1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm dịch tễ học và thực hành phòng ngừa, xử trí khi trẻ mắc bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính tại thị xã gò công, tỉnh tiền giang, năm 2017

93 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm dịch tễ học và thực hành phòng ngừa, xử trí khi trẻ mắc bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính tại thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang, năm 2017
Tác giả Đoàn Văn Hiệp
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Tuyết Xương
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Y học cộng đồng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 5,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (15)
    • 1.2.1. Lịch sử của bệnh Tay chân miệng (15)
    • 1.3.1. Tác nhân gây bệnh (16)
    • 1.3.2. Nguồn truyền và phương thức lây truyền (17)
    • 1.3.3. Đặc điểm về tuổi mắc bệnh (17)
    • 1.3.4. Đặc điểm mắc bệnh theo giới tính (18)
    • 1.3.5. Phân bố theo mùa (18)
    • 1.3.6. Tính cảm nhiễm và miễn dịch (18)
    • 1.4.1. Các biện pháp chung (20)
    • 1.4.2. Nguyên tắc phòng bệnh và biện pháp xử lý dịch bệnh cụ thể (20)
    • 1.8. Khung lý thuyết (27)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (27)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (28)
    • 2.5. Mẫu và phương pháp chọn mẫu (28)
    • 2.6. Phương pháp thu thập số liệu (29)
      • 2.6.2. Tổ chức thực hiện thu thập số liệu (29)
    • 2.7. Biến nghiên cứu (30)
    • 2.8. Thước đo và tiêu chuẩn đánh giá (30)
    • 2.9. Phân tích số liệu (31)
    • 2.10. Hạn chế, sai số và biện pháp khắc phục (31)
    • 2.11. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu (32)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (33)
    • 3.1. Mô tả đặc điểm dịch tể học ca bệnh TCM tại thị xã Gò Công 2017 (33)
      • 3.1.3. Đặc điểm của trẻ trong nghiên cứu (34)
      • 3.1.4. Những triệu chứng chính (35)
      • 3.1.5 Những triệu chứng nặng (35)
      • 3.1.6. Triệu chứng kèm theo các ca bệnh TCM ở trẻ (35)
      • 3.1.7. Vị trí phỏng nước các ca bệnh ở trẻ (36)
      • 3.1.8. Phân độ các trường hợp bệnh (36)
      • 3.1.9. Loại ca bệnh ghi nhận (36)
      • 3.1.10. Tiền sử tiếp xúc (37)
      • 3.1.11. Nguồn nước sử dụng (37)
      • 3.1.12. Yếu tố dùng chung (37)
    • 3.2. Mô tả thực hành phòng bệnh và xử trí khi trẻ mắc TCM của người chăm sóc chính (38)
      • 3.2.2. Thực hành phòng ngừa bệnh TCM (39)
        • 3.2.2.1. Thực hành rửa tay của người chăm sóc trẻ (39)
        • 3.2.2.2. Thực hành rửa tay cho trẻ (39)
        • 3.2.2.3. Thực hành lau rửa đồ chơi của trẻ (40)
        • 3.2.2.4. Thực hành lau chùi sàn nhà, nơi chơi đùa của trẻ (41)
        • 3.2.2.5. Thực hành vệ sinh ăn uống cho trẻ (42)
        • 3.2.2.6. Thực hành xử l ý phân của trẻ (42)
      • 3.2.3. Mô tả thực hành xử trí khi trẻ mắc bệnh (44)
    • 3.4. Mối liên quan giữa thực hành xử trí khi mắc bệnh với các đặc điểm của người chăm sóc chính (47)
  • CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN (49)
    • 4.1. Một số đặc điểm dịch tễ ca bệnh bệnh tay chân miệng trên địa bàn thị xã Gò Công năm 2017 (49)
      • 4.2.1. Thực hành phòng bệnh của người chăm sóc chính (52)
      • 4.2.2. Thực hành xử trí khi trẻ mắc bệnh (55)
    • 4.3. Mối liên quan giữa thực hành phòng bệnh và thực hành xử trí khi mắc bệnh với các đặc tính mẫu nghiên cứu (56)
      • 4.3.1. Thực hành phòng bệnh (56)
      • 4.3.2. Thực hành xử trí khi trẻ mắc bệnh (57)
    • 4.4. Hạn chế của nghiên cứu (57)
  • KẾT LUẬN (59)
    • 5.1. Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh TCM tại Gò Công, Tiền Giang năm 2017 (59)
    • 5.3. Mối liên quan giữa thực hành phòng bệnh và xử trí khi trẻ mắc bệnh với các đặc tính mẫu nghiên cứu (59)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (62)
    • 1.1. Cấu phần định lượng dựa trên số liệu thứ cấp(mục tiêu 1) (64)
    • 1.2. Cấu phần số liệu sơ cấp (Mục tiêu 2) (67)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Toàn bộ phiếu thông tin ca bệnh của bệnh nhân TCM được Trung tâm Y tế thị xã Gò Công quản lý và thống kê từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2017 nhằm phục vụ cho mục tiêu 1 trong việc thu thập số liệu thứ cấp.

