Kết quả nổi bật của đề tài
Đề tài này là nghiên cứu đầu tiên về tình trạng dinh dưỡng và đánh giá khẩu phần ăn trong 24 giờ của học sinh tại trường trung học Phổ thông Trí Đức (Hà Nội) và Phổ thông Vùng Cao Việt Bắc (Thái Nguyên).
(b) Kết quả cụ thể: Báo cáo kết quả nghiên cứu được Hội đồng khoa học trường Đại học Y tế công cộng thông qua
(c) Xuất bản 01 bài đăng trên tạp chí khoa học trong nước: Hoàn thành bản thảo gửi đăng báo Y học cộng đồng
Thực hiện đề tài này đã giúp nhóm sinh viên cải thiện đáng kể kiến thức và kỹ năng trong việc nghiên cứu cũng như viết báo cáo nghiên cứu khoa học.
Đề tài này giúp đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ em lứa tuổi THPT từ 15 đến 19, đồng thời phân tích khẩu phần ăn nội trú của học sinh so với nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị Từ đó, nghiên cứu đưa ra những khuyến nghị nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng của học sinh tại hai trường.
2 Đánh giá thực tiễn đề tài đối chiếu với đề cương nghiên cứu đã được phê duyệt
(a) Tiến độ: Nghiên cứu đạt đúng tiến độ thực hiện theo thời gian được phê duyệt, từ tháng 01 năm 2021 tới tháng 06 năm 2021
Đề tài nghiên cứu đã hoàn thành các mục tiêu đã đề ra, bao gồm việc mô tả tình trạng dinh dưỡng và đánh giá khẩu phần ăn trong 24 giờ của học sinh nội trú tại trường trung học phổ thông Trí Đức (Hà Nội) và Phổ thông Vùng Cao Việt Bắc.
(c) Các sản phẩm tạo ra so với dự kiến của bản đề cương:
- Báo cáo kết quả nghiên cứu được Hội đồng khoa học trường Đại học Y tế công cộng thông qua;
- 01 bài báo để gửi đăng trên tạp chí khoa học trong nước: hiện đang viết bản thảo, sẽ tiếp tục thực hiện trong thời gian tới
(d) Đánh giá việc sử dụng kinh phí: Tổng kinh phí thực hiện đề tài là 9,915,000 nghìn đồng Nghiên cứu đã sử dụng kinh phí SNKH là 9,915,000 nghìn đồng
Thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu hiện tại là 5 tháng, bao gồm các bước như thông qua hội đồng đạo đức, thu thập và phân tích số liệu, viết báo cáo nghiên cứu và báo cáo hội đồng Nhóm nghiên cứu đề xuất tăng thời gian triển khai đề tài trong các năm tới để đảm bảo tiến độ thực hiện theo đề cương và nâng cao chất lượng báo cáo Việc thu thập số liệu đã bị gián đoạn do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, gây khó khăn cho nhóm nghiên cứu.
PHẦN C: NỘI DUNG BÁO CÁO CHI TIẾT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
Chế độ ăn uống hợp lý là yếu tố quan trọng để duy trì sức khỏe tốt Trong những năm gần đây, tình trạng dinh dưỡng tại Việt Nam đang đối mặt với gánh nặng kép: suy dinh dưỡng vẫn chưa được giải quyết triệt để, trong khi thừa cân béo phì ngày càng gia tăng Tình trạng dinh dưỡng của học sinh, đặc biệt là lứa tuổi trung học phổ thông, đang trở thành vấn đề sức khỏe cộng đồng cần được chú ý Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng thừa cân, béo phì có thể dẫn đến các bệnh mạn tính như tăng huyết áp, bệnh mạch vành, đái tháo đường, và một số loại ung thư Hơn nữa, xơ vữa động mạch có thể bắt đầu từ khi còn nhỏ và liên quan chặt chẽ đến tình trạng béo phì.
Nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng của học sinh trung học phổ thông ở khu vực thành thị, nông thôn và miền núi tại ba tỉnh/thành phía Bắc Việt Nam cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong chế độ ăn uống và sức khỏe của các em.
Tình trạng dinh dưỡng của học sinh thành thị tốt hơn so với khu vực nông thôn và miền núi, với tỷ lệ suy dinh dưỡng chỉ 3,9% ở thành phố, trong khi nông thôn là 17,5% và miền núi là 16,8% Học sinh miền núi có chiều cao thấp hơn khoảng 3cm so với học sinh thành thị, và chiều cao của cả ba vùng đều thấp hơn chuẩn của WHO 2017 Tỷ lệ thừa cân – béo phì ở học sinh thành thị là 7%, trong khi ở khu vực miền núi và nông thôn chỉ dưới 1% (0,4% và 0,6%).
Nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng trên 5.028 học sinh từ 7 đến 17 tuổi trong 12 tháng cho thấy khẩu phần ăn của học sinh trung học chưa đáp ứng đủ khuyến nghị về năng lượng, sắt, kẽm, canxi và các vitamin, dẫn đến tỷ lệ thấp còi vẫn còn cao trong nhóm học sinh này.
Hiện nay, có nhiều nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi và trẻ em trong độ tuổi học đường, nhưng vẫn còn thiếu các nghiên cứu tập trung vào giai đoạn từ 15 đến 18 tuổi.
Lứa tuổi 8, đặc biệt là học sinh trung học phổ thông, chưa được nghiên cứu nhiều về tình trạng dinh dưỡng và khẩu phần ăn nội trú Đánh giá khẩu phần ăn là cơ sở khoa học quan trọng để phát hiện sự thiếu hoặc thừa năng lượng và các thành phần dinh dưỡng, từ đó xây dựng khẩu phần hợp lý nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng và thúc đẩy sự phát triển toàn diện Đối với học sinh THPT, đây là giai đoạn phát triển nhanh chóng về chiều cao, cân nặng và các biến đổi tâm sinh lý, do đó can thiệp dinh dưỡng trong giai đoạn này là rất cần thiết để đáp ứng nhu cầu học tập và rèn luyện thể lực.
Thái Nguyên là tỉnh miền núi phía Bắc với nhiều dân tộc thiểu số như Tày, Nùng, Mông, Dao, trong khi Nam Từ Liêm là quận nội thành Hà Nội chủ yếu có học sinh dân tộc Kinh Trường THPT Vùng cao Việt Bắc chủ yếu phục vụ học sinh có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, với khẩu phần ăn do nhà nước hỗ trợ, trong khi trường THPT Trí Đức là trường nội trú có học sinh từ nhiều tỉnh, chi phí suất ăn do gia đình chi trả Nghiên cứu “Tình trạng dinh dưỡng và khẩu phần ăn 24 giờ của học sinh trường trung học Phổ thông Trí Đức (Hà Nội) và Phổ thông Vùng Cao Việt Bắc (Thái Nguyên) năm 2021” được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng dinh dưỡng và khẩu phần ăn của học sinh tại hai trường THPT nội trú có đặc thù khác nhau.
Trong nghiên cứu đánh giá khẩu phần ăn của học sinh tại hai trường nội trú, nhóm nghiên cứu đã phát triển bộ công cụ điều tra dựa trên mẫu phiếu điều tra phương pháp hỏi ghi 24h Mục tiêu của phương pháp này là định lượng khẩu phần ăn và đánh giá tính cân đối của nó Ưu điểm của phương pháp hỏi ghi 24h là tính thông dụng và khả năng áp dụng cao Tuy nhiên, phương pháp này cũng có nhược điểm, bao gồm yêu cầu phỏng vấn phức tạp, cần sự tỉ mỉ trong việc hỏi chi tiết về từng món ăn và số lượng thực phẩm, cũng như phụ thuộc vào trí nhớ và sự hợp tác của đối tượng tham gia.
Việc ước lượng trọng lượng thực phẩm dựa vào tự đánh giá của đối tượng là rất khó khăn, như được thể hiện trong nghiên cứu với 241 học sinh Thời gian khảo sát bị giới hạn trong một tiết học, khiến cho việc áp dụng phương pháp ghi chép 24 giờ cho từng cá nhân trở nên không khả thi Thêm vào đó, cả hai trường điều tra đều là trường nội trú, dẫn đến việc học sinh sử dụng suất ăn chung và thực phẩm có sẵn tại căng tin.
Nhóm nghiên cứu tại Trường Đại học Y tế công cộng đã phát triển hai bộ công cụ riêng biệt để phù hợp với đặc thù của đối tượng nghiên cứu và tiết kiệm thời gian điều tra Các bộ công cụ này bao gồm thông tin chung và phần khẩu phần ăn 24h, được xây dựng dựa trên thực đơn của bếp trưởng hai trường Đặc biệt, bộ công cụ đã khắc phục nhược điểm về trí nhớ của đối tượng bằng cách liệt kê đầy đủ các món ăn và thực phẩm có trong căng tin trong 24h trước đó, giúp tránh tình trạng quên khi được hỏi Ngoài ra, khối lượng của từng món ăn và thực phẩm được quan sát và tính toán cụ thể dựa trên suất ăn chuẩn của học sinh, nhằm giảm thiểu sai số trong ước tính khối lượng thực phẩm.
1.1 Mô tả tình trạng dinh dưỡng của học sinh trường trung học phổ thông Trí Đức (Hà
Nội) và Phổ thông Vùng Cao Việt Bắc (Thái Nguyên) năm 2021
1.2 Đánh giá khẩu phần ăn 24 giờ của học sinh trường trung học Phổ thông Trí Đức
(Hà Nội) và Phổ thông Vùng Cao Việt Bắc (Thái Nguyên) năm 2021 HUPH