1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiến thức, thực hành phòng chống bệnh hbv, hiv lây truyền qua đường máu của sinh viên điều dưỡng trường cao đẳng y tế đồng tháp năm 2018 và một số yếu tố liên quan

105 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiến thức, thực hành phòng chống bệnh HBV, HIV lây truyền qua đường máu của sinh viên điều dưỡng trường cao đẳng y tế Đồng Tháp năm 2018 và một số yếu tố liên quan
Tác giả Nguyễn Huỳnh Nhân
Người hướng dẫn Võ Anh Hổ, Tiến sĩ
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 23,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG NGUYỄN HUỲNH NHÂN KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG BỆNH HBV, HIV LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG MÁU CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG TRƯỜNG C

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN HUỲNH NHÂN

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG BỆNH HBV, HIV LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG MÁU CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ ĐỒNG THÁP NĂM 2018 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN HUỲNH NHÂN

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG BỆNH HBV, HIV LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG MÁU CỦA SINH VIÊN ĐIỀU DƯỠNG TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ ĐỒNG THÁP NĂM 2018 VÀ MỘT SỐ YẾU

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU iv

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi

TÓM TẮT LUẬN VĂN viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Các khái niệm về Bệnh HBV và HIV 4

1.2 Kiến thức, thực hành về phòng chống bệnh HBV, HIV lây truyền qua đường máu 9

1.3 Các yếu tố liên quan đến thực hành phòng ngừa lây nhiễm HBV, HIV qua đường máu 13

1.4 Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 14

1.5 Giới thiệu về đị a bàn nghiên cứu 17

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.2 Thiết kế nghiên cứu 20

2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 20

2.4 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 20

2.5 Phương pháp và công cụ thu thập số l i ệu 20

2.6 Phân tích số liệu 21

2.7 Một số khái ni ệm và ti êu chuẩn đánh gi á 22

2.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 28

2.9 Sai số và biện pháp khắc phục 28

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

3.1 Thông tin chung đối tượng tham gia nghiên cứu 30

3.2 Kiến thức của sinh viên về phòng ngừa bệnh HBV, HIV lây truyền qua đường máu 31

HUPH

Trang 4

3.3 Thực hành của sinh viên về phòng ngừa bệnh HBV, HIV lây truyền qua đường

máu 37

3.4 Các yếu tố liêu quan đến kiến thức, thực hành về phòng bệnh HBV, HIV lây truyền qua đường máu 46

Chương 4 BÀN LUẬN 49

4.1 Kiến thức phòng chống các bệnh HBV, HIV lây truyền qua đường máu của sinh viên điều dưỡng năm thứ hai, năm thứ ba Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp 49

4.2 Thực hành phòng chống bệnh HBV, HIV lây truyền qua đường máu của sinh viên điều dưỡng năm thứ hai, năm thứ ba Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp 51

4.3 Một số yếu tố liên quan tới kiến thức, thực hành phòng chống bệnh HBV, HIV lây truyền qua đường máu của sinh viên điều dưỡng 54

KẾT LUẬN 56

KHUYẾN NGHỊ 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

PHỤ LỤC 64

Phụ l ục 1: Phi ếu đồng ý tham gi a nghiên cứu 64

Phụ l ục 2: Bộ câu hỏi phát vấn 65

Phụ l ục 3: Đánh gi á ki ến thức, thực hành về phòng bệnh 75

Phụ lục 4: Biến số nghiên cứu 80

HUPH

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ALT : Alanine aminotransferase enzym (Enzym ALT)

Anti-HBc : Antibody against Hepatitis B core antigen (Kháng thể chống lại

kháng nguyên lõi của virus viêm gan B) Anti-HBe : Antibody against Hepatitis B envelop antigen (Kháng thể chống

lại kháng nguyên vỏ của virus viêm gan B) Anti-HBs : Antibody against Hepatitis B surface antigen (Kháng thể chống

lại kháng nguyên bề mặt của virus viêm gan B) AST : Aspartate aminotransferase enzym (Enzym AST)

BYT : Bộ Y tế

CDC : Centers for Disease Control and Prevention (Trung tâm kiểm soát

và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ) CĐYT ĐT : Cao đẳng Y tế Đồng Tháp

Cs : Cộng sự

DNA : Deoxyribonucleic acid (Phân tử mang thông tin di truyền)

HBeAg : Hepatitis B e Antigen (Kháng nguyên vỏ của virus viêm gan B) HBsAg : Hepatitis B surface Antigen (Kháng nguyên bề mặt của virus

viêm gan B) HBV : Hepatitis B virus (Virut viêm gan B)

HIV : Human Immuno Virus (Virut HIV)

HSSV : Học sinh, sinh viên

NVYT : Nhân viên y tế

SV : Đối tượng nghiên cứu

VGB : Virut viêm gan B

VSN : Vật sắc nhọn

WHO : World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)

HUPH

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (n=263) 30

Bảng 3.2: Kiến thức của sinh viên về đường lây truyền qua đường máu (n=263) 31

Bảng 3.3: Kiến thức của sinh viên về hậu quả của các bệnh HBV, HIV (n=263) 32

Bảng 3.4: Kiến thức của sinh viên về phòng ngừa các bệnh lây truyền qua đường máu (n=263) 32

Bảng 3.5: Kiến thức của sinh viên về nguồn mang mầm bệnh (n=263) 34

Bảng 3.6: Kiến thức của sinh viên về sử dụng đồ bảo hộ lao động (n=263) 34

Bảng 3.7: Kiến thức của sinh viên về nguy cơ lây nhiễm (n=263) 35

Bảng 3.8: Kiến thức của sinh viên về đảm bảo an toàn khi thực hiện kỹ thuật (n=263) 35

Bảng 3.9: Kiến thức của sinh viên về đeo găng tay khi thực hiện kỹ thuật (n=263) 36

Bảng 3.10: Kiến thức của sinh viên về việc rửa tay trước khi thực hiện thủ thuật (n=263) 36

Bảng 3.11: Mô tả tần suất thực hiện các kỹ thuật trong một buổi thưc tập 37

Bảng 3.12: Tỷ lệ sinh viên rửa tay trước khi thực hiện các kỹ thuật (n=263) 38

Bảng 3.13: Lý do sinh viên không rửa tay khi thực hiện các kỹ thuật 39

Bảng 3.14: Số lần bị vật sắc nhọn đâm trúng vào tay khi đi thực tập (n=263) 39

Bảng 3.15: Tỷ lệ khoa có SV bị kim đâm trúng nhiều nhất (n=127) 40

Bảng 3.16: Mô tả hành động đầu tiên khi bị vật sắc nhọn đâm trúng vào tay của SV (n=127) 40

Bảng 3.17: Đeo găng tay trong buổi thực tập, khi thực hiện thủ thuật lấy máu làm xét nghiệm (n=263) 41

Bảng 3.18: Lý do không đeo găng tay trong buổi thực tập, khi thực hiện thủ thuật lấy máu làm xét nghiệm (n=56) 41

Bảng 3.19: Đeo găng tay trong buổi thực tập, khi thực hiện thủ thuật Truyền dịch (n=263) 42

Bảng 3.20: Lý do không đeo găng tay trong buổi thực tập, khi thực hiện thủ thuật truyền dịch (n=66) 42

Bảng 3.21: Mô tả xử lý sau khi sử dụng bơm kim tiêm 1 lần (n=263) 42

Bảng 3.22: Mô tả thực hành để tránh bị thương khi bỏ vật sắc nhọn (n=263) 43

HUPH

Trang 7

Bảng 3.23: Mô tả thực hành xử lý bông băng sau khi thay băng rửa vết thương (n=263) 43Bảng 3.24: Mô tả thực hành đối với xử lý dụng cụ (n=263) 44Bảng 3.25: Mối liên quan giữa kiến thức và đặc điểm chung của đối tượng 46Bảng 3.26: Mối liên quan giữa thực hành và đặc điểm chung của đối tượng (n=263) 46Bảng 3.27: Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành 47Bảng 3.28: Mối liên quan giữa các yếu tố tạo điều kiện và thực hành về phòng bệnh HBV, HIV lây truyền qua đường máu 47

HUPH

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ sinh viên có kiến thức phòng ngừa bệnh lây truyền qua đường máu (n=263) 37Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ sinh viên thực hành phòng các bệnh lây truyền qua đường máu (n=263) 45

HUPH

Trang 9

Lời cảm ơn

Sau quá trình học tập 2 năm, giờ đây khi đã hoàn thành luận văn bảo vệ tốt nghiệp Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới quý thầy/cô, người đã luôn khuyến khích, quan tâm giúp đỡ, truyền đạt kiến thức và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp trong thời gian vừa qua

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý thầy/cô trường Đại học Y tế Công cộng đã tận tình dạy dỗ, truyền đạt kiến thức trong suốt những năm học vừa qua

Tôi xin chân thành cảm ơn hội đồng bảo vệ Luận văn đã đọc và có những góp ý thật quý báo cho Luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến hai thầy cô phản biện: đã dành nhiều thời gian để đọc và đóng góp ý kiến cho Luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tập thể các thành viên lớp Cao học Y tế công cộng K20, những người bạn đã luôn giúp đỡ và chia sẻ với tôi trong suốt những năm học qua

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Hiệu trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp

đã tạo điều kiện để tôi đi học và hoàn thành chương trình

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, những người thân yêu nhất,

đã luôn yêu thương, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập vừa qua