- Các phiếu ghi không đầy đủ thông tin

Đối tượng thu thập số liệu sơ cấp là người chăm sóc chính của trẻ từ 0 đến 15 tuổi mắc bệnh tay chân miệng (TCM) tại thị xã Gò Công trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2017, nhằm phục vụ cho mục tiêu 2 và 3 của nghiên cứu.

- Người chăm sóc chính của các ca mắc TCM từ tháng 01 đến tháng 12 năm

Năm 2017, tại thị xã Gò Công, đối tượng tham gia nghiên cứu là những người từ 18 tuổi trở lên, có thời gian chăm sóc trẻ nhiều nhất trong ngày tại gia đình, đồng ý tham gia nghiên cứu và có khả năng nghe, hiểu và trả lời các câu hỏi trong bảng phỏng vấn.

- Không đồng ý tham gia nghiên cứu, không có khả năng trả lời

2.2 Địa điểm nghiên cứu: Tại thị xã Gò Công tỉnh Tiền Giang

2.3 Thời gian nghiên cứu: từ tháng 12/2017 đến tháng 08/2018

2.4 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang phân tích.

Mẫu và phương pháp chọn mẫu

Nghiên cứu tiến hành chọn mẫu toàn bộ, thu thập thông tin tất cả những đối tượng đáp ứng yêu cầu

Từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2017, Gò Công ghi nhận 210 ca mắc tay chân miệng (TCM) Tuy nhiên, do có 4 phiếu thông tin ca bệnh không đầy đủ, nghiên cứu chỉ thu thập được dữ liệu từ 206 phiếu.

Trong quá trình điều tra, 30 người chăm sóc chính đã vắng mặt sau hai lần hoặc đã chuyển đi nơi khác để làm ăn Do đó, thông tin được thu thập từ 176 người chăm sóc chính.

Phương pháp thu thập số liệu

2 6.1 Công cụ thu thập số liệu

Các chỉ số và biến số trong nghiên cứu được thu thập từ biểu mẫu số liệu (xem Phụ lục 1) Tất cả phiếu điều tra của bệnh nhân mắc TCM được thu thập từ tháng 1 năm

Từ năm 2017 đến tháng 12 năm 2017, TTYT thị xã đã quản lý và nhập liệu từng phiếu điều tra TCM, nhằm thu thập các thông tin cần thiết để đáp ứng mục tiêu 1, theo phụ lục 1 về cấu phần định lượng dựa trên số liệu thứ cấp.

Bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp người chăm sóc chính của bệnh nhân mắc TCM đã được soạn sẵn và thực hiện tại thị xã Gò Công từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2017 Trước khi tiến hành điều tra chính thức, bộ câu hỏi đã được thử nghiệm với 5 người chăm sóc chính trẻ mắc TCM (Phụ lục 3)

2.6.2 Tổ chức thực hiện thu thập số liệu

Nghiên cứu viên, với sự đồng ý của TTYT thị xã Gò Công, đã thu thập và sử dụng các mẫu phiếu điều tra ca bệnh cùng với tài liệu và báo cáo liên quan đến bệnh tay chân miệng Họ cũng đã cập nhật thông tin từ phần mềm thống kê bệnh TCM của TTYT vào phiếu điều tra.

Danh sách người Chăm sóc chính của toàn bộ bệnh nhân mắc TCM năm

2017 đã được chuẩn bị trước khi xuống thực địa

Tập huấn cho điều tra viên nhằm nâng cao kỹ năng phỏng vấn và thu thập số liệu, đồng thời hướng dẫn sử dụng bộ câu hỏi Các điều tra viên, là nhân viên của TTYT thị xã Gò Công, đã được phát tài liệu tập huấn để chuẩn bị cho việc phỏng vấn, bao gồm hướng dẫn sử dụng bộ câu hỏi và trả lời các câu hỏi trước khi thực hiện phỏng vấn.

