Mối liên quan giữa yếu tố thời tiết và số lượng người bệnh nhập viện do mắc một số bệnh đường hô hấp.. TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Sự thay đổi của các yếu tố thời tiết tác động đến sức khỏe của c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN THỊ TRANG NHUNG
HÀ NỘI, 2020
HUPH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, rèn luyện, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp thạc sỹ, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên, chỉ bảo của thầy
cô, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè
Với tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học trường Đại học Y tế công cộng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Trang Nhung, người cô
đã luôn nhiệt tình quan tâm, chỉ bảo, dành nhiều thời gian và công sức quý báu hướng dẫn tôi, người cô đã dạy tôi những bài học không chỉ là luận văn mà còn ở cuộc sống, người cô đã luôn động viên, tạo động lực và chia sẻ với tôi những cảm xúc trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, cô trong hội đồng bảo vệ luận văn đã dành thời gian đọc và cho tôi những đóng góp vô cùng quý báu để hoàn thiện luận văn hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên, Đài khí tượng thủy văn tỉnh Điện Biên, các đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ và cho phép tôi thu thập số liệu để thực hiện luận văn
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và bạn bè, những người đã luôn
là điểm tựa vững chắc cho tôi, những người đã luôn chia sẻ, động viên với tôi và cho tôi động lực, sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn
Học viên
Đồng Thị Hồng Nhung
HUPH
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
.1 Một số khái niệm cơ bản 4
1.2 Sự thay đổi của thời tiết và khí hậu trên thế giới và Việt Nam 6
1.2.1 Thực trạng trên thế giới 6
1.2.2 Thực trạng ở Việt Nam 8
1.3 Tác động của sự thay đổi thời tiết tới sức khỏe con người 9
1.3.1 Nhiệt độ 9
1.3.2 Các hiện tượng thời tiết cực đoan 9
1.3.3 Dinh dưỡng và các bệnh truyền nhiễm 10
1.3.4 Ô nhiễm không khí 10
1.3.5 Sức khỏe tâm thần 11
1.4 Một số bệnh đường hô hấp 12
1.4.1 Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 12
1.4.2 Hen 16
1.4.3 Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính 18
1.5 Tình hình mắc và nhập viện do một số bệnh đường hô hấp trên thế giới và Việt Nam 19
1.5.1 Tình hình mắc và nhập viện do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 19
1.5.2 Tình hình mắc và nhập viện do hen 21
1.5.3 Tình hình mắc và nhập viện do COPD 23
1.6 Mối liên quan giữa một số yếu tố thời tiết và tình trạng mắc bệnh đường hô hấp 25
1.7 Thông tin về địa phương nghiên cứu - tỉnh Điện Biên 31
KHUNG LÝ THUYẾT 33
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
HUPH
Trang 52.1 Đối tượng nghiên cứu 35
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 35
2.3 Thiết kế nghiên cứu 35
2.4 Cỡ mẫu 35
2.5 Phương pháp chọn mẫu 36
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 36
2.7 Các biến số nghiên cứu 37
2.8 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 37
2.8.1 Định mã ICD 10 các bệnh trong nghiên cứu 38
2.8.2 Khái niệm về các yếu tố thời tiết 38
2.9 Phương pháp phân tích số liệu 41
2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 42
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
3.1 Tình hình nhập viện do mắc một số bệnh đường hô hấp của người bệnh tại BVĐK tỉnh Điện Biên 43
3.2 Mối liên quan giữa yếu tố thời tiết và số lượng người bệnh nhập viện do mắc một số bệnh đường hô hấp 53
3.2.1 Diễn biến thời tiết tại tỉnh Điện Biên giai đoạn 2012-2019 53
3.2.2 Xác định mối tương quan giữa các yếu tố 57
Chương 4 BÀN LUẬN 65
4.1 Tình hình nhập viện do mắc một số bệnh đường hô hấp của người bệnh tại BVĐK tỉnh Điện Biên 65
4.2 Mối liên quan giữa yếu tố thời tiết và số lượng bệnh nhân nhập viện do mắc một số bệnh đường hô hấp 69
4.2.1 Diễn biến thời tiết tại tỉnh Điện Biên giai đoạn 2012-2019 69
4.2.2 Mối liên quan giữa nhiệt độ với số lượt nhập viện 72
4.3 Một số hạn chế của nghiên cứu 76
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 87
HUPH
Trang 6ICD
Chênh lệch nhiệt độ ngày đêm Phân loại thống kê quốc tế về các bệnh tật và vấn đề sức khỏe liên quan
IPCC Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu
HUPH
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Số lượng lượt bệnh nhập viện do mắc một số bệnh đường hô hấp phân theo nhóm tuổi tại BVĐK tỉnh Điện Biên, 2012-2019
Bảng 3.2: Thời gian điều trị của người bệnh nhập viện do mắc một số bệnh đường
hô hấp tại BVĐK tỉnh Điện Biên, 2012-2019
Bảng 3.3: Kết quả điều trị của người bệnh nhập viện do mắc một số bệnh đường hô hấp tại BVĐK tỉnh Điện Biên, 2012-2019
Bảng 3.4: Số lượng lượt bệnh nhập viện trung bình theo ngày do mắc một số bệnh đường hô hấp tại BVĐK tỉnh Điện Biên, 2012-2019
Bảng 3.5: Số lượng lượt bệnh nhập viện trung bình theo ngày do mắc nhiễm trùng
hô hấp trên cấp tại BVĐK tỉnh Điện Biên, 2012-2019
Bảng 3.6: Số lượng lượt bệnh nhập viện trung bình theo ngày do mắc viêm phổi tại BVĐK tỉnh Điện Biên giai đoạn 2012-2019
Bảng 3.7: Số lượng lượt bệnh nhập viện trung bình theo ngày do mắc hen và COPD tại BVĐK tỉnh Điện Biên giai đoạn 2012-2019
Bảng 3.8: Một số giá trị thời tiết trung bình ngày tại tỉnh Điện Biên, 2012-2019 Bảng 3.9: Một số giá trị thời tiết trung bình tháng tại tỉnh Điện Biên,2012-2019 Bảng 3.10: Mối tương quan giữa một số yếu tố thời tiết với số lượt bệnh nhập viện theo nhóm tuổi do cả 4 nhóm bệnh đường hô hấp tại BVĐK tỉnh Điện Biên, 2012-
2019
Bảng 3.11: Mối tương quan giữa một số yếu tố thời tiết với số lượt bệnh nhập viện theo nhóm tuổi do nhiễm trùng hô hấp trên tại BVĐK tỉnh Điện Biên, 2012-2019 Bảng 3.12: Mối tương quan giữa một số yếu tố thời tiết với số lượt bệnh nhập viện theo nhóm tuổi do viêm phổi tại BVĐK tỉnh Điện Biên, 2012-2019
Bảng 3.13: Mối tương quan giữa một số yếu tố thời tiết với số lượt bệnh nhập viện theo nhóm tuổi do hen và COPD tại BVĐK tỉnh Điện Biên, 2012-2019
HUPH
Trang 8Bảng 3.14: Nguy cơ nhập viện của người bệnh mắc bệnh đường hô hấp tại BVĐK tỉnh Điện Biên giai đoạn 2012-2019 theo nhóm tuổi khi nhiệt độ trung bình tăng thêm 10oC
Bảng 3.15: Nguy cơ nhập viện của người bệnh mắc bệnh đường hô hấp tại BVĐK tỉnh Điện Biên giai đoạn 2012-2019 theo nhóm tuổi khi nhiệt độ cao nhất trong ngày tăng thêm 10oC
Bảng 3.16: Nguy cơ nhập viện của người bệnh mắc bệnh đường hô hấp tại BVĐK tỉnh Điện Biên giai đoạn 2012-2019 theo nhóm tuổi khi nhiệt độ thấp nhất trong ngày tăng thêm 10oC
HUPH
Trang 9Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ nhập viện do mắc một số bệnh đường hô hấp phân theo tình trạng
sử dụng thẻ BHYT tại BVĐK tỉnh Điện Biên, 2012-2019
Biểu đồ 3.4: Số lượt bệnh nhập viện theo tháng do mắc nhiễm trùng hô hấp trên tại BVĐK tỉnh Điện Biên, 2012-2019
Biểu đồ 3.5: Số lượt bệnh nhập viện theo tháng do mắc viêm phổi tại BVĐK tỉnh Điện Biên, 2012-2019
Biểu đồ 3.6: Số lượt bệnh nhập viện theo tháng do mắc hen và COPD tại BVĐK tỉnh Điện Biên, 2012-2019
HUPH
Trang 10TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Sự thay đổi của các yếu tố thời tiết tác động đến sức khỏe của con người theo nhiều cách khác nhau, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan giữa một số yếu tố thời tiết với tình trạng mắc các bệnh đường hô hấp, đặc biệt ở trẻ em và người cao
tuổi Nghiên cứu “Mối liên quan giữa yếu tố thời tiết và số lượng lượt bệnh nhập viện do mắc một số bệnh đường hô hấp tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên giai đoạn 2012-2019” được thực hiện với các mục tiêu: Mô tả đặc điểm lượt bệnh nhập
viện do mắc một số bệnh đường hô hấp tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên giai đoạn 2012-2019, xác định mối liên quan giữa một số yếu tố thời tiết và số lượng lượt bệnh nhập viện do mắc một số bệnh đường hô hấp tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên giai đoạn 2012-2019 Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu sinh thái theo chuỗi thời gian được thực hiện tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên, thu thập
số liệu hồi cứu về bệnh nhân nhập viện do mắc nhiễm trùng hô hấp trên, viêm phổi, hen và phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), thông tin thời tiết theo ngày bao gồm nhiệt
độ không khí, lượng mưa, tốc độ gió, độ ẩm không khí, số giờ nắng được thu thập
từ 4 trạm khí tượng Mường Lay, Điện Biên, Tuần Giáo, Pha Đin tại tỉnh Điện Biện
từ ngày 1/1/2012 đến 31/12/2019
Kết quả nghiên cứu chỉ ra, tổng số lượt bệnh nhập viện do mắc nhiễm trùng
hô hấp trên, viêm phổi, hen và COPD tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên giai đoạn 2012-2019 là 28 189 lượt trong đó mắc nhiễm trùng hô hấp trên là 9971 lượt viêm phổi là 15 190 lượt cả hen và COPD là 3028 lượt Trên 70% số ca nhập viện
do nhiễm trùng hô hấp trên và viêm phổi là trẻ dưới 5 tuổi 62,3% số lượt nhập viện
do hen ở độ tuổi dưới 50 tuổi, trong khi đó 98,2% số lượt nhập viện do COPD ở độ tuổi từ 50 trở lên Bình quân số ca nhập viện hằng ngày do nhiễm trùng hô hấp trên
sẽ giảm đi 0,48 lần khi trung bình sự thay đổi nhiệt độ trung bình ngày trong 21 ngày tăng lên 10 độ C (95% CI từ 0,32-0,99), tập trung chủ yếu ở nhóm trẻ dưới 5 tuổi với nguy cơ giảm đi 0,38 lần (95% CI từ 0,26-0,96) Khi trung bình sự thay đổi nhiệt độ thấp nhất trong 21 ngày tăng thêm 10oC làm gia tăng số ca nhập viện do hen và COPD hàng ngày lên 3,89 lần (95% CI từ 1,01-5, 87) Kết quả nghiên cứu
HUPH
Trang 11củng cố bằng chứng cho thấy trẻ em và người cao tuổi là những đối tượng nhạy cảm trước sự thay đổi của thời tiết, do vậy cần có sự quan tâm, chăm sóc đặc biệt
và các biện pháp bảo vệ sức khỏe trẻ em, người cao tuổi trước những thay của môi trường sống
HUPH
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự thay đổi của khí hậu đang tác động đến cuộc sống của con người theo nhiều cách khác nhau, đe dọa đến các yếu tố thiết yếu của sức khỏe như không khí sạch, nước uống và thực phẩm an toàn Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước tính từ năm 2030 đến 2050, biến đổi khí hậu sẽ gây ra khoảng 250 000 ca tử vong mỗi năm
do các bệnh nhạy cảm với khí hậu (1) Trẻ em và người cao tuổi là những đối tượng
dễ bị tổn thương nhất và phải chịu các hậu quả về sức khỏe lâu hơn do sự thay đổi của khí hậu
Nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng trên 0,85°C từ năm 1880 kéo theo các hiện tượng thời tiết cực đoan mạnh và thường xuyên hơn (2) Nhiệt độ cao còn làm tăng nồng độ ozone và các chất ô nhiễm khác trong không khí khiến các bệnh tim mạch
và hô hấp thêm trầm trọng (1) Mùa hè năm 2003 tại châu Âu, nhiệt độ không khí cực cao đã góp phần trực tiếp khiến 70 000 người tử vong do các bệnh tim mạch và
hô hấp, đặc biệt ở người cao tuổi (3) Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan giữa
sự thay đổi của các yếu tố thời tiết với tình trạng mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, hen và COPD (4) (5) (6) (7) (8)
Việt Nam là một trong số những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề do biến đổi khí hậu, gần 50 năm qua mức tăng nhiệt độ là 0,7ºC và ước tính tăng lên 3ºC vào năm 2100 (9) Nghiên cứu của tác giả Lương Mai Ly cùng cộng sự về Ảnh hưởng của nhiệt độ đến nhập viện của trẻ mầm non Hà Nội đã chỉ ra khi nhiệt độ tăng 1°C trong thời tiết lạnh liên quan đến tăng 1,7% trẻ dưới 3 tuổi và 3,4% trẻ 3-5 tuổi nhập viện do nhiễm trùng đường hô hấp (5)
Điện Biên là tỉnh miền núi Tây Bắc có khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao với mùa đông tương đối lạnh, ít mưa, mùa hạ nắng nóng, mưa nhiều và chịu ảnh hưởng của gió tây khô nóng Nét đặc trưng khí hậu ở tỉnh là sự phân hóa đa dạng theo địa hình và theo mùa Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 21 – 230C và có xu hướng tăng dần qua các thập niên Chế độ nhiệt mùa đông ấm và khô hơn so với Đông Bắc, nhưng do địa hình tương đối kín nên mỗi khi có đợt lạnh tràn về với cường độ mạnh thì không khí lạnh được giữ lại khá lâu, tạo nên đợt lạnh kéo dài nhiều ngày Bệnh
HUPH
Trang 13viện Đa khoa tỉnh Điện Biên mỗi năm tiếp nhận điều trị nội trú cho trên 4500 lượt bệnh nhân mắc các bệnh về hô hấp, trong đó chủ yếu là các bệnh về nhiễm khuẩn
hô hấp Các nghiên cứu đánh giá về mối liên quan giữa yếu tố thời tiết và bệnh đường hô hấp chưa được tiến hành nhiều ở Việt Nam, đặc biệt là khu vực Tây Bắc nơi các đặc tính thời tiết diễn biến thất thường và đa dạng Để trả lời các câu hỏi: số lượng người bệnh nhập viện do mắc một số bệnh đường hô hấp tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên giai đoạn 2012-2019? Mối liên quan giữa một số yếu tố thời tiết và số lượng lượt bệnh nhập viện do mắc một số bệnh đường hô hấp tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên giai đoạn 2012-2019 như thế nào? Chúng tôi quyết
định tiến hành nghiên cứu “Mối liên quan giữa yếu tố thời tiết và số lượng lượt bệnh nhập viện do mắc một số bệnh đường hô hấp tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên giai đoạn 2012-2019” nhằm cung cấp thông tin trên
HUPH
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả đặc điểm lượt bệnh nhập viện do mắc một số bệnh đường hô hấp tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên giai đoạn 2012-2019
2 Xác định mối liên quan giữa một số yếu tố thời tiết và số lượng lượt bệnh nhập viện do mắc một số bệnh đường hô hấp tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Điện Biên giai đoạn 2012-2019
HUPH
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
.1 Một số khái niệm cơ bản
Biến đổi khí hậu - Climate Change: Là sự thay đổi của khí hậu trong một
khoảng thời gian dài do tác động của các điều kiện tự nhiên và hoạt động của con người Biến đổi khí hậu hiện nay biểu hiện bởi sự nóng lên toàn cầu, mực nước biển dâng và gia tăng các hiện tượng khí tượng thủy văn cực đoan (10)
Biên độ ngày của nhiệt độ - Diurnal Temperature Range (DTR): Chênh
lệch giữa nhiệt độ thấp nhất và cao nhất trong ngày (10)
Nhiệt độ trung trung bình ngày: Là giá trị trung bình cộng của nhiệt độ
được đo đạc trong ngày
Nhiệt độ thấp nhất: Là trị số nhiệt độ thấp nhất được xác định trong khoảng
thời gian giữa hai kỳ quan trắc bằng nhiệt kế khí tượng tối thấp
Nhiệt độ cao nhất: Là trị số nhiệt độ cao nhất được xác định trong khoảng
thời gian giữa hai kỳ quan trắc bằng nhiệt kế khí tượng tối cao
Trung bình sự thay đổi nhiệt độ trong một khoảng thời gian là bình quân
sự chênh lệch nhiệt độ giữa các ngày
Dao động khí hậu - Climatic Fluctuation: Biến động khí hậu gồm bất kỳ
dạng thay đổi có tính hệ thống, dù thường xuyên hay không thường xuyên, trừ các
xu thế và bất liên tục (thay đổi đột ngột trong một giai đoạn, từ giá trị trung bình này sang giá trị trung bình khác), đặc trưng bằng ít nhất hai cực đại (hay cực tiểu)
và một cực tiểu (hay cực đại), gồm cả ở hai đầu chuỗi số liệu
Khí hậu - Climate: Là tổng hợp các điều kiện thời tiết ở một vùng nhất
định, đặc trưng bởi các đại lượng thống kê dài hạn của các yếu tố khí tượng tại vùng
đó (10)
Nhiệt độ cực trị - Extreme Temperatures: Nhiệt độ cao nhất và thấp nhất
đạt được trong thời gian nhất định (10)
HUPH
Trang 16Thời tiết - Weather: Thời tiết là trạng thái khí quyển tại một địa điểm nhất
định được xác định bằng tổ hợp các yếu tố: nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mưa,…(10)
Khí hậu và thời tiết là hai khái niệm khác nhau nhưng thường bị nhầm lẫn Thời tiết là trạng thái của khí quyển tại bất kỳ thời điểm và địa điểm nào Các kiểu thời tiết thay đổi rất nhiều từ năm này sang năm khác và từ vùng này sang vùng khác Các khía cạnh quen thuộc của thời tiết bao gồm nhiệt độ, lượng mưa, mây và gió mà mọi người trải qua trong suốt một ngày Điều kiện thời tiết khắc nghiệt bao gồm bão, lốc xoáy, bão tuyết và hạn hán Khí hậu là điều kiện thời tiết trung bình tồn tại trong nhiều thập kỷ hoặc lâu hơn Mặc dù thời tiết có thể thay đổi trong vài phút hoặc vài giờ, việc xác định sự thay đổi của khí hậu đã đòi hỏi các quan sát trong khoảng thời gian từ nhiều thập kỷ đến nhiều thế kỷ hoặc lâu hơn
Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT): là một nhóm bệnh do vi khuẩn
hoặc virus gây nên những tổn thương cấp tính ở một phần hay toàn bộ hệ thống đường hô hấp từ mũi họng cho đến phế nang (11)
Hen phế quản (Asthma) là một bệnh viêm mạn tính đường thở do nhiều tế
bào và các thành phần tế bào tham gia Viêm đường thở mạn tính kết hợp với tăng đáp ứng đường thở dẫn đến những đợt thở rít, khó thở, nghẹt lồng ngực, ho tái diễn; các triệu chứng thường xảy ra về đêm hoặc sáng sớm; những đợt này thường kết hợp với tắc nghẽn đường thở lan toả và hồi phục tự phát hoặc sau điều trị
Khái niệm đợt bùng phát của hen phế quản (exacerbation) (còn gọi là cơn hen hoặc hen cấp tính -asthma attack or acute asthma) là đợt tiến triển các triệu chứng khó thở, thở rít, ho, nghẹt lồng ngực hoặc kết hợp các triệu chứng này
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD): là một bệnh phổ biến, có thể
phòng và điều trị được, bệnh có đặc điểm là giới hạn lưu lượng thở dai dẳng, bệnh tiến triển và thường kết hợp với đáp ứng viêm mạn tính ở đường thở và nhu mô phổi do các hạt và khí độc hại Các đợt cấp và bệnh lý đi kèm góp phần làm bệnh nặng lên ở từng cá thể Định nghĩa của GOLD (2011)
HUPH
Trang 171.2 Sự thay đổi của thời tiết và khí hậu trên thế giới và Việt Nam
Bốn năm nóng nhất lịch sử được ghi nhận là từ năm 2015 đến 2018 và năm
2019 hiện tại cũng được dự đoán sẽ là một trong năm năm nóng nhất với tháng 7/2019 là tháng nóng nhất trong lịch sử toàn cầu Nhiệt độ trung bình toàn cầu giai
HUPH
Trang 18đoạn 2015 – 2019 cao hơn so với bất kỳ giai đoạn 5 năm nào trước đây, ước tính cao hơn khoảng 0,2°C so với trung bình giai đoạn 2011 - 2015 và so với giai đoạn tiền công nghiệp (1850 - 1900) là cao hơn khoảng 1,1ºC (12)
Nhiệt độ trung bình trên lục địa thường có sự thay đổi lớn hơn so với nhiệt
độ trung bình toàn cầu Theo Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO), giai đoạn 2015-
2019 ghi nhận nhiệt độ cực cao và sóng nhiệt ở nhiều nơi trên thế giới, nhiệt độ trung bình ở các lục địa cao hơn khoảng 1,7°C so với tiền công nghiệp và hơn 0,3°C
so với năm 2011-2015 Hầu hết các khu vực đất liền đều được ghi nhận có nhiệt độ trung bình ấm hơn so với toàn cầu, đặc biệt tuy nhiên có một vài khu vực ngoại lệ ở Canada, Nam Cực và Ấn Độ Dương (12)
Xu thế của sự biến đổi nhiệt độ là tăng nhanh hơn ở vùng vĩ độ cao; ở các vùng sâu trong lục địa so với vùng biển đảo; số ngày và số đợt nắng nóng có xu thế tăng trên toàn cầu Biên độ nhiệt độ ngày giảm đi khoảng 0,07ºC/ thập kỷ (14)
Ở Bắc Cực, nhiệt độ trên đỉnh lớp băng vĩnh cửu tăng lên 3ºC so với năm
1982 (14) Trong giai đoạn 1979-2018 diện tích biển băng mùa hè ở Bắc Cực giảm xấp xỉ 12% mỗi thập kỷ Tại Nam Cực sông băng tan chảy trong giai đoạn 2015-
2019 cũng ở mức cao kỷ lục so với bất kỳ giai đoạn 5 năm nào trước đây (12)
Mực nước biển tiếp tục tăng với tốc độ nhanh trong những năm gần đây; từ 3,04 mm/ năm trong 10 năm từ 1997-2006 lên 4,36 mm /năm trong giai đoạn 2007–
2016 Giai đoạn 2014 - 2019, tốc độ gia tăng mực nước biển trung bình toàn cầu đã lên tới 5 mm / năm (12)
So sánh giai đoạn 2015 - 2018 với giai đoạn 2011 – 2015, tổng lượng mưa trung bình cao hơn trong thời kỳ sau so với trước các khu vực Bắc Mỹ, Đông Âu và hầu hết châu Á Ngược lại, lượng mưa đã giảm ở phần lớn của châu Âu, tây nam và nam châu Phi, một phần lớn Nam Mỹ, khu vực gió mùa Ấn Độ, và miền bắc và miền tây Australia
HUPH
Trang 19Nhiệt độ trung bình tại Việt Nam có xu hướng tăng nhanh trong những thập
kỷ gần đây Trung bình cả nước, nhiệt độ trung bình năm thời kỳ 1958-2014 tăng khoảng 0,62ᵒC, riêng giai đoạn 1985-2014 nhiệt độ tăng khoảng 0,42ᵒC Tốc độ tăng trung bình mỗi thập kỷ khoảng 0,1ᵒC như vậy thấp hơn giá trị trung bình toàn cầu là 0,12ᵒC/thập kỷ (10)
Tại các trạm đất liền nhiệt độ trung bình đo được có xu thế cao hơn so với khu vực biển đảo Sự gia tăng nhiệt độ còn khác nhau giữa các mùa trong năm, nhiệt độ trung bình của mùa đông được ghi nhận tăng cao nhất và thấp nhất vào mùa xuân Trong 7 vùng khí hậu, khu vực Tây Nguyên có mức tăng nhiệt độ lớn nhất, khu vực Nam Trung Bộ có mức tăng thấp nhất (10)
Giai đoạn 1958-2014, lượng mưa năm ở các khu vực phía Bắc có xu thế giảm (5,8% ~ 12,5%); khu vực phía Nam có xu thế tăng (6,9% ~ 19,8%) Khu vực Nam Trung Bộ có mức tăng lớn nhất (19,8%); khu vực đồng bằng Bắc Bộ có mức giảm lớn nhất (12,5%) Ở phía Bắc, lượng mưa giảm rõ nhất vào các tháng mùa thu
và tăng nhẹ vào các tháng mùa xuân Đối với các khu vực phía Nam, lượng mưa các
có xu thế tăng; tăng nhiều nhất vào các tháng mùa đông (35,3% ~ 80,5%) và mùa xuân (9,2% ~ 37,6%) (10)
Mực nước biển trung bình tại các trạm hải văn của Việt Nam có xu hướng tăng rõ rệt với mức tăng khoảng 2,45mm/năm Nếu tính trong thời kỳ 1993-2014,
HUPH
Trang 20mực nước biển trung bình tại các trạm hải văn đều có xu thế tăng với mức độ tăng trung bình khoảng 3,34mm/năm (10)
1.3 Tác động của sự thay đổi thời tiết tới sức khỏe con người
1.3.1 Nhiệt độ
Các tác động của thời tiết và khí hậu đối với sức khỏe con người rất đa dạng
và mức độ khác nhau ở các cá thể cũng như những cộng đồng khác nhau
Một số nghiên cứu đã chỉ ra ảnh hưởng của nhiệt độ cực đoan với sự gia tăng
tử vong đáng kể Tiêu biểu như sóng nhiệt năm 2003 tại châu Âu được ước tính chịu trách nhiệm cho khoảng 30.000 đến 70.000 ca tử vong sớm (3)
Nhiệt độ môi trường cao liên quan đến các bệnh như tim mạch, hô hấp Bệnh
hô hấp ở người cao tuổi được ghi nhận là bệnh phổ biến nhất trong thời gian nắng nóng cực độ, đặc biệt, những người cao tuổi trên 65 và trên 75 có bằng chứng mạnh
mẽ nhất về tính dễ bị tổn thương liên quan đến nhiệt (16) Trẻ em cũng là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương với nhiệt độ đặc biệt là trẻ em dưới một tuổi (17) Trong môi trường nhiệt độ cao trẻ có thể bị mất nước, mất cân bằng điện giải, stress nhiệt
và tăng thân nhiệt; các bệnh truyền nhiễm bao gồm các bệnh về đường tiêu hóa, sốt rét, bệnh tay chân miệng và các bệnh về đường hô hấp ở trẻ được chứng minh chịu ảnh hưởng bởi cả nhiệt độ nóng và lạnh (18)
1.3.2 Các hiện tượng thời tiết cực đoan
Các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão tố, lũ lụt, hạn hán, mưa đá,… gia tăng về cường độ và tần số làm tăng số người bị thiệt mạng và ảnh hưởng gián tiếp đến sức khỏe thông qua ô nhiễm môi trường, nơi trú ẩn hoặc những tác động đến kinh tế – xã hội Các sự kiện ngắn hạn như gió bão ở phía bắc Ấn Độ vào 5/2018 khiến ít nhất 112 trường hợp tử vong, lốc xoáy 6/2016 tại Trung Quốc ít nhất 99 trường hợp tử vong, 10/2016 bão Matthew ở Bắc Đại Tây Dương (Haiti; Hoa Kỳ) ước tính thiệt hại kinh tế 10 tỷ USD, ít nhất 546 cái chết ở Haiti,… các sự kiện có thể kéo dài theo tháng hoặc năm như sóng nhiệt vào tháng 5 và 6 năm 2015 tại Ấn
Độ và Pakistan với 2 248 trường hợp tử vong đã được báo cáo do sức nóng ở Ấn Độ
và 1 229 ở Pakistan, hạn hán ở châu Phi giai đoạn 2015-2018,…
HUPH
Trang 211.3.3 Dinh dưỡng và các bệnh truyền nhiễm
Tác động của khí hậu đến tình trạng dinh dưỡng và an toàn thực phẩm xảy ra thông qua nhiều con đường Đối với con người, những hiện tượng thời tiết cực đoan
có thể dẫn đến tình trạng giảm năng suất sản xuất, khan hiếm nước ngọt, thực phẩm, gia tăng chi phí cho thực phẩm (19) Các yếu tố thời tiết như nhiệt độ không khí, lượng mưa và các hiện tượng thời tiết cực đoan tác động đến tốc độ tăng trưởng, tỷ
lệ sống sót, sự xuất hiện theo thời gian của vi khuẩn, virus, ký sinh trùng trên thực phẩm (20) (21) Mưa bão, lũ lụt có thể khiến các nguồn gây ô nhiễm nước từ chất thải của người, động vật và các hoạt động nông nghiệp tiếp xúc với nước mặt, nước ngầm làm tăng nguy cơ ô nhiễm nguồn nước Con người tiếp xúc với các tác nhân gây bệnh liên quan đến nước thông qua một số con đường như sử dụng nước để uống, tiêu thụ hải sản, vui chơi dưới nước Thương hàn, viêm gan, sán lá gan và bệnh tả được ghi nhận là những bệnh phổ biến thường truyền qua thực phẩm bị ô nhiễm bởi nước thải hoặc nước tưới trong các hoạt động nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản
Biến đổi khí hậu có thể ảnh hưởng đáng kể đến bệnh truyền nhiễm ở người Nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm và các yếu tố khí hậu khác tác động đến sự sinh sản và phát triển của các vectơ động (22)vật, điều này có thể được giải thích bởi thực tế các vectơ động vật thường là loài sinh nhiệt (máu lạnh) do đó chịu tác động của sự thay đổi các yếu tố thời tiết trong môi trường sống, đặc biệt là nhiệt độ
1.3.4 Ô nhiễm không khí
Không khí là một trong những thành phần cơ bản của môi trường và có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì sự sống trên trái đất Không khí sạch là nhu cầu thiết yếu của sức khỏe con người cả về thể chất và tinh thần Tuy nhiên, không khí
mà chúng ta hít thở đang bị ô nhiễm một cách trầm trọng, đe dọa và ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của con người và các loài sinh vật Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), khoảng 90% dân số hít thở không khí có nồng độ chất gây ô nhiễm cao, điều này dẫn đến cái chết cho 7 triệu người trên toàn thế giới mỗi năm bao gồm cả ô nhiễm không khí bên trong và ô nhiễm không khí bên ngoài (23) Số liệu thống kê
HUPH
Trang 22năm 2016 đã chỉ ra khoảng 4,2 triệu ca tử vong sớm do ô nhiễm không khí từ bên ngoài, trong đó 58% trường hợp là do bệnh tim và đột quỵ, 18% trường hợp tử vong
là do bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và nhiễm trùng đường hô hấp dưới cấp tính, 6% trường hợp tử vong là do ung thư phổi; 88% số ca tử vong này xảy ra ở các nước thu nhập thấp và trung bình (24) (25)
Các chất gây ô nhiễm được chứng minh có tác động mạnh đến sức khỏe con người như hạt vật chất (PM), ozone (O3), nitơ dioxide (NO2) và sulfur dioxide (SO2) Tùy theo từng chất mà nguồn phát sinh khác nhau: các hạt vật chất phát sinh chủ yếu từ quá trình đốt cháy nhiên liệu và hoạt động giao thông đường bộ; nitơ dioxide từ hoạt động giao thông đường bộ; sulfur dioxide từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch và ozone ở mặt đất gây ra bởi phản ứng của ánh sáng mặt trời với các chất ô nhiễm từ khí thải xe cộ (26) (27)
Sự thay đổi của các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa có thể ảnh hưởng đến chất lượng không khí thông qua thay đổi nồng độ ozone, PM và các oxit khác (28) (29) Ước tính tại Hoa Kỳ năm 2005, khoảng 130.000 ca tử vong liên quan đến bụi PM2.5 và khoảng 4700 ca tử vong liên quan đếnO3; ở nhóm dân số từ
65 đến 99 tuổi, ước tính gần 1,1 triệu năm sống bị mất đi do phơi nhiễm với PM2.5
và khoảng 36.000 năm sống mất đi do và phơi nhiễm với ozone (30) Ozon mặt đất
và các hạt bụi mịn được chứng minh có liên quan đến các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng bao gồm hen suyễn, viêm phế quản mãn tính, giảm chức năng phổi, nhịp tim không đều, đau tim và tử vong sớm (29) (31) Tại Việt Nam, hơn 60.000 người tử vong năm 2016 do mắc các bệnh liên quan tới ô nhiễm không khí như đột quỵ, bệnh tim, ung thư phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và nhiễm trùng đường hô hấp bao gồm cả viêm phổi (23)
1.3.5 Sức khỏe tâm thần
Biến đổi khí hậu có thể gây ra những ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của con người với các triệu chứng như căng thẳng, đau khổ, lo ngại, phiền muộn, lạm dụng chất gây nghiện thậm chí là ý nghĩ tự tử (32) Nhiều yếu tố tác động đến tâm
lý bất lợi này, liên quan đến các hiện tượng thời tiết cực đoan như thương tích của
HUPH
Trang 23bản thân, tình trạng thất nghiệp, các mối quan hệ xã hội, mất tài sản, lo lắng về tài chính, mất người thân,… Phần lớn các cá nhân bị ảnh hưởng tâm lý bởi một sự kiện như thảm họa tự nhiên sẽ phục hồi theo thời gian, tuy nhiên một tỷ lệ đáng kể các
cá nhân phát triển mức độ rối loạn tâm lý, có thể không cải thiện được (33) (34)
1.4 Một số bệnh đường hô hấp
1.4.1 Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
NKHHCT được định nghĩa là tất cả các trường hợp nhiễm khuẩn (vi khuẩn hoặc virus) ở đường hô hấp từ mũi họng cho đến phế nang Thời gian bị bệnh kéo dài không quá 30 ngày
Tác nhân gây bệnh:
- 60-70% các trường hợp NKHHCT ở trẻ em là do virus, một số loại virus thường gặp là: Virus hợp bào hô hấp (RSV), virus cúm, virus á cúm, adenovirus, rhinovirus,…: Phần lớn virus có ái lực với đường hô hấp; khả năng lây lan dễ dàng, tỷ lệ người lành mang virus cao và khả năng miễn dịch đối với virus yếu và ngắn (11)
- Vi khuẩn là nguyên nhân quan trọng gây nhiễm khuẩn hô hấp ở trẻ em, đặc biệt những nước đang phát triển, một số loại phổ biến như: Heamophilus influenzae, Streptococus pneumonia, Moracella catarrrhalis,…(11)
Điều kiện thuận lợi
- Tuổi: Tuổi càng nhỏ càng dễ mắc NKHHCT, thường gặp chủ yếu ở trẻ dưới
3 tuổi
- Thời tiết: Bệnh thường gặp vào mùa đông xuân, thời tiết lạnh, thay đổi độ
ẩm và chuyển mùa (như tháng 4-5 chuyển từ xuân sang hè và tháng 9-10 chuyển từ hè sang thu đông)
- Môi trường: Vệ sinh môi trường kém, nhà ở trật trội, ẩm thấp, nhiều bụi, khói thuốc, khói bếp,…
- Yếu tố dinh dưỡng, bệnh tật: Trẻ suy dinh dưỡng, trẻ đẻ non, trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ, bệnh tim bẩm sinh, tiêu chảy kéo dài,…
- Cơ địa: Cơ địa dị ứng, thể tạng tiết dịch,…
HUPH
Trang 24 Phân loại
Cần phân loại theo vị trí tổn thương và mức độ nặng nhẹ của bệnh để chẩn đoán
và kịp thời xử trí các trường hợp NKHHCT (11)
* Phân loại theo vị trí giải phẫu: Thường lấy nắp thanh quản làm ranh rới
Hinh 1.2: Phân loại nhiễm khuẩn hô hấp theo vị trí giải phẫu
- Nếu vị trí tổn thương trên nắp thanh quản gọi là nhiễm trùng hô hấp trên cấp Bao gồm ho, cảm lạnh, viêm tai giữa, viêm mũi, viêm họng ( gồm viêm VA, viêm amidan,…) Phần lớn các trường hợp (70-80%) NKHHCT ở trẻ là nhiễm trùng hô hấp trên cấp và thường là nhẹ
- Nếu vị trí tổn thương dưới nắp thanh quản gọi là nhiễm trùng hô hấp dưới cấp Nhiễm trùng hô hấp dưới cấp ít gặp hơn và thường nặng hơn gồm viêm thanh quản, viêm khí quản, viêm phế quản, tiểu phế quản và viêm phổi – màng phổi
* Phân loại theo mức độ nặng nhẹ: Thường được xử dụng để xây dựng phác đồ chẩn đoán và điều trị
- NKHHCT thể nhẹ (không viêm phổi): Không cần dung kháng sinh, chăm sóc tại nhà
- NKHHCT thể vừa (viêm phổi): Dùng kháng sinh, điều trị tại nhà, trạm xá
- NKHHCT thể nặng (viêm phổi nặng): Đến bệnh viện điều trị
HUPH
Trang 25- NKHHCT thể rất nặng (viêm phổi rất nặng hoặc bệnh rất nặng): Điều trị cấp cứu tại bệnh viện
1.4.1.1 Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên
* Viêm mũi họng cấp tính
Viêm mũi họng cấp tính thường là viêm cấp tính niêm mạc vùng mũi và họng, thường kết hợp với viêm Amydal, V.A thuộc vòng bạch huyết Waldeyer khi bệnh nhân còn tổ chức lympho này Đây là là bệnh lý cấp tính hay gặp, có thể đơn thuần hoặc kết hợp viêm long đường hô hấp trên trong giai đoạn đầu của nhiều bệnh nhiễm trùng lây Nguyên nhân có thể là vi khuẩn, virus
* Viêm mũi xoang cấp
Là tình trạng viêm cấp tính ở niêm mạc vùng mũi và xoang, thường kết hợp với viêm VA (Végétations Adénoides), Amydal…Đây là bệnh cấp tính hay gặp ở đường hô hấp trên, thường gặp vào mùa lạnh, khi thời tiết thay đổi Nguyên nhân có thể là virus (chiếm 60 – 80%) hoặc vi khuẩn (chiếm 20 – 40%) Ở trẻ dưới 2 tuổi, viêm mũi xoang thường kèm theo với viêm tai giữa do đặc điểm trẻ
* Viêm họng cấp
Là viêm niêm mạc và tổ chức dưới niêm mạc họng Nói đến viêm họng chủ yếu
là nói đến viêm ở họng miệng nguyên nhân phần lớn do virus (60-80%)
HUPH
Trang 26Viêm phổi là tình trạng phế nang trong phổi bị viêm do bị tổn thương từ tác động bên ngoài hoặc một yếu tố nào đó gây ra Phế nang ở phổi vốn là nơi tập trung các loại dịch nhầy, mủ và là nơi xuất dịch tạo nên hiện tượng đờm, khó thở ở người khi phổi gặp vấn đề Trong tình trạng phổi bị tấn công bởi các loại vi khuẩn, vi rút, tình trạng sức khỏe cơ thể người sẽ diễn biến xấu hơn rất nhiều trở nên đặc biệt nguy hiểm
* Phân loại viêm phổi theo nguồn lây nhiễm
- Viêm phổi bệnh viện: Là loại viêm phổi xuất hiện sau khi bệnh nhân nhập viện 48 giờ, mà trước đó bệnh nhân hoàn toàn không có các biểu hiện của viêm phổi Viêm phổi bệnh viện là một vấn đề nghiêm trọng bởi tác nhân gây ra viêm phổi bệnh viện
có thể kháng với nhiều loại kháng sinh, khiến việc điều trị gặp nhiều khó khăn
- Viêm phổi cộng đồng: Viêm phổi cộng đồng là cách chỉ tất cả các loại viêm phổi
mà không phải là viêm phổi bệnh viện Nguyên nhân gây ra viêm phổi cộng đồng rất đa dạng, thông thường nhất là viêm phổi do vi khuẩn, virus Viêm phổi cộng đồng ở trẻ nhỏ còn có một loại đặc biệt hay gặp, đó là viêm phổi hít, xảy ra sau khi trẻ hít phải thức ăn, chất lỏng hoặc chất nôn vào trong phổi (khi trẻ bị ho, bị sặc, )
* Phân loại viêm phổi theo nguyên nhân gây viêm phổi
- Viêm phổi do vi khuẩn: Vi khuẩn là nguyên nhân của hầu hết các trường hợp viêm
phổi cộng đồng ở người trưởng thành Viêm phổi do vi khuẩn thường lây truyền qua đường giọt bắn (khi người khỏe mạnh hít, nuốt phải các giọt chứa đầy vi khuẩn sau khi người mắc bệnh ho hoặc hắt hơi) Những người có hệ miễn dịch suy yếu, những người có các bệnh lý nền mạn tính (chẳng hạn như hen phế quản, khí phế thũng, hoặc bệnh lý tim mạch) sẽ dễ bị viêm phổi do vi khuẩn hơn người bình thường
- Viêm phổi do virus: Virus là nguyên nhân gây ra số trường hợp viêm phổi nhiều
thứ hai sau vi khuẩn Có rất nhiều loại virus gây viêm phổi, chẳng hạn như các loại virus gây ra cảm lạnh cũng như virus cúm
- Viêm phổi do nấm: Nấm là một tác nhân gây viêm phổi ít phổ biến Nếu là một người trưởng thành khỏe mạnh thì nguy cơ xuất hiện viêm phổi do nấm là rất thấp,
HUPH
Trang 27nhưng nếu bị suy giảm miễn dịch vì bất kì lí do nào thì khả năng mắc viêm phổi do nấm sẽ tăng lên Viêm phổi do nấm xảy ra do người bệnh hít phải các bào tử của nấm, do đó có một số nghề nghiệp nhất định có nguy cơ cao hơn tiếp xúc với các bào tử của nấm, chẳng hạn như nông dân, người làm vườn,…
- Viêm phổi do hóa chất: Viêm phổi do hóa chất là loại viêm phổi đặc thù, rất ít gặp Nhiều loại hóa chất có thể gây viêm phổi và chúng có thể ở bất kì dạng nào Viêm phổi do hóa chất xảy ra với nhiều mức độ khác nhau Các triệu chứng của viêm phổi
do hóa chất rất khác nhau, tùy thuộc vào loại hóa chất đã phơi nhiễm
1.4.2 Hen
Hen phế quản là một bệnh viêm mạn tính đường thở do nhiều tế bào và các thành phần tế bào tham gia Viêm đường thở mạn tính kết hợp với tăng đáp ứng đường thở dẫn đến những đợt thở rít, khó thở, nghẹt lồng ngực, ho tái diễn; các triệu chứng thường xảy ra về đêm hoặc sáng sớm; những đợt này thường kết hợp với tắc nghẽn đường thở lan toả và hồi phục tự phát hoặc sau điều trị
Khái niệm đợt bùng phát của hen phế quản (cơn hen hoặc hen cấp tính) là đợt tiến triển các triệu chứng khó thở, thở rít, ho, nghẹt lồng ngực hoặc kết hợp các triệu chứng này
Yếu tố nguy cơ của hen phế quản
- Yếu tố cơ địa
Di truyền: gặp 35 - 70% ở bệnh nhân hen phế quản Có nhiều gen liên quan đến bệnh sinh của hen phế quản và khác nhau theo nhóm chủng tộc Gen kiểm soát đáp ứng miễn dịch trong hen phế quản là HLA-DRB1-15 Gen liên quan đến sản xuất các cytokin viêm, IgE và tăng đáp ứng phế quản ở NTS 5q
Tạng Atopy (cơ địa dị ứng): là yếu tố nguy cơ quan trọng phát triển hen phế quản, khoảng 50% bệnh nhân hen phế quản có tạng Atopy
Giới tính: giới tính nam là yếu tố nguy cơ hen phế quản trẻ em (trẻ em tỷ lệ mắc hen phế quản ở bé trai nhiều hơn bé gái) Khi trưởng thành tỉ lệ mắc HPQ ở nữ nhiều hơn nam
HUPH
Trang 28Chủng tộc: người da đen có tỷ lệ mắc hen phế quản cao hơn người da trắng Béo phì cũng là yếu tố nguy cơ hen phế quản
- Yếu tố môi trường
Dị nguyên: là yếu tố quan trọng nhất phát triển hen phế quản
+ Dị nguyên trong nhà: bụi, lông động vật (chó, mèo,…), gián, nấm
+ Dị nguyên ngoài nhà: phấn hoa (cây, cỏ), nấm
+ Tác nhân nghề nghiệp: các chất hoá học có trọng lượng phân tử thấp và cao Khói thuốc lá: trong khói thuốc có Polycylic hydrocarbon, Cacbon monoxide, carbon dioxid, nitric oxid
Ô nhiễm không khí:
+ Ô nhiễm trong nhà: do nấu ăn với gas, gỗ (chứa nitric oxid, nitrogen oxid, carbon monoxid, sulfuldioxid )
+ Ô nhiễm ngoài nhà: khói công nghiệp,…
Nhiễm trùng hô hấp: giả thuyết nhiễm trùng là yếu tố nguy cơ đã được chứng minh ở người hen phế quản không có cơ địa dị ứng Hay gặp nhiễm virus hô hấp (Rhinovirus, Coronavirus, Influenza virus, Respiratory syncytial virus, Adenovirus), nhiễm khuẩn (Chlamydiae pneumoniae, Mycobarterium bovis), nhiễm
ký sinh trùng
Các yếu tố khác: tình trạng kinh tế xã hội thấp kém, gia đình đông người, chế
độ ăn kiêng, dùng thuốc (thuốc thuộc nhóm NSAID)
Phân loại hen phế quản
* Phân loại theo nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
- Hen nội sinh (intrinsic asthma): còn gọi là hen nhiễm khuẩn
+ Bệnh thường xảy ra ở người lớn
+ Không có tiền sử về bản thân hay gia đình về hen phế quản, bệnh dị ứng
HUPH
Trang 29+ Cơn hen xảy ra có liên quan tới các đợt nhiễm khuẩn đường hô hấp
+ Test da với dị nguyên vi khuẩn dương tính
+ Nồng độ IgE trong máu tăng
+ Điều trị giải mẫn cảm không có kết quả
+ Tiên lượng nói chung nặng hơn hen ngoài sinh
- Hen ngoại sinh (extrinsic asthma ): còn gọi là hen hen dị ứng
+ Thường xảy ra ở trẻ em và người trẻ
+ Có tiền sử gia đình hay bản thân về hen phế quản hay các bệnh dị ứng
+ Cơn hen xảy ra có liên quan với các dị nguyên đặc hiệu
+ Test da với dị nguyên dương tính
+ Nồng độ IgE toàn phần và IgE đặc hiệu trong máu tăng
+ Điều trị giải mẫn cảm có kết quả nếu dị ứng với hoặc hai dị nguyên
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là một bệnh phổ biến, có thể phòng
và điều trị được, bệnh có đặc điểm là giới hạn lưu lượng thở dai dẳng, bệnh tiến triển và thường kết hợp với đáp ứng viêm mạn tính ở đường thở và nhu mô phổi do
HUPH
Trang 30các hạt và khí độc hại Các đợt cấp và bệnh lý đi kèm góp phần làm bệnh nặng lên ở từng cá thể
Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ
- Tuổi: Tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cao hơn ở người già
* Yếu tố môi trường
- Ô nhiễm môi trường: tiếp xúc với bụi và hóa chất nghề nghiệp, ô nhiễm không khí trong và ngoài nhà
- Nhiễm trùng đường hô hấp: NTHH ở trẻ dưới 8 tuổi gây tổn thương lớp tế bào biểu mô đường hô hấp và các tế bào lông chuyển, làm giảm khả năng chống đỡ của phổi Nhiễm virus, đặc biệt virus hợp bào hô hấp có nguy cơ làm tăng tính phản ứng phế quản, làm cho bệnh phát triển (35)
1.5 Tình hình mắc và nhập viện do một số bệnh đường hô hấp trên thế giới và Việt Nam
1.5.1 Tình hình mắc và nhập viện do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
1.5.1.1 Trên thế giới
NKHHCT là vấn đề sức khỏe lớn trên toàn cầu vì tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao, đây là một trong năm nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trên toàn thế giới, ở nhiều nước đang phát triển nhiễm khuẩn đường hô hấp cấp tính là kẻ giết người
HUPH
Trang 31hàng đầu với trẻ em dưới năm tuổi Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trong khoảng 14 triệu trẻ dưới 5 tuổi chết mỗi năm thì có tới 4 triệu trẻ chết vì NKHHCT Không những có tỷ lệ mắc bệnh cao mà NKHHCT còn có thể bị mắc lại nhiều lần trong 1 năm gây ra những gánh nặng không chỉ riêng người bệnh mà còn ở cộng đồng (11)
Nhiễm trùng hô hấp dưới cấp tính là nguyên nhân gây ra khoảng 3,9 triệu ca
tử vong mỗi năm WHO ước tính 156 triệu trường hợp viêm phổi mỗi năm ở trẻ em dưới 5 tuổi và khoảng 20 triệu trường hợp trong đó nghiêm trọng phải nhập viện (36) Viêm phổi là bệnh hàng đầu gây tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi với khoảng 1,2 triệu trẻ em tử vong mỗi năm và khoảng 99% các trường hợp tử vong này xảy ra ở các nước đang phát triển (37) Ở các nước phát triển, tỷ lệ mắc bệnh viêm phổi hàng năm được ước tính là 33/10000 ở trẻ dưới 5 tuổi và 14,5/10000 ở trẻ từ 0 đến 16 tuổi (38) Tỷ lệ tử vong ở các nước phát triển dưới 1/ 1000 mỗi năm, phần lớn xảy
ra với trẻ < 1 tuổi
Tại Hoa Kỳ, nhiễm trùng đường hô hấp trên là một trong ba chẩn đoán hàng đầu ở bệnh nhân ngoại trú, chiếm khoảng 10 triệu cuộc hẹn điều trị ngoại trú một năm Người lớn có thể mắc từ hai đến bốn lần và trẻ em có thể là sáu đến tám lần trong một năm (39) (40) Nghiên cứu viêm phổi do Streptococcus pneumoniae ở
5837 bệnh nhân từ 9 khu vực địa lý ở Hoa Kỳ cho thấy 7% thuộc nhóm trẻ dưới
18 tuổi, từ năm 1995 đến 1997 tỷ lệ tử vong được ước tính là 4% ở trẻ dưới 2 tuổi và 2% ở trẻ từ 2 đến 17 tuổi (41)
Trong một nghiên cứu cắt ngang từ vùng nông thôn Uganda, 37% trẻ em được chỉ ra hiện tại mắc nhiễm trùng hô hấp trên (42) Một nghiên cứu khác ở huyện Kilifi (Kenya) đã chứng minh rằng gần 70% trường hợp nhiễm RSV là ở đường hô hấp trên (43) Nghiên cứu ở miền đông Ấn Độ trên 300 trẻ em từ 2 – 60 tháng cho thấy tỷ lệ mắc nhiểm khuẩn đường hô hấp dưới chủ yếu ở độ tuổi từ 2 –
12 tháng, nhóm trẻ từ 12 – 60 tháng tỷ lệ mắc đường hô hấp trên cao hơn (44)
1.5.1.2 Tại Việt Nam
HUPH
Trang 32Các nước đang phát triển cũng như Việt Nam, trung bình một trẻ có thể mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính từ 3-4 lần/năm Tại Việt Nam, tỷ lệ tử vong do mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em chiếm 1/3 (30-35%) so với tử vong chung (11) Điều tra MICs 2014 đã chỉ ra khoảng 3% trẻ em dưới 5 tuổi có triệu chứng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính trong vòng 2 tuần trước thời điểm phỏng vấn, trong đó 81,1% được đưa đến cơ sở y tế và 88,2% được điều trị bằng kháng sinh (45) Theo Niên giám thống kê Y tế năm 2016, nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất toàn quốc trong đó viêm họng và viêm amidan cấp là 672/ 100.000 dân và viêm phổi là 597,6/ 100.000 dân; viêm phổi là nguyên nhân gây tử vong thứ
3 với tỷ lệ 1,27/ 100.000 dân (46)
Từ năm 1984, Bộ Y tế đã đưa chương trình phòng chống NKHHCT là một trong các Chương trình Y tế Quốc gia và bắt đầu triển khai trên cả nước Đến năm 2000, 100% số xã trong cả nước đã triển khai chương trình phòng chống NKHHCT cho trẻ dưới 5 tuổi, tuy vậy tỷ lệ mắc NKHHCT ở trẻ nhỏ vẫn còn cao, đặc biệt ở những khu vực khó khăn như miền núi, vùng đông các dân tộc thiểu số sinh sống
1.5.2 Tình hình mắc và nhập viện do hen
1.5.2.1 Trên thế giới
Khoảng 235 triệu người đang sống chung với bệnh hen suyễn Hơn 80% các
ca tử vong liên quan đến hen xảy ra ở các nước thu nhập thấp và trung bình Theo ước tính của WHO được công bố vào tháng 12 năm 2016, có 383 000 ca tử vong do hen suyễn năm 2015 (47)
Nghiên cứu của ISAAC trên 798.685 thanh thiếu niên từ 13-14 tuổi ở 97 quốc gia từ năm 2000 đến 2003 về tình trạng thở khò khè - triệu chứng thường gặp của hen suyễn trong 12 tháng trước đó cho thấy tỷ lệ thở khò khè rất khác nhau giữa các quốc gia, khu vực Tỷ lệ hiện mắc cao nhất ≥20% được quan sát thấy ở các quốc gia như Australasia, Châu Âu và Bắc Mỹ và ở các vùng của Châu Mỹ Latinh Tỷ lệ hiện mắc thấp nhất <5% được quan sát thấy ở tiểu lục địa Ấn Độ Dương, Châu Á-Thái Bình Dương, Đông Địa Trung Hải, Bắc và Đông Âu (48)
HUPH
Trang 33Tỷ lệ mắc bệnh hen suyễn ở người trẻ từ 18-45 tuổi được ước tính dựa trên
dữ liệu từ Điều tra Y tế Thế giới do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thực hiện cùng thời điểm với ISAAC (2002-2003) ở 177.496 người lớn từ 70 quốc gia 4,3% dân số toàn cầu trong độ tuổi này được chẩn đoán bệnh hen suyễn Úc, Bắc và Tây Âu, và Brazil là những nước có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất (48)
Tính chất theo mùa của các đợt cấp hen suyễn có thể phản ánh mức độ tiếp xúc khác nhau với các tác nhân gây bệnh Nghiên cứu tại Malta được Victor Grech
và cộng sự phân tích hồi cứu các ca nhập viện do hen suyễn ở mọi lứa tuổi Cả trẻ
em từ 0-14 tuổi (n = 2916) và người lớn từ 15-59 tuổi (n = 1269) cho thấy tỷ lệ nhập viện cao nhất vào tháng giêng và thấp nhất vào tháng tám Tình trạng nhập viện theo mùa ở trẻ em rõ ràng hơn so với người lớn (49)
Gánh nặng bệnh tật do hen phế quản ảnh hưởng trực tiếp (chi phí về y tế) và ảnh hưởng gián tiếp (thời gian nghỉ việc, nghỉ học do bệnh) đến tình hình kinh tế -
xã hội của cá nhân, gia đình và xã hội
1.5.2.2 Tại Việt Nam
Nghiên cứu của tác giả Trần Thúy Hạnh, Nguyễn Vãn Ðoàn và cộng sự (2011) trên 14 246 người dân từ 16 tuổi sinh sống tại 7 tỉnh thành đại diện cho 7 vùng miền sinh thái của Việt Nam chỉ ra độ lưu hành hen phế quản ở người trưởng thành Việt Nam năm 2010 là 4,1% So sánh giữa các địa bàn nghiên cứu, độ lưu hành hen cao nhất là ở Nghệ An (7,65%) và thấp nhất là ở Bình Dương (1,51%) Tỷ
lệ bệnh nhân hen có dùng thuốc dự phòng và theo dõi lưu lượng đỉnh tại nhà lần
lượt là 29.1% và 4.5% (50)
Kết quả nghiên cứu Dịch tễ học và tình hình kiểm soát hen phế quản ở người trưởng thành Việt Nam năm 2010 cũng chỉ ra tỷ lệ mắc hen ở nam giới là 4,6%, cao hơn so với tỷ lệ 3,62% ở nữ giới (50)
HPQ ở nước ta cũng gặp ở mọi lứa tuổi như nhiều nước khác trên thế giới, nhiều NC của các tác giả đều thấy rằng độ tuổi bệnh xuất hiện lần đầu thường là ở lứa tuổi thiếu niên cao hơn so với các lứa tuổi khác
HUPH
Trang 34Những người sống, làm việc trong môi trường nhiều khói bụi, không khí ô nhiễm có nguy cơ mắc HPQ cao hơn người khác Môi trường sống ẩm thấp, nhiều bụi, mốc, có vật nuôi là những yếu tố thuận lợi làm xuất hiện bệnh Yếu tố thúc đẩy cơn hen bao gồm cả thay đổi thời tiết, nhiễm trùng đường hô hấp (đặc biệt là virus), khói, bụi, nóng ẩm nhiều người bệnh thường xuất hiện cơn hen nặng hơn vào mùa đông - xuân so với các mùa khác
1.5.3 Tình hình mắc và nhập viện do COPD
1.5.3.1 Trên thế giới
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước tính 251 triệu trường hợp mắc COPD vào năm 2016, chiếm khoảng 12% dân số từ 40 tuổi trở lên COPD gây ra 3,2 triệu ca tử vong mỗi năm (khoảng 5% tổng số ca tử vong trên toàn cầu mỗi năm) Hơn 90% trường hợp tử vong do COPD xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình (51) COPD được ước tính ảnh hưởng đến khoảng 15,7 triệu người trưởng thành ở Hoa Kỳ (52)
Nghiên cứu của Gavin C Donaldson (giai đoạn 1995-2009) trên 307 bệnh nhân (trong đó 196 người là nam giới), độ tuổi trung bình là 68,1 tuổi tại Luân Đôn
đã chỉ ra các đợt trầm trọng của COPD xảy ra thường xuyên hơn vào mùa đông (từ tháng 11 đến tháng 2) Vào mùa lạnh, 8,4% các đợt cấp khiến bệnh nhân phải nhập viện, so với 4.,6% vào mùa ấm (53)
Một nghiên cứu khác tại Barcelona của Pere Almagro cùng cộng sự trên tổng
số 9.804 trường hợp nhập viện được mã hóa với đợt cấp COPD làm chẩn đoán chính; 75,4% trường hợp là nam giới với tuổi trung bình là 74,9 ± 10,5 tuổi và thời gian điều trị trung bình là 6,5 ± 6,1 ngày Số lượng nhập viện cao nhất 3644 trường hợp (37,2%) xảy ra vào mùa đông, tiếp theo là mùa thu với 2367 trường hợp (24,1%), mùa xuân với 2347 (23,9%) và mùa hè với 1.446 (14,7%) (54)
1.5.3.2 Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc COPD chiếm 7,1% dân số nam từ 40 tuổi trở lên và 1,9% nữ giới trong độ tuổi nói trên (51)
HUPH
Trang 35Theo điều tra toàn quốc giai đoạn 2006 - 2009, tỷ lệ mắc COPD trong cộng đồng dân cư từ 15 tuổi trở lên là 2,2%, trong đó nam giới là 3,5% và nữ giới là 1,1%; 2,6% ở khu vực nông thôn và 1,9% ở thành thị, miền núi là 1,6%; miền Bắc: 3,1%, miền Trung: 2,3%, miền Nam: 1,0% Tỷ lệ COPD trong cộng đồng dân cư từ
40 tuổi trở lên có tỷ lệ mắc là 4,2%, nam: 7,1%, nữ: 1,9%; Khu vực nông thôn: 4,7%, thành thị 3,3%, miền núi 3,6 %; Miền Bắc: 5,7%, miền Trung: 4,6%, miền Nam: 1,9% (55)
Thực trạng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2009 – 2010 là nghiên cứu cắt ngang với 1500 người được lựa chọn ngẫu nhiên từ 5782 người tham gia Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra tình trạng mắc COPD trong giai đoạn 2009-2010 ở Hà Nội tăng dần theo tuổi và có mối liên quan đến hút thuốc lá và các bệnh mạn tính đường hô hấp, tim mạch Cụ thể, Tỉ lệ COPD ở những người từ 23 đến 72 tuổi là 7,1%, trong đó nam giới chiếm 10,9% và nữ giới là 3,9% 10% dân số hơn 40 tuổi mắc COPD (56)
Nghiên cứu tại xã Kiến Thiết một xã chuyên canh thuốc lào tại huyện Tiên Lãng, Hải Phòng đã tiến hành khám sàng lọc, đo chức năng hô hấp và phỏng vấn tổng số 2489 người dân trên 40 tuổi Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc COPD là 5,3% (7,7% ở nam và 3,4% ở nữ) Tỷ lệ mắc tăng cao ở nhóm người từ 60 tuổi, trình độ học vấn từ tiểu học trở xuống, người có tiền sử hút thuốc 48,9% bệnh được phát hiện ở giai đoạn trung bình Các triệu chứng chính được phát hiện là là ho, khạc đờm, khó thở, tuy nhiên đến 46% bệnh nhân COPD không có các biểu hiện lâm sang (57)
Nghiên cứu mô tả cắt ngang về thực trạng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính chồng lấp hen (ACO) tại Việt Nam được thực hiện bởi nhóm nghiên cứu chính là
Lê Thị Tuyết Lan và Ngô Quý Châu trong thời gian 2016 – 2017 cho thấy trong tổng số 300 bệnh nhân COPD ngoại trú tới khám tại cơ sở điều trị, có 82 bệnh nhân (27,3%) được chẩn đoán COPD chồng lấp hen với tỉ lệ nam chiếm 82,9% và đang hút thuốc lá chiếm 18,3% Có 28,3% bệnh nhân ACO có tiền sử đợt kịch phát trong năm vừa qua với số đợt kịch phát trung bình là 2 đợt kịch phát/năm, số ngày nhập viện trung bình là 6,06 ngày/năm và nhập cấp cứu trung bình là 2,41 ngày/năm (58)
HUPH
Trang 361.6 Mối liên quan giữa một số yếu tố thời tiết và tình trạng mắc bệnh đường hô hấp
Sự thay đổi của các yếu tố thời tiết có thể ảnh hưởng đến tình trạng mắc các bệnh đường hô hấp, trực tiếp tác động đến phản ứng miễn dịch của cơ thể, thúc đẩy, làm trầm trọng thêm các bệnh đường hô hấp hoặc khiến cơ thể tăng tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ mắc bệnh
Nhiệt độ giảm liên quan đến việc giảm chất nhầy và hoạt động của mật, dẫn đến ức chế khả năng bảo vệ cơ học và khả năng miễn dịch đối với nhiễm trùng (59) Nghiên cứu của Rob ter Horst cùng cộng sự (2019) về tác động của yếu tố môi trường đến phản ứng cytokine đã chỉ ra rằng một số cytokine có nguồn gốc bạch cầu đơn nhân đạt đỉnh vào mùa hè và thấp hơn vào mùa đông (60) Ngoài ra, một số loại virus đường hô hấp thường lưu hành trong điều kiện thời tiết lạnh, virus hợp bào hô hấp (RSV) là một loại virus dễ lây lan và là nguyên nhân phổ biến gây nhiễm trùng đường hô hấp dưới với trẻ em trên toàn thế giới, kết quả của Ilada Thongpan cùng cộng sự (2020) tại 3 bệnh viện Thái Lan chỉ ra hoạt động của RSV tương quan nghịch với nhiệt độ trung bình (61) (62) (63) Nghiên cứu tại Tô Châu, Trung Quốc từ 2001 đến 2011 đã sàng lọc kháng nguyên RSV trên 42.664 dịch tiết mũi họng của trẻ nhập viện do NTHHCT cho thấy tình trạng nhiễm RSV ở Tô Châu xảy ra thường xuyên nhất trong khoảng từ tháng 11 đến tháng 4, tỷ lệ nhiễm RSV cũng tương quan nghịch với nhiệt độ trung bình (64)
Nghiên cứu của Scott F Dowell cùng cộng sự (2003) trong 3 năm trên 11.614 trường hợp nhiễm phế cầu khuẩn cho thấy tỷ lệ mắc bệnh tăng rõ rệt theo mùa, khoảng 10/100.000 dân vào mùa hè nhưng mùa đông con số lên đến khoảng 35/100.000 (65) Một nghiên cứu khác của D Lieberman và M D Friger kéo dài 5 năm đã chỉ ra dù ở tất cả hay trong mỗi nhóm tuổi thì tỷ lệ mắc viêm phổi đều cao hơn vào mùa đông và mùa xuân so với mùa hè và mùa thu (66) Tuy nhiên, ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới như một số nước khác ở châu Á và châu Phi lại có
sự khác biệt: tỷ lệ nhiễm trùng đường hô hấp dưới thường tăng trong mùa mưa và được ghi nhận có mối liên quan giữa nhiệt độ, lượng mưa với bệnh viêm phổi (4) (67)
HUPH
Trang 37Biên độ ngày của nhiệt độ (DTR) là một chỉ số liên quan tới biến đổi khí hậu Hai mươi lăm nghiên cứu đã được tìm kiếm nhằm xem xét các bằng chứng dịch tễ học về tác động của DTR đến sức khỏe con người Phần lớn các nghiên cứu đã chỉ
ra rằng tỷ lệ mắc và tử vong của một số bệnh hô hấp chịu ảnh hưởng đáng kể bởi phạm vi nhiệt trong ngày; ngoài ra, trẻ nhỏ và người lớn tuổi là những đối tượng đặc biệt dễ bị tổn thương trước sự thay đổi nhanh chóng của nhiệt độ (68) Zhiwei
Xu cùng cộng sự (2014) đã tiến hành nghiên cứu về sự biến đổi nhiệt độ qua ngày
và bệnh viêm phổi ở trẻ em tại Úc, kết quả cho thấy khi nhiệt độ giảm mạnh từ ngày này sang ngày khác có thể làm tăng tình trạng cấp cứu do bệnh viêm phổi ở trẻ em (69) Ở nhóm người cao tuổi, nghiên cứu tại Argentina (2015) đã chỉ ra mối liên quan giữa biên độ nhiệt độ trong ngày với tình trạng mắc các bệnh về đường hô hấp tại đây So với tất cả các nhóm tuổi, sự gia tăng tình trạng nhập viện cao nhất là ở những người từ 60 trở lên (11,4% với nhiễm trùng hô hấp trên cấp và 14.2% với trùng hô hấp dưới cấp) khi biên độ nhiệt tăng 10°C (70)
Một nghiên cứu khác của Zhiwei Xu (2013) về ảnh hưởng của nhiệt độ đối với 13 324 trường hợp trẻ 0 đến 14 tuổi nhập viện cấp cứu do bệnh hen suyễn ở Brisbane, Úc (1/ 2003 đến 12/ 2009) Cả nhiệt độ nóng và lạnh đều liên quan đến sự gia tăng tình trạng nhập viện ở trẻ em với bệnh hen suyễn, cụ thể nhóm trẻ từ 0 đến
4 tuổi là những đối tượng dễ bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ nóng nhất, tuy nhiên ở độ tuổi từ 10 đến 14 là nhóm trẻ dễ bị tổn thương với nhiệt độ lạnh nhất (8)
Emily YY Chan cùng cộng sự (2013) đã tiến hành tìm hiểu mối liên quan giữa các yếu tố thời tiết và nguy cơ nhập viện hàng ngày trong môi trường đô thị ở Trung Quốc Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhập viện đối với các bệnh về đường hô hấp tăng lên trong thời tiết cực nóng và lạnh Vào mùa nóng, sự gia tăng các trường hợp mắc bệnh hô hấp được ghi nhận ở nhiệt độ trên 28,5°C, ở ngưỡng nhiệt này khi tăng 1°C thì số lần nhập viện sẽ tăng 7,6% Vào mùa lạnh cứ 1°C giảm xuống từ ngưỡng 26,2°C sẽ dẫn đến sự gia tăng nguy cơ nhập viện là 4,3% Trong nghiên cứu này, nhóm trẻ em dưới 15 tuổi dễ bị tổn thương và phải nhập viện
do các bệnh hô hấp dù nhiệt độ tăng cao hay giảm nhưng những người cao tuổi (trên
HUPH
Trang 3875) thì nguy cơ nhập viện do bệnh hô hấp cao hơn khi nhiệt độ giảm Nghiên cứu không có sự khác biệt về giới tính giữa ảnh hưởng của nhiệt độ với tình trạng nhập viện do bệnh hô hấp (71)
Có thể thấy hầu hết các nghiên cứu đều ghi nhận ảnh hưởng của nhiệt độ đến tình trạng nhập viện do bệnh hô hấp, nhưng lại không có sự nhất quán trong mối liên quan này, có thể là tương quan thuận hoặc tương quan nghịch
Một yếu tố thời tiết khác có thể ảnh hưởng đến khả năng lây truyền của virus gây bệnh đường hô hấp là lượng mưa Một số nghiên cứu được thực hiện ở các nước vùng nhiệt đới và xích đạọ như Lombok (Indonesia) của Omer S.B (2008), tại Malaysia của Chan P.W (2002) đã cho thấy mối liên quan giữa lượng mưa và bệnh đường hô hấp, đặc biệt là liên quan đến RSV (67) (4) Tuy nhiên, nghiên cứu tại Ấn
Độ trên 1000 trẻ em có triệu chứng lại chỉ ra tỷ lệ nhiễm RSV tương quan nghịch với lượng mưa (72) Trong một nghiên cứu khác về tác động của vi rút và vi khuẩn theo mùa tới tình trạng trẻ em nhập viện do bệnh viêm phổi được chẩn đoán bằng X quang ở Salvadore (Brazil), nhiễm adenovirus có tương quan đáng kể với tổng lượng mưa nhưng nhiễm vi rút parainfluenza lại có tương quan nghịch trong cùng một nghiên cứu (73) Ngược lại, một số nghiên cứu khác lại không tìm thấy mối liên hệ nào giữa lượng mưa và sự lây nhiễm RSV (74)
Các nghiên cứu khác nhau có thể sử dụng các kỹ thuật khác nhau và thu thập mẫu trong các khoảng thời gian khác nhau, lượng mưa có thể là yếu tố duy nhất ảnh hưởng đến tình trạng lây nhiễm virus hoặc còn liên quan đến nhiều yếu tố khác Nước mưa có thể làm vỡ các hạt phấn hoa, giải phóng các chất gây dị ứng, đặc biệt vào những mùa phấn hoa nhiều như vào cuối mùa xuân và vào mùa hè làm tăng trầm trọng bệnh hen suyễn Ngoài ra, các yếu tố như điều kiện sống, sự đông đúc, nghèo đói và hành vi tiếp xúc giữa người với người, đặc biệt sau mưa lớn và lũ lụt cũng có thể tác động đến sự phân bố của mầm bệnh làm tăng nguy cơ lây nhiễm RSV
Không chỉ nhiệt độ, lượng mưa, một số yếu tố thời tiết khác cũng đã được chỉ ra có ảnh hưởng đến nhiễm trùng hô hấp Nghiên cứu của Tiina M.Makinen
HUPH
Trang 39cùng cộng sự lại cho thấy độ ẩm thấp hơn có liên quan đến việc gia tăng tình trạng nhiễm trùng hô hấp trên và đặc biệt làm tăng sự xuất hiện của viêm họng (75) Một nghiên cứu khác của TP Loh về mối tương quan giữa các bệnh lý lâm sàng, virus đường hô hấp và yếu tố khí hậu đã chỉ ra tình trạng nhiễm trùng đường hô hấp trên
và dưới tương quan nghịch với độ ẩm tương đối (76)
Một nghiên cứu tại Hàn Quốc (2016) cũng chỉ ra, độ ẩm tương đối thấp có liên quan đáng kể đến các đợt cấp của bệnh hen suyễn, dẫn đến sự gia tăng tình trạng nhập viện (77) Trong một nghiên cứu khác của Ching-Min Tseng tại Đài Loan (2017) cũng nhận định rằng độ ẩm thấp hơn có liên quan đến sự gia tăng đợt cấp COPD (7) Tuy nhiên, cũng có những nghiên cứu cho thấy độ ẩm cao sẽ làm tăng nguy cơ mắc COPD (78)
Sự lây truyền vi rút qua đường không khí có thể bị ảnh hưởng bởi độ ẩm môi trường xung quanh, điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự ổn định của vi rút mà còn ảnh hưởng đến kích thước giọt đường hô hấp Kích thước giọt liên quan đến việc nó
sẽ nhanh chóng lắng xuống mặt đất hay tồn tại trong không khí đủ lâu để bị hít vào đường hô hấp của vật chủ
Nghiên cứu của Yonglin Liu cùng cộng sự (2016) tại tỉnh Thiểm Tây (Trung Quốc) về mối liên quan giữa các yếu tố thời tiết bao gồm nhiệt độ không khí, áp suất khí quyển, lượng mưa, số giờ nắng, tốc độ gió và độ ẩm tương đối với tỷ lệ nhiễm trùng đường hô hấp dưới ở đối tượng dưới 16 tuổi cho kết quả rằng tỷ lệ nhập viện do nhiễm trùng hô hấp dưới tương quan với nhiệt độ không khí (R = -0,651), áp suất khí quyển (R = 0,560), lượng mưa (R = -0,614) và độ ẩm tương đối (R = -0,470), tuy nhiên lại không có mối tương quan có ý nghĩa thống kê với số giờ nắng trung bình và tốc độ gió Có thể thấy rằng tỷ lệ nhập viện do nhiễm trùng đường hô hấp dưới giảm khi nhiệt độ không khí tăng và ghi nhận tương tự với độ
ẩm tương đối (79)
Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những khu vực dễ bị tổn thương nhất bởi biến đổi khí hậu ở Đông Nam Á Nghiên cứu của tác giả Phung Dung cùng cộng sự (2015) từ 1/ 2008 đến 12/ 2012 tại đây đã chỉ ra nhiệt độ có mối liên quan
HUPH
Trang 40đáng kể với tình trạng nhập viện ở trẻ nhỏ Khi nhiệt độ tăng lên 1°C thì tăng nguy
cơ nhập viện với trẻ em 0 đến 2 tuổi lên 3,4% (KTC 95% 1,2% đến 5,5%), với trẻ
từ 3 đến 5 tuổi là 4,6% (KTC 95% 2,2% đến 7,3%), nguy cơ nhập viện tăng 2,6% (95 % CI 0,6% đến 4,6%) ở tất cả các nguyên nhân và tăng 3,8% (95% CI 0,4% đến 7,2%) với nguyên nhân nhiễm trùng đường hô hấp (6)
Một nghiên cứu khác của tác giả Phung Dung tại 13 tỉnh của Đồng bằng sông Cửu Long về mối quan hệ giữa nhiệt độ và thời gian nhập viện, đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế - xã hội đến nguy cơ nhập viện do nhiệt độ cao cũng cho thấy mối tương quan thuận giữa nhiệt độ và nguy cơ nhập viện, cụ thể khi nhiệt
độ trung bình tăng 1°C nguy cơ nhập viện tăng 1,3% (KTC 95%, 0,9-1,8) đối với mọi nguyên nhân, 2,2% (KTC 95%, 1,4-3,1) đối với các bệnh truyền nhiễm và 1,1% ( KTC 95%, 0,5-1,7) đối với các bệnh đường hô hấp Mật độ dân số, tỷ lệ nghèo và
tỷ lệ mù chữ làm tăng nguy cơ nhập viện do nhiệt độ cao trong khi thu nhập hộ gia đình cao hơn, nhà sử dụng nước sạch và nhà vệ sinh đảm bảo làm giảm nguy cơ này (80)
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thu Hiền (2016) tại huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011-2015 trên 23 101 trẻ nhập viện trong đó có 10 239 trẻ nhập viện do NKHHCT cho kết quả rằng khi tăng nhiệt độ tăng 1ºC thì nguy cơ nhập viện ở trẻ dưới 5 tuổi do tất cả các nguyên nhân tăng 2,3% và nguy cơ nhập viện do nhiễm khuẩn hô hấp tăng 3,4% Nguy cơ nhập viện do NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi trong những ngày nắng nóng cao hơn 1,406 lần so với những ngày không nắng nóng (81)
Nhằm xác định mô hình theo mùa của các loại vi-rút liên quan đến nhập viện
do nhiễm trùng hô hấp cấp tính ở trẻ em tại Nha Trang, Việt Nam Nghiên cứu của Althouse BM cùng cộng sự (2016) được tiến hành tại Bệnh viện Đa khoa Khánh Hòa đã ghi nhận thời gian đỉnh điểm của virus hợp bào hô hấp là trong những tháng cuối mùa hè và virus cúm A là từ tháng 4 đến tháng 6, nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan đáng kể giữa virus parainfluenza 3 - một trong những vi-rút phổ biến gây
ra một loạt các bệnh về đường hô hấp trên người với nhiệt độ (82)
HUPH