Đồng Tháp, ngày 19/10/2018

Học viên

HUPH

Trang 10

TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu “Kiến thức, thực hành phòng chống HBV, HIV lây truyền qua đường máu của sinh viên Điều dưỡng Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp năm 2018 và một số yếu tố liên quan’’ gồm có 2 mục tiêu chính (1) Mô tả kiến thức, thực hành phòng chống HBV, HIV lây truyền qua đường máu của sinh viên điều dưỡng Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp năm 2018; (2) Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng chống HBV, HIV lây truyền qua đường máu của sinh viên điều dưỡng Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp năm 2018 Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01 năm 2018 đến tháng 08 năm 2018, sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang có phân tích Mẫu chọn toàn bộ 263 sinh viên Điều dưỡng năm thứ 2, năm thứ 3 hệ chính quy đang theo học tại Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp Sinh viên được phát vấn trực tiếp để đánh giá về kiến thức, thực hành phòng chống HBV, HIV lây truyền qua đường máu

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ sinh viên có kiến thức về phòng chống HBV, HIV lây truyền qua đường máu đạt 68,4%; tỉ lệ sinh viên có kiến thức về thực hành phòng chống HBV, HIV lây truyền qua đường máu đạt 84,8% Tỉ lệ sinh viên có kiến thức về bệnh HBV, HIV lây truyền qua đường máu thì thực hành sẽ tốt hơn nhóm không có kiến thức (2,87 lần) Các yếu tố như năm học, giới tính và giáo viên hướng dẫn lâm sàng tại khoa không có ảnh hưởng đến yếu tố thực hành

Từ các kết quả nghiên cứu thu được, chúng tôi đề xuất một số khuyến nghị nhằm giảm nguy cơ mắc các bệnh HBV, HIV lây truyền qua đường máu cho sinh viên khi đi thực tập bệnh viện cũng như biết cách phòng ngừa lây nhiễm để không những bảo vệ cho bản thân mà còn cho bệnh nhân Thêm vào đó, chương trình học lý thuyết cũng cần được bổ sung những nội dung mới phù hợp với quá trình thực tập Ngoài ra trường cũng nên biên soạn sổ tay lâm sàng dành cho HSSV khi đi lâm sàng với những ghi chú cần thiết trong việc phòng ngừa lây nhiễm các bệnh HBV, HIV qua đường máu cho sinh viên

HUPH

Trang 11

Ngày nay, bệnh lây truyền qua đường máu rất phổ biến Đặc biệt nhân viên

Y tế là đối tượng bị lây nhiễm nhiều nhất Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã đưa ra nhiều khuyến cáo về các bệnh lây truyền qua đường máu, trong đó nổi bật là các bệnh HBV, HIV Ước tính mỗi năm có khoảng 1 triệu người chết vì VGB, 500.000 người chết vì viêm gan C [57] Hiện có khoảng 34 triệu người đang nhiễm HIV, cho đến cuối năm 2014 thì đã có khoảng 1 triệu người chết vì nhiễm HIV/AIDS [52]

Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa kỳ (CDC) thống kê hàng năm có khoảng 384.000 thương tổn qua da xảy ra trên NVYT trong bệnh viện Tính đến năm 2002, theo CDC thì tổng số NVYT báo cáo nhiễm HIV nghề nghiệp tại Mỹ là 57 người trong đó có 24 trường hợp là điều dưỡng, nhân viên xét nghiệm lâm sàng là 16 người [51] Theo thống kê của WHO, có khoảng 66.000 NVYT nhiễm HBV do phơi nhiễm nghề nghiệp từ những thương tổn qua

da [54]

Tại Việt Nam, tỉ lệ mang virus viêm gan B trong cộng đồng thuộc loại cao trên thế giới với tỉ lệ người nhiễm trung bình là 15-20% tương đương khoảng từ 10-12 triệu người Theo thống kê của Bộ Y tế, trong năm 2014, có 197.335 người nhiễm HIV đang còn sống, trong đó có 48.720 người ở giai đoạn AIDS Khả năng nhiễm HBV có thể lên đến 25% đối với nhóm cán bộ y tế bị thương do kim đâm, tiếp xúc với máu, dịch cơ thể của bệnh nhân có HBsAg dương tính [3] Theo tác giả Nguyễn Thúy Quỳnh và Cộng sự (2010) thì tần suất phơi nhiễm với máu, dịch của bệnh nhân đối với NVYT là 119,4/1000người/4tháng [35] Nghiên cứu của Ngô Thị Hải Vân và Cộng sự (2011) thì tỉ lệ NVYT tại bệnh viện tỉnh Gia Lai, Kon Tum nhiễm HBsAg là 7,3% [44] Nghiên cứu của Nguyễn Quang Tập (2012), tỉ lệ nhiễm HBV của NVYT bệnh viện An Dương – Hải Phòng là 19,6% [39] Một khảo sát tại Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương của Dương Khánh Vân (2012) cho thấy, có tới 75% số nhân viên y tế bị vật sắc nhọn đâm khi làm việc (tiêm truyền, bẻ ống thuốc, thay bang, rửa vết thương ) mặc dù đa số có đeo găng tay, gần 93% trong số đó là điều dưỡng viên Số lần gặp rủi ro này trung bình là 5 lần mỗi năm, có trường hợp đến 67 lần Phần lớn trong số họ bị vật sắc nhọn đâm xuyên thấu qua da nên nguy cơ mắc các bệnh lây qua đường máu rất cao [47]

Thực tế cho thấy là điều dưỡng lành nghề rồi mà nguy cơ phơi nhiễm vẫn tăng

HUPH

Trang 12

cao, do đó cần thiết phải đào tạo huấn luyện trong quá trình học tập trên ghế nhà trường Sinh viên ngành Y của Việt Nam nói chung và sinh viên Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp nói riêng đều được tiếp xúc trực tiếp với người bệnh trong quá trình học thực hành chăm sóc người bệnh, do đó nguy cơ phơi nhiễm với các yếu tố lây truyền qua đường máu là không thể tránh khỏi Từ thực trạng trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài:

“Kiến thức, thực hành phòng chống bệnh HBV, HIV lây truyền qua đường máu của sinh viên điều dưỡng trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp năm 2018 và một số yếu tố liên quan” Kết quả nghiên cứu này sẽ đ ề x u ấ t m ộ t số khuyến nghị phù hợp nhằm giúp cho sinh viên Điều dưỡng có kiến thức, thực hành tốt để phòng ngừa các bệnh lây truyền qua đường máu

HUPH

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả kiến thức, thực hành phòng chống bệnh HBV, HIV lây truyền qua đường máu của sinh viên điều dưỡng Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp năm 2018

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng chống bệnh HBV, HIVlây truyền qua đường máu của sinh viên điều dưỡng Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp năm 2018

HUPH

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Các khái niệm về Bệnh HBV và HIV

1.1.1 Bệnh HBV và HIV

Năm 1963, Blumberg đã tìm ra trong máu của người Úc bản địa một kháng nguyên và đặt tên là kháng nguyên Australia Sau đó kháng nguyên này được tìm thấy trong huyết thanh của những bệnh nhân bị viêm gan Ngày nay kháng nguyên Australia được biết là kháng nguyên bề mặt của virus viêm gan B (HBV) [40] HBV thuộc họ Hepadnaviridae có nhân là Deoxyribo nucleic acid (DNA) [51] Hạt virus HBV được gọi là hạt Dane có hình cầu, đường kính 42nm, gồm 3 lớp, lớp bao ngoài dày khoảng 7nm, vỏ capsit hình hộp đường kính 27 – 28 nm và lõi chứa bộ gen của virus Quan sát huyết thanh người bị nhiễm HBV bằng kính hiển vi điện tử thấy có

3 loại hình thể của HBV: các vi cầu có đường kính 20 – 22nm, các hình ống nhỏ có kích thước 20 – 22nm x 40 – 400nm và các hạt hình cầu to là HBV hoàn chỉnh [40]

HBV có trong các dịch cơ thể người bị nhiễm như máu, tinh dịch, dịch tiết

âm đạo và khả năng lây lan cao hơn 100 lần so với HIV HBV có thể sống đến 7 ngày trên bề mặt môi trường ở nhiệt độ phòng Máu là nơi có nhiều HBV và là phương tiện lây lan quan trọng trong môi trường Y tế so với các loại dịch tiết khác của cơ thể người bệnh Kháng nguyên bề mặt của HBV (Hepatitis B surface antigen: HBsAg) cũng được tìm thấy trong các dịch cơ thể khác như sữa, dịch mật, dịch não tủy, phân, nước bọt, mồ hôi, dịch khớp [40]

Những đối tượng có nguy cơ bị lây nhiễm HBV bao gồm: những người dùng thuốc qua đường tiêm chích, quan hệ tình dục không an toàn nhất là những đối tượng có nhiều bạn tình, những người bệnh phải truyền máu nhiều lần, bệnh nhân chạy thận nhân tạo, người được ghép cơ quan, những đứa trẻ được sinh ra từ người

mẹ có HBsAg dương tính, những người làm trong môi trường Y tế bị tai nạn nghề nghiệp khi bị tổn thương bởi kim tiêm hay vật sắc nhọn nhiễm HBV [40]

HIV là tên viết tắt tiếng Anh của từ Human Immuno-deficiency Virus, một loại virus gây suy giảm miễn dịch ở cơ thể người Gây tổn thương nghiêm trọng tới

hệ miễn dịch của cơ thể Đặc biệt là khi cơ thể người bị virus HIV tấn công và

HUPH

Trang 15

chúng sẽ tiến hành phá hủy hồng cầu, khiến sức đề kháng của cơ thể người không thể chống lại kịp và cơ thể trở nên yếu dần, dẫn tới tử vong [63]

