1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến cung cấp suất ăn cho người bệnh trong bệnh viện
Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu
Bệnh viện Mắt Thành phố Hồ Chí Minh là cơ sở y tế chuyên khoa hạng I hàng đầu tại miền Nam và Việt Nam, chuyên về Nhãn Khoa Bệnh viện cung cấp dịch vụ điều trị cho nhiều bệnh lý như giác mạc, glaucoma (cườm nước), tạo hình thẩm mỹ và thần kinh nhãn khoa, chấn thương, dịch kính - võng mạc, đục thủy tinh thể, và các bệnh lý mắt ở trẻ em.
Mỗi ngày, bệnh viện tiếp nhận hơn 2000 bệnh nhân khám mắt, trong đó có hơn 80 người phải nhập viện để điều trị nội trú tại các khoa như Giác mạc, Glaucoma, Tạo hình Thẩm mỹ - Thần kinh Nhãn khoa, Dịch kính Võng mạc và khoa Mắt Nhi.
Khoa Giác mạc là một chuyên khoa sâu về bệnh lý phần trước nhãn cầu.
Bệnh viện chúng tôi cung cấp 15 dịch vụ điều trị nội trú cho các bệnh lý như viêm loét giác mạc, ghép giác mạc và hội chứng khô mắt Đây là cơ sở y tế đầu tiên trong cả nước thực hiện kỹ thuật ghép tế bào gốc điều trị Mỗi ngày, số lượng bệnh nhân nhập viện điều trị nội trú dao động từ 5-10 người, với tổng số bệnh nhân trung bình tại khoa khoảng 40-45 người Thời gian điều trị trung bình của bệnh nhân tại khoa kéo dài từ 7 đến 14 ngày.
Khoa Glaucoma chuyên điều trị bệnh nhân glaucoma từ nhẹ đến phức tạp, đặc biệt tại các tỉnh vùng sâu vùng xa, với các phương pháp tiên tiến như đặt van Ahmed, shunt Express, cắt bè củng mạc đặt Ologen, Laser SLT và phẫu thuật ABIC Mỗi ngày, khoa tiếp nhận từ 11-15 bệnh nhân, với tổng số bệnh nhân cần chăm sóc trung bình từ 50-60 người, thời gian điều trị trung bình là 3-5 ngày Khoa Tạo hình Thẩm mỹ – Thần kinh nhãn khoa chuyên khám và điều trị chấn thương mắt, bệnh lý nhãn khoa thần kinh và phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ Số lượng bệnh nhân nhập viện chủ yếu do chấn thương mắt, với trung bình 6-10 bệnh nhân mỗi ngày, và thời gian điều trị cũng từ 3-5 ngày.
Khoa Dịch kính Võng mạc chuyên điều trị các bệnh lý liên quan đến bán phần sau của nhãn cầu, bao gồm rách và bong võng mạc, viêm màng bồ đào, lệch hoặc bán thủy tinh thể, phù hoàng điểm, lỗ hoàng điểm, xuất huyết dịch kính, và thoái hóa hoàng điểm tuổi già Mỗi ngày, khoa tiếp nhận từ 15-17 bệnh nhân nhập viện và thời gian điều trị trung bình từ 3-7 ngày.
Tại các khoa, khi người bệnh nhập viện, điều dưỡng sẽ thực hiện việc cân đo và bác sĩ sẽ đánh giá, sàng lọc dinh dưỡng cũng như tư vấn chế độ ăn phù hợp với tình trạng bệnh Tuy nhiên, do đây là bệnh viện chuyên khoa mắt, vấn đề dinh dưỡng cho bệnh nhân điều trị nội trú chưa được chú trọng, dẫn đến việc người bệnh chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của dinh dưỡng trong quá trình điều trị.
Tại bệnh viện, chỉ khoảng 60% bệnh nhân sử dụng dịch vụ cung cấp suất ăn, theo thống kê của Khoa Dinh dưỡng Số lượng người bệnh sử dụng dịch vụ này vẫn còn hạn chế, đặc biệt trong điều trị mắt.
Khoa Dinh dưỡng Tiết chế, thành lập ngày 23/11/2015, ban đầu chỉ khám và tư vấn dinh dưỡng, nhưng từ năm 2017 đã mở rộng cung cấp suất ăn cho bệnh nhân điều trị nội trú Hiện tại, khoa có 01 bác sĩ Trưởng khoa và 02 điều dưỡng chuyên về dinh dưỡng Khoa tổ chức các chương trình dinh dưỡng trong bệnh viện, khám và tư vấn cho mọi đối tượng, bao gồm trẻ em và người lớn mắc bệnh mạn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng Ngoài ra, khoa còn thực hiện truyền thông giáo dục dinh dưỡng để nâng cao kiến thức cho bệnh nhân và người thân, kiểm tra giám sát dịch vụ ăn uống trong bệnh viện, và phối hợp với căn tin để cung cấp suất ăn bệnh lý và sinh lý cho bệnh nhân.