Giám sát thu thập thông tin được thực hiện bởi nghiên cứu viên và trưởng khoa Kiểm soát dịch bệnh của TTYT thị xã Gò Công, với nhiệm vụ quan sát và phỏng vấn viên phỏng vấn ĐTNC Họ thu thập và kiểm tra các phiếu phỏng vấn để đảm bảo thông tin đầy đủ, không bỏ sót Đồng thời, họ cũng trao đổi với phỏng vấn viên về những điểm chưa đạt để cải thiện chất lượng thu thập thông tin và kịp thời khắc phục sai sót.

Người dẫn đường: là các cán bộ phụ trách công tác phòng chống dịch bệnh của 12 trạm y tế xã, phường thuộc thị xã Gò Công

Biến nghiên cứu

Một số biến số chính

- Mục tiêu 1, một số đặc điểm về dịch tễ bệnh TCM:

Bài viết mô tả sự phân bố ca bệnh theo địa phương và theo tháng trong năm, bao gồm giới tính và độ tuổi của trẻ mắc bệnh Nó cũng nêu rõ các triệu chứng chính, triệu chứng nặng, triệu chứng kèm theo, vị trí phỏng nước, phân độ ca bệnh, loại ca bệnh, nguồn nước sử dụng, yếu tố dùng chung và thời gian nhập viện.

Thông tin về ĐTNC bao gồm tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng thu nhập, số con dưới 5 tuổi

Thực hành phòng ngừa TCM bao gồm nhiều biện pháp quan trọng như rửa tay đúng cách cho người chăm sóc trẻ, rửa tay cho trẻ, lau rửa đồ chơi của trẻ, và vệ sinh sàn nhà cũng như khu vực vui chơi Ngoài ra, việc thực hiện vệ sinh ăn uống cho trẻ và xử lý phân của trẻ cũng là những yếu tố cần thiết để đảm bảo sức khỏe cho trẻ nhỏ.

Khi trẻ mắc bệnh, cần thực hiện cách ly và ngăn không cho trẻ tiếp xúc với những trẻ khác Sau khi chăm sóc, hãy vệ sinh tay kỹ lưỡng và làm sạch đồ chơi cũng như các vật dụng mà trẻ đã tiếp xúc Sử dụng riêng đồ ăn uống cho trẻ và thông báo tình trạng bệnh của trẻ cho cán bộ y tế Thời gian cách ly và nghỉ học nên tuân theo hướng dẫn của ngành y tế.

Thực hành phòng ngừa và xử trí khi trẻ mắc bệnh

Các biến cụ thể được trình bày tại phụ lục 1

Thước đo và tiêu chuẩn đánh giá

Nghiên cứu của Đỗ Thị Thùy Chi năm 2013 về kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống bệnh tay chân miệng của giáo viên mầm non tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, cùng với nghiên cứu của Cao Thị Thúy năm 2012 về bà mẹ có con dưới 3 tuổi tại phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội, đã chỉ ra những yếu tố quan trọng liên quan đến việc nâng cao nhận thức và thực hành phòng bệnh tay chân miệng trong cộng đồng.

Ngân; Học viên đã đưa ra thang điểm để đánh giá thực hành của đối tượng, với ĐTNC trả lời đúng 2/3 số câu hỏi là đạt yêu cầu

Tiêu chuẩn về thực hành phòng bệnh TCM (Phụ lục 4)

- Thực hành rửa tay cuả người chăm sóc trẻ gồm 2 câu 6 và 7, tổng điểm là 8, điểm đạt từ 6 điểm trở lên

- Thực hành rửa tay cho trẻ gồm câu 8, tổng điểm là 07, điểm đạt từ 5 điểm trở lên

- Thực hành lau rửa đồ chơi cho trẻ gồm câu 9-11, tổng điểm là 5, điểm đạt từ 3 điểm trở lên

- Thực hành lau chùi sàn nhà nơi trẻ chơi đùa gồm câu 12-14, tổng điểm là 5, điểm đạt từ 3 điểm trở lên

- Thực hành về vệ sinh ăn uống gồm câu 15-17, tổng điểm là 3, điểm đạt từ 2 điểm trở lên

- Thực hành xử lý phân của trẻ, câu 18-19, tổng điểm là 2, điểm đạt là 2 điểm

Thực hành xử trí khi trẻ mắc bệnh tay chân miệng (TCM) được đánh giá qua các câu hỏi từ C20-26, với tổng điểm tối đa là 9 Điểm đạt yêu cầu là từ 6 điểm trở lên Đánh giá tổng thể về thực hành phòng ngừa bệnh TCM cho thấy tổng điểm là 39, trong đó thực hành của đội ngũ nhân viên y tế đạt yêu cầu khi có tổng số điểm từ 26 trở lên.