Bệnh viêm gan do virus viêm gan B (HBV) là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm Sau khi xâm nhập vào tế bào gan, HBV nhân lên, lan tràn trong mô gan và lưu hành trong tuần hoàn Thời kỳ ủ bệnh của HBV khoảng 50 đến 180 ngày Đa số người nhiễm HBV mãn tính không có triệu chứng trong nhiều năm và có hoặc không có dấu hiệu bệnh gan về mặt sinh hoá hoặc mô học Sau nhiễm HBV bệnh nhân có thể bình phục hay diễn tiến đến tình trạng viêm gan mạn tính [48]

Khi một người trưởng thành bị nhiễm HBV, cơ thể người bị nhiễm bệnh có thể đáp ứng lại bằng nhiều cách khác nhau Khoảng 50% các trường hợp bị nhiễm HBV không có dấu hiệu lâm sàng, khoảng 49% người bị nhiễm HBV có các dấu hiệu như sốt nhẹ, mệt mỏi, ăn mất ngon, nôn ói và khoảng 1% những người bị nhiễm HBV

có biểu hiện của viêm gan tối cấp Những người bị viêm gan tối cấp đột ngột bị suy sụp, mệt mỏi, vàng da, cổ trướng Những người này nếu không được xử trí kịp thời

sẽ dẫn đến tử vong Người mang mầm bệnh HBV mạn tính có nguy cơ bị xơ gan và ung thư gan về sau [1]

Viêm gan cấp tính: Trải qua 3 thời kỳ bao gồm thời kỳ ủ bệnh, thời kỳ khởi phát và thời kỳ toàn phát Tuy nhiên 90% đến 95% số người lớn nhiễm HBV sẽ hồi phục và khỏang 5% đến 10% người bị nhiễm trở thành nhiễm HBV mạn tính Những người này thường không nhận biết họ đã bị nhiễm HBV nếu không làm xét nghiệm máu Trong giai đoạn đầu, người bệnh có thể có các triệu chứng mệt mỏi toàn thân, đau mỏi khớp, sốt nhẹ và hội chứng tiêu hóa với các triệu chứng chán ăn, buồn nôn, táo bón hoặc tiêu chảy Khi bệnh tiến triển, các triệu chứng nặng hơn xuất hiện như vàng mắt, vàng da, nước tiểu sẫm màu [22]

Viêm gan mạn tính: viêm gan mạn tính do HBV có thời gian ủ bệnh kéo dài Viêm gan mạn tính tồn tại thường không có triệu chứng, hoặc có thể có những triệu chứng như mệt mỏi, chán ăn, đau tức nhẹ vùng hạ sườn phải Khi thăm khám lâm sàng thấy bình thường hoặc thấy gan hơi to Tiên lượng tốt với những thương tổn tồn tại không tiến triển [29]

Tuy nhiên viêm gan mạn tính do HBV tồn tại có thể tiến triển thành viêm gan mạn tính hoạt động nếu vẫn có sự nhân lên của HBV Viêm gan mạn tính hoạt

HUPH

Trang 16

động chiếm 30% số nhiễm HBV mạn tính Thâm nhiễm viêm lan tràn vượt qua khoảng cửa vào trong tiểu thùy gan Hoại tử kiểu mối gặm quanh tiểu thùy, viêm và hoại tử kiểu cầu nối kéo dài từ khoảng cửa vào trung tâm tiểu thùy, thậm chí sang tiểu thùy khác làm đảo lộn cấu trúc tiểu thùy dẫn đến xơ gan [46] Viêm gan mạn tính hoạt động với các dấu hiệu lâm sàng như mệt mỏi, đau hạ sườn phải, vàng da

và ngứa Biểu hiện tăng áp lực tĩnh mạch cửa như cổ trướng và xuất huyết tiêu hóa

Có thể có triệu chứng tăng men gan và giảm số lượng tế bào máu [43]

Người bệnh bị viêm gan do HBV mãn tính có nguy cơ phát triển thành ung thư gan Người bệnh có thể không có triệu chứng hoặc có thể có triệu chứng đau bụng, gan to, giảm cân và sốt Các xét nghiệm sàng lọc chẩn đoán hữu ích nhất cho ung thư gan là xét nghiệm một protein được sản xuất bởi các bệnh ung thư gọi là alpha-fetoprotein và một hình ảnh siêu âm gan Hai xét nghiệm kiểm tra này được

sử dụng với bệnh viêm gan do HBV mãn tính, đặc biệt là nếu họ có bị xơ gan hoặc tiền sử gia đình từng có người bị ung thư gan [26], [27]

1.1.2 Cách thức l ây truyền chính

Các chất trong cơ thể có thể là tác nhân truyền bệnh HBV, HIV bao gồm: Tất cả máu và sản phẩm của máu, tất cả các chất tiết nhìn thấy máu, dịch âm đạo, tinh dịch, dịch màng phổi, dịch màng tim, dịch màng khớp, nước ối Các thủ thuật khi đi lâm sàng của sinh viên Y khoa đều liên quan đến các tác nhân này

Có hai cách để lây nhiễm bệnh viêm gan là lây nhiễm theo chiều dọc

và lây nhiễm theo chiều ngang Lây nhiễm theo chiều dọc là lây nhiễm từ mẹ sang con, thường xảy ra trong thời kỳ chu sinh và những tháng đầu sau khi sinh Lây nhiễm theo chiều ngang là con đường lây nhiễm qua quan hệ tình dục không an toàn, lây nhiễm khi tiếp xúc với máu, các vật phẩm của máu hoặc các chất dịch tiết của người có mang mầm bệnh Lây qua đường tình dục, sử dụng chung bơm kim tiêm là những con đường lây truyền phổ biến nhất Ngoài ra sử dụng dao cạo râu hay bàn chải đánh răng chung với người nhiễm HBsAg, anti HCV (+) cũng có nguy cơ lây nhiễm cao [38]

Bệnh viêm gan do HBV được công nhận là một bệnh nhiễm trùng có liên quan đến yếu tố nghề nghiệp [6] Nhân viên Y tế và học sinh, sinh viên ngành Y tế

HUPH

Trang 17

là đối tượng có nguy cơ bị phơi nhiễm với các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm qua đường máu trong đó có HBV Những người này thường xuyên phải tiếp xúc với người bệnh trong đó có những người bệnh bị viêm gan do HBV và dịch cơ thể của

họ Với khả năng sống lâu nhiều tháng trong vết máu khô, HBV có khả năng lây nhiễm gấp từ 50 đến 100 lần so với HIV [1]

Nhóm người có nguy cơ cao bị lây nhiễm HBV có liên quan đến yếu tố nghề nghiệp bao gồm: điều dưỡng, kỹ thuật viên xét nghiệm, nha sĩ, nhân viên Y tế làm công tác cấp cứu, nhân viên xử lý rác thải Phơi nhiễm xảy ra chủ yếu do kim hoặc các vật sắc nhọn bị dính máu hay dịch cơ thể của người bệnh nhiễm HBV đâm phải Phơi nhiễm cũng có thể xảy ra do mắt, mũi, miệng hoặc da không lành tiếp xúc trực tiếp với máu và dịch cơ thể của người bệnh [24]

Cũng giống như bệnh viêm gan, con đường lây truyền của HIV/AIDS là qua ba con đường: lây truyền qua đường máu, quan hệ tình dục không an toàn, từ mẹ sang con Các đối tượng có nguy cơ cao trong việc lây truyền HIV/AIDS qua đường máu là các những người có tiêm chích ma túy Tuy nhiên đối với NVYT lây truyền HIV/AIDS qua đường máu là một vấn đề đáng lo ngại, đặc biệt đối với các nơi thiếu thốn về cơ sở vật chất Đối tượng có nguy

cơ cao trong nhóm NVYT là điều dưỡng, bác sĩ, kỹ thuật viên xét nghiệm Nhân viên y tế khi thực hiện các thủ thuật như tiêm, khâu, rạch, mổ đều dễ dàng bị phơi nhiễm [31],[48] Tính đến năm 2002, theo CDC thì tổng số NVYT báo cáo nhiễm HIV nghề nghiệp tại Mỹ là 57 người trong đó có 24 trường hợp là điều dưỡng, nhân viên xét nghiệm lâm sàng là 16 người [10]

WHO cũng khuyến cáo các NVYT cần phải xét nghiệm nhiễm HBV, HCV và HIV [44] Những đối tượng làm việc trực tiếp với bệnh nhân cần được tiêm phòng vacxin viêm gan B càng sớm càng tốt trước khi làm việc, trừ khi

họ đã được tiêm phòng Khi thực hiện kỹ thuật thực hành, NVYT cần tuân thủ một số biện pháp dự phòng cơ bản để phòng ngừa phơi nhiễm [2]

Bảng 1.1: Các biện pháp dự phòng cơ bản ngừa phơi nhiễm [30]

Luôn luôn dùng kim hay xi lanh mới hoặc đã được xử

lý đúng cách cho mỗi lần chích

HUPH

Trang 18

Tiêm chích, truyền dịch

Đầu kim hay vật sắc nhọn phải đặt xa cơ thể Tránh đưa các vật sắc nhọn bằng tay, đặt vật sắc nhọn vào khay để đưa đồng nghiệp

Không đóng nắp kim trước khi bỏ Trong trường hợp cầnđóng nắp kim phải dùng kỹ thuật “ xúc một tay”