Do chỉ có 3 nhân viên, khoa Dinh dưỡng không thực hiện bếp ăn mà hợp tác với đơn vị bên ngoài để chế biến và cung cấp suất ăn cho bệnh nhân và nhân viên bệnh viện Khoa cũng đã xây dựng kế hoạch và quy trình kiểm tra định kỳ cũng như đột xuất về quy trình chế biến suất ăn và giám sát an toàn vệ sinh thực phẩm tại căn tin bệnh viện.
Căn tin bệnh viện hoạt động theo mô hình bếp một chiều, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và được giám sát chặt chẽ bởi khoa Dinh dưỡng Theo thống kê, căn tin đáp ứng khoảng 70% nhu cầu ăn uống của bệnh nhân và người thân khi đến khám và điều trị tại bệnh viện.
Khung lý thuyết
Khung lý thuyết được xây dựng dựa trên tổng quan tài liệu và tham khảo các nghiên cứu về hoạt động cung cấp suất ăn cho người bệnh điều trị nội trú Ngoài ra, Thông tư số 18/2020/TT-BYT ngày 12 tháng 11 năm 2020 quy định về hoạt động dinh dưỡng trong bệnh viện và bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện cũng được xem xét.
HOẠT ĐỘNG CUNG CẤP SUẤT ĂN TẠI BỆNH VIỆN
Khám, chỉ định chế độ ăn vào hồ sơ Đăng ký suất ăn
- NB được điều dưỡng Hướng dẫn quy trình đăng ký suất ăn và thực hiện đăng ký ăn tại khoa
Chế biến và kiểm tra an toàn vệ sinh
Phối hợp với khoa điều trị cung cấp suất ăn cho người bệnh
- thực phẩm khám sàng lọc và chỉ định chế độ ăn phù hợp với bệnh lý
- Khoa dưỡng hợp Đơn vị chế biến suất ăn sẽ chế biến các suất ăn theo bảng tổng hợp của
- hợp và báo cáo với Khoa Dinh dưỡng khoa Dinh dưỡng
- dưỡng kiểm tra quy trình chế biến suất ăn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Tuổi Giới Nghề nghiệp Trình độ học vấn Cách thức điều trị
- Truyển thông – Giáo dục sức khỏe
Cơ sở vật chất, trang thiết bị Kinh phí
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ 01/12/2021 đến 30/11/2022
Thời gian thu thập số liệu diễn ra từ ngày 3 tháng 8 năm 2022 đến ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại 4 khoa điều trị nội trú dành cho người lớn, bao gồm các chuyên khoa Giác mạc, Glaucoma, Tạo hình Thẩm mỹ - Thần kinh Nhãn khoa, và Dịch kính Võng mạc.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả Nghiên cứu định lượng kết hợp với nghiên
Nghiên cứu định lượng nhằm đánh giá thực trạng hoạt động cung cấp suất ăn bệnh viện cho người bệnh điều trị nội trú.
Nghiên cứu định tính này nhằm mô tả thực trạng cung cấp suất ăn tại bệnh viện và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động này.
Cỡ mẫu
Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng cho người bệnh được tính toán dựa trên tỷ lệ, với công thức n = \(\frac{z^2 \cdot p \cdot (1-p)}{d^2}\) Trong đó, z là độ tin cậy mong muốn, tương ứng với độ chính xác α = 0.05, nên z = 1.96 Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hà Thu, tỷ lệ người bệnh được cung cấp suất ăn tại bệnh viện là 71% (p = 0.71) Khoảng sai lệch mong muốn được chọn là d = 0.05.
Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định là 316 người bệnh, làm tròn lên thành 320 người Trung bình mỗi ngày có khoảng 20 người xuất viện, do đó cần 32 ngày để thu thập đủ số liệu bằng cách bốc thăm ngẫu nhiên 10 người bệnh để phỏng vấn.
Cỡ mẫu nghiên cứu định tính:
Phỏng vấn sâu: 2 người (1 lãnh đạo bệnh viện, 1 đại diện đơn vị cung cấp suất ăn)
Nhóm thảo luận được chia thành hai nhóm: Nhóm 1 bao gồm 4 bác sĩ và 4 điều dưỡng đại diện cho 4 khoa, được chọn ngẫu nhiên, trong khi Nhóm 2 gồm tất cả 3 nhân viên của khoa Dinh dưỡng.
Phương pháp chọn mẫu
Phương pháp chọn mẫu định lượng
Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn được thực hiện bằng cách sắp xếp danh sách người bệnh xuất viện hằng ngày từ 4 khoa Điều tra viên sẽ đánh số thứ tự cho các bệnh nhân A, B, C và tiến hành bốc thăm ngẫu nhiên để chọn số thứ tự (STT) chẵn hoặc lẻ Nếu bốc thăm được STT chẵn, người bệnh sẽ được chọn từ danh sách theo thứ tự 2, 4, 6, trong khi nếu bốc thăm được STT lẻ, người bệnh sẽ được chọn theo thứ tự 1, 3, 5.
Phương pháp chọn mẫu định tính
Chọn mẫu có chủ đích Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua 2 hình thức phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm.
Đã tiến hành 02 cuộc phỏng vấn sâu với một lãnh đạo viện và một đại diện từ đơn vị cung cấp suất ăn, cùng với 02 cuộc thảo luận nhóm Nhóm 1 bao gồm 4 bác sĩ.
Bốn điều dưỡng đại diện cho các khoa lâm sàng đang tiến hành nghiên cứu thông qua phương pháp bốc thăm ngẫu nhiên từ danh sách của khoa, trong khi nhóm thứ hai bao gồm toàn bộ nhân viên của khoa Dinh dưỡng.
Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp thu thập số liệu định lượng
Số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo hoạt động của bệnh viện, bao gồm báo cáo về hoạt động dinh dưỡng của khoa dinh dưỡng và tình hình cung cấp suất ăn trong năm 2022, cùng với hồ sơ bệnh án của người bệnh (phụ lục 1).
Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua việc phát vấn bằng bộ câu hỏi soạn sẵn, nhằm đánh giá sự hiểu biết của người bệnh về hoạt động cung cấp suất ăn tại bệnh viện Bộ câu hỏi này được xây dựng dựa trên thông tư số 18/2020/TT-BYT ngày 12 tháng 11 năm 2020, quy định về hoạt động dinh dưỡng trong bệnh viện, cùng với bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện Việt Nam (phiên bản 2.0).
12] và một số nghiên cứu về hoạt động chuyên môn dinh dưỡng cho người bệnh
[ điều trị nội trú tại bệnh viện [21], [22], [24] (phụ lục 2).
Các bước thu thập số liệu gồm:
Bước 1: Xin ý kiến Ban Giám đốc bệnh viện và khoa phòng để thống nhất thờigian và cách thức thu thập số liệu
Bước 2 : Nghiên cứu viên tổng hợp danh sách người bệnh xuất viện hằng
21 ngàytại các khoa Và chọn danh sách người bệnh cần khảo sát bằng phương pháp chọn mẫungẫu nhiên đơn.
Trước khi người bệnh thực hiện thủ tục thanh toán xuất viện, nghiên cứu viên sẽ mời những người đủ tiêu chí vào phòng hành chánh của khoa theo danh sách đã chọn Tại đây, nghiên cứu viên sẽ thông báo mục đích của nghiên cứu, phát phiếu nghiên cứu và giải thích rõ ràng các thắc mắc của người tham gia Đồng thời, nghiên cứu viên cũng nhắc nhở người tham gia không trao đổi thông tin trong quá trình điền phiếu.
Bước 4: Nghiên cứu viên hướng dẫn người bệnh cách điền phiếu Người bệnh điền phiếu khảo sát dưới sự giám sát của nghiên cứu viên trong thời gian từ
Bước 5: Sau khi đối tượng nghiên cứu hoàn thành, nghiên cứu viên cần kiểm tra lại thông tin Nếu có thiếu sót, yêu cầu đối tượng bổ sung kịp thời Lưu ý rằng người tham gia không ghi hoặc ký tên vào phiếu khảo sát.
Phương pháp thu thập số liệu định tính
Sau khi phân tích dữ liệu định lượng, chúng tôi đã xin ý kiến lãnh đạo bệnh viện để tiến hành phỏng vấn và thảo luận nhóm với các đối tượng nghiên cứu Mỗi cuộc phỏng vấn sâu kéo dài trung bình 35 phút, do nghiên cứu viên trực tiếp thực hiện Chúng tôi đã xin phép các đối tượng nghiên cứu và ghi âm lại cuộc phỏng vấn Công cụ thu thập dữ liệu định tính được sử dụng là các hướng dẫn phỏng vấn sâu đã được soạn sẵn theo chủ đề nghiên cứu.
Chúng tôi đã thực hiện hai cuộc thảo luận nhóm, trong đó Nhóm 1 bao gồm 4 bác sĩ và 4 điều dưỡng đại diện cho các khoa lâm sàng được chọn ngẫu nhiên Nhóm 2 gồm 3 nhân viên khoa dinh dưỡng Mỗi cuộc thảo luận kéo dài trung bình 45 phút, và chúng tôi đã xin phép các đối tượng nghiên cứu để ghi âm lại Công cụ thu thập dữ liệu định tính được sử dụng là các hướng dẫn phỏng vấn sâu được soạn sẵn theo chủ đề nghiên cứu.
Công cụ nghiên cứu định tính bao gồm bản hướng dẫn phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, máy ghi âm, bút ghi chép và vở trắng.
22 phương tiện cần thiết cho tổ chức phỏng vấn khác bao gồm việc sắp xếp thời gian thuận tiện cho đối tượng nghiên cứu và chọn địa điểm yên tĩnh, thoáng mát cho các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm.
Sau đó, chúng tôi tiến hành giải băng và phân tích các dữ liệu định tính theo phương pháp ma trận và phương pháp suy luận
Các biến số nghiên cứu
.6.1 Biến số về đánh giá thực trạng hoạt động cung cấp suất ăn tại BV:
.6.1.1 Thực trạng hoạt động cung cấp suất ăn cho người bệnh nội trú:
Bảng số thứ cấp cung cấp thông tin về người bệnh được chỉ định chế độ dinh dưỡng, số lượng người bệnh đăng ký suất ăn, và số lượng người bệnh nhập viện nội trú Đặc điểm chung của người bệnh tham gia nghiên cứu bao gồm khoa điều trị, tuổi, giới, nơi ở, nghề nghiệp, trình độ học vấn, số lần nằm viện, số ngày nằm viện, và bệnh lý nội khoa Ngoài ra, đánh giá của người bệnh về khám chỉ định chế độ ăn và mức độ hài lòng về hoạt động cung cấp suất ăn cũng được ghi nhận.
Để đánh giá thực trạng cung cấp suất ăn tại bệnh viện, cần sử dụng bộ câu hỏi với thang đo Likert 5 mức độ, bao gồm: rất không quan tâm, không quan tâm, bình thường, quan tâm và rất quan tâm.
Tỷ lệ phần trăm điểm tích cực được tính bằng cách tổng hợp tỷ lệ phần trăm của những người trả lời “Rất hài lòng”, “Hài lòng” hoặc “Quan tâm”, “Rất quan tâm” và “Thường xuyên”, “Luôn luôn” Dưới đây là bảng ví dụ minh họa cách tính điểm phần trăm tích cực.
Bảng 2 1 Cách tính tỷ lệ phản hồi tích cực
Câu hỏi 1: Thực đơn có đa dạng, phong phú
Trả lời Rất không hài lòng Không hài lòng Bình thường
Số người trả lời Tỷ lệ %
2.6.1.2 Ý kiến của NVYT về cung cấp suất ăn
Quy trình cung cấp suất ăn tại khoa có phổ biến hay không? Bài viết sẽ phân tích những thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện quy trình này Đồng thời, chúng tôi sẽ trình bày cụ thể từng bước trong quy trình cung cấp suất ăn để đảm bảo hiệu quả và chất lượng phục vụ.
Chỉ định chế độ ăn: Đăng ký suất ăn:
Giám sát kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm:
Cung cấp suất ăn và nhận suất ăn:
6.2 Chủ đề nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng Chỉ đạo điều hành của bệnh viện
Cách thức thực hiện quy trình cung cấp suất ăn tại khoa Nhân lực
Cơ sở vật chấtGiáo dục – Truyền thông GDSKNgười bệnh:
Xử lý và phân tích số liệu
Phân tích số liệu định lượng:
Nếu số liệu sơ cấp và số liệu thứ cấp có dự sai khác thì sẽ chọn kết quả từ sốliệu sơ cấp.
Số liệu được làm sạch và nhập liệu bằng phần mềm Excel, phân tích bằng phầnmềm R.
Phân tích số liệu định tính:
Nội dung ghi âm từ các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm sẽ được xử lý bằng phương pháp gỡ băng và phân tích theo mã hóa chủ đề, sau đó được ghi lại dưới dạng văn bản Những thông tin này sẽ được trích dẫn trong phần kết quả và bàn luận, giúp làm rõ các nội dung nghiên cứu và đưa ra khuyến nghị, đề xuất.
Vấn đề đạo đức nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu đã được Ban Giám đốc Bệnh viện ủng hộ và được Hội đồng đạo đức Trường đại học y tế Công cộng thông qua theo quyết định số 362/2022/YTCC-HD3 ngày 03/8/2022 Đối tượng nghiên cứu sẽ được giải thích rõ ràng về mục tiêu của nghiên cứu, và việc phỏng vấn chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý tham gia của họ.
Các số liệu thu được chỉ phục vụ mục đích nghiên cứu Đảm bảo thông tin bí mật của đối tượng nghiên cứu.
KẾT QUẢ
.1 1 Thực trạng hoạt động cung cấp suất ăn tại bệnh viện
Bảng 3 1 Tổng hợp số người bệnh nhập viện nội trú và số lượng người
3 bệnh đăng ký suất ăn theo từng khoa từ 03/08/2022 đến ngày 27/9/2022 tại Bệnh viện Mắt (N2)
Người bệnh điều trị nội trú theo từng khoa
THTM - TKNK Dịch kính Võng mạc
Người bệnh đăng ký suất ăn tại khoa
THTM - TKNK Dịch kính Võng mạc Tổng cộng
Tỷ lệ đăng ký suất ăn tại bệnh viện (%) 36
Người bệnh được thực hiện đánh giá dinh dưỡng bằng phiếu đánh giá dinh dưỡng 972
Người bệnh được chỉ định mã số chế độ ăn 9
Từ ngày 3/8/2022 đến ngày 27/9/2022 có 972 người bệnh có chỉ định nhập
Trong 26 viện thuộc 4 khoa Giác mạc, tổng số người là 172 (17.7%); khoa Glaucoma có 286 người (29.4%); khoa THTM – TKNK có 376 người (38.7%); và khoa Dịch kính Võng mạc có 138 người (14.2%) Tuy nhiên, tỷ lệ đăng ký suất ăn tại các khoa không cao, chỉ có 350 người (36%), trong đó khoa THTM-TKNK có số lượng đăng ký suất ăn nhiều nhất với 136 người (38.9%), còn khoa Dịch kính Võng mạc có số lượng thấp nhất với 52 người (14.9%).
Khi người bệnh nhập viện nội trú, họ sẽ được đánh giá tình trạng dinh dưỡng và chỉ định chế độ dinh dưỡng vào hồ sơ bệnh án, đảm bảo tỷ lệ đạt 100%.
Bảng 3 2 Đặc điểm chung của người bệnh được nghiên cứu (N20)
Khoa điều trị Tạo hình Thẩm mỹ -
Lớn nhất : 96 Nhỏ nhất: 16 Nam
Các tỉnh khác Dưới THPT
Trung cấp/cao đẳng 75 Đại học/Sau đại học
Nội trợ Hưu trí Khác
Số ngày nằm viện (ngày) (TB ± ĐLC) 4.98±3.85
Số lần nằm viện Lần đầu tiên 294 91.9
Từ lần 2 trở lên 8.1 Có
Cao huyết áp – tiểu đường 24.8
Cao huyết áp – tiểu đường – suy thận 1 0.8
Trong số 320 bệnh nhân được khảo sát, 110 người (34.4%) điều trị tại khoa Glaucoma, trong khi khoa Dịch kính Võng mạc có số lượng thấp nhất với 51 người (15.8%) Độ tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân là 52.51 (±15.8) tuổi, với độ tuổi lớn nhất là 96 và nhỏ nhất là 16 Đáng chú ý, 239 bệnh nhân (74.6%) điều trị nội trú đến từ các tỉnh Trình độ học vấn của bệnh nhân chủ yếu là THPT (41.6%) và dưới THPT (27.2%), dẫn đến nghề nghiệp chủ yếu là nông dân với tỷ lệ 38.4%.
Theo khảo sát, 91.9% người bệnh cho biết đây là lần đầu tiên họ nhập viện điều trị nội trú, với thời gian điều trị trung bình là 4.98 (±3.85) ngày; trong đó, khoa Giác mạc có thời gian điều trị lâu nhất là 22 ngày Ngoài ra, 60.8% người bệnh mắc các bệnh lý kèm theo trong quá trình điều trị mắt tại bệnh viện.
Khoảng 39.2% người bệnh có kèm theo các bệnh nội khoa, trong đó cao huyết áp là bệnh phổ biến nhất với tỷ lệ 48% Ngoài ra, 20.8% người bệnh mắc đái tháo đường, và 24.8% có sự kết hợp giữa cao huyết áp và đái tháo đường.
Bảng 3 3 Đánh giá của người bệnh về khám, chỉ định chế độ ăn khi người bệnh điều trị nội trú (N= 320)
(n) Điều dưỡng đo cân nặng, chiều Có 2
46 Được NVYT giải thích và hướng dẫn chế độ ăn
Bác sĩ chỉ định chế độ ăn phù hợp cho từng người bệnh
Trong một cuộc khảo sát, chỉ có 274 bệnh nhân (85.6%) cho biết họ được điều dưỡng trực tiếp đo cân nặng và chiều cao khi nhập viện Trong số đó, chỉ 87.8% bệnh nhân cho biết họ nhận được sự giải thích và hướng dẫn về chế độ ăn từ nhân viên y tế, và chỉ có 77.2% được bác sĩ chỉ định chế độ ăn phù hợp.
Bảng 3 4 Đánh giá của người bệnh về các dịch vụ hỗ trợ hoạt động cung cấp suất ăn cho người bệnh điều trị nội trú (N20)
Khoa Dinh dưỡng tư vấn 4.1
Không quan tâm Bình thường
1 dinh dưỡng cho người bệnh
Rất quan tâm Rất không quan tâm Không quan tâm Bình thường Quan tâm
40 4 16 4 Đăng ký suất ăn trực tiếp tại 5.0
Rất không quan tâm Không quan tâm Bình thường Quan tâm
6 Bệnh viện có các dịch vụ tiện ích hỗ trợ ăn uống cho người bệnh nằm viện (siêu thị tiện ích, căn tin, ….)
Không bao giờ Hiếm khi
1 Được khoa phổ biến quy trình cung cấp suất ăn tại bệnh viện
Thỉnh thoảng Thường xuyên Luôn luôn
NVYT phát tờ rơi hướng dẫn dinh dưỡng và chế độ ăn
Thỉnh thoảng Thường xuyên Luôn luôn
34.7 31.9 26.6 85 Được đăng ký và cung cấp tại phòng bệnh
Khi nằm viện mong muốn được cung cấp suất ăn từ đâu?
Tự mua thức ăn tại căn tin 70
Người nhà nấu cho hợp khẩu vị 6
Không quan tâm Chỉ cần ăn xong qua bữa Đăng ký trực tiếp tại khoa 18.1
Mua trực tiếp tại căn tin
Suất ăn của người bệnh do ai cung cấp
176 Mua bên ngoài bệnh viện 5
Người nhà nấu đem vào 7 Nhận xét:
Trong thời gian nằm viện, người bệnh rất chú trọng đến việc Khoa Dinh dưỡng tổ chức tư vấn dinh dưỡng, với tỷ lệ quan tâm đạt 71.9% Ngoài ra, 64.4% người bệnh có thể đăng ký suất ăn trực tiếp tại khoa Bên cạnh đó, 74.7% người bệnh cũng quan tâm đến các dịch vụ tiện ích hỗ trợ trong thời gian điều trị tại bệnh viện.
Chỉ có 31.2% người bệnh biết cách đăng ký suất ăn tại khoa, trong khi 58.5% nhận được tờ rơi hướng dẫn dinh dưỡng Tỉ lệ đăng ký suất ăn tại khoa rất thấp, chỉ đạt 18.1%, chủ yếu do người bệnh tự mua thức ăn tại căn tin (55%) Tuy nhiên, 55% người bệnh mong muốn được đăng ký và cung cấp suất ăn tại khoa.
Bảng 3.5 trình bày đánh giá của người bệnh về suất ăn tại bệnh viện, bao gồm cả những người bệnh đăng ký trực tiếp tại khoa và những người mua tại căn tin.
Thực đơn có đa dạng phong phú
Rất không hài lòng Không hài lòng Bình thường
Giá cả suất ăn Rất không hài lòng
Không hài lòng Bình thường Hài lòng
Rất không hài lòng Không hài lòng Bình thường Hài lòng
Suất ăn có cung cấp đúng giờ
Rất hài lòng Rất không hài lòng Không hài lòng Bình thường Hài lòng
Hài lòng của người bệnh về dịch vụ cung cấp suất ăn tại bệnh viện
Rất không hài lòng Không hài lòng
Kết quả khảo sát cho thấy chỉ có 18.1% người bệnh thực hiện đăng ký suất ăn tại khoa, mặc dù 59.4% cho rằng quy trình này dễ dàng và thuận lợi Về đánh giá suất ăn, 76.2% người bệnh hài lòng với thực đơn đa dạng, 64.7% hài lòng với giá cả, 44.7% cho biết suất ăn được cung cấp đúng giờ, và 73.8% đánh giá chất lượng món ăn tốt.
Do vậy đánh giá chung về dịch vụ cung cấp suất ăn tại bệnh viện, tỷ lệ người bệnh hài lòng cao là 65.6%.
Tại Bệnh viện Mắt, việc cung cấp suất ăn cho người bệnh được thực hiện dựa trên chỉ định của bác sĩ sau khi sàng lọc dinh dưỡng Tuy nhiên, hoạt động này chưa được thực hiện đầy đủ do kiến thức về dinh dưỡng của bác sĩ điều trị tại khoa lâm sàng còn hạn chế, dẫn đến việc chỉ định chế độ ăn chưa có hướng dẫn và giải thích rõ ràng cho người bệnh.
Việc tuân thủ đầy đủ quy định về hồ sơ bệnh án dẫn đến việc ít có tư vấn bổ sung về chế độ ăn cho bệnh nhân Do bệnh viện là chuyên khoa, nên chế độ dinh dưỡng cho người bệnh không được chú trọng Hơn nữa, mạng lưới dinh dưỡng tại các khoa lâm sàng hiếm khi tham gia các khóa đào tạo ngắn hạn về dinh dưỡng, làm hạn chế kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực này.
Khoa lâm sàng, khoa Dinh dưỡng và căn tin cung cấp hỗ trợ cho người bệnh trong việc đăng ký suất ăn Tuy nhiên, số lượng suất ăn mà người bệnh đăng ký lại không nhiều Điều này có thể do người bệnh không chú trọng đến vấn đề ăn uống trong thời gian điều trị mắt và lo ngại về chi phí ăn uống.
Người bệnh thường không đăng ký suất ăn nhiều, mà tự mình xuống căn tin để chọn lựa hoặc mua đồ ăn bên ngoài Thỉnh thoảng, có người nhà hỗ trợ nấu ăn và mang lên cho họ, mặc dù khoa có cung cấp dịch vụ ăn uống.
Có 33 cách thức phổ biến để đăng ký suất ăn, và khoa dinh dưỡng cũng cung cấp hỗ trợ tư vấn cho nhân viên, nhưng vẫn chưa đầy đủ Nhiều bệnh nhân lo ngại về chi phí ăn uống, dẫn đến việc họ thường chỉ ăn qua loa cho xong bữa.
Kiểm tra suất ăn: Khoa Dinh dưỡng và căn tin phối hợp kiểm tra chất lượng các suất ăn, kiểm tra định kỳ và đột xuất.
BÀN LUẬN
4.1 Mô tả thực trạng hoạt động cung cấp suất ăn tại bệnh viện.
4.1.1 Thực trạng hoạt động cung cấp suất ăn tại bệnh viện
Khám, đánh giá, chẩn đoán tình trạng dinh dưỡng
Nhiệm vụ đầu tiên của hoạt động chuyên môn về dinh dưỡng tại bệnh viện là xác định nguy cơ suy dinh dưỡng cho người bệnh trong vòng 36 giờ kể từ khi nhập viện thông qua phiếu sàng lọc dinh dưỡng Các khoa đều thực hiện đầy đủ việc đánh giá dinh dưỡng trong hồ sơ bệnh án Kết quả cho thấy 85.6% người bệnh được đo chiều cao và cân nặng khi nhập viện, và 87.8% được bác sĩ hoặc điều dưỡng lâm sàng tư vấn chế độ ăn phù hợp với tình trạng bệnh Điều này chứng tỏ Bệnh viện Mắt thành phố Hồ Chí Minh đang thực hiện tốt quy định khám sàng lọc dinh dưỡng theo thông tư số 18/2020/TT-BYT ngày 12 tháng 11 năm 2020.
Mặc dù đã có những nỗ lực trong việc sàng lọc bệnh nhân, vẫn còn 14.4% người bệnh không được kiểm tra đầy đủ Nhiều bệnh nhân cho rằng họ chỉ được hỏi về cân nặng và chiều cao mà không được thực hiện các phép đo theo quy định Tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình, nghiên cứu cho thấy chỉ có 19,5% bệnh nhân được kiểm tra cân nặng khi nhập viện, và không có bệnh nhân nào được đo chiều cao trong hai năm 2014 và 2015.
Chỉ định điều trị dinh dưỡng
Theo Thông tư số 18/2020/TT-BYT ngày 12 tháng 11 năm 2020, bác sĩ sẽ khám và đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh sau khi nhập viện, từ đó tư vấn và chỉ định chế độ ăn bệnh lý phù hợp Chế độ dinh dưỡng sẽ được ghi vào tờ điều trị theo quy định tại Quyết định số 2879/QĐ-BYT ngày 10 tháng 8 năm 2006 Mặc dù 77.2% người bệnh được chỉ định chế độ dinh dưỡng phù hợp, nhưng khi có nguy cơ suy dinh dưỡng, người bệnh sẽ được hội chẩn với bác sĩ khoa dinh dưỡng để đảm bảo chăm sóc tốt nhất.
Tỷ lệ 41% vẫn chưa cao do các trường hợp được hội chẩn với bác sĩ dinh dưỡng chỉ bao gồm những bệnh nhân mắc bệnh lý nặng, bệnh lý đặc thù hoặc những bệnh lý có thể điều trị thông qua can thiệp dinh dưỡng.
Nội dung các cuộc tư vấn dinh dưỡng hiện nay chủ yếu mang tính lý thuyết, với những khuyến nghị như “Ăn cháo, uống sữa, ăn đầy đủ chất.” Điều này cho thấy cần thiết phải cải thiện quy trình đánh giá dinh dưỡng và chỉ định chế độ ăn cho bệnh nhân Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là liệu bác sĩ có đủ thời gian để thực hiện công việc tư vấn này hay không Do đó, việc bổ sung đội ngũ cán bộ chuyên môn về dinh dưỡng là cần thiết để hỗ trợ các khoa lâm sàng trong công tác khám, chỉ định và tư vấn dinh dưỡng cho bệnh nhân điều trị nội trú.
Các dịch vụ hỗ trợ hoạt động cung cấp suất ăn
71.9% người bệnh thể hiện sự quan tâm đến tư vấn dinh dưỡng tại Khoa Dinh dưỡng, cho thấy nhu cầu tìm hiểu kiến thức dinh dưỡng trong quá trình điều trị Tuy nhiên, với chỉ 3 nhân viên hiện tại, Khoa Dinh dưỡng gặp khó khăn trong việc hoàn thành các nhiệm vụ như khám và tư vấn dinh dưỡng, phân phối suất ăn bệnh lý, và giám sát an toàn thực phẩm Do đó, việc tư vấn dinh dưỡng cho bệnh nhân nội trú chưa được thực hiện đầy đủ và cần sự hỗ trợ từ bác sĩ và điều dưỡng Để đáp ứng mong đợi của người bệnh, cần tăng cường số lượng nhân viên có chuyên môn sâu về dinh dưỡng.
Theo khảo sát, 64.4% người bệnh quan tâm đến việc đăng ký suất ăn chất lượng phù hợp với tình trạng bệnh lý khi điều trị tại bệnh viện Tuy nhiên, chỉ có 31.2% người bệnh nhận thấy có tư vấn về chế độ ăn và cách thức đăng ký suất ăn, trong khi chỉ 18.1% thực sự đăng ký Điều này cho thấy sự hướng dẫn của nhân viên y tế tại khoa lâm sàng về quy trình đăng ký suất ăn chưa đầy đủ và rõ ràng, dẫn đến việc người bệnh chưa nhận thức được tầm quan trọng của dinh dưỡng trong quá trình điều trị.
Cần cải thiện sự phối hợp trong việc triển khai quy trình đăng ký suất ăn tại khoa 42 lâm sàng để nâng cao hiệu quả Đánh giá của người bệnh về hoạt động cung cấp suất ăn tại bệnh viện cũng cần được xem xét để đảm bảo chất lượng dịch vụ.
Chỉ có 18.1% người bệnh đăng ký suất ăn mặc dù 50.9% được hướng dẫn cách thức đăng ký, cho thấy tỉ lệ này khá thấp Nguyên nhân có thể do bệnh viện Mắt là chuyên khoa, khiến người bệnh chỉ chú trọng vào thực phẩm ảnh hưởng đến điều trị mắt, trong khi không có thực phẩm nào gây hại trực tiếp cho mắt Thời gian điều trị trung bình chỉ 4.98 ngày, nên người bệnh thường chọn món ăn theo sở thích, với 55% chọn món tại căn tin và 18.4% đặt mua ngoài Nghiên cứu của Nguyễn Văn Khang cũng cho thấy 54.6% người bệnh tự mua thức ăn Để tăng tỉ lệ đăng ký suất ăn, nhân viên y tế cần tư vấn rõ ràng về điều trị chuyên khoa mắt kết hợp với các bệnh lý nội khoa liên quan.
Theo khảo sát, có 76.2% người bệnh hài lòng với sự đa dạng của thực đơn hằng ngày, cho thấy Khoa dinh dưỡng và Căn tin đã chú trọng đến nhu cầu ẩm thực của người bệnh bằng cách thường xuyên thay đổi và điều chỉnh món ăn phù hợp trong quá trình điều trị Tuy nhiên, tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thành Luân (2017) với 89% và nghiên cứu của Gabriele Messina cùng cộng sự tại Ý năm 2012, cho thấy sự hài lòng của người bệnh chịu ảnh hưởng bởi chất lượng thực phẩm, bao gồm cả sự đa dạng của món ăn.
Theo nghiên cứu, có 73.9% người bệnh hài lòng về chất lượng món ăn, gần tương đương với 84% trong nghiên cứu của Nguyễn Thành Luân Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Gabriele Messina và cộng sự tại Ý năm 2012, cho thấy người bệnh không cảm thấy đói và hài lòng về số lượng thực phẩm.
Dịch vụ tại BV Đa khoa Tỉnh Thái Bình cho thấy 43% người bệnh hài lòng, gấp 3.09 lần so với tỷ lệ người bệnh không hài lòng, theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Thảo.
Năm 2018, 79,4% người bệnh bày tỏ sự hài lòng về số lượng và chất lượng thực phẩm trong khẩu phần ăn Các cuộc phỏng vấn sâu cho thấy người bệnh đã sáng tạo trong thực đơn, sử dụng nguyên liệu tươi để phục vụ những suất ăn ngon như nhà hàng, đồng thời vẫn đảm bảo yêu cầu dinh dưỡng Các đầu bếp của căn tin đã nấu những bữa ăn với tình yêu thương, tạo ra thực đơn phong phú và đa dạng, nâng cao chất lượng từng suất ăn Điều này không chỉ tăng tỉ lệ hài lòng của người bệnh mà còn của nhân viên y tế khi đặt suất ăn Chính sách của bệnh viện cho thấy việc đầu tư vào bữa ăn bệnh viện là cần thiết, vì đồ ăn ngon giúp cải thiện tâm trạng và tinh thần của bệnh nhân, góp phần vào quá trình hồi phục nhanh chóng.
Khoa Dinh dưỡng và căn tin liên tục hợp tác để cập nhật thực đơn hàng tháng, đồng thời điều chỉnh theo phản hồi từ người bệnh.
Theo khảo sát, 64.7% người bệnh hài lòng với giá cả suất ăn, cho rằng giá cả phù hợp với chất lượng món ăn và không chênh lệch nhiều so với khẩu phần ăn bên ngoài Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Văn Khang, cho thấy 69.9% sự hài lòng Đơn vị chế biến suất ăn cam kết cân đối chi phí tại căn tin để đảm bảo mỗi suất ăn vừa đủ dinh dưỡng vừa hợp lý, nhằm giảm gánh nặng chi phí điều trị cho người bệnh.