Phân tích số liệu

Dữ liệu được làm sạch và nhập liệu bằng Epidata 3.1, sau đó được phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0 Thống kê mô tả được sử dụng để tính tần số và tỷ lệ, nhằm mô tả các đặc điểm của ca bệnh Các phân tích mô tả được thực hiện phù hợp với thông tin đã được phân tích Kiểm định khi bình phương (χ2) được áp dụng để so sánh sự khác biệt giữa các tỷ lệ.

Sử dụng tỷ suất chênh (OR) và khoảng tin cậy để đánh giá mức độ mạnh mẽ của sự kết hợp giữa các biến số, cũng như mối quan hệ giữa các biến số quan trọng.

Hạn chế, sai số và biện pháp khắc phục

2.10.1 Hạn chế sai số của nghiên cứu

Mục tiêu 1 sử dụng số liệu thứ cấp, dẫn đến việc thiếu thông tin hoặc thông tin không chính xác Việc chỉ dựa vào phiếu điều tra ca bệnh TCM theo biểu mẫu của Bộ Y tế và thời gian nghiên cứu hạn chế đã khiến cho việc mô tả đầy đủ các đặc điểm dịch tễ học của bệnh TCM ở thị xã Gò Công chưa được thực hiện.

Thông tin thu thập có chứa các thông tin hồi cứu nên có thể dẫn tới sai số nhớ lại Vì thông tin về bênh

Khi phỏng vấn có thể gặp sai số do điều tra viên, hoặc sai số nhớ lại hoặc không muốn hợp tác của đối tượng được phỏng vấn

Thông tin thứ cấp không đầy đủ trong phiếu điều tra được cải thiện bằng cách đối chiếu từ nhiều nguồn khác nhau như Trung tâm Y tế xã, Trung tâm Y tế thị xã, và loại trừ các phiếu thiếu thông tin.

Để đảm bảo hiệu quả trong việc phỏng vấn, cần tập huấn kỹ lưỡng cho đội ngũ phỏng vấn viên về kiến thức và thực hành Việc tuân thủ trình tự phỏng vấn, đảm bảo đủ thời gian và tạo sự thoải mái cho người được phỏng vấn là rất quan trọng, giúp họ dễ dàng trình bày và trả lời các câu hỏi một cách tự nhiên.

Thiết kế bộ câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng và dễ hiểu là rất quan trọng Trước khi tiến hành, cần thực hiện điều tra thử và chỉnh sửa bộ câu hỏi cho phù hợp Ngoài ra, trước khi phỏng vấn, hãy giải thích rõ mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu để khuyến khích sự hợp tác từ đối tượng phỏng vấn.

Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu này tuân thủ các yêu cầu của Hội đồng đạo đức nhà trường và đã được phê duyệt bởi Hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế công cộng theo văn bản số 297/2018/YTCC-HD3 ngày 26/4/2018 Tất cả số liệu thu thập chỉ phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu nhận được sự chấp thuận từ lãnh đạo các TTYT và các đối tượng tham gia đều tự nguyện trả lời bộ câu hỏi phỏng vấn Đối tượng nghiên cứu có quyền từ chối tham gia nếu không đồng ý.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Mô tả đặc điểm dịch tể học ca bệnh TCM tại thị xã Gò Công 2017

3.1.1 Phân bố ca bệnh theo địa phương

Biểu đồ 3 1 Phân bố ca bệnh theo địa phương

Trong năm 2017, thị xã Gò Công ghi nhận tổng cộng 206 ca bệnh tay chân miệng, trong đó xã Bình Xuân có số ca mắc cao nhất với 51 ca, trong khi Phường 5 ghi nhận số ca thấp nhất chỉ với 05 ca.

3.1.2 Phân bố ca bệnh theo tháng

Phân bố ca bệnh theo tháng

Biểu đồ 3 2 Phân bố ca bệnh theo tháng

Trong năm 2017, thị xã Gò Công đã ghi nhận tổng cộng 206 ca bệnh tay chân miệng, với số ca mắc cao nhất xảy ra vào tháng 9.

3.1.3 Đặc điểm của trẻ trong nghiên cứu

Bảng 3 1 Đặc điểm của trẻ trong nghiên cứu

Có, học tại trường/ tại nhóm trẻ gia đình 137 66,5

Tuyến điều trị/nhập viện

Trong năm 2017, tại thị xã Gò Công, tổng số ca bệnh tay chân miệng ghi nhận là 206, trong đó nam giới chiếm 56,8% và nữ giới 42,3% Nhóm trẻ từ 1-2 tuổi có tỷ lệ mắc cao nhất, đạt 61,2% Đặc biệt, trẻ em đi học tại trường, nhà trẻ hoặc được gửi chăm sóc tại các nhóm trẻ gia đình chiếm 66,5% Tỷ lệ trẻ bệnh phải nhập viện điều trị tại tuyến trung ương là 72,8%, trong khi đó, tuyến huyện chiếm 15,5%.

Bảng 3 2 Những triệu chứng chính

Triệu chứng chính Tần số Tỷ lệ %

Trong năm 2017, thị xã Gò Công ghi nhận tổng cộng 206 ca bệnh tay chân miệng, với triệu chứng chính ở trẻ em là phỏng nước chiếm 100%, tiếp theo là sốt 99% và loét miệng 19,4%.

Bảng 3 3 Phân bố ca bệnh có những triệu chứng nặng

Triệu chứng nặng Tần số Tỷ lệ %

Trong tổng số 206 ca bệnh tay chân miệng được thống kê trong năm 2017 tại

Gò Công, triệu chứng quấy khóc 7,8%, giật mình tỷ lệ 1,5% và co giật là 0,5%

3.1.6 Triệu chứng kèm theo các ca bệnh TCM ở trẻ

Bảng 3 4 Triệu chứng kèm theo

Triệu chứng kèm theo Tần số Tỷ lệ % Đau họng 46 22,3

Trong năm 2017, thị xã Gò Công ghi nhận 206 ca bệnh tay chân miệng, trong đó 89,8% trẻ em có triệu chứng chán ăn, 42,2% cảm thấy mệt mỏi, 22,3% bị đau họng, 8,7% gặp vấn đề tiêu chảy, và 2,9% có triệu chứng nôn.

3.1.7 Vị trí phỏng nước các ca bệnh ở trẻ

Bảng 3 5 Vị trí phỏng nước các ca bệnh ở trẻ

Vị trí phỏng nước Tần số (n 6) Tỷ lệ %

Trong năm 2017, tại thị xã Gò Công, tổng số ca bệnh tay chân miệng được ghi nhận là 206, trong đó có phỏng nước Cụ thể, vị trí phỏng nước chủ yếu ở tay chiếm 56,8%, tiếp theo là ở chân 46,1%, ở mông 18,9% và ở đầu gối 17,5%.

3.1.8 Phân độ các trường hợp bệnh

Bảng 3 6 Phân độ lâm sàng

Phân độ lâm sang Tần số Tỷ lệ % Độ 1 192 93,2 Độ 2a 14 6,8 Độ 2b 0 0 Độ 3 0 0 Độ 4 0 0

Trong năm 2017, thị xã Gò Công ghi nhận tổng cộng 206 ca bệnh tay chân miệng, trong đó độ lâm sàng độ 1 chiếm 93,2% và độ 2a chiếm 6,8%.

3.1.9 Loại ca bệnh ghi nhận

Bảng 3 7 Loại ca bệnh ghi nhận

Loại ca bệnh ghi nhận Tần số Tỷ lệ %

Tản phát 206 100 Ổ dịch cộng đồng 0 0 Ổ dịch trường học 0 0

Trong năm 2017, thị xã Gò Công ghi nhận tổng cộng 206 ca bệnh tay chân miệng, trong đó 100% được xác định là các ca bệnh tản phát theo thống kê của ngành y tế.

Bảng 3 8 Tiền sử tiếp xúc

Tiền sử tiếp xúc Tần số Tỷ lệ %

Tiếp xúc với người mắc TCM có thể xảy ra tại nhà trẻ, mẫu giáo, trường học hoặc nhóm trẻ gia đình, với tỷ lệ 66,5% Ngoài ra, việc tiếp xúc với người chăm sóc trẻ có liên quan đến người mắc bệnh cũng cần được chú ý, đặc biệt khi đến những khu đông người như khu vui chơi, siêu thị hay chợ.

Trong năm 2017, thị xã Gò Công ghi nhận tổng cộng 206 ca bệnh tay chân miệng, trong đó 137 ca (65,5%) có tiền sử tiếp xúc tại nhà trẻ, mẫu giáo hoặc nhóm trẻ gia đình, và 69 ca (33,5%) không rõ tiền sử tiếp xúc.

Bảng 3 9 Nguồn nước sử dụng

Nguồn nước Tần số Tỷ lệ %

Trong tổng số 206 ca bệnh tay chân miệng được thống kê trong năm 2017 tại thị xã Gò Công thì 100% đều sử dụng nguồn nước là nước máy

Bảng 3 10 Yếu tố dùng chung

Yếu tố dùng chung Tần số Tỷ lệ % Ăn uống chung với trẻ nghi mắc bệnh TCM 01 0,5 Dùng đồ chơi chung với trẻ nghi mắc bệnh TCM 0 0

Dùng chung vật dụng với trẻ nghi mắc bệnh TCM 0 0

Trong tổng số 206 ca bệnh tay chân miệng được ghi nhận, chỉ có 01 trẻ, chiếm tỷ lệ 0,5%, có ăn uống chung với trẻ nghi mắc bệnh.

Mô tả thực hành phòng bệnh và xử trí khi trẻ mắc TCM của người chăm sóc chính

3.2.1 Đặc điểm của người chăm sóc chính

Bảng 3 11 Đặc điểm của người chăm sóc chính

Công nhân, Cán bộ viên chức 49 27,8

Trong số 176 đối tượng nghiên cứu, tỷ lệ nữ chiếm 72,2% và nam chiếm 27,8% Trình độ học vấn của họ cho thấy 54% có trình độ dưới trung học cơ sở, trong khi 46% có trình độ từ trung học phổ thông trở lên Nghề nghiệp chủ yếu là công nhân và cán bộ viên chức, chiếm 27,8%, cùng với các nghề khác, bao gồm cả thất nghiệp.

HUPH nghiệp chiếm 72,2%; Có 9,1% có thu nhập thấp thuộc hộ nghèo, cận nghèo và có 92% có ≤2 con dưới 5 tuổi

3.2.2 Thực hành phòng ngừa bệnh TCM

3.2.2.1.Thực hành rửa tay của người chăm sóc trẻ

Bảng 3 12 Thực hành rửa tay của người chăm sóc trẻ

Thực hành rửa tay của người chăm sóc trẻ Tần số

Thời điểm rửa tay của ĐTNC

Trước khi nấu ăn 95 54,0 Trước khi cho trẻ ăn 66 37,5 Trước khi chăm sóc, tiếp xúc với trẻ 34 19,3

Sau khi đi vệ sinh 153 86,9 Sau khi làm vệ sinh, chăm sóc, cho trẻ 153 86,9 Sau khi xì mũi, ho hoặc hắt hơi vào tay 99 56,3

Khi thấy tay mình bẩn 173 98,3 Không nhớ/không trả lời 02 1,1 Khi rửa tay có sử dụng xà phòng, dung dịch sát khuẩn

Thường xuyên sử dụng 98 55,7 Thỉnh thoảng sử dụng 77 43,8 Hiếm khi sử dụng 01 0,6 Không bao giờ sử dụng 0 0 Đánh giá thực hành rửa tay của người chăm sóc trẻ Đạt 15 8,5

Người chăm sóc chính trong nghiên cứu cho biết thời điểm rửa tay khi tay bẩn đạt 98,3%, sau khi đi vệ sinh và trước khi chăm sóc trẻ là 86,9% Tuy nhiên, tỷ lệ rửa tay trước khi tiếp xúc với trẻ chỉ đạt 19,3% Việc sử dụng xà phòng và dung dịch sát khuẩn khi rửa tay chỉ đạt 55,7% Đánh giá thực hành rửa tay của người chăm sóc trẻ cho thấy chỉ 8,5% đạt yêu cầu, trong khi 91,5% không đạt.

3.2.2.2 Thực hành rửa tay cho trẻ

Bảng 3 13 Thực hành rửa tay cho trẻ

Thực hành rửa tay cho trẻ Tần số Tỷ lệ

Thời điểm để rửa tay cho trẻ

Trước khi cho trẻ ăn 105 59,7 Sau khi trẻ vui chơi ngoài trời 52 29,5

Sau khi trẻ đi vệ sinh 136 77,3 Sau khi trẻ chơi, tiếp xúc với đồ dùng 53 30,1

Sau khi trẻ ngủ dậy 29 16,5 Sau khi xì mũi, ho hoặc hắt hơi vào tay 74 44,9

Khi thấy tay trẻ bẩn 173 98,3

Không để ý 02 1,1 Đánh giá thực hành rửa tay cho trẻ Đạt 33 18,8

Theo nghiên cứu, thời điểm rửa tay cho trẻ em chủ yếu là khi tay trẻ bẩn, chiếm 98,3%, trong khi tỷ lệ rửa tay sau khi trẻ ngủ dậy chỉ đạt 16,5% Đánh giá thực hành rửa tay của người chăm sóc chính cho trẻ cho thấy chỉ có 18,8% đạt yêu cầu, trong khi 81,2% không đạt.

3.2.2.3 Thực hành lau rửa đồ chơi của trẻ

Bảng 3 14 Thực hành lau rửa đồ chơi của trẻ

Thực hành lau rửa đồ chơi của trẻ Tần số

Thời điểm lau rửa đồ chơi cho trẻ

Trước khi trẻ chơi 34 19,3 Sau khi trẻ chơi xong 32 18,2 Khi thấy đồ chơi bẩn 152 86,4 Định kỳ một lần 26 15,4

Tần suất lau rửa đồ chơi của trẻ

Sử dụng xà phòng khi lau rửa đồ chơi trẻ

Không bao giờ 0 0 Đánh giá Thực hành lau rửa đồ chơi của trẻ Đạt 39 22,2

Theo nghiên cứu, 86,4% người tham gia cho biết họ lau rửa đồ chơi của trẻ khi thấy đồ chơi bẩn, trong khi chỉ 15,4% thực hiện việc này định kỳ Tần suất lau rửa đồ chơi chủ yếu là hàng tuần với 34,8%, trong khi tần suất hàng ngày chỉ đạt 12,5% Việc sử dụng xà phòng khi lau rửa đồ chơi của trẻ đạt 50,6% Đánh giá tổng thể về thực hành lau rửa đồ chơi cho thấy chỉ 22,2% đạt yêu cầu, trong khi 77,8% không đạt.

3.2.2.4 Thực hành lau chùi sàn nhà, nơi chơi đùa của trẻ

Bảng 3 15 Thực hành lau chùi sàn nhà, nơi chơi đùa của trẻ

Thực hành lau chùi sàn nhà, nơi chơi đùa của trẻ Tần số

Lau chùi sàn nhà, nơi trẻ chơi đùa

Trước khi trẻ chơi 44 25,0 Sau khi trẻ chơi 23 13,1 Khi thấy bẩn 151 85,5

Tần suất lau chùi sàn nhà, nơi chơi đùa của trẻ

Sử dụng xà phòng lau rửa sàn nhà

Không bao giờ 0 0 Đánh giá thực hành lau chùi sàn nhà, nơi chơi đùa của trẻ Đạt 93 52,8

Theo nghiên cứu, thời điểm lau chùi sàn nhà nơi trẻ chơi đùa chủ yếu là khi thấy bẩn (85,5%), trong khi tần suất lau chùi hàng ngày đạt 56,3% và hàng tuần là 43,8% Việc sử dụng xà phòng khi lau chùi sàn nhà cho trẻ đạt 61,9% Đánh giá tổng thể về thực hành lau chùi sàn nhà nơi trẻ chơi đạt 52,8%.

3.2.2.5 Thực hành vệ sinh ăn uống cho trẻ

Bảng 3 16 Thực hành vệ sinh ăn uống cho trẻ

Thực hành vệ sinh ăn uống cho trẻ Tần số

Mớm thức ăn cho trẻ

Thường xuyên 51 29,0 Thỉnh thoảng 42 23,3 Hiếm khi 32 18,2 Không bao giờ 51 29,0

Cho trẻ bốc thức ăn, mút tay, ngậm mút đồ chơi

Thỉnh thoảng 34 19,3 Hiếm khi 42 23,9 Không bao giờ 80 45,5

Nấu chín, đậy kín thức ăn của trẻ

Thường xuyên 139 79,0 Lúc đậy lúc không 37 21,0

Không bao giờ 0 0 Đánh giá thực hành vệ sinh ăn uống cho trẻ Đạt 31 17,6

Trong nghiên cứu về thực hành vệ sinh ăn uống cho trẻ, chỉ có 17,6% người tham gia đạt tiêu chuẩn Cụ thể, 29% thường xuyên mớm thức ăn cho trẻ, 11,4% cho trẻ ăn bốc, mút tay và ngậm đồ chơi Đáng chú ý, 79% cho biết thức ăn của trẻ được nấu chín và đậy kín thường xuyên.

3.2.2.6 Thực hành xử l ý phân của trẻ

Bảng 3 17 Thực hành xử l ý phân cho trẻ

Thực hành xử l ý phân cho trẻ Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Cách cho trẻ đi vệ sinh

Luôn luôn đi vào bô hoặc nhà vệ sinh 159 90,3 Lúc sử dụng bô/ nhà vệ sinh lúc không 13 7,4 Không hề sử dụng bô/ nhà vệ sinh 1 0,6

Xử lý phân của trẻ Đổ vào nhà vệ sinh chung của gia đình 170 96,6 Đổ vào nơi chứa rác sinh hoạt của gia đình 2 1,1

Mương ao, hồ 3 1,7 Đánh giá Thực hành xử lý phân Đạt 158 89,8

Trong nghiên cứu về thực hành xử lý phân của trẻ, có 90,3% người tham gia cho biết họ luôn luôn cho trẻ đi vào bô hoặc nhà vệ sinh Đáng chú ý, 96,6% người xử lý phân bằng cách đổ vào nhà vệ sinh chung của gia đình, trong khi chỉ 0,6% đổ phân ở vườn cây và 1,7% đổ ra mương-ao-hồ Đánh giá thực hành xử lý phân của trẻ đạt 89,8%, cho thấy sự chú trọng trong việc phòng ngừa bệnh tật cho trẻ em từ phía người chăm sóc chính.

Biểu đồ 3 3 Đánh giá thực hành phòng ngừa bệnh TCM

Tỷ lệ thực hành phòng bệnh của người chăm sóc chính đạt là 36,4% và thực hành không đạt là 63,6%

3.2.3 Mô tả thực hành xử trí khi trẻ mắc bệnh

Bảng 3 18 Thực hành xử trí khi trẻ mắc bệnh

Thực hành xử trí khi trẻ mắc bệnh Tần số

Nơi khám điều trị ban đầu cho trẻ

Thông báo tình trạng bệnh của trẻ

Thông báo cho gia đình 106 60,2 Thông báo cho cán bộ y tế 62 35,5 Thông báo cho thầy/cô giáo 8 4,5

Vệ sinh bàn tay sau khi chăm sóc/ tiếp xúc với trẻ

Thỉnh thoảng/khi dính bẩn 64 36,4

Vệ sinh đồ chơi, đồ dùng/ nơi trẻ đã tiếp xúc

Ngay sau khi trẻ tiếp xúc 91 51,7 Thỉnh thoảng/khi dính bẩn 85 48,3

Cách ly, không cho trẻ tiếp xúc với trẻ khác

Dùng riêng vật dụng ăn uống của trẻ

Nghỉ học theo hướng dẫn của y tế 108 61,4 Đi học ngay sau khi khỏi bệnh 61 34,7 Đi học bình thường 07 4,0 Đánh giá Thực hành xử trí khi trẻ mắc bệnh Đạt 74 42,0

Khi trẻ mắc bệnh, 69,9% người tham gia nghiên cứu cho biết họ chọn phòng khám hoặc bệnh viện là nơi khám điều trị ban đầu Chỉ có 1,7% người tự mua thuốc để điều trị cho trẻ.

Tình trạng bệnh của trẻ được thông báo cho gia đình đạt 60,2%, cho cán bộ y tế là 35,5%, và cho thầy cô giáo là 4,5% Việc thực hiện vệ sinh tay sau khi chăm sóc và tiếp xúc với trẻ đạt 63,6%, trong khi vệ sinh đồ chơi và đồ dùng mà trẻ đã tiếp xúc là 51,7% Cách ly trẻ, không cho tiếp xúc với trẻ khác đạt 66,5%, và việc sử dụng riêng vật dụng ăn uống của trẻ là 50% Cuối cùng, tỷ lệ cho trẻ nghỉ học theo hướng dẫn của ngành y tế là 61,4%.

Biểu đồ 3 4 Đánh giá Thực hành xử trí khi trẻ mắc bệnh của người chăm sóc chính

Tỷ lệ thực hành xử trí của người chăm sóc chính khi trẻ mắc bệnh, thực hành đạt chiếm 42% và thực hành không đạt là 58%

3.3 Mối liên quan giữa thực hành phòng bệnh