Bỏ kim hay vật sắc nhọn vào thùng (hộp) đựng vật sắc nhọn ngay sau sử dụng Không được để đầy quá

¾ thùng đựng vật sắc nhọn

Phải đảm bảo xe tiêm có hộp (thùng) đựng vật sắc nhọn để giúp cô lập vật sắc nhọn nhanh và an toàn Khi bị kim hay vật sắc nhọn đâm cần phải rửa ngay vùng da bị tổn thường bằng xà phòng và nước, dưới vòi nước chảy Không nặn bóp vết thương Băng vết thương lại

Thu gom rác thải y tế

Thực hiện phân loại chất thải ngay sau khi sử dụng (vật sắc nhọn phải vào hộp đựng vật sắc nhọn chống thủng, bông băng, gạc, găng tay vào túi nylon màu vàng) Khi thực hiện thu gom rác thải y tế cần phải đeo găngtay

Xử lý dụng cụ y tế

Phân loại dụng cụ y tế trước khi xử lý Ngâm vào dung dịch làm sạch với các dụng cụ vấy nhiều máu, mủ khó bong

Ngâm vào dung dịch tiệt khuẩn với các dụng cụ ít máu, mủ, dễ bong

Cọ rửa, xả sạch bằng nước máy, lau khô (Khi cọ rửa phải theo 1 chiều, các dụng cụ phải được tháo rời khớp nối)

Ngâm dụng cụ vào dung dịch khử khuẩn cao

Xả sạch bằng nước vô khuẩn

HUPH

Trang 19

Lau sạch, đóng gói

Lấy máu bệnh phẩm

Sử dụng găng sạch khi có nguy cơ tiếp xúc với máu

và dịch tiết của người bệnh

Vệ sinh tay theo đúng chuẩn sau khi tiếp xúc với máu và dịch tiết

Thực hiện các biện pháp dự phòng khi làm việc với vật sắc nhọn

Những thủ thuật mà bất kỳ một sinh viên cao đẳng ngành điều dưỡng đều phải làm khi đi t hực tập lâm sàng đó là: Tiêm thuốc, tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch, tiêm dưới da, Rửa thay băng vết thương thường và vết thương có ống dẫn lưu, Truyền dịch, Lấy máu xét nghiệm, Lấy bệnh phẩm Tần suất cho các thủ thuật này là từ 5-20 lần/khoa lâm sàng kéo dài trong 2 tuần Ngoài ra đối với bậc cao đẳng điều dưỡng còn phải thực hiện thêm những thủ thuật như thay băng vết thương, may các loại thương phần mềm, vệ sinh răng miệng, thay băng cắt chỉ các vết thương Một số các thủ thuật lớn hơn như đặt sond dạ dày, thông tiểu, rửa ruột, chọc dò… thì sinh viên được kiến tập Các tiêu chí này đều bắt buộc sinh viên Y khoa làm việc với vật sắc nhọn, máu và dịch tiết của người bệnh đều là các yếu tố phơi nhiễm

1.2 Kiến thức, thực hành về phòng chống bệnh HBV, HIV lây truyền qua đường máu

1.2.1 Kiến thức về phòng chống bệnh HBV, HIV lây truyền qua đường máu của sinh viên

Để thực hành tốt phòng chống bệnh HBV, HIV lây truyền qua đường máu, trước hết HSSV phải cần hiểu rõ các đường lây truyền như lây qua đường máu; mẹ truyền sang con; lây qua đường tình dục và các đường lây truyền khác HSSV phải biết các nguy cơ lây nhiễm và hậu quả cho nhân viên y tế, người bệnh và cộng đồng Khi trực tiếp chăm sóc bệnh nhân cần chú ý các đối tượng, nhất là những đối tượng có nguy cơ cao lây nhiễm HSSV phải có kiến thức về các biện pháp chẩn đoán, điều trị và dự phòng lây nhiễm cho bệnh nhân và tránh lây lan trong cộng đồng

HUPH

Trang 20

Biện pháp phòng lây nhiễm đối với sinh viên ngành Y khi đi thực tập tại các

cơ sở y tế là sử dụng đúng và đầy đủ dụng cụ bảo hộ lao động khi chăm sóc bệnh nhân như áo, mũ, kính, khẩu trang, găng tay cao su và tiêm vaccin

Kiến thức của HSSV chủ yếu được tiếp thu từ các bài giảng tại trường Tuy nhiên không có bài giảng riêng mà lồng ghép trong bài giảng chung về các bệnh truyền nhiễm

Từ trước đến nay trước một vòng quay lâm sàng, trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp chưa tổ chức n h i ề u một buổi sinh hoạt chuyên đề về những vấn

đề cần lưu ý khi đi lâm sàng Tiêu chí lâm sàng ở mỗi một khoa, các em cũng không được biết cụ thể trên giấy tờ, chỉ có thầy cô là người biết và đưa ra yêu cầu Trước một khoa đi lâm sàng, tùy theo từng giáo viên mà sẽ có hướng dẫn nhắc nhở về khoa cho sinh viên Tuy nhiên sự nhắc nhở này không hề được lập thành quy định tại nhà trường mà do các thầy cô tự làm Ngoài kiến thức sơ khởi về việc phòng lây nhiễm từ chương trình học và được thầy cô nhắc nhở thì các em không hề có thêm những chú ý đặc biệt nào đối với việc phòng ngừa các bệnh lây truyền qua đường máu khi đi lâm sàng

Ngoài ra tại một số trường Cao đẳng Y tế trong khu vực, buổi sinh hoạt chuyên đề về khoa trước khi đi lâm sàng vẫn không có chương trình học chính khóa Có một số trường chỉ là buổi sinh hoạt trước vòng đi lâm sàng trong vòng

30 phút Các em học sinh không có tài liệu phát tay về khoa đi lâm sàng

Trong khi đó đối với trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp, khi sinh viên năm thứ hai từ lúc bắt đầu đi bệnh viện đều có buổi sinh hoạt hướng dẫn cụ thể để các em biết được những tiêu chí mình cần làm tại khoa, những điều cần lưu ý khi thực tập và cả cách phòng ngừa phơi nhiễm HBV, HIV cho bản thân

Như vậy có thể thấy với khối lượng công việc phải làm liên quan đến máu và dịch tiết của người bệnh là xuyên suốt trong quá trình thực tập Do đó, các em sinh viên rất cần có buổi sinh hoạt chuyên đề trước khi đi lâm sàng 1.2.2 Thực hành phòng chống bệnh HBV, HIV lây truyền qua đường máu của Nhân viên Y tế và sinh viên

1.2.2.1 Thực hành phòng chống bệnh HBV, HIV lây truyền qua đường máu của Nhân viên Y tế

HUPH

Trang 21

Tại Brasil, một nghiên cứu khác cho thấy tỉ lệ NVYT bị HBV là 0.8% trong khi người đi hiến máu chỉ có 0.2% Những NVYT làm việc nhiều liên quan tới máu có nguy cơ cao gấp 4.29 lần so với người bình thường [56] Tại Anh, nguy cơ lây nhiễm HBV từ bệnh nhân sang NVYT là 30%, đối với HCV là 1-3% [62] Tương tự như vậy tại Australia, tỉ lệ nguy cơ phơi nhiễm của NVYT với HBV và HCV lần lượt là 2.96% và 0-2.25% [63]

Một số nghiên cứu còn chỉ ra sự khác nhau về tỷ lệ NVYT bị nhiễm HBV khác nhau giữa các nhóm công việc khác nhau Nghiên cứu tại Hàn Quốc cho thấy trong 571 NVYT được xét nghiệm máu thì tỷ lệ mang HBsAg là 2,4% và tỷ lệ có anti HBs là 76,9% Trong đó, tỷ lệ HBsAg dương tính cao nhất là ở nhóm Y tá chiếm 3,13% [52] Nghiên cứu tại Ấn Độ của Khakhkhar Vipul thực hiện trên NVYT có kết quả nhân viên phòng thí nghiệm có tỷ lệ HBsAg dương tính cao nhất chiếm 4,1%, kế đến là Y tá chiếm 1,7% [56]

Nhân viên Y tế là đối tượng được đánh giá là một trong những nghề nghiệp có nguy cơ lây nhiễm HBV, HCV cao [2] Trong thực tế cho thấy các yếu tố nguy cơ có thể gây tổn thương da trong bệnh viện có rất nhiều: tiêm dưới da, mảnh thuỷ tinh, mũi khâu, kim bướm, mũi khoan, lấy máu Trong môi trường chăm sóc y tế, nguy cơ lây nhiễm từ bệnh nhân nhiễm HBsAg nhưng không thể hiện rõ triệu chứng sang NVYT là nguy cơ một chiều Khả năng nhiễm HBV có thể lên đến 25% đối với nhóm cán bộ y tế bị thương do kim đâm, tiếp xúc với máu, dịch cơ thể của bệnh nhân có HBsAg dương tính [3] Trong một nghiên cứu của Nguyễn Thúy Quỳnh và Cộng sự (2010) thì tần suất phơi nhiễm với máu dịch của bệnh nhân cho NVYT là 119,4/1000người/4tháng; NVYT có thời gian làm việc trong ngành Y >20 năm có tần suất phơi nhiễm cao nhất (51,5/1000người/4tháng) [35]

Một nghiên cứu khác của Ngô Thị Hải Vân và Cộng sự (2011) thì tỉ lệ NVYT tại bệnh viện tỉnh Gia Lai, Kon Tum nhiễm HBsAg là 7,3% [44] Theo

Lê Văn Hoàn và Cộng sự (2010) thì tỉ lệ NVYT tại 3 huyện của tỉnh Thừa Thiên Huế có HBsAg dương tính là 9% [38] Tại bệnh viện Nhân dân Gia Định, theo nghiên cứu của Võ Hồng Minh Công và Cộng sự năm 2009 thì tỉ lệ NVYT

bị nhiễm HBsAg là 6% Các khoa như Sản, Hồi sức tích cực, Nhi và các đối

HUPH

Trang 22

tượng là Điều dưỡng, Hộ sinh là thành phần nhiễm nhiều nhất [18] Trong nghiên cứu của Nguyễn Quang Tập (2012), tỉ lệ nhiễm HBV của NVYT bệnh viện An Dương – Hải Phòng là 19,6% [39] Bộ Y tế cũng đã đánh giá NVYT là đối tượng có yếu tố phơi nhiễm cao với bệnh viêm gan virus nghề nghiệp, nhất là virus viêm gan B Thời gian làm việc càng lâu thì nguy cơ càng cao [3]

Phơi nhiễm HIV do yếu tố nghề nghiệp của NVYT là khá phổ biến Do đặc thù công việc thường xuyên tiếp xúc làm việc với máu và các dịch phẩm, đồng thời tần suất làm việc trực tiếp lại cao nên do đó yếu tố phơi nhiễm là phải có Vào ngày 4/7/2015 đã xảy ra trường hợp 18 Y bác sĩ Phụ sản Hà Nội

đã bị phơi nhiễm với HIV/AIDS sau khi cấp cứu bệnh nhân nữ nhiễm HIV bị chảy máu âm đạo Trong một nghiên cứu của Trung tâm phòng chống HIV/AIDS của Thừa Thiên Huế (2014) cho kết quả 94,3% NVYT tiếp xúc với máu, dịch chứa máu, phế phẩm máu, 67,5% NVYT bị vật sắc nhọn gây tổn thương Khi xảy ra tổn thương thì có 30% tổn thương do tiêm truyền, 24,9% máu bắn vào khi

đỡ đẻ và xử lý vết thương, 15,3% do động tác đậy nắp kim, 4,9% do thu gom rác [46] Trong một nghiên cứu của Lê Thị Anh Thư tại bệnh viện Chợ Rẫy (2010), giai đoạn từ 2/2000 – 6/2009 có 327 NVYT bị tai nạn nghề nghiệp làm phơi nhiễm với các bệnh lây truyền qua đường máu, trong đó HIV là 58 trường hợp Trong đó, phân bố nhiều nhất ở khoa ngoại (124 trường hợp; 37.9%), thường gặp là điều dưỡng (116; 35,5%), học viên điều dưỡng hoặc sinh viên (48 trường hợp; 14,7%) Khi xảy ra tai nạn phơi nhiễm với HIV, 48,9% NVYT không biết bệnh nhân có nhiễm HIV trước đó [41]

1.2.2.2 Thực hành phòng chống bệnh HBV, HIV lây truyền qua đường máu của sinh viên

HSSV là những NVYT trong tương lai cần thực hành đúng các quy trình kỹ thuật chuyên môn khi thực hành điều trị và chăm sóc người bệnh tại bệnh viện như đeo găng tay cao su, rửa tay sát khuẩn, mặc đủ quần áo bảo hộ khi làm các thủ thuật điều trị và chăm sóc HSSV cần có kiến thức và thực hành đúng mới có thể bảo vệ cho bản thân và cho bệnh nhân không bị lây nhiễm HBV

HSSV khi thực tập bị phơi nhiễm với HBV phải được xử trí kịp thời bằng tiêm kháng huyết thanh HBV (Hepatitis B Immune Globulin: HBIG) để phòng ngừa

HUPH

Trang 23

lây nhiễm HBV Ngoài ra việc tuân thủ các quy trình kỹ thuật còn là biện pháp bảo

vệ cho người bệnh nếu bản thân HSSV hay NVYT đã bị nhiễm HBV

Sinh viên ngành Y cũng là một đối tượng tiềm tàng của căn bệnh lây truyền qua đường máu tại bệnh viện Sinh viên ngành Y tuy không thực sự làm nhiều các công việc chuyên môn nhưng hằng ngày khi đi thực tập, họ vẫn

có nguy cơ cao Trong nghiên cứu Nguyễn Trần Tuấn Kiệt và Cs (2013), tỷ lệ sinh viên đi xét nghiệm chỉ có 32,5% và thực hiện việc tiêm phòng là 34,1% [31] Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Hoàng Văn Doanh (2015) cho kết quả có 2,3% sinh viên ngành Y lại không biết về quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn Tỉ

lệ sinh viên không đeo găng tay khi thực hiện thủ thuật lên đến 62,8% [20] Qua các cuộc nghiên cứu có thể thấy được rằng, sinh viên ngành Y là những NVYT trong tương lai cần được có kiến thức tốt về bệnh lây nhiễm qua đường máu khi làm việc để có ý thức tự bảo vệ bản thân trong công tác

1.3 Các yếu tố liên quan đến thực hành phòng ngừa lây nhiễm HBV, HIV qua đường máu

Trong nghiên cứu của Aleksandra Jovic Vranes và Cs (Serbia, 2006) đã tiến hành nghiên cứu trên 1559 NVYT kết quả cho thấy 59% NVYT trả lời đã từng tiếp xúc trực tiếp với máu của bệnh nhân qua da, 51% bị tổn thương do kim châm, 38% tổn thương do các vật sắc nhọn và 34% trường hợp tiếp xúc trực tiếp với máu của bệnh nhân qua mắt và niêm mạc Trong tất cả các nhóm đối tượng được chọn thì Điều dưỡng là nhóm đối tượng có tỷ lệ và tần suất cao hơn các đối tượng khác [49]

Kết quả điều tra tình hình nhiễm Viêm gan B trên 282 NVYT ở bệnh viện Nhân dân Gia Định cho thấy: trong nhóm NVYT có tỷ lệ nhiễm HBsAg (+) là 6%, tỷ lệ Anti-HBc (+) là 33,3% và tỷ lệ đã và đang nhiễm HBV là 39%, tỷ lệ nhiễm siêu vi viêm gan thường gặp ở nữ Hộ sinh và Điều dưỡng là những NVYT thường tiếp xúc với máu và thực hiện các thủ thuật trên bệnh nhân NVYT chưa thấy được tầm quan trọng trong việc tiêm chủng phòng ngừa viêm gan siêu vi B trước khi hành nghề, chưa tuân thủ chấp hành nghiêm túc mọi quy chế phòng bệnh [18]

Theo Nghiên cứu của Nguyễn Trần Tuấn Kiệt (2013) thì tỷ lệ HSSV có kiến thức đạt về phòng lây nhiễm HBV tăng dần theo năm học Năm thứ nhất (63,9%), năm thứ hai (85,1%); Những HSSV đã đi thực tập tại các bệnh viện có thái độ đạt

HUPH

Trang 24

cao hơn gấp 2,3 lần so với những HSSV chưa đi thực tập; Tỷ lệ thực hành đạt về phòng lây nhiễm HBV của HSSV tăng lên theo từng năm học, năm thứ nhất chiếm 51,3%, năm thứ hai chiếm 72,2% Tỷ lệ thực hành đạt của HSSV năm thứ hai cao gấp 2,5 lần so với HSSV năm thứ nhất; Tỷ lệ HSSV có thực hành đạt về phòng lây nhiễm HBV ở nhóm có thái độ đạt về phòng lây nhiễm HBV cao gấp 1,4 lần so với nhóm có thái độ không đạt [31]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Thư (2016) thì đối tượng điều dưỡng tỉ lệ thực hành đạt giữa sinh viên nam và nữ có sự khác nhau (sinh viên nữ thực hành đạt cao hơn so với nam); sinh viên đạt về kiến thức thì tỉ lệ thực hành đạt cao gấp 4.99 lần so với nhóm có kiến thức không đạt; Nhóm sinh viên có giáo viên hướng dẫn sinh hoạt về khoa đạt về thực hành cao gấp 0.49 lần so với nhóm sinh viên không được giáo viên hướng dẫn sinh hoạt về khoa [42]

1.4 Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam

1.4.1 Nghiên cứu trên thế giới

Các thực hành không an toàn gây nguy hiểm cho cả người bệnh và NVYT còn rất phổ biến tại các nước có thu nhập thấp Theo nghiên cứu của Aleksandra Jovic-Vranes

và cộng sự tại Serbia, chỉ có 57,6% NVYT sử dụng găng tay cao su cho mọi hoạt động thăm khám, 23% sử dụng khẩu trang và 3,7% sử dụng kính khi khám cho bệnh nhân [49]

Nghiên cứu tại Ấn Độ của Khakhkhar Vipul thực hiện trên NVYT có kết quả nhân viên phòng thí nghiệm có tỷ lệ HBsAg dương tính cao nhất chiếm 4,1%, kế đến là Y tá chiếm 1,7% [56]

Tình trạng nhiễm HBV thay đổi theo từng vùng địa lý và có xu hướng gia tăng Tuy nhiên tỉ lệ nhiễm bệnh ở người dân mỗi quốc gia khác nhau tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và vệ sinh môi trường Trên thế giới hiện nay có khoảng 2 tỷ người nhiễm HBV, trong đó có khoảng 350 triệu người nhiễm HBV mạn tính, 25% người nhiễm HBV mạn có thể chuyển biến thành viêm gan mạn, xơ gan và ung thư gan nguyên phát [53], [63].Theo tổ chức Y tế thế giới, hằng năm có khoảng một triệu người chết do các nguyên nhân liên quan đến HBV [64] Trong viêm gan do HBV các yếu tố có nguy cơ cao bao gồm: truyền máu, tiêm chích, quan hệ tình dục không an toàn, bệnh nhân chạy thận nhân tạo, yếu tố nghề nghiệp thường xuyên tiếp

HUPH

Trang 25

xúc với bệnh nhân bị nhiễm HBV [55] Sự phân bố HBV trên thế giới không đồng đều, được phân thành ba vùng dịch tễ theo ba mức dịch lưu hành khác nhau:

Vùng lưu hành dịch cao là vùng có hơn 8% người nhiễm HBV mạn tính và hơn 70% người lớn đã từng nhiễm HBV [22] Những vùng này bao gồm đa số các nước châu Á trong đó có Việt Nam (trừ Nhật Bản và Ấn Độ), châu Phi, hầu hết vùng Trung Đông, vùng châu thổ Amazôn Nam Mỹ, hầu hết các nhóm quần đảo Thái Bình Dương và thổ dân châu Úc [13]

Vùng lưu hành dịch trung bình là vùng có từ 2% đến 7% người nhiễm HBV mạn tính và 20% đến 50% người lớn đã từng nhiễm HBV Những vùng này bao gồm Ấn Độ, một phần Trung Đông, Nhật Bản, Đông Âu và hầu hết các nước Nam

Mỹ, Trung Mỹ Cách truyền bệnh phức tạp hơn so với các vùng khác và truyền nhiễm xảy ra ở tất cả các nhóm tuổi [22]

Vùng lưu hành dịch thấp là vùng có dưới 2% người nhiễm HBV mạn tính và dưới 20% số người lớn đã từng nhiễm HBV Những vùng này bao gồm Bắc Mỹ, Canada, Tây Âu, Úc [12] Nhiễm bệnh chủ yếu ở người lớn và nhóm nguy cơ cao là những người tiêm chích ma túy, đồng tính luyến ái, nhân viên Y tế, những người thường xuyên phải truyền máu, thẩm phân máu Tại Tây Âu, tỷ lệ mới mắc viêm gan cấp tính do HBV hằng năm khoảng 5/100.000 người Tần suất của HBsAg từ dưới 0,1% ở Bắc Âu và 1% đến 5% ở Nam Châu Âu [22]

1.4.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

Một nghiên cứu khác được thực hiện tại thị trấn Yên Viên, Gia Lâm Hà Nội

về kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống bệnh viêm gan do HBV của người dân cho thấy có 22,9% đối tượng nghiên cứu được phân loại đạt về kiến thức, 24,2% đạt về thực hành, trong đó tỷ lệ người dân hiểu biết đúng về nguyên nhân gây bệnh chiếm 59,2% Tỷ lệ người dân biết HBV lây qua đường máu chiếm 61,4%, lây qua đường tình dục chiếm 51,3%, lây từ mẹ sang con chiếm 42,2% Tỷ

lệ người dân biết về cách phòng lây HBV còn thấp như tiêm phòng HBV chiếm 61,8%, quan hệ tình dục an toàn chiếm 44,1%, sử dụng bơm kim tiêm riêng 24,2%, truyền máu an toàn 46,1% Tỷ lệ người dân chủ động đi tiêm vaccin phòng HBV còn thấp, chỉ chiếm 33,0% [47]

Các hành vi nguy cơ có thể làm lây lan HBV trong cộng đồng có thể do thiếu kiến thức về HBV nên dẫn đến những thực hành không đúng như sử dụng

HUPH

Trang 26

chung kim châm cứu và các vật dụng cá nhân Theo điều tra dịch tễ tình hình nhiễm viêm gan B và C của Trần Hữu Bích và cộng sự tại Hà Nội và Bắc Giang cho thấy

ba hành vi nguy cơ được coi là liên quan đến tình trạng nhiễm virus viêm gan B và

C là dùng chung bơm kim tiêm, dùng chung kim châm cứu và dùng chung bàn chải đánh răng Nghiên cứu này cũng chỉ ra tỷ lệ tiêm phòng HBV trong cộng đồng còn thấp Tỷ lệ tiêm phòng viêm gan B ở Sóc Sơn - Hà Nội là 15,3% và Lạng Giang-Bắc Giang là 4,5% [35]

Một số nghiên cứu được thực hiện tại các cơ sở y tế cho thấy nhân viên y tế

và HSSV ngành Y tế có nguy cơ bị lây nhiễm HBV cao vì thường xuyên phải tiếp xúc với bệnh nhân, hoặc máu và các dịch tiết của họ Nghiên cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy của Lê Thị Anh Thư thì tỷ lệ bị phơi nhiễm với tác nhân truyền nhiễm khi thực tập tại bệnh viện của học viên điều dưỡng và sinh viên Y khoa là 14,7% HSSV ngành Y và những NVYT mới vào nghề được xem là đối tượng có nguy cơ lây nhiễm HBV cao hơn [41]

Một số nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng NVYT có tỷ lệ tiêm vaccin phòng HBV còn thấp khi bắt đầu vào nghề Nghiên cứu của Võ Hồng Minh Công khảo sát tình trạng nhiễm HBV của 282 NVYT bệnh viện Nhân dân Gia định Thành phố Hồ Chí Minh năm 2008 cho thấy tỷ lệ đã từng bị nhiễm HBV là 39% và thường gặp ở nhân viên khoa sản, khoa nhi và khoa hồi sức tích cực Điều dưỡng, Nữ hộ sinh là những người bị nhiễm nhiều nhất và thời gian công tác càng lâu thì tỷ lệ nhiễm HBV càng cao Tỷ lệ tiêm vaccin phòng HBV của NVYT trước khi vào nghề còn thấp, chỉ chiếm 13,8% [18]

Nguy cơ nhiễm HBV do những rủi ro nghề nghiệp tăng cao ở NVYT do bị tổn thương bởi kim tiêm và các vật sắc nhọn là một vấn đề cần được quan tâm Tỷ

lệ nhiễm HBV của NVYT tăng theo thời gian công tác và đặc điểm công việc hằng ngày Nghiên cứu đánh giá tình hình nhiễm HBV và một số yếu tố liên quan của NVYT tại bệnh viện tỉnh Gia Lai và Kon Tum của Ngô Thị Hải Vân cho kết quả: tỷ

lệ NVYT dương tính với xét nghiệm HBsAg là 7,3%; HBs là 14,9% và HBc là 12,8%; tỷ lệ nhiễm HBV chung là 35,0%; nhóm NVYT làm việc tại khoa truyền nhiễm và các khoa ngoại có tỷ lệ nhiễm cao (38,3%-40,0%) so với NVYT các khoa khác Nhóm NVYT bị sự cố nghề nghiệp có tỷ lệ nhiễm HBV (47,7%) cao hơn so với nhóm NVYT không bị sự cố (20,6%) (p <0,001); kết quả cũng cho thấy

anti-HUPH

Trang 27

tỷ lệ nhiễm HBV của nhóm NVYT bị sự cố kim đâm (38,2%) cao hơn nhóm NVYT

bị sự cố dính máu và dịch cơ thể của bệnh nhân (7,9%) Tỷ lệ bị nhiễm HBV ở NVYT thường xuyên rửa dụng cụ là 35,0%, ở người chích thuốc, lấy máu là 39,4% cao hơn nhóm không làm công việc này (16,3%) [44]

Một số yếu tố liên quan khác đến bệnh viêm gan do HBV liên quan đến nghề nghiệp cũng được đề cập Nghiên cứu thực trạng và các yếu tố liên quan đến bệnh viêm gan do HBV liên quan đến nghề nghiệp trong ngành Y tế của tác giả Nguyễn Thúy Quỳnh có kết quả: NVYT có tiếp xúc với số lượng bệnh nhân lớn hơn 30 người một ngày có nguy cơ bị nhiễm HBV cao gấp 2 lần so với NVYT tiếp xúc với dưới 30 bệnh nhân; những người đã từng bị tổn thương do vật sắc nhọn có nguy cơ bị nhiễm HBV cao gấp 4,1 lần so với những người chưa từng bị tổn thương; những người bị tổn thương do rách da chảy máu có nguy cơ mắc bệnh viêm gan do HBV có liên quan đến nghề nghiệp cao hơn gấp 2,5 lần so với người chỉ bị trợt da trong quá trình làm việc NVYT bị văng bắn máu hay dịch của người bệnh viêm gan do HBV không có xử lý ngay có nguy cơ nhiễm HBV cao gấp 3,4 lần so với NVYT có xử lý ngay [35]

Thường xuyên củng cố thêm kiến thức phòng lây nhiễm HBV cho NVYT sẽ mang lại hiệu quả cao phòng lây nhiễm HBV Nghiên cứu của Nguyễn Thị Điểm và cộng sự về kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống lây nhiễm HBV của NVYT tại bệnh viện đa khoa Tiền Giang năm 2009 cho thấy 95% NVYT biết các loại virus gây viêm gan, 93,2% biết đường lây truyền của HBV, tỉ lệ NVYT hiểu biết và thực hiện tốt các biện pháp phòng chống lây nhiễm HBV chiếm 90% [24]

Việc đánh giá thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng lây nhiễm HBV của HSSV nhằm đưa ra các giải pháp nâng cao kiến thức, thực hành phòng lây nhiễm HBV, giúp cho HSSV nhất là HSSV ngành Y tế có thể phòng tránh được sự lây nhiễm HBV cho bản thân và cho cộng đồng hiệu quả hơn

1.5 Giới thiệu về đị a bàn nghiên cứu

Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp là trường duy nhất trong địa bàn tỉnh đào tạo nhân lực y tế cho tỉnh Đồng Tháp Với lịch sử phát triển hơn 40 năm, Nhà trường đã đào tạo ra rất nhiều cán bộ NVYT đáp ứng hơn 80% nhu cầu tại tỉnh Hiện nay trường có hơn 2000 HSSV với các cấp bậc từ sơ cấp tới cao đẳng trải dài đầy đủ các ngành học như Dược, Điều dưỡng, Y sĩ, Hộ sinh Các em

HUPH

Trang 28

thuộc nhóm ngành Điều dưỡng bắt đầu từ năm thứ 2 phải học thực hành tại bệnh viện, do đó các em thường xuyên phải tiếp xúc với yếu tố phơi nhiễm Ngành Điều dưỡng cao đẳng có thời gian đào tạo là 3 năm, năm 1 học lý thuyết hoàn toàn tại trường, năm thứ 2 và năm thứ 3 bắt đầu phải học thực hành tại bệnh viện

Tại địa bàn tỉnh Đồng Tháp ngoài 2 bệnh viện lớn là Bệnh viện Đa Khoa Đồng Tháp và Bệnh viện Đa Khoa Sa Đéc thì các bệnh viện Quân dân Y, Phục hồi chức năng, Y học Cổ Truyền, Bệnh viện Đa Khoa Huyện Cao Lãnh luôn là nơi thực tập của sinh viên Thực tế thời gian thực hành tại bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp, bệnh viện Quân dân Y, bệnh viện Phục hồi chức năng, bệnh viện Y học Cổ Truyền, bệnh viện Đa Khoa Huyện Cao Lãnh là chủ yếu chiếm hơn 2/3 thời gian

đi lâm sàng Trong mỗi năm học, sinh viên sẽ thực hiện đi lâm sàng theo vòng quay đã được thiết kế cho mỗi năm học và chương trình học [5] Sinh viên trong mỗi lớp được chia nhóm từ 10-15 học sinh khi đi thực tập Các khoa lâm sàng bắt buộc phải đi là Khoa Nội bao gồm Nội tổng hợp, Nội Thần Kinh, Nội Tim mạch, Nội Nội tiết; Khoa Ngoại bao gồm Ngoại tổng quát, Ngoại thần kinh-CTCH, Ngoại Tiết niệu, Khoa Nhi, Khoa Nhiễm, Khoa Sản, Khoa HSTC-CĐ, Khoa Cấp cứu Mỗi một khoa thực tập trong hai tuần Giảng viên của trường sẽ hướng dẫn trực tiếp cho các em tại khoa Theo chương trình học và phân phối thì ngành Điều dưỡng sẽ thực hiện nhiều các thủ thuật hơn ngành Y

sĩ [11]

Việc nâng cao kiến thức phòng ngừa các bệnh nghề nghiệp đang là một vấn đề đặt ra tại trường Nhà trường mong muốn khi còn đang đi học, các em cần phải nhận thức rõ về công việc của bản thân cũng như các yếu tố nguy

cơ có thể mắc phải để tích cực chủ động phòng ngừa Chính vì thế đề tài nhận được sự ủng hộ của Ban giám hiệu nhà trường

HUPH

Trang 29

- Năm học (học năm mấy)

- Số khoa/ số lần đi lâm sàng, (một lần

có thể đi nhiều khoa)

- Kết quả học tập lý thuyết trước khi đi

1 Kiến thức

- Tính nguy hiểm của HIV, HBV

- Tác nhân gây bệnh của HIV, HBV

- Đường lây truyền của HIV, HBV

- Hậu quả của bệnh

- Phương pháp phòng lây nhiễm

- Xử lý đối với vật sắc nhọn đã qua

- Khối lượng/ áp lực công việc

- Thái độ khi đi thực hành

HUPH

Trang 30

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Những HSSV ngành Điều dưỡng hiện đang học tại trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp có đi thực hành lâm sàng bệnh viện

Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu:

- HSSV ngành Điều dưỡng: gồm những sinh viên năm thứ hai, năm thứ ba

- Sinh viên đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu:

- Sinh viên không có mặt tại thời điểm nghiên cứu

- Sinh viên không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Thiết kế nghiên cứu

- Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm: Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp

- Thời gian: từ tháng 01 năm 2018 đến tháng 08 năm 2018

- Chọn mẫu toàn bộ phù hợp với tiêu chí chọn mẫu

2.5 Phương pháp và công cụ thu thập số l i ệu

2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu: Bộ câu hỏi được thiết kế dựa trên mục tiêu nghiên cứu có tham khảo tài liệu của Nguyễn Thị Ngọc Thư (2016), tài liệu hướng dẫn của Bộ Y tế về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống lây nhiễm HBV, đồng thời tham khảo bộ câu hỏi của các nghiên cứu về phòng chống lây nhiễm HBV trước đây Sử dụng bộ câu hỏi tự điền Dựa trên bộ câu hỏi có cấu trúc được xây dựng sẵn (Phụ lục 2: Bộ câu hỏi phát vấn)

2.5.2 Công cụ thu thập số liệu: là bộ câu hỏi soạn sẵn dựa trên khung lý thuyết

Bộ câu hỏi gồm 4 phần:

HUPH

Trang 31

o Nhóm câu hỏi thông tin chung của SV bao gồm nhóm câu hỏi về tuổi, giới tính, năm học (học năm mấy), số khoa/ số lần đi lâm sàng

o Nhóm câu hỏi về kiến thức của SV bao gồm những câu hỏi về kiến thức

về các bệnh HBV, HIV lây truyền qua đường máu (tên bệnh, nguyên nhân, đường truyền, nguồn phát sinh, hậu quả, v.v ), quy trình dự phòng lây nhiễm bệnh (trước trong và sau phơi nhiễm), các biện pháp dự phòng

o Nhóm câu hỏi về thực hành của SV bao gồm những câu hỏi: phòng ngừa trước phơi nhiễm: tiêm an toàn, xử lý rác thải sắc nhọn, mang bảo hộ lao động; phòng ngừa trong phơi nhiễm: xử lý khi bị vật sắc nhọn đâm, xử trí khi bị văng bắn máu dịch; và phòng ngừa sau phơi nhiễm: kiểm tra/ xét nghiệm tình trạng mắc bệnh, báo cáo phơi nhiễm

o Nhóm câu hỏi về các yếu tố liên quan: hướng dẫn của giáo viên tại trường/ bệnh viện, giám sát của giáo viên tại trường/ viện, sẵn có đồ bảo hộ lao động, dung dịch sát khuẩn, nước, lịch trình học giữa lý thuyết và lâm sàng, khối lượng/ áp lực công việc, thái độ khi đi thực hành

Tiến hành thử nghiệm bộ câu hỏi trên 10 đối tượng HSSV học tại trường CĐYT ĐT nhằm chỉnh sửa và hoàn thiện bộ câu hỏi cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu Nội dung đã chỉnh sữa bộ câu hỏi: Về kiến thức (nguyên nhân, đường truyền, nguồn phát sinh); về thực hành(xử lý rác thải sắc nhọn, mang bảo hộ lao động) Sau khi hoàn thiện, bộ câu hỏi được in ấn phục vụ cho thu thập thông tin

2.5.3 Thu thập số l i ệu

Thu thập thông tin bằng phương pháp phát vấn Dựa trên thời khóa biểu của nhà trường, Chúng tôi đến từng lớp và tiến hành phát vấn Nội dung giới thiệu về mục đích của nghiên cứu Việc phát vấn được thực hiện tại lớp sau đó các phiếu được thu lại sau khi sinh viên đã hoàn thành phiếu Thời gian phát vấn khoảng 45 phút

Điều tra viên kiểm tra các phiếu có đầy đủ thông tin theo yêu cầu, nếu phiếu nào không đầy đủ thông tin, điều tra viên yêu cầu sinh viên bổ sung cho đầy đủ 2.6 Phân tích số liệu

- Nhập và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0 Kết quả phân tích được chia thành 2 phần: Phần mô tả thể hiện tần suất của các biến trong

HUPH

Trang 32

nghiên cứu Phần phân tích sử dụng test thống kê Chi-Square, tỷ suất chênh

OR để đưa ra những mối liên quan giữa thực hành về phòng lây nhiễm qua đường máu khi đi lâm sàng với các yếu tố khác Các yếu tố như tuổi, giới tính, ngành học, năm học, số khoa đi lâm sàng, kiến thức về bệnh là các biến độc lập, biến phụ thuộc là thực hành phòng chống bệnh HBV, HIV lây truyền qua đường máu

2.7 Một số khái ni ệm và ti êu chuẩn đánh gi á

2.7.1 Một số khái ni ệm

- Năm 1963, Blumberg đã tìm ra trong máu của người Úc bản địa một kháng nguyên và đặt tên là kháng nguyên Australia Sau đó kháng nguyên này được tìm thấy trong huyết thanh của những bệnh nhân bị viêm gan Ngày nay kháng nguyên Australia được biết là kháng nguyên bề mặt của virus viêm gan B (HBV) [40] HBV thuộc họ Hepadnaviridae có nhân là Deoxyribo nucleic acid (DNA) [51]

- HBV có trong các dịch cơ thể người bị nhiễm như máu, tinh dịch, dịch tiết

âm đạo và khả năng lây lan cao hơn 100 lần so với HIV [40] HBV có thể sống đến

7 ngày trên bề mặt môi trường ở nhiệt độ phòng

- Đối tượng nghiên cứu: sinh viên Điều dưỡng học năm thứ hai, năm thứ ba -Thời gian đi lâm sàng: Theo quy định của trường thì đối tượng Điều dưỡng cao đẳng bắt đầu đi lâm sàng từ học kỳ I năm thứ hai

2.7.2 Ti êu chuẩn đánh gi á

Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức: Kiến thức của HSSV về phòng chống HBV gồm 13 câu hỏi Việc đánh giá kiến thức bằng cách cho điểm và điểm được tính theo từng lựa chọn cho mỗi câu, mỗi lựa chọn đúng sẽ cho 1 điểm, sai sẽ không được điểm

KIẾN THỨC VỀ CÁC BỆNH LÂY TRUYỀN QUA ĐƯỜNG MÁU

1 Theo anh/chị thì nguyên nhân gây

Trang 33

2 Theo anh/chị thì bệnh HBV, HIV có

phải là bệnh truyền nhiễm không?

(Câu hỏi MỘT lựa chọn)

(Câu hỏi NHIỀU lựa chọn)

1 Ung thư gan

2 Mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội

3 Bị hội chứng suy giảm miễn dịch

4 Không có hậu quả

1

1

1

0

5 Theo anh/chị thì bệnh HBV, HIV lây

qua những con đường nào?

(Câu hỏi NHIỀU lựa chọn)

1 Qua đường ăn uống

2 Qua đường máu

3 Lây truyền từ mẹ sang con khi sinh

4 Qua quan hệ tình dục không an toàn

5 Qua dùng chung bơm kim tiêm, dao cạo râu, bàn chải

6 Theo anh/chị thì phương pháp nào

có thể phòng ngừa được sự lây nhiễm

bệnh HBV, HIV?

(Câu hỏi NHIỀU lựa chọn)

1 Tiêm vacxin phòng bệnh

2 Quan hệ tình dục an toàn

3.Truyền máu an toàn

4 Không dùng chung bơm kim tiêm, bàn chải

Trang 34

đánh răng, đồ cạo râu

5 Sử dụng đồ bảo hộ lao động khi tiếp xúc với nguồn lây nhiễm

6 Không dự phòng được

1

0

7 Theo anh/chị thì bệnh bệnh HBV,

HIV có phải là bệnh nghề nghiệp

được bảo hiểm không?

(Câu hỏi MỘT lựa chọn)

1 Có

2 Không

1

0

8 Tại nơi thực tập, theo anh/chị thì

nguồn mang mầm bệnh HBV, HIV

có khả năng lây nhiễm là gì?

(Câu hỏi NHIỀU lựa chọn)

1 Máu, bệnh phẩm nói chung

2 Máu, bệnh phẩm có mầm bệnh

9 Theo anh/chị thì có cần thiết phải

sử dụng đồ bảo hộ lao động khi thực

hiện thủ thuật hay không?

1 Có

2 Không

1

0

10 Theo anh/chị thì khi thực hiện thủ

thuật để phòng tránh lây nhiễm cần

sử dụng đồ bảo hộ lao động nào?

(Câu hỏi NHIỀU lựa chọn)

11 Theo anh/chị, khi đi lâm sàng thì

dễ bị lây nhiễm bệnh HBV, HIV trong

các trường hợp nào?

(Câu hỏi MỘT lựa chọn)

1 Tiếp xúc thông thường với bệnh nhân

2 Thực hiện thủ thuật y tế

có phơi nhiễm với máu dịch của bệnh nhân (tiêm, truyền, thay băng)

3 Rất khó lây nhiễm trực tiếp

0

1

1

HUPH

Trang 35

2 Truyền máu an toàn

3 Không dùng chung bơm kim tiêm, bàn chải đánh răng, đồ cạo râu

4 Sử dụng đồ bảo hộ lao động khi tiếp xúc với nguồn lây nhiễm

13 Theo anh/chị, để đảm bảo an toàn

khi thực hiện kỹ thuật vô khuẩn

phòng ngừa bệnh HBV, HIV người

thực hiện thủ thuật cần phải? (Câu

hỏi NHIỀU lựa chọn)

Tiêu chuẩn đánh giá thực hành:

Phần thực hành gồm 12 câu hỏi được đánh giá qua bảng hỏi phát vấn, trong đó mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, trả lời sai không có điểm

3 THỰC HÀNH PHÒNG NGỪA BỆNH

1 Anh/chị có rửa tay trước khi thực hiện

thủ thuật thay băng rửa vết thương hay

Trang 36

(Câu hỏi MỘT lựa chọn)

2 Anh/chị có rửa tay trước khi chuẩn bị

3 Anh/chị có rửa tay sau khi tiếp xúc với

máu và dịch tiết của người bệnh hay

4 Khi thực hiện thủ thuật anh/chị có bị vật

sắc nhọn đâm trúng vào tay không?

(Câu hỏi MỘT lựa chọn)

1 Có

2 Không

0

1

5 Nếu khi bị vật sắc nhọn có dính máu

đâm vào tay, anh/chị l àm gì đầu ti ên?

(Câu hỏi NHIỀU lựa chọn)

1 Rửa tay dưới vòi nước sạch

2 Rửa tay bằng xà phòng

3 Dùng thuốc sát khuẩn để sát trùng rồi dùng băng gạc băng vết thương lại

4 Báo với giáo viên lâm sàng

1

1

1

0

6 Trong buổi thực tập, khi thực hiện thủ

thuật truyền dịch, anh/chị có đeo găng

tay hay không?

(Câu hỏi MỘT lựa chọn)

(Câu hỏi NHIỀU lựa chọn)

1 Bỏ ngay kim tiêm vào hộp đựng vật sắc nhọn không thủng

2 Bỏ ngay vào thùng đựng rác thải sắc nhọn

3 Bỏ ngay bơm kim tiêm vào khay hạt đậu

1

1

1

HUPH

Trang 37

4 Đóng nắp k im tiêm xong thì bỏ vào thùng rác

2 Không uốn cong, cắt hay bẻ kim

3 Bỏ vật sắc nhọn vào hộp đựng vật sắc nhọn không thủng như hộp kim loại

4 Mang găng tay khi vứt bỏ hộp đựng vật sắc nhọn

5 Để cho nhân v iên thu dọn vật sắc nhọn làm

9 Sau khi thay băng, rửa vết thương

thì bông băng đã được sử dụng,

anh/chị xử lý thế nào ?

(Câu hỏi NHIỀU lựa chọn)

1 Bỏ vào khay hạt đậu, sau đó mới thực hiện xử lý

2 Bỏ ngay vào thùng rác y tế

3 Bỏ vào bất kỳ chỗ trống trên khay thuốc

1

1

0

10 Trước khi cọ rửa dụng cụ , anh/chị

có phân loại dụng cụ (thường và

11 Trước khi cọ rửa dụng cụ, anh/chị

có ngâm dụng cụ vào dung dịch khử

khuẩn ban đầu hay không?

(Câu hỏi MỘT lựa chọn)

Trang 38

găng tay nào để làm việc?

(Câu hỏi NHIỀU lựa chọn) 2 Găng tay vô khuẩn 3 Không cần mang

găng vì dụng cụ đã được ngâm sát khuẩn

Điểm thực hành của HSSV có tổng điểm ≥ 13 điểm (2/3 tổng số điểm tối đa) được coi là đạt về thực hành HSSV có tổng điểm thực hành < 13 điểm được coi là không đạt về thực hành

2.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

Nghiên cứu được thông qua Hội đồng đạo đức Trường Đại học Y tế công cộng theo quyết định số 135/2018/YTCC-HD3 với các nội dung nhằm đảm bảo nguyên tắc công bằng, trung thực và mang lại ích lợi cho cộng đồng, cụ thể:

+ Trước khi có thể tiến hành tiếp cận đối tượng thì nhóm nghiên cứu

sẽ giải thích đầy đủ lý do, mục đích nghiên cứu, nội dung nghiên cứu Nếu đối tượng chấp nhận ký vào biên bản tham gia đồng ý tham gia nghiên cứu thì nhóm tiến hành nghiên cứu trên nhóm đối tượng này

+ Các số liệu điều tra được mã hóa để đảm bảo tính bí mật thông tin 2.9 Sai số và biện pháp khắc phục

2.9.1 Sai số và hạn chế của nghiên cứu

Đề tài đánh giá thực hành thông qua phỏng vấn bằng bộ câu hỏi, nên

có những sai số khi SV có kiến thức về thực hành đúng (tức là biết phải thực hành như thế nào là đúng) nhưng thực tế lại không làm được như vậy Đồng thời, nghiên cứu chỉ đánh giá tại một thời điểm chứ không quan sát được nhiều lần thực hành của sinh viên Mà trên thực tế có những SV có thể thực hành tốt

ở lần này nhưng thực hành chưa tốt ở lần khác Hai lý do này dẫn đến tỷ lệ thực hành tốt ước lượng được có thể cao hoặc thấp hơn thực tế

2.9.2 Bi ện pháp khắc phục

HUPH

Trang 39

- Trước khi phát vấn chính thức, chúng tôi đã tiến hành thử nghiệm bộ câu hỏi, chỉnh sửa và hoàn thiện để hạn chế những sai sót

- Trong suốt quá trình trả lời cần phải được giám sát khách quan, trung thực (không trao đổi với nhau trong lúc trả lời phiếu phỏng vấn.)

HUPH

Trang 40

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung đối tượng tham gia nghiên cứu

Bảng 3.1: Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (n=263)

HUPH

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm