1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của cán bộ y tế xã trong giám sát véc tơ sốt xuất huyết dengue huyện gia lâm, hà nội năm 2018

115 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng và Một Số Yếu Tố Liên Quan Đến Kiến Thức, Thực Hành Của Cán Bộ Y Tế Xã Trong Giám Sát Véc-Tơ Sốt Xuất Huyết Dengue Huyện Gia Lâm, Hà Nội Năm 2018
Tác giả Nguyễn Thị Mai Phương
Người hướng dẫn PGS.TS Lã Ngọc Quang, PGS.TS Nguyễn Xuân Bái
Trường học Trường Đại học Y tế công cộng
Chuyên ngành Y tế cộng đồng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 5,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (14)
    • 1.1. Đại cương bệnh sốt xuất huyết Dengue (14)
    • 1.2. Giám sát và phòng chống (23)
    • 1.3. Một số nghiên cứu về sốt xuất huyết Dengue (26)
    • 1.4. Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu (31)
    • 1.5. Khung lý thuyết (36)
  • CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (38)
    • 2.1 Đối tƣợng nghiên cứu (38)
    • 2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu (38)
    • 2.3 Thiết kế nghiên cứu (38)
    • 2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu (38)
    • 2.5. Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu (39)
    • 2.8 Xử lý và phân tích số liệu (46)
    • 2.9. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu (47)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (48)
    • 3.1. Thông tin chung (48)
    • 3.2. Kiến thức và thực hành giám sát véc-tơ (49)
    • 3.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành giám sát véc-tơ (58)
  • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (64)
    • 4.1 Kiến thức và thực hành về giám sát véc-tơ phòng chống sốt xuất huyết của cán bộ y tế tuyến xã, huyện Gia Lâm (64)
    • 4.3. Bàn luận về hạn chế của nghiên cứu (72)
  • KẾT LUẬN (45)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (76)
  • PHỤ LỤC (80)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tƣợng nghiên cứu

CBYT xã, thị trấn đang công tác trên địa bàn, triển khai các hoạt động của chương trình phòng chống SXHD

Tiêu chuẩn lựa chọn cho các cán bộ y tế tuyến xã, thị trấn là những người đang công tác tại địa bàn và có ít nhất một khoảng thời gian triển khai hoạt động của chương trình phòng chống sốt xuất huyết.

1 năm và đã đƣợc tập huấn về điều tra côn trùng SXHD bao gồm cả nam và nữ

- Loại trừ các cán bộ tại xã/ thị trấn đang học dài hạn và nghỉ thai sản

- Cán bộ hợp đồng dưới một năm.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Tại 22 trạm y tế xã, thị trấn huyện Gia Lâm, Thành phố Hà Nội.

Thiết kế nghiên cứu

Áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang.

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng

Theo công thức tính cỡ mẫu cho xác định một tỷ lệ, cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu được ký hiệu là n Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn p = 0,5 để đảm bảo cỡ mẫu lớn nhất, mặc dù có nhiều nghiên cứu về kiến thức thực hành của người dân, nhưng chưa có tài liệu công bố về kiến thức thực hành giám sát véc-tơ của cán bộ y tế Ngoài ra, sai số tuyệt đối được chọn là d = 0,1 (10%).

Z: Hệ số tin cậy, với  = 0,05, Z (1 -  /2) = 1,96

Theo công thức đã nêu, cỡ mẫu tối thiểu cần thiết cho nghiên cứu là 97 người Sau khi áp dụng tỷ lệ 10% mẫu dự phòng để tính đến khả năng không gặp được đối tượng nghiên cứu hoặc từ chối tham gia, cỡ mẫu cuối cùng được xác định là 116 người.

Hiện tại, có 132 cán bộ đang công tác tại 22 xã/thị trấn Để phục vụ cho nghiên cứu, cỡ mẫu cần thiết là 116 người, vì vậy chúng tôi đã tiến hành chọn mẫu toàn bộ 132 cán bộ y tế tại các trạm y tế xã và thị trấn.

2.4.2 Cỡ mẫu cho quan sát đánh giá thực hành của CBYT tuyến xã, thị trấn:

Là số lƣợt thực hành tại hộ gia đình về giám sát véc-tơcủa CBYT, chọn theo phương pháp sau:

- Bước 1: Lập danh sách toàn bộ những hộ gia đình CBYT sẽ đi giám sát, điều tra bọ gậy

Để quan sát hành vi của cán bộ y tế (CBYT) trong việc giám sát véc-tơ, cần thực hiện quan sát không tham dự 03 hộ gia đình ngẫu nhiên trong mỗi thôn Với 132 cán bộ, tổng số hộ gia đình cần quan sát sẽ là 3 hộ/thôn x 132 cán bộ, tương đương với 369 hộ gia đình.

Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu

2.5.1- Cơ sở xây dựng công cụ thu thập số liệu:

Bộ công cụ đƣợc xây dựng dựa trên:

- QĐ 3711 ngày 19/9/2014 của BYT về việc ban hành hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh SXHD

- Quy trình giám sát véc-tơ thường xuyên: QTCT – CTĐV 05-13 của Viện Pasteur TPHCM

2.5.2- Công cụ thu thập số liệu:

2.5.2.1.Bộ công cụ đánh giá kiến thức về giám sát véc-tơ của CBYT tuyến xã, thị trấn: Để đánh giá kiến thức giám sát véc-tơ của đối tƣợng, nghiên cứu viên sử dụng bộ câu hỏi thiết kế sẵn và thu thập thông qua phỏng vấn ĐTNC Phiếu phỏng vấn kiến thức của CBYT tuyến xã, thị trấn gồm các nội dung:

- Thông tin chung về ĐTNC gồm 4 câu hỏi từ A1 đến A4 (tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác)

Điều kiện làm việc được đánh giá qua bốn câu hỏi từ B1 đến B4, bao gồm khối lượng công việc mà cán bộ đảm nhiệm, công việc chính của ĐTNC, sự quan tâm của lãnh đạo đối với nhân viên, và các dụng cụ, trang thiết bị phục vụ cho chuyên môn.

Công tác tập huấn và giám sát của CT PCSXHD bao gồm 4 câu hỏi chính: C1 về tập huấn nhắc lại, C2 về tập huấn nâng cao, C3 về giám sát thường quy, và C4 về giám sát đột xuất.

- Công tác khác đã triển khai tại địa phương gồn 3 câu từ câu D1 đế câu D3 (Dập dịch diện rộng, phun hóa chất chủ động vùng nguy cơ cao)

- Kiến thức của CBYT tuyến xã trong công tác giám sát véc-tơ gồm 16 câu hỏi từ E1 đến E16 bao gồm 4 nhóm biến sau:

Nhóm biến sinh học và sinh thái muỗi bao gồm 6 yếu tố quan trọng: nơi trú ẩn của muỗi, thời gian hoạt động của chúng, loại muỗi truyền bệnh, địa điểm đẻ trứng, thời gian trứng nở thành bọ gậy, và môi trường thuận lợi cho việc đẻ trứng của muỗi.

- Nhóm biến về nơi sống của bọ gây gồm 2 biến từ câu E7, E8 (DCCN ở trong nhà hay có bọ gậy Aedes, DCCN ở ngoài nhà hay có bọ gậy Aedes)

- Nhóm biến về điều tra véc-tơ gồm 2 câu E9, E10 (Thời điểm điều tra véc-tơ, dụng cụ tối thiểu cần thiết khi đi điều tra véc-tơ)

- Nhóm biến về giám sát véc-tơ gồm 6 câu từ E11 đến E16, E10 (biểu mẫu điều tra véc-tơ, cách tính các chỉ số điều tra)

(Chi tiết trong phụ lục 2)

2.5.2.2 Bộ công cụ đánh giá thực hành giám sát véc-tơcủa CBYT tuyến xã, thị trấn:

- Để đánh giá thực hành giám sát véc-tơ, nghiên cứu viên sử dụng bảng kiểm thực hành giám sát và thu thập số liệu thông qua quan sát

- Bảng kiểm thực hành giám sát véc-tơ của CBYT tuyến xã, thị trấn gồm 20 câu từ câu F1 đến F20 bao gồm 3 nhóm biến sau:

Nhóm biến về khả năng giám sát muỗi trưởng thành bao gồm 7 biến từ F1 đến F7, trong đó có việc chuẩn bị đầy đủ dụng cụ điều tra muỗi, soi đèn để tìm bắt muỗi, bắt muỗi cái, và bắt muỗi đậu nghỉ trong nhà Thời gian bắt muỗi tại mỗi nhà cũng được ghi nhận, cùng với việc soi bắt muỗi đủ số nhà Cuối cùng, nhóm còn hướng dẫn người dân các biện pháp phòng tránh muỗi đốt.

Nhóm biến về khả năng giám sát bọ gậy bao gồm 7 biến từ câu F8 đến F14, liên quan đến việc chuẩn bị đầy đủ dụng cụ điều tra bọ gậy, soi đèn khi kiểm tra các dụng cụ chứa nước, kiểm tra các dụng cụ chứa nước lớn và trong nhà, cũng như kiểm tra xung quanh nhà Ngoài ra, cần thực hiện việc đổ bỏ bọ gậy và hướng dẫn người dân bảo vệ DCCN không có lăng quăng.

Nhóm biến ghi chép thông tin trong phiếu điều tra bao gồm ba biến từ câu F15 đến F17, bao gồm việc ghi chép ngay khi điều tra hộ gia đình, tuân thủ quy định của chương trình, và đảm bảo ghi đầy đủ thông tin của hộ gia đình mà không bỏ sót các dụng cụ chứa nước.

Nhóm biến liên quan đến khả năng tính toán các chỉ số như DI, BI, HI, CI bao gồm ba biến từ câu F11 đến F13 Các chỉ số này được tính toán chính xác, đồng thời lưu giữ phiếu điều tra thô và tổng hợp kết quả theo mẫu quy định.

(Chi tiết trong phụ lục 5)

2.5.2.3 Phiếu khảo sát lăng quăng/bọ gậy tại thực địa,: Dành cho GS véc-tơ hàng tháng, BM 2.2 – QTEN – 2- 10 của bộ Y tế ( phụ lục 6)

2.5.2.4 Phiếu tổng kết lăng quăng/bọ gậy tại thực địa: Dành cho GS véc-tơ hàng tháng, BM 2.3 – QTEN – 2- 10 của bộ Y tế (phụ lục 7)

2.5.3- Phương pháp thu thập số liệu:

Bước 1: Thử nghiệm và hoàn thiện bộ công cụ:

- Trước khi đưa vào thực hiện, nhóm nghiên cứu thử nghiệm trước 5 bộ và chỉnh sửa cho phù hợp với đối tƣợng và địa bàn nghiên cứu

Bước 2: Tập huấn cho cán bộ điều tra

- Học viên cùng cán bộ chuyên trách khoa Dịch tễ tuyến Thành phố tổ chức tập huấn cho 100% điều tra viên tham gia điều tra nghiên cứu gồm 10 người:

05 người là cán bộ Khoa KSDB, HIV/AIDS của Trung tâm Y tế huyện Gia

Lâm (bao gồm học viên); 05 người của Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm (chọn cán bộ không tham gia trực tiếp trong công tác phòng chống SXHD)

Bước 3: Tiến hành điều tra

Nhóm điều tra viên gồm 10 thành viên, trong đó có 5 cán bộ từ khoa KSDB của Trung tâm Y tế Huyện Gia Lâm, bao gồm cả học viên, và 5 người còn lại là cán bộ của Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm, được lựa chọn không tham gia trực tiếp vào công tác phòng chống SXHD.

Mười điều tra viên được chia thành năm nhóm, mỗi nhóm gồm hai người, cùng với một cán bộ trạm y tế và một người dẫn đường từ 22 xã/thị trấn Tại mỗi xã, các nhóm tiến hành phỏng vấn cán bộ tại trạm y tế và quan sát thực hành điều tra véc-tơ tại các hộ gia đình.

Mỗi cán bộ y tế (CBYT) tại tuyến xã, thị trấn được khảo sát qua hai phần: đánh giá kiến thức về công tác giám sát véc-tơ và đánh giá thực hành giám sát véc-tơ Hai phần này được mã hóa bằng cùng một số trên một ĐTNC, dựa trên danh sách 132 CBYT xã/thị trấn do Trung tâm Y tế huyện Gia Lâm cung cấp, ví dụ như MKT1, MTH1 cho CBYT có số thứ tự 1, và tiếp tục cho đến MKT132, MTH132.

Đánh giá kiến thức của cán bộ y tế (CBYT) trong công tác giám sát véc-tơ được thực hiện thông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp, sử dụng bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn.

Tại mỗi trạm, nhóm nghiên cứu đã chọn thời điểm trong tuần để các điều tra viên, là cán bộ khoa KSDB của Trung tâm Y tế Gia Lâm, tiến hành phỏng vấn cán bộ y tế tuyến xã Mỗi điều tra viên sẽ phỏng vấn một cán bộ y tế riêng biệt, đảm bảo tính chính xác và khách quan trong quá trình thu thập dữ liệu.

* Phỏng vấn được thực hiện theo các bước sau:

- Bước 1: Giới thiệu về nghiên cứu và xác nhận các đối tượng tham gia nghiên cứu

- Bước 2: Thu thập thông tin chung của ĐTNC

Bước 3: Thu thập thông tin về kiến thức điều tra véc-tơ Các điều tra viên cần đọc câu hỏi mà không xem đáp án Họ sẽ giải thích cho ĐTNC nếu chưa hiểu câu hỏi, nhưng không được gợi ý về kết quả trả lời.

Nhóm đánh giá quan sát gồm 05 cán bộ từ trung tâm y tế huyện Gia Lâm, không tham gia trực tiếp vào công tác phòng chống sốt xuất huyết Họ đã chọn ngẫu nhiên 3 hộ gia đình từ danh sách điều tra của cán bộ y tế tuyến xã, thị trấn để thực hiện 3 lần giám sát cho mỗi cán bộ Mỗi quan sát viên theo dõi một cán bộ y tế, chọn vị trí quan sát phù hợp để không gây chú ý nhưng vẫn đảm bảo quan sát đầy đủ các hoạt động Mỗi cán bộ y tế được quan sát 3 lần, với thời gian khoảng 30 phút cho mỗi hộ Quan sát viên sử dụng bảng kiểm gồm 3 phần: đánh giá khả năng giám sát bọ gậy, ghi chép thông tin và khả năng tính toán các chỉ số véc-tơ của cán bộ y tế tuyến xã, thị trấn.

- Phần 3: Đánh giá khả năng tính chỉ số véc-tơ, báo cáo của CBYT:

Xử lý và phân tích số liệu

Sau khi thu thập, số liệu được kiểm tra và làm sạch, sau đó nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.0 và xử lý bằng SPSS 18.0 Thuật toán phân tích thống kê mô tả được áp dụng để xác định tần suất và tỷ lệ cho các biến phân loại, trong khi trung bình và độ lệch chuẩn được sử dụng để mô tả các biến định lượng.

Để nghiên cứu mối liên quan giữa các yếu tố như tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác và trách nhiệm trong công tác phòng chống SXHD với kiến thức và thực hành của cán bộ y tế tuyến xã về giám sát véc-tơ, chúng tôi đã áp dụng phân tích đơn biến và hồi quy logistic Các chỉ số Odds Ratio (OR), khoảng tin cậy 95% (95%CI) và mức ý nghĩa thống kê với p < 0,05 đã được tính toán.

Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức của trường Đại học Y tế công cộng phê duyệt với mã số 027/2018/YTCC – HD3 và nhận được sự chấp thuận từ lãnh đạo và Y tế địa phương Đối tượng nghiên cứu được thông báo rõ ràng về mục đích của nghiên cứu và chỉ được phỏng vấn khi đồng ý tham gia Tất cả thông tin thu thập chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, và thông tin cá nhân của đối tượng sẽ không được sử dụng trong phân tích và công bố kết quả.

Kết quả nghiên cứu đã được gửi đến các cơ quan chức năng địa phương, tạo nền tảng cho việc triển khai các biện pháp can thiệp nhằm hỗ trợ phòng chống bệnh SXHD tại huyện Gia Lâm.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thông tin chung

Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Các đặc điểm Số lƣợng

Tham gia trực tiếp làm công tác phòng chống SXHD

Thâm niên công tác < 10 năm 82 62,1

Số chương trình đang đảm nhiệm ≤ 2 31 23,5

Có đầy đủ dụng cụ, trang thiết bị phục vụ chuyên môn

Không 25 18,9 Đƣợc tập huấn lại Không 14 10,6

Có 118 89,4 Đƣợc tập huấn nâng cao Không 55 41,7

Hoạt động kiểm tra thường xuyên của tuyến huyện về công tác điều tra véc-tơ SXHD

Theo bảng 3.1, phần lớn đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) có độ tuổi từ 25 trở lên, với nhóm tuổi 25 đến 35 chiếm 56,8% và nhóm trên 35 tuổi chiếm 40,9% Đối tượng khảo sát chủ yếu là nữ giới (74,5%) và có thâm niên công tác từ 5 đến 10 năm (48,5%) Mặc dù tỷ lệ cán bộ có thâm niên công tác từ 16 đến 20 năm chỉ chiếm 1,5%, nhưng tỷ lệ cán bộ có thâm niên trên 20 năm lại khá cao, đạt 24,2%.

Về điều kiện làm việc của ĐTNC, đa phần các cán bộ đều đảm nhiệm 2

Chương trình HUPH cho thấy 58,3% cán bộ có trình độ trở lên, trong khi 23,5% và 18,2% cán bộ đảm nhiệm các chương trình 1 và 2 Cán bộ không trực tiếp làm CTPCSXHD chiếm 58,3%, trong khi 41,7% có tham gia trực tiếp Hầu hết cán bộ được trang bị đầy đủ dụng cụ và thiết bị cần thiết (81,1%), và đa số đã được tập huấn nhắc lại (68,2%) Công tác kiểm tra thường quy từ tuyến trên (tuyến huyện) diễn ra chủ yếu hai quý một lần (58,3%), và 87,1% việc kiểm tra đột xuất từ tuyến trên (tuyến tỉnh, huyện) cũng được thực hiện hai quý một lần.

CT PCSXHD đã thực hiện các công tác dập dịch trên diện rộng, chiếm 79,5%, và phun hóa chất chủ động tại các vùng nguy cơ, đạt 87,1% Tuy nhiên, chỉ có 54,5% số xã nằm trong vùng dự báo dịch theo Quyết định 02 của Bộ Y tế, trong khi 45,5% số xã còn lại không nằm trong vùng này.

Kiến thức và thực hành giám sát véc-tơ

3.2.1 Kiến thức về sinh học, sinh thái muỗi

Biểu đồ 3.1 Kiến thức về sinh học, sinh thái muỗi

Theo biểu đồ 3.1, đa số cán bộ y tế (CBYT) có kiến thức về sinh học và sinh thái của muỗi, với hơn 90% CBYT nhận thức được các bệnh do muỗi truyền và nơi đẻ trứng của chúng Tuy nhiên, chỉ hơn 50% CBYT biết về nơi trú ẩn của muỗi, và một tỷ lệ nhỏ (31,8%) không nắm rõ thời gian trứng nở thành bọ gậy.

Biết về nơi trú nghỉ của muỗi

Biết thời gian muỗi hoạt động

Biết nơi đẻ trứng của muỗi

Biết thời gian trứng nở thành bọ gậy

Biết môi trường thuận lợi cho muỗi đẻ trứng Kiến thức không đạt Kiến thức đạt

Biểu đồ 3.2 cho thấy 81,1% cán bộ y tế (CBYT) có kiến thức đầy đủ về sinh học và sinh thái của muỗi, trong khi gần 20% CBYT cần củng cố thêm kiến thức về loại véc-tơ truyền bệnh nguy hiểm này.

3.2.2 Kiến thức về kiến thức về nơi sống của véc-tơ

Bảng 3.2 Kiến thức của các CBYT về nơi sống của bọ gậy

Biết nơi sống của bọ gậy Số lƣợng

Biết về các DCCN trong nhà 60 45,4

Cho rằng ở bất kỳ DCCN nào ở trong nhà 72 54,6 Ở hốc cây, kẽ bẹ lá, chai lọ, vỏ xe 24 18,2 Ở thùng phuy, chum vại ngoài trời 15 11,4

Bất cứ DCCN nào ở ngoài trời 93 70,4

Kết quả từ bảng 3.2 cho thấy gần 55% cán bộ y tế (CBYT) cho rằng bọ gậy Aedes có thể sống trong bất kỳ điều kiện nào trong nhà, trong khi tỷ lệ này ở môi trường ngoài còn cao hơn, đạt 70,4% Điều này chỉ ra rằng một tỷ lệ đáng kể CBYT chưa nắm vững kiến thức về nơi sống của bọ gậy Aedes, điều này là rất quan trọng để tham gia hiệu quả vào công tác phòng chống sốt xuất huyết trong cộng đồng.

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ phần trăm kiến thức đạt về nơi sống của bọ gậy

Kết quả từ biểu đồ 3.3 cho thấy chỉ có 15% cán bộ y tế được hỏi có hiểu biết đầy đủ về nơi sinh sống của bọ gậy Aedes, trong khi 85% còn lại thiếu kiến thức cơ bản quan trọng này.

3.2.3 Kiến thức về điều tra véc-tơ

Bảng 3.3 Kiến thức của các CBYT về thời điểm và dụng cụ điều tra

Thời điểm và dụng cụ điều tra Số lƣợng (n2) Tỷ lệ (%)

Dụng cụ nhƣ đèn pin, vợt, kính lúp, ống tupe, biểu mẫu 120 90,9

Dụng cụ nhƣ cá, muối 2 1,5

Dụng cụ là vợt, kính lúp, ống tupe, biểu mẫu 10 7,6

Kết quả khảo sát cho thấy 55,0% cán bộ y tế (CBYT) có thể thực hiện điều tra bọ gậy cả sáng lẫn chiều, trong khi chỉ 9 CBYT, tương đương gần 7%, cho rằng nên điều tra vào buổi chiều Đối với dụng cụ cần thiết, 90,9% CBYT khuyến nghị mang theo đèn pin, vợt, kính lúp, ống tube và các biểu mẫu thu thập thông tin.

Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ phần trăm kiến thức đạt về thời điểm và dụng cụ điều tra

Kết quả từ biểu đồ 3.4 cho thấy 47,7% cán bộ y tế (CBYT) có hiểu biết đầy đủ về điều tra véc-tơ sản xuất hàng hóa.

3.2.4 Kiến thức về biểu mẫu và đánh giá các chỉ số giám sát véc-tơ

Biểu đồ 3.5 Kiến thức về biểu mẫu và đánh giá các chỉ số

Theo biểu đồ 3.5, 52,2% cán bộ y tế (CBYT) biết về biểu mẫu điều tra véc-tơ, trong khi 46,9% biết về biểu mẫu tổng hợp báo cáo Về khả năng tính toán các chỉ số, tỷ lệ biết cách tính chỉ số DCCN có bọ gậy CI đạt 78,7%, chỉ số nhà có bọ gậy HI là 67,4%, chỉ số mật độ DI là 84,8%, và chỉ số DCCN có bọ gậy Aedes trong 30 nhà điều tra (BI) là 86,3% Dựa vào tiêu chuẩn cho điểm, tỷ lệ phần trăm CBYT có kiến thức đạt về biểu mẫu và đánh giá các chỉ số là 68,3%.

Biết BM điều tra véc-tơ

Biết BM tổng hợp báo cáo

Biết tính chỉ số BI

Biết tính chỉ số mật độ HI

Biết tính chỉ số CI

Biết tính chỉ số DI

3.2.5 Đánh giá kiến thức chung của ĐTNC về giám sát véc-tơ

Biểu đồ 3.6 Kiến thức về giám sát véc-tơ

Kết quả đánh giá cho thấy kiến thức về giám sát véc-tơ của cán bộ y tế tuyến xã/thị trấn chỉ đạt 28,8% Điều này có nghĩa là trong số 10 cán bộ được khảo sát, trung bình chỉ có 3 cán bộ nắm vững kiến thức, trong khi 7 cán bộ còn thiếu hiểu biết và cần được cập nhật thêm thông tin.

3.2.6 Kết quả đánh giá thực hành giám sát véc-tơ

Bảng 3.4 Kết quả đánh giá thực hành giám sát muỗi trưởng thành của CBYT

Có chuẩn bị đầy đủ dụng cụ điều tra muỗi 32 24,2

Soi đèn khi bắt muỗi trưởng thành 58 43,9

Chỉ soi bắt muỗi cái 4 3,0

Bắt muỗi đậu nghỉ trong nhà 45 34,1

Bắt muỗi đủ 15 phút tại mỗi nhà 15 11,4

Soi bắt muỗi đủ 30 nhà tại 1 điểm điều tra 25 18,9 Hướng dẫn người dân phòng tránh muỗi đốt 94 71,2

Kết quả bảng 3.4 cho thấy có 71,2% cán bộ biết hướng dẫn người dân phòng

HUPH cho thấy rằng 43,9% người dân biết cách soi đèn để bắt muỗi trưởng thành, tuy nhiên chỉ có 11,4% cán bộ thực hiện việc bắt muỗi đủ 15 phút tại mỗi hộ gia đình Đáng chú ý, chỉ có 3% cán bộ chú trọng vào việc soi bắt muỗi cái.

Biểu đồ 3.7 Tỷ lệ phần trăm thực hành đúng về giám sát muỗi trưởng thành

Số liệu trình bày trong biểu đồ 3.7, kỹ năng thực hành giám sát muỗi trưởng thành của CBYT đạt chỉ chiếm 17,4%

Bảng 3.5 Kết quả đánh giá khả năng giám sát bọ gậy đạt của CBYT

Có chuẩn bị đầy đủ dụng cụ điều tra bọ gậy 37 28,0

Soi đèn khi kiểm tra DCCN 86 65,2

Có kiếm tra DCCN lớn 59 44,7

Có kiểm tra DCCN trong nhà 46 34,8

Có kiểm tra, tìm kiếm các dụng cụ phế thải 43 32,6 Đổ bỏ bọ gậy sau khi tìm thấy 51 38,6

Hướng dẫn người dân bảo vệ DCCN không có bọ gậy 112 84,8

Theo đánh giá khả năng giám sát bọ gậy của cán bộ y tế, có 84,8% cán bộ đã hướng dẫn người dân bảo vệ dụng cụ chứa nước không có bọ gậy, và 65,2% thực hiện soi đèn khi kiểm tra Tuy nhiên, tỷ lệ chuẩn bị đầy đủ dụng cụ điều tra bọ gậy vẫn còn thấp, chỉ đạt 28%.

Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ phần trăm thực hành đạt về giám sát bọ gậy

Kết quả đánh giá kỹ năng thực hành giám sát bọ gậy cho thấy chỉ khoảng 30% cán bộ y tế (CBYT) trong nghiên cứu này có đủ kỹ năng để thực hiện công việc này Ngược lại, gần 70% CBYT vẫn chưa đạt được các kỹ năng cần thiết cho việc giám sát bọ gậy.

Bảng 3.6 Kết quả đánh giá khả năng ghi chép thông tin

Nội dung Số lƣợng(n2) Tỷ lệ (%)

Ghi chép ngay khi điều tra hộ gia đình 77 58,3

Ghi chép đúng theo quy định của chương trình 119 90,2

Ghi chính xác các thông tin của hộ gia đình, không bỏ sót các dụng cụ chứa nước 63 47,7

Kết quả từ bảng 3.6 cho thấy rằng 90,2% cán bộ y tế (CBYT) thực hiện ghi chép đúng theo quy định của chương trình Tuy nhiên, chỉ có 58,3% cán bộ ghi chép ngay sau khi điều tra hộ gia đình, và tỷ lệ ghi chính xác thông tin, không bỏ sót dữ liệu cá nhân (DCCN) đạt mức thấp nhất là 47,7%.

Biểu đồ 3.9 Tỷ lệ phần trăm thực hành đúng ghi chép khi giám sát

Biểu đồ 3.9 cho thấy rằng 53% cán bộ y tế tuyến xã/thị trấn đạt kỹ năng ghi chép sau khi giám sát, tuy nhiên, vẫn còn 47% chưa thực hiện đầy đủ theo yêu cầu chuyên môn của chương trình phòng chống SXHD.

Bảng 3.7 Kết quả đánh giá khả năng tính chỉ số đạt của CBYT

Tính đúng chỉ số DI 112 84,8

Tính đúng chỉ số BI 114 86,4

Tính đúng chỉ số HI 89 67,4

Tính đúng chỉ số CI 104 78,8

Có lưu lại phiếu điều tra thô theo đúng quy định chương trình 121 91,7

Ghi chép đúng theo quy định của chương trình 120 90,9

Có bảng tổng hợp kết quả chỉ số theo mẫu tổng hợp 120 90,9

Tỷ lệ cán bộ y tế (CBYT) thực hiện phiếu điều tra theo quy định chương trình đạt 91,7%, trong khi tỷ lệ cán bộ có bảng tổng hợp kết quả đúng mẫu là 90,9% Khả năng tính toán các chỉ số DI và BI đều cao, trên 80%, nhưng chỉ số HI có khả năng tính thấp nhất với 67,4%.

Biểu đồ 3.10 Tỷ lệ phần trăm thực hành đạt về tính chỉ số

Kết quả đánh giá thực hành cho thấy khả năng tính chỉ số véc-tơ chỉ đạt gần 43% Đáng chú ý, khoảng 58% cán bộ y tế tuyến xã/thị trấn vẫn chưa đạt yêu cầu về kỹ năng tính toán Khoảng trống thực hành này cần được khắc phục bằng các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cho nhóm đối tượng này.

Biểu đồ 3.11 Đánh giá chung về thực hành giám sát véc-tơ

Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành giám sát véc-tơ

Bảng 3.8 Phân tích đơn biến các yếu tố liên quan đến kiến thức

Các yếu tố Không đạt

Trực tiếp làm công tác PCSXHD: n (%)

Số lượng chương trình tham gia: n (%)

Có 85 (90,4) 33 (86,8) Đƣợc tập huấn nâng cao: n (%)

Các yếu tố Không đạt

† Sử dụng test chi bình phương

Kết quả từ bảng 3.8 cho thấy không có yếu tố nào liên quan đến tình trạng hiểu biết hiện tại của các cán bộ y tế (CBYT) tuyến xã/thị trấn về giám sát véc tơ Kiến thức giữa nhóm CBYT nam và nữ không có sự khác biệt (OR=1,01) Tuy nhiên, nhóm CBYT trên 35 tuổi có kiến thức về giám sát véc tơ thấp hơn 1,75 lần so với nhóm dưới 35 tuổi, mặc dù chưa đạt ý nghĩa thống kê Các yếu tố như trực tiếp làm công tác phòng chống sốt xuất huyết, số chương trình kiêm nhiệm ít (dưới 2 chương trình), và tham gia tập huấn cơ bản đều cho thấy hiểu biết tốt hơn, nhưng chưa có mối liên hệ rõ ràng khi phân tích đơn biến Đặc biệt, yếu tố tham gia tập huấn nâng cao gần đạt mức ý nghĩa thống kê với p = 0,059, cho thấy hiểu biết về giám sát cao hơn 2,16 lần so với nhóm không được tập huấn nâng cao.

Bảng 3.9 Phân tích hồi quy logistic đa biến yếu tố liên quan đến kiến thức chung

Các yếu tố Không đạt

Trực tiếp làm công tác PCSXHD: n

Số lượng chương trình tham gia: n (%)

> 2 chương trình 72 (76,6) 29 (76,3) 1,08 (0,42 - 2,79) Đƣợc tập huấn lại: n (%)

Có 85 (90,4) 33 (86,8) 0,51 (0,13 - 1,94) Đƣợc tập huấn nâng cao: n (%)

Sử dụng kiểm định logistic hồi quy đa biến, tỷ suất chênh (OR) được tính toán sau khi đã kiểm soát các yếu tố nhiễu như tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, số lượng chương trình tham gia, việc được tập huấn lại và tập huấn nâng cao Kết quả cho thấy có ý nghĩa thống kê với mức p = 0,03.

Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy các yếu tố liên quan đến kiến thức của CBYT tuyến cơ sở về giám sát véc-tơ không thay đổi nhiều so với phân tích đơn biến Đặc biệt, nhóm CBYT không tham gia tập huấn nâng cao có mối tương quan thống kê rõ ràng với p=0,037 so với nhóm đã tham gia, với kiến thức chung của nhóm không tham gia thấp hơn gấp 2,68 lần Các yếu tố khác chưa cho thấy tác động rõ ràng đến kiến thức hiện tại về giám sát SXHD của CBYT tuyến cơ sở.

Bảng 3.10 Phân tích đơn biến các yếu tố liên quan đến kỹ năng thực hành

Các yếu tố Không đạt

Các yếu tố Không đạt

Trực tiếp làm công tác

Số lượng chương trình tham gia: n (%)

> 2 chương trình 83 (82,2) 18 (17,8) Đƣợc tập huấn lại: n (%)

Có 95 (80,5) 23 (19,5) Đƣợc tập huấn nâng cao: n (%)

† Sử dụng test chi bình phương

Bảng 3.10 chỉ ra rằng các yếu tố nghiên cứu chưa thể hiện mối liên quan rõ ràng với tình trạng thực hành đạt yêu cầu Trong phân tích, chỉ có 25 trong số 132 người đạt yêu cầu, trong khi 107 người, chiếm hơn 80%, vẫn chưa đạt yêu cầu về thực hành giám sát Đặc biệt, tỷ lệ nam giới có thực hành không đạt là cao.

HUPH ở nam giới cao gấp 1,55 lần so với nữ giới, trong khi những người trên 35 tuổi có thực hành không đạt cao hơn nhóm dưới 35 tuổi gấp 2,01 lần, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê Các yếu tố như làm trực tiếp chương trình phòng chống SXHD, thâm niên công tác, số chương trình phụ trách và tham gia các lớp tập huấn không cho thấy mối quan hệ có ý nghĩa thống kê với thực hành giám sát véc-tơ của CBYT trong nghiên cứu này.

Bảng 3.11 Phân tích hồi quy logistic đa biến số yếu tố với thực hành chung

Các yếu tố Không đạt

Trực tiếp làm công tác PCSXHD: n(%)

Số lượng chương trình tham gia: n(%)

> 2 chương trình 83 (77,6) 18 (72,0) 0,82 (0,29 - 2,31) Đƣợc tập huấn lại: n(%)

Có 95 (88,8) 23 (92,0) 1,33 (0,24 - 7,24) Đƣợc tập huấn nâng cao: n(%)

Các yếu tố Không đạt

Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phương pháp hồi quy logistic đa biến để so sánh các nhóm Tỷ suất chênh (OR) được tính toán sau khi đã kiểm soát các yếu tố nhiễu như tuổi tác, giới tính, thâm niên công tác, số lượng chương trình tham gia, việc được tập huấn lại, tập huấn nâng cao và kiến thức chung.

Kết quả phân tích hồi quy đa biến cho thấy chưa có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi, giới tính, thâm niên công tác và các yếu tố khác Mặc dù giới, tuổi, công tác trực tiếp, thâm niên và việc được tập huấn có liên quan đến kỹ năng thực hành giám sát véc-tơ, nhưng chưa quan sát thấy ý nghĩa thống kê trong nghiên cứu này Tuy nhiên, cán bộ có kiến thức tốt có thể có khả năng thực hành cao hơn, nhưng quan sát này cần được kiểm định trong một khảo sát với cỡ mẫu lớn hơn (OR=1,44, p=0,44).

BÀN LUẬN

Kiến thức và thực hành về giám sát véc-tơ phòng chống sốt xuất huyết của cán bộ y tế tuyến xã, huyện Gia Lâm

Kiến thức về môi trường và sinh thái muỗi rất quan trọng đối với cán bộ y tế (CBYT) trong công tác phòng chống dịch sốt xuất huyết (SXHD), giúp điều tra và dự báo nguy cơ bùng phát dịch tại địa phương Nghiên cứu cho thấy chỉ có 52,3% CBYT biết nơi trú ngụ của muỗi là cả trong và ngoài nhà, thấp hơn so với 87,3% trong nghiên cứu của Lê Đăng Ngạn về bọ gậy Aedes aegypti Sự khác biệt này có thể do đặc điểm vùng miền và thói quen sử dụng dụng cụ chứa nước khác nhau Hơn nữa, chỉ 31,8% CBYT biết thời gian trứng nở thành bọ gậy, điều này có thể là nguyên nhân làm tăng chỉ số côn trùng tại địa phương và nguy cơ bùng phát dịch như năm 2017.

Muỗi Aedes aegypti thường đẻ trứng ở những nơi có nước sạch như chum vại, lọ hoa trong nhà và các hốc cây chứa nước mưa Có 82,6% cán bộ hiểu biết về nơi đẻ trứng của muỗi trong và ngoài nhà So với nghiên cứu của Lê Đăng Ngạn, bọ gậy Aedes aegypti chủ yếu tập trung ở dụng cụ chứa nước trong nhà như lu (87,3%) và phi, xô thùng (6,5%) Kết quả nghiên cứu của Đỗ Kiến Quốc cho thấy tỷ lệ này là 79,47% Những con số này phản ánh thực trạng hiểu biết về muỗi, trong khi tỷ lệ tập huấn cho cán bộ y tế tại địa bàn đạt 68,2%, thấp hơn so với các huyện miền núi (44,8% và 14,6%).

Hiểu biết đúng về thời gian giám sát bọ gậy và chuẩn bị dụng cụ đầy đủ là yếu tố quan trọng giúp cán bộ y tế (CBYT) đánh giá chính xác nguy cơ bùng phát dịch bệnh tại địa phương Nghiên cứu cho thấy 54,5% CBYT nắm rõ thời điểm giám sát véc-tơ, trong khi 90,9% biết các dụng cụ tối thiểu cần thiết cho điều tra Hơn nữa, 60% CBYT biết biểu mẫu hướng dẫn giám sát bọ gậy của Bộ Y tế, và 30% biết biểu mẫu hướng dẫn tổng hợp bọ gậy Kết quả này chỉ ra rằng đội ngũ CBYT cần chú trọng hơn vào việc cập nhật thông tin.

Kết quả khảo sát cho thấy, trong số cán bộ y tế (CBYT), tỷ lệ biết cách tính chỉ số CI đạt 60%, chỉ số HI và DI là 50%, trong khi chỉ số BI chỉ đạt 40% Mặc dù kết quả này phản ánh đúng tình hình thực tế tại địa phương, khi chỉ có 41,7% CBYT tham gia trực tiếp vào công tác phòng chống sốt xuất huyết (SXHD), nhưng vẫn thấp hơn so với nghiên cứu của Đỗ Kiến Quốc, trong đó chỉ số BI đạt 87%, chỉ số HI là 39,7% và CI chỉ đạt 14,64% Sự khác biệt này có thể được giải thích bởi đối tượng nghiên cứu của Đỗ Kiến Quốc là cộng tác viên (CTV) của chương trình SXH, những người đã được tập huấn đầy đủ và thường xuyên cập nhật thông tin.

Chỉ có 28,8% cán bộ y tế tuyến xã có kiến thức chung về giám sát đạt yêu cầu, thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Nguyễn Hữu Phúc (75%) và Đỗ Kiến Quốc (66,2%) Nguyên nhân có thể do nghiên cứu này sử dụng bảng điểm với 16 câu hỏi, bao quát toàn bộ các vấn đề về giám sát, dẫn đến tỷ lệ thấp hơn Hơn nữa, vai trò giám sát véc-tơ sốt xuất huyết của cán bộ y tế tuyến xã không phải là ưu tiên trong thời gian không có dịch bệnh bùng phát.

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ giám sát muỗi trưởng thành của cán bộ y tế (CBYT) còn thấp, với chỉ 43,9% CBYT sử dụng đèn khi bắt muỗi, 24,2% chuẩn bị đầy đủ dụng cụ giám sát, và 34,1% bắt được muỗi trong nhà Tỷ lệ CBYT thực hiện bắt muỗi đủ thời gian và số lượng tại mỗi nhà chỉ đạt 11,4% và 18,9% Đáng chú ý, 3,0% CBYT chỉ bắt muỗi cái Mặc dù vậy, 71,2% CBYT đã hướng dẫn người dân cách phòng tránh muỗi đốt Các tỷ lệ này đều thấp hơn so với nghiên cứu gần đây tại tỉnh Lâm Đồng, nơi có 76,0% CBYT chuẩn bị đầy đủ dụng cụ như đèn pin và vợt, và 85,4% sử dụng đèn pin trong điều tra Sự khác biệt này có thể do hai nghiên cứu được thực hiện ở các vùng miền khác nhau.

Sự gần gũi và thuận tiện của các xã phường Hà Nội với tuyến huyện, tỉnh đã dẫn đến việc hỗ trợ kỹ thuật chủ yếu từ tuyến trên Ngược lại, tại Lâm Đồng, một tỉnh trung du miền núi, khoảng cách giữa các xã và huyện gây khó khăn, buộc cán bộ y tế tuyến xã phải nỗ lực hơn để hoàn thành nhiệm vụ mà không thể phụ thuộc nhiều vào tuyến trên.

Khả năng thực hành giám sát bọ gậy của cán bộ y tế tuyến xã còn hạn chế, với 72% không có đủ dụng cụ giám sát Chỉ 65,2% cán bộ y tế sử dụng đèn khi kiểm tra DCCN, và 44,7% kiểm tra bọ gậy ở những DCCN lớn, trong khi chỉ 38,6% thực hiện việc đổ bỏ bọ gậy sau khi phát hiện Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu năm 2017 của Nguyễn Thị Thương Diễm tại Lâm Đồng, nơi có 85,4% cán bộ y tế sử dụng đèn pin và 58,8% thực hiện đổ bỏ DCCN có bọ gậy So với nghiên cứu của Lê Đăng Ngạn, tỷ lệ kiểm tra bọ gậy ở DCCN lớn trong nghiên cứu này cũng thấp hơn (87,3%), nhưng cao hơn so với nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Ngọc tại Bình Dương (32%) Việc thiếu kỹ năng giám sát cần thiết có thể dẫn đến nguy cơ bùng phát dịch và lây lan bệnh sốt xuất huyết trên diện rộng.

Chỉ có 34,8% cán bộ y tế (CBYT) thực hiện kiểm tra dụng cụ chứa nước (DCCN) trong nhà, và 32,6% kiểm tra dụng cụ phế thải Mặc dù tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thương Diễm năm 2017 (62,8%), nhưng lại cao hơn một chút so với nghiên cứu của Phạm Thị Thúy Ngọc tại Bình Dương (23%) và Nguyễn Hữu Phúc tại Lâm Đồng (23,4%) Các nghiên cứu cho thấy sự khác biệt về nhận thức và kỹ năng thực hành giữa các địa bàn khác nhau do đặc điểm dịch sốt xuất huyết (SXH) và yếu tố môi trường, sinh cảnh, cũng như tập quán sinh hoạt Hơn nữa, chính sách tập huấn, giám sát hỗ trợ kỹ thuật và mức độ quan tâm của lãnh đạo tuyến trên đối với CBYT cơ sở cũng có sự khác biệt, dẫn đến tỷ lệ thực hành không đồng nhất dù phương pháp nghiên cứu tương tự.

Chỉ hơn một nửa số CBYT thực hiện ghi chép thông tin ngay tại hộ gia đình, đạt 58,3%, và chỉ 44,7% ghi chép chính xác các thông tin mà không bỏ sót dụng cụ chứa nước Tuy nhiên, 90,2% CBYT đã ghi chép đúng theo quy định của chương trình Tỷ lệ ghi chép thông tin tại hộ gia đình thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thương Diễm (95,8%) Đa số CBYT ghi chép đầy đủ và đúng quy định, với 90,9% có bảng tổng hợp kết quả chỉ số theo mẫu và 91,7% lưu lại phiếu điều tra thô Kết quả này phù hợp với nghiên cứu tại tỉnh Lâm Đồng năm 2017 và nhận định của Tổ chức Y tế thế giới về kiểm soát véc-tơ.

Phần lớn cán bộ y tế (CBYT) đã tính đúng các chỉ số đánh giá, với tỷ lệ thấp nhất đạt 67,4% Trong đó, tỷ lệ tính đúng chỉ số HI là 67,4%, trong khi chỉ số BI có tỷ lệ tính đúng cao nhất, lên tới 86,4%.

Tỉ lệ CBYT tính đúng chỉ số DI và CI lần lượt đạt 84,8% và 78,8%, cao hơn so với các nghiên cứu trước đây của Đỗ Kiến Quốc (CI: 14,64% và HI: 39,07%) và Nguyễn Thị Thương Diễm (BI: 66,7%, CI: 49,0% và HI: 39,6%) Một số yếu tố như sự xuất hiện của dịch lớn có thể ảnh hưởng đến khả năng tính toán chỉ số giám sát của CBYT, khi các CBYT xã mới được huy động tham gia và bắt đầu làm quen với việc tính toán các chỉ số này Theo quyết định 3711/QĐ-BYT ngày 19/9/2014 của Bộ Y tế, chương trình giám sát SXH không đủ kinh phí, chỉ thực hiện giám sát tại một xã ở một tỉnh, dẫn đến tỉ lệ thực hành của CBYT tuyến xã đạt thấp.

Kết quả thực hành giám sát véc-tơ cho thấy chỉ có 28,8% cán bộ y tế (CBYT) thực hành đạt yêu cầu Trong đó, 4 trên 5 hạng mục thực hành có tỷ lệ CBYT đạt thấp hơn tỷ lệ không đạt Chỉ có phần thực hành ghi chép có tỷ lệ CBYT đạt cao hơn, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thương Diễm (43,7%) và Đỗ Kiến Quốc (36,4%).

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng ở những khu vực miền Nam, nơi có dịch SXHD lưu hành hàng năm, cán bộ y tế (CBYT) có mối quan tâm và kinh nghiệm làm việc tốt hơn so với các vùng khác Điều này cũng phản ánh tỷ lệ đạt thực hành giám sát trong nghiên cứu này.

4.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành về giám sát véc-tơ phòng chống sốt xuất huyết của cán bộ y tế tuyến xã, huyện Gia Lâm

4.2.1 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về giám sát véc-tơ phòng chống sốt xuất huyết

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y tế (2014), Hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh sốt xuất huyết Dengue (Ban hành kèm theo Quyết định số 3711/QĐ-BYT Ngày 19/9/2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh sốt xuất huyết Dengue
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2014
2. Lê Đăng Ngạn (2014), "Đặc điểm ổ bọ gậy nguồn của muỗi Aedes truyền bệnh sốt xuất huyết tại tỉnh Tiền Giang", Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 20(5), tr. 19-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm ổ bọ gậy nguồn của muỗi Aedes truyền bệnh sốt xuất huyết tại tỉnh Tiền Giang
Tác giả: Lê Đăng Ngạn
Nhà XB: Y học Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2014
3. Nguyễn Hữu Phúc (2015), Đánh giá hiệu quả hoạt động của CB tuyến cơ sở dựa trên kiến thực và thực hành về giám sát bọ gậy phòng chống bệnh sốt xuất huyết tại huyện Đạ Huoai, tinh Lâm Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả hoạt động của CB tuyến cơ sở dựa trên kiến thực và thực hành về giám sát bọ gậy phòng chống bệnh sốt xuất huyết tại huyện Đạ Huoai, tinh Lâm Đồng
Tác giả: Nguyễn Hữu Phúc
Năm: 2015
4. Sở Y tế Hà Nội (2017), Công văn 158/SYT - NVY ngày 01/08/2017 của Sở Y tế Hà nội về việc thành lập Đội xung kích diệt bọ gậy chống dịch sốt xuất huyết và Tổ giám sát phòng, chống dịch sốt xuất huyết, Sở Y tế Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn 158/SYT - NVY ngày 01/08/2017 của Sở Y tế Hà nội về việc thành lập Đội xung kích diệt bọ gậy chống dịch sốt xuất huyết và Tổ giám sát phòng, chống dịch sốt xuất huyết
Tác giả: Sở Y tế Hà Nội
Nhà XB: Sở Y tế Hà Nội
Năm: 2017
5. Thành ủy Hà Nội (2017), Công văn 698/CV-TU ngày 31/07/2017 của Thành ủy Hà Nội, Thành ủy Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn 698/CV-TU ngày 31/07/2017 của Thành ủy Hà Nội
Tác giả: Thành ủy Hà Nội
Nhà XB: Thành ủy Hà Nội
Năm: 2017
6. Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội (2017), Chỉ thị số 13/CT-UBND ngày 11/7/2017 về tăng cường công tác phòng chống sốt xuất huyết trên địa bàn Hà Nội, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 13/CT-UBND ngày 11/7/2017 về tăng cường công tác phòng chống sốt xuất huyết trên địa bàn Hà Nội
Tác giả: Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội
Nhà XB: Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội
Năm: 2017
7. Bộ Y tế (2010), Thông tƣ 48/2010/TT-BYT của Bộ Y tế ban hành ngày 31/12/2010 về việc hướng dẫn chế độ khai báo, thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tƣ 48/2010/TT-BYT của Bộ Y tế ban hành ngày 31/12/2010 về việc hướng dẫn chế độ khai báo, thông tin, báo cáo bệnh truyền nhiễm
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2010
8. Cục Y tế dự phòng (2014), Báo cáo dự án phòng chống SD/SXHD quốc gia, Dự án phòng chống SD/SXHD quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo dự án phòng chống SD/SXHD quốc gia
Tác giả: Cục Y tế dự phòng
Nhà XB: Dự án phòng chống SD/SXHD quốc gia
Năm: 2014
9. Cục Y tế dự phòng (2017), Báo cáo dự án phòng chống SD/SXHD quốc gia, Dự án phòng chống SD/SXHD quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo dự án phòng chống SD/SXHD quốc gia
Tác giả: Cục Y tế dự phòng
Nhà XB: Dự án phòng chống SD/SXHD quốc gia
Năm: 2017
10. Đặng Thị Kim Hạnh, Nguyễn Nhật Cảm và Vũ Sinh Nam (2008), "Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến quần thể muỗi truyền bệnh sốt dengue/sốt xuất huyết dengue tại hai phường Thịnh Liệt và Trần Phú. Quận Hoàng Mai, Tp. Hà Nội, năm 2007", Tạp chí Y học Thực Hành, 8, tr. 45-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến quần thể muỗi truyền bệnh sốt dengue/sốt xuất huyết dengue tại hai phường Thịnh Liệt và Trần Phú. Quận Hoàng Mai, Tp. Hà Nội, năm 2007
Tác giả: Đặng Thị Kim Hạnh, Nguyễn Nhật Cảm, Vũ Sinh Nam
Nhà XB: Tạp chí Y học Thực Hành
Năm: 2008
11. Đinh Thị Vân Anh và các cộng sự. (2011), "Đặc điểm dịch tễ học của vụ dịch sốt xuất huyết tại huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tình, 2010", Tạp chí Y học dự phòng 2 (120)(XXI), tr. 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm dịch tễ học của vụ dịch sốt xuất huyết tại huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tình, 2010
Tác giả: Đinh Thị Vân Anh, các cộng sự
Nhà XB: Tạp chí Y học dự phòng
Năm: 2011
12. Đỗ Kiến Quốc và cộng sự (2012), "Đánh giá tác động của cộng tác viên lên nhận thức và thực hành phòng chống sốt xuât huyết tại khu vực phía Nam&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá tác động của cộng tác viên lên nhận thức và thực hành phòng chống sốt xuât huyết tại khu vực phía Nam
Tác giả: Đỗ Kiến Quốc, cộng sự
Năm: 2012
13. Vũ Trọng Dƣợc (2011), Xu hướng và tình hình dịch bệnh sốt xuất huyết, truy cập ngày-18/01/2016, tại trang web http://suckhoedoisong.vn/xu-huong-va-tinh-hinh-dich-benh-sot-xuat-huyet-n41306.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu hướng và tình hình dịch bệnh sốt xuất huyết
Tác giả: Vũ Trọng Dƣợc
Nhà XB: Sức khỏe và Đời sống
Năm: 2011
14. Nguyễn Hồng Thanh (2009), Xác định ổ bọ gậy nguồn và một số yếu tố liên quan đến quần thể bọ gậy của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết tại 2 phườngHUPH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định ổ bọ gậy nguồn và một số yếu tố liên quan đến quần thể bọ gậy của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết tại 2 phường
Tác giả: Nguyễn Hồng Thanh
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w