới 19 tuổi tử vong do bạo lực tại 63 thành phố Trong giai đoạn 2010-2014, hội thảo về an toàn trường học của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết có 7.135 học sinh tham gia đánh nhau trên toàn quốc.
Viện nghiên cứu Y học - Xã hội học và tổ chức PLAN Việt Nam đã công bố nghiên cứu năm 2016, khảo sát 3.000 học sinh từ 11 đến 18 tuổi tại 30 trường THCS và THPT ở Hà Nội Kết quả cho thấy khoảng 80% học sinh đã trải qua bạo lực liên quan đến trường học, với 71% bị bạo lực trong 6 tháng qua Bạo lực tinh thần chiếm 73%, bạo lực thể chất 41%, và bạo lực tình dục 19% Dự án nhằm giáo dục học sinh về kiến thức và kỹ năng phòng tránh bạo lực giới, đồng thời tập huấn cho giáo viên để duy trì môi trường bình đẳng giới trong trường học.
Một nghiên cứu năm 2014 tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy 52,1% trong số 297 học sinh (39,4% học sinh trung học cơ sở và 60,6% học sinh THPT) là nạn nhân của bạo lực học đường Sau khi trải qua hành vi bạo lực, học sinh thường báo cáo với giáo viên (41,2%), phản ứng ngay bằng lời nói với bạn (38,8%), đánh lại bạn (29,6%), và sau đó nói chuyện với gia đình (36,7%).
Năm 2015, Lê Thị Hải Hà đã thực hiện một nghiên cứu trên 1.424 học sinh từ 12 đến
Tại Việt Nam, 17 tuổi là độ tuổi của học sinh tại các trường THCS và THPT, trong đó học sinh nam chiếm 45,1% Kết quả khảo sát cho thấy khoảng 60% học sinh là nạn nhân của tình trạng bắt nạt Các yếu tố cá nhân có liên quan đến mức độ tham gia vào hành vi bắt nạt.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi bạo lực học đường bao gồm tuổi tác, giới tính và sức khỏe tâm thần của học sinh Yếu tố gia đình, như sự hỗ trợ và giám sát từ gia đình, cũng như việc chứng kiến bạo lực tại nhà và sự bất hòa với anh chị em, đóng vai trò quan trọng Tại trường học, sự hỗ trợ và nỗ lực của giáo viên trong việc ngăn chặn tình trạng bắt nạt là cần thiết Bên cạnh đó, sự hỗ trợ từ bạn bè cũng góp phần quan trọng trong việc giảm thiểu bạo lực học đường Theo Đỗ Thị Điệp (2016), có 14% học sinh tại trường THPT Chương Mỹ A, huyện Chương Mỹ, Hà Nội đã từng trải qua bạo lực học đường.
HUPH lực bao gồm giới, tuổi, gia đình, tình trạng sử dụng thuốc lá, sử dụng vũ khí và các mối quan hệ xã hội (hàng xóm, bạn bè) (47)
Tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu và dự án về bạo lực học đường, đặc biệt là bạo lực học đường tại trường học, cho thấy đây là vấn đề cần sự quan tâm từ chính quyền, xã hội, nhà trường và phụ huynh Thực trạng hành vi bạo lực học đường của học sinh Việt Nam phản ánh nhiều khía cạnh phức tạp Hiện có nhiều tài liệu pháp lý liên quan, như Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em (số 25/2004/QH1) ban hành ngày 15/6/2004, nhằm bảo vệ trẻ em là nạn nhân của sự ngược đãi Nghị định số 36/2005/ND-CP được ban hành năm 2005 hướng dẫn thực hiện các điều khoản của luật này, tuy nhiên chưa có quy định cụ thể về bạo lực học đường Chỉ thị số 71/2008/CT-BGDĐT được ban hành để tăng cường hợp tác giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục trẻ em, trong khi Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT triển khai chiến dịch “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” từ 2008-2013 Năm 2009, Thông tư liên tịch số 34/2009/TTLT-BGDDT hướng dẫn về cơ chế an ninh trong trường học được ban hành Đến năm 2017, Nghị định số 80/2017/ND-CP được ban hành nhằm tạo ra môi trường học tập an toàn và lành mạnh, phòng chống bạo lực học đường.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 5886/QĐ-BGDĐT về Chương trình phòng chống bạo lực trường học giai đoạn 2017-2021, nhằm tạo ra môi trường học tập an toàn và thân thiện cho học sinh Quyết định yêu cầu các trường học thực hiện tuyên truyền và giáo dục về phòng ngừa bạo lực, nâng cao năng lực và đạo đức nghề nghiệp cho giáo viên, cũng như kiểm tra, đánh giá và xử lý các hành vi bạo lực học đường.
Luật pháp Việt Nam đã nhận thức rõ tầm quan trọng của việc ngăn chặn bạo lực, điều này được thể hiện qua Luật trẻ em năm 2016 và Nghị định 80/2017/NĐ-CP về môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh Tuy nhiên, hiện chỉ có một số chương trình quốc gia nhằm ngăn chặn bạo lực và hỗ trợ nạn nhân trẻ, như công tác tư vấn tâm lý cho học sinh và chương trình hành động phòng, chống bạo lực học đường giai đoạn 2017-2021, bắt đầu triển khai từ năm 2017 Sự thiếu quan tâm đến bạo lực ở thanh thiếu niên đã hạn chế sự phát triển của các chương trình phòng ngừa và hỗ trợ hiệu quả tại Việt Nam.
Hậu quả của bạo lực học đường
Những ảnh hưởng về sức khỏe
BLHĐ không chỉ gây ra thương tích và khuyết tật thể chất mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần Các chấn thương có thể bao gồm tổn thương ở đầu, cổ, mặt và tứ chi, cũng như các vết cắt, bầm tím và gãy xương Đặc biệt, chấn thương ở đầu là nguy hiểm nhất, có thể dẫn đến khuyết tật lâu dài hoặc tử vong.
BLHĐ không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất mà còn liên quan đến các vấn đề sức khỏe tâm thần như trầm cảm, tự ti và ý định tự tử Một nghiên cứu trên 28 nước Châu Âu cho thấy nạn nhân bị bắt nạt thường có dấu hiệu tâm lý như nóng nảy, lo âu, cô đơn và cần sự hỗ trợ Những nạn nhân này thường gặp khó khăn trong học tập và tham gia học, đồng thời có các dấu hiệu tâm lý tiêu cực như trầm cảm và ý nghĩ hoặc hành động tự tử.
Bạo lực học đường không chỉ ảnh hưởng đến tâm lý học sinh mà còn làm gia tăng các hành vi nguy cơ sức khỏe như hút thuốc lá, uống rượu bia, sử dụng chất kích thích, trầm cảm, bỏ học và tự tử Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng dữ liệu từ Hệ thống giám sát sức khỏe toàn cầu dựa vào trường học cho thấy mối liên hệ này.
Khảo sát sức khỏe học đường toàn cầu (GSHS) năm 2008 tại 8 quốc gia châu Phi cho thấy mối liên hệ giữa việc bị bắt nạt và sự gia tăng trong việc hút thuốc lá, uống rượu bia, sử dụng ma túy, cũng như các hành vi nguy cơ về tình dục Cụ thể, số ngày mà nạn nhân bị bắt nạt càng nhiều thì tần suất các hành vi có hại cho sức khỏe càng cao.
Những ảnh hưởng về xã hội
Nghiên cứu tại châu Âu và Bắc Mỹ chỉ ra rằng cả nạn nhân và kẻ bắt nạt trong môi trường học đường đều có nguy cơ trở thành những người có hành vi chống phá xã hội hoặc phạm tội trong tương lai Những hành vi này có thể bao gồm bạo lực với bạn đời, đánh nhau, cũng như sử dụng thuốc lá và rượu bia.
Bạo lực không chỉ tác động đến nạn nhân mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến gia đình và bạn bè của họ Những người thân của những người trẻ bị bạo lực thường trải qua trầm cảm và có xu hướng phát triển các hành vi tiêu cực như phạm pháp, quấy rối, đe dọa người khác và lạm dụng rượu bia.
Những ảnh hưởng về giáo dục
Bạo lực học đường có tác động tiêu cực đến sức khỏe và môi trường xung quanh của học sinh, thường dẫn đến việc nghỉ học, bỏ học và thiếu động lực trong học tập.
Bạo lực trong môi trường giáo dục có ảnh hưởng sâu sắc đến thành tích học tập của cả nạn nhân và người thực hiện hành vi bạo lực Nghiên cứu cho thấy rằng những trẻ em này thường có kết quả học tập kém hơn so với bạn bè cùng trang lứa.
Năm 2015, một nghiên cứu tại Mỹ cho thấy 6% học sinh không đến trường ít nhất một ngày trong tháng trước do cảm thấy mất trật tự an ninh Tương tự, trong một cuộc khảo sát tại Campuchia, Indonesia, Nepal và Việt Nam, có ít nhất 4 trong 10 học sinh từ 12 đến 17 tuổi ở các thành phố và khu vực được chọn cho biết trường học là một nơi không an toàn.
Nhiều yếu tố gây ra cảm giác lo sợ ở trường học bao gồm việc tiếp xúc với ngôn từ khiếm nhã, các cuộc đánh nhau, quấy rối và sự trêu chọc từ bạn học.
Bạo lực có thể được phòng tránh thông qua việc hiểu rõ và đánh giá đúng những tác động của nó đối với sức khỏe, môi trường xã hội và giáo dục của học sinh Điều này sẽ giúp xây dựng các biện pháp ngăn chặn và phòng chống bạo lực một cách hiệu quả.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng BLHĐ của học sinh
Yếu tố cá nhân học sinh
Yếu tố cá nhân đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành niềm tin và thái độ, từ đó ảnh hưởng đến hành vi và cảm xúc của chúng ta đối với thế giới xung quanh Một số yếu tố cá nhân có thể tác động đến hành vi nguy cơ dẫn đến bạo lực ở học sinh bao gồm tuổi, giới tính, điểm số học tập, hạnh kiểm, thái độ, cũng như các hành vi liên quan đến thuốc lá, đồ uống có cồn và tình trạng mang hoặc sử dụng vũ khí trong trường học.
Tuổi tác có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi bạo lực ở học sinh, với những nghiên cứu cho thấy học sinh nhỏ tuổi dễ trở thành nạn nhân của bạo lực học đường do thiếu kỹ năng ứng phó và giải quyết xung đột Nghiên cứu tại 6 quốc gia phía Tây Thái Bình Dương chỉ ra rằng tỷ lệ bạo lực học đường giảm ở học sinh trung học so với học sinh trung học cơ sở Điều tra GSHS cho thấy tỷ lệ bắt nạt có sự khác biệt theo độ tuổi, với một số quốc gia ghi nhận sự giảm trong độ tuổi từ 11 đến 18, trong khi ở những nơi khác lại tăng Các cuộc khảo sát ở các nước phương Tây cho thấy từ 9-25% trẻ em trong độ tuổi đi học bị bắt nạt Tại Việt Nam, nguy cơ bị bắt nạt của học sinh 12 tuổi cao gấp 4,23 lần so với học sinh 15 tuổi.
Nghiên cứu của Arumachalam và cộng sự năm 2015 tại HUPH cho thấy hành vi sử dụng bạo lực giữa các nhóm học sinh lớp 10, 11 và 12 có sự khác biệt rõ rệt.
Trong giai đoạn chuyển tiếp từ trung học cơ sở lên THPT, học sinh thường sử dụng bạo lực như một cách thể hiện với bạn bè cùng trang lứa để giải quyết xung đột Đây là thời điểm mà các em hình thành hành vi ứng xử mới, có thể dẫn đến động cơ cho hành vi hung hăng Ngược lại, học sinh lớp 11 và 12 thường cẩn trọng hơn trong việc tham gia vào các hành vi bạo lực, vì chúng được coi là biểu hiện của quyền lực và sự nam tính.
Theo khảo sát của CDC về hành vi nguy cơ của thanh thiếu niên, nam sinh có xu hướng tham gia bạo lực nhiều hơn và thường là nạn nhân của bạo lực hơn so với nữ sinh Trong khi nữ giới thường liên quan đến bạo lực gián tiếp như bạo lực bằng lời nói, nam giới lại là yếu tố nguy cơ chính của bạo lực học đường Tỷ lệ nam sinh bị đe dọa hoặc bị thương do vũ khí tại trường học cao hơn đáng kể, với 7,8% so với 4,1% ở nữ sinh.
Tỷ lệ đánh nhau ở nam và nữ sinh trung học lần lượt là 42,4% và 18,1%, tương tự như kết quả ở Iran và cao hơn so với nhiều quốc gia đang phát triển khác Dữ liệu cho thấy học sinh nam có xu hướng gây ra và trải nghiệm bạo lực thể chất nhiều hơn, trong khi học sinh nữ thường trải qua bạo lực tâm lý và tình dục Nghiên cứu tại sáu quốc gia Thái Bình Dương và các nghiên cứu ở Malta, Úc cho thấy nam giới có nguy cơ cao hơn về bạo lực thể xác và lời nói Tại Việt Nam, nghiên cứu ở Hà Nội cho thấy tỷ lệ học sinh nam tham gia bạo lực cao gấp ba lần nữ giới, với nữ giới thường tránh xung đột và nam giới giải quyết bằng bạo lực Nghiên cứu ở Vĩnh Phúc chỉ ra rằng học sinh nam có nguy cơ bắt nạt cao hơn nữ giới 2,48 lần và cũng có nguy cơ bị bắt nạt cao hơn 2,02 lần Tuy nhiên, sự khác biệt giới tính trong các hình thức bắt nạt thể chất và lời nói không rõ ràng.
Hình thức bắt nạt quan hệ hoặc xã hội (HUPH) đang trở nên phổ biến, với một nghiên cứu năm 2014 cho thấy rằng bắt nạt học đường (BLHĐ) chủ yếu xảy ra ở học sinh nam Tỷ lệ BLHĐ ở nam giới dao động từ 8,6% đến 45,2%, trong khi ở nữ giới, tỷ lệ này từ 4,8% đến 35,8% Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê.
Nghiên cứu cho thấy khả năng chịu đựng bạo lực giữa nam và nữ khác nhau tùy thuộc vào văn hóa, xã hội và ngoại hình Bên cạnh đó, sự khác biệt về sinh học cũng có thể lý giải một số mức độ bạo lực giữa hai giới.
Học lực và hạnh kiểm
Nghiên cứu tại ba trường trung học ở Hà Nội cho thấy có mối liên hệ giữa kết quả học tập, hạnh kiểm học sinh và hành vi bạo lực học đường Cụ thể, nhóm học sinh có điểm tổng kết trung bình có tỷ lệ tham gia bạo lực (60,4%) cao hơn nhóm học sinh có điểm giỏi (31,4%) Học sinh có hạnh kiểm khá trở xuống cũng có tỷ lệ thực hiện hành vi bạo lực cao hơn so với nhóm hạnh kiểm tốt Cả học sinh bị bạo lực và học sinh gây ra bạo lực đều có thành tích học tập thấp và có nguy cơ bỏ học cao hơn Các vấn đề như kết quả học tập kém, hạnh kiểm không đạt yêu cầu, thay đổi trường học thường xuyên, và việc trốn tiết đều là yếu tố nguy cơ cho bạo lực thanh thiếu niên Ngoài ra, ý định tự tử và các hành vi nguy cơ như sử dụng rượu, thuốc lá, và mang vũ khí cũng liên quan đến sức khỏe tâm thần và trầm cảm, làm gia tăng hành vi bạo lực ở học sinh.
Sử dụng rượu có tác động tiêu cực đến khả năng tiếp nhận và xử lý thông tin, dẫn đến việc đánh giá sai các nguy cơ và kiểm soát hành vi kém Do đó, những người uống rượu thường dễ tham gia vào các cuộc xung đột Đặc biệt, thanh thiếu niên bắt đầu uống rượu sớm và thường xuyên có nguy cơ cao trở thành cả người gây ra và nạn nhân của bạo lực.
Nghiên cứu năm 2016 tại Việt Nam đã chỉ ra mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa trầm cảm, rối loạn tâm lý, ý định tự tử và nạn bắt nạt.
Học sinh có ý định tự tử thường có điểm trung bình bắt nạt cao hơn so với các bạn khác Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng việc sử dụng thuốc lá, rượu bia và các chất gây nghiện có liên quan đến hành vi bạo lực ở học sinh Các chất kích thích không chỉ tạo cảm giác hưng phấn và ảo giác mà còn làm giảm khả năng kiểm soát hành vi, dẫn đến sự gia tăng tính hung hăng và tình trạng mang theo vũ khí trong giới trẻ Tỷ lệ tham gia vào các vụ chấn thương không chủ ý và các hành vi nguy hiểm có liên quan đến việc bắt đầu uống rượu sớm Học sinh sử dụng rượu thường tham gia vào các trận bạo lực thể chất, mang theo vũ khí, và có nguy cơ bị thương trong các cuộc ẩu đả cũng như có ý định tự sát.
Trong một nghiên cứu cắt ngang tại Isfahan, Iran, với 2800 học sinh từ 11-18 tuổi, tỷ lệ mang theo vũ khí được xác định là yếu tố rủi ro mạnh mẽ đối với bạo lực học đường Cụ thể, 11,4% nam và 2,1% nữ học sinh trung học cho biết họ mang vũ khí đến trường, trong khi 16,7% nam và 4,3% nữ đã mang vũ khí ra khỏi nhà ít nhất một ngày trong 30 ngày trước đó Tỷ lệ này cao hơn so với báo cáo của thanh thiếu niên tại Mỹ và Tây Ban Nha, trong đó chỉ có 3,8% học sinh Mỹ đã mang vũ khí đến trường vào năm 2017.
Ý định tự tử và các hành vi nguy cơ như sử dụng đồ uống có cồn, thuốc lá và mang vũ khí là những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lạm dụng ở học sinh.
Yếu tố các mối quan hệ
Môi trường học đường và gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sức khỏe học đường, đặc biệt liên quan đến vấn đề bắt nạt Nghiên cứu chỉ ra rằng ba yếu tố gia đình như thiếu yêu thương và chăm sóc từ cha mẹ, bạo lực gia đình, và thiếu sự kiểm soát cũng như định hướng từ cha mẹ từ khi còn nhỏ là những nguy cơ dẫn đến bạo lực học đường Mối quan hệ giữa bố mẹ và con cái có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển và an toàn của trẻ.
Sự giám sát và hiểu biết của cha mẹ có vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu hành vi bạo lực ở trẻ em Nghiên cứu cho thấy rằng trẻ vị thành niên có nguy cơ bị bắt nạt hoặc tấn công thể xác thấp hơn khi cha mẹ quan tâm nhiều hơn đến cuộc sống của chúng Tuy nhiên, những thay đổi kinh tế xã hội hiện nay khiến cha mẹ thường bận rộn với công việc, dẫn đến việc họ không nắm bắt được các vấn đề của con cái trong quá trình phát triển Mối quan hệ tích cực giữa cha mẹ và con cái, bao gồm sự giám sát, hỗ trợ và kết nối, có thể ảnh hưởng đáng kể đến hành vi bạo lực của trẻ.
Nghiên cứu cho thấy rằng khi cha mẹ không biết con cái họ đang ở đâu, làm gì, hoặc không quan tâm và chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống, thì trẻ em có nguy cơ cao hơn trong việc phát triển hành vi bạo lực.
Nghiên cứu cho thấy sự kết nối giữa các thành viên trong gia đình, trường học và bạn bè có ảnh hưởng lớn đến hành vi của học sinh Cụ thể, nhóm học sinh thiếu sự quan tâm từ bố mẹ có tỷ lệ tham gia bạo lực cao hơn Trong khi đó, tỷ lệ học sinh bị bạo lực và gây ra bạo lực ở nhóm có cha mẹ sống chung là 29,3%, thấp hơn so với 46,6% ở nhóm có cha mẹ ly thân hoặc ly hôn.
Năm 2017 tại Hàn Quốc, nghiên cứu cho thấy nạn nhân của bạo lực thường có mối liên quan với tình trạng kinh tế xã hội thấp, thành tích học tập trung bình, dấu hiệu trầm cảm và mối quan hệ không tốt với bố mẹ Các nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng trẻ em sống trong gia đình có tình trạng kinh tế thấp hoặc trung bình có nguy cơ cao hơn về bạo lực Hơn nữa, thanh thiếu niên lớn lên trong gia đình có một hoặc cả hai cha mẹ thất nghiệp có khả năng gây ra hành vi bạo lực hoặc bị bắt nạt cao hơn.
Nghiên cứu cho thấy rằng học sinh có cha mẹ thất nghiệp có tỷ lệ tham gia bạo lực cao hơn, với 4% học sinh tham gia vào các cuộc bạo lực nghiêm trọng, gấp đôi so với các nhóm khác, và điều này có ý nghĩa thống kê.
Gia đình đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển lành mạnh và hiệu quả của các chương trình phòng chống bạo lực ở thanh thiếu niên Bạo lực giữa cha mẹ có thể dẫn đến việc trẻ em cũng có hành vi bạo lực, với 80% khả năng xảy ra Nghiên cứu cho thấy những học sinh chứng kiến bạo lực gia đình có xu hướng bạo lực cao hơn, tương tự như kết quả của Weiss và Schwarz, cho thấy trẻ em chịu bạo lực gia đình dễ dẫn đến trầm cảm và hành vi bạo lực Một nghiên cứu tại Wolaita Sodo, Ethiopia cho thấy nữ sinh chứng kiến mẹ bị bạo lực có nguy cơ cao hơn về bạo lực học đường (AOR = 1,92; 95%CI: 1,19-3,11) và học trường công (AOR = 1,74; 95%CI: 1,11-2,76) Ngược lại, sự gắn kết gia đình mạnh mẽ có thể bảo vệ học sinh khỏi bạo lực và tự gây thương tích, trong khi việc cha mẹ sống chung cũng giúp giảm nguy cơ bạo lực tinh thần từ bạn bè.
Giai đoạn vị thành niên rất cần sự hỗ trợ từ bạn bè, vì bạn thân có ảnh hưởng tích cực đến hành vi cá nhân Thiếu mối quan hệ xã hội và giao tiếp với bạn bè có liên quan đến nguy cơ trở thành nạn nhân của bạo lực Học sinh chơi với bạn có hành vi bạo lực sẽ tăng nguy cơ gây ra hành vi bạo lực Nghiên cứu năm 2013 tại Hoàn Kiếm cho thấy học sinh có bạn thân tham gia bạo lực có nguy cơ gây ra hành vi bạo lực cao gấp 3,4 lần so với nhóm khác Học sinh có bạn bè chống đối hoặc phản xã hội có khả năng tham gia bắt nạt cao hơn Môi trường an toàn trong trường học là yếu tố quan trọng giúp giảm tỷ lệ bạo lực học đường, và nghiên cứu ở một số nước đang phát triển cho thấy mối liên hệ giữa hành vi bạo lực và bạn bè nghiện hút.
Một nghiên cứu cắt ngang tại Malaysia với 4500 học sinh cho thấy rằng việc chơi với những học sinh bỏ học làm tăng nguy cơ tham gia vào các hành vi bạo lực ở học sinh Kết quả này cũng được xác nhận bởi nghiên cứu của Lima.
Học sinh là nạn nhân của bạo lực học đường thường có những đặc điểm như thiếu kỹ năng giao lưu, hòa nhập và kết bạn, dẫn đến việc ít bạn bè hoặc không thuộc về một nhóm bạn trong lớp hay trường học Họ thường bị bạn bè kỳ thị và cách ly, đồng thời thiếu các kỹ năng ứng xử và giao tiếp, điều này khiến họ có xu hướng trở thành nạn nhân của bạo lực hoặc có hành vi bạo lực học đường do không kiểm soát được hành vi của mình.
"Các yếu tố nguy cơ như căng thẳng học tập, thiếu hỗ trợ, môi trường học đường không ổn định và khó khăn trong các mối quan hệ tình cảm có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tâm thần và tâm lý xã hội của trẻ em và thanh thiếu niên."
Môi trường giáo dục tại các trường học có ảnh hưởng lớn đến nguy cơ bạo lực và sự an toàn của học sinh Nghiên cứu cho thấy, khi có mối quan hệ tích cực giữa giáo viên và học sinh, hành vi bạo lực sẽ giảm đi, tạo ra một không gian an toàn và thân thiện Do đó, việc tăng cường sự tham gia của học sinh trong các hoạt động kết nối với giáo viên và bạn bè là rất quan trọng để xây dựng một môi trường giáo dục thân thiện.
Nghiên cứu tổng quan năm 2009 cho thấy rằng, khi học sinh hiểu rõ nội quy của trường và có niềm tin vào trường, họ sẽ ít có xu hướng vi phạm luật học đường (BLHĐ) Điều này dẫn đến việc học sinh xây dựng mối quan hệ tích cực với giáo viên và cảm nhận được một môi trường học tập an toàn và tích cực.
Một nghiên cứu năm 2012 tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy rằng sự kém tuân thủ quy định và ấn tượng tiêu cực về trường học là những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi bạo lực học đường của học sinh từ lớp 8-12 Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc nhà trường tập trung quá nhiều vào xử lý kỷ luật mà thiếu các biện pháp giáo dục, cùng với việc áp dụng kỷ luật quá nghiêm khắc hoặc quá lỏng lẻo, có thể dẫn đến hành vi bạo lực Thêm vào đó, tình trạng quá tải chương trình giáo dục gây áp lực cho học sinh cũng là một yếu tố nguy cơ cho bạo lực học đường.
HUPH chú trọng vào việc phát triển kỹ năng sống cho học sinh, tuy nhiên, sự liên kết giữa nhà trường và gia đình trong việc quản lý, kiểm soát và giáo dục học sinh còn lỏng lẻo Thêm vào đó, thái độ tiêu cực của giáo viên và các quy định chưa rõ ràng của nhà trường cũng là những vấn đề cần được khắc phục.
Yếu tố môi trường - xã hội
Môi trường xã hội và mối quan hệ giữa con người có ảnh hưởng lớn đến hành vi cá nhân Nghiên cứu cho thấy học sinh tham gia vào tệ nạn xã hội và sử dụng mạng xã hội có xu hướng bạo lực hơn so với những học sinh không tham gia Hành vi bạo lực của học sinh thường được "học" từ phim ảnh và trò chơi bạo lực Ngoài ra, môi trường sống xung quanh, đặc biệt là khi thiếu sự giám sát của người lớn và bị ảnh hưởng bởi hành vi tiêu cực của bạn bè, có thể dẫn đến hành vi bạo lực ở học sinh.
Nghiên cứu từ khu vực châu Á - Thái Bình Dương cho thấy học sinh bị lạm dụng hoặc chứng kiến bạo lực có khả năng cao sử dụng bạo lực trong các mối quan hệ của họ Những trẻ em lớn lên trong môi trường có hành vi xung đột thường xuyên là yếu tố nguy cơ dẫn đến bạo lực thanh thiếu niên Sự phát triển của xã hội cũng giúp học sinh tiếp cận nhiều hơn với các phương tiện truyền thông như tivi, internet và trò chơi điện tử, ảnh hưởng đến nhân cách và hành vi của họ Theo Strasburger, học sinh dành từ 3-6 giờ mỗi ngày cho các hình thức truyền thông khác nhau, chủ yếu tiếp nhận thông tin và hình ảnh bạo lực Các nghiên cứu trước đây đã chứng minh tác động tiêu cực của việc quan sát bạo lực qua các phương tiện truyền thông đối với sự phát triển bạo lực ở thanh thiếu niên.
HUPH và cộng sự, 2008; Huesmann, 2007; Nader, 2010; Wang và cộng sự, 2006), và quan sát này học tập có thể biểu hiện trong thái độ khiêu khích (35) (95)
Học sinh chịu ảnh hưởng từ tệ nạn xã hội và môi trường không lành mạnh thường có xu hướng tham gia vào hành vi bạo lực, và điều này tạo ra một vòng luẩn quẩn giữa các yếu tố xã hội tiêu cực và hành vi của họ.
Thông tin về địa bàn nghiên cứu
Lương Tài là một huyện nằm ở phía Nam sông Đuống, là vùng chiêm trũng của tỉnh Bắc Ninh, cách thành phố Bắc Ninh khoảng 30 km
• Phía Đông giáp thành phố Chí Linh và huyện Nam Sách (Hải Dương) Sông Thái Bình là ranh giới tự nhiên
• Phía Tây giáp huyện Thuận Thành
• Phía Nam giáp huyện Cẩm Giàng (tỉnh Hải Dương)
• Phía Bắc giáp huyện Gia Bình
Huyện Lương Tài sở hữu các trục giao thông quan trọng như tỉnh lộ 280, 281, 284, 285, kết nối Lương Tài với Gia Bình và Thuận Thành (Bắc Ninh), cũng như với Cẩm Giàng (Hải Dương), góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của khu vực.
Huyện Lương Tài có hai trường THPT, trong đó trường THPT Lương Tài 1 là trường công lập lâu đời, được thành lập năm 1953 và nằm ngay trung tâm huyện (thị trấn Thứa) Trường tiếp nhận học sinh từ 15-18 tuổi tại 14 xã, thị trấn trong huyện, với khoảng 2.000 học sinh mỗi năm, được chia thành 15-17 lớp thuộc các khối A, B, C, D, A1.
Hiện tại, huyện Lương Tài và các huyện lân cận như Cẩm Giàng (Hải Dương), Gia Bình, và Thuận Thành (Bắc Ninh) chưa có chương trình tập huấn và hướng dẫn kỹ năng sống cho học sinh từ tiểu học đến trung học phổ thông.
Khung lý thuyết/ cây vấn đề
Khung lý thuyết của nghiên cứu này được xây dựng dựa trên khung sinh thái trong tiếp cận của Mạng lưới phòng chống bạo lực Nghiên cứu xem xét bạo lực giữa các cá nhân như là kết quả của sự tương tác giữa các yếu tố khác nhau.
HUPH thuộc 4 nhóm: cá nhân, các mối quan hệ, môi trường và xã hội và được trình bày theo khung mô hình của Dahlgren & Whitehead (96, 97)
BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG CÁ MÔI TRƯỜNG
+ Kết quả học tập, hạnh kiểm
+ Sử dụng chất kích thích:
+ Tình trạng mang vũ khí
+ Thái độ với bạo lực
Kinh tế gia đình đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc gia đình, ảnh hưởng đến nghề nghiệp của bố mẹ và tình trạng bạo lực gia đình Sự quan tâm và chia sẻ của bố mẹ, cũng như người chăm sóc chính, là yếu tố quyết định đến sự phát triển và hạnh phúc của các thành viên trong gia đình.
+ Mối quan hệ với bạn bè + Tình trạng bạo lực ở nhóm bạn thân
+ Chứng kiến bạo lực từ bạn bè xung quanh
+ Nội quy liên quan đến bạo lực học đường + Hình thức xử lý kỷ luật khi có vi phạm
+ Sự hỗ trợ, can thiệp của GV
+ Tiếp xúc ấn phẩm có nội dung liên quan bạo lực học đường học đường
+ Chứng kiến trực tiếp, tham gia các vụ bạo lực xảy ra xung quanh nơi sinh sống
HUPH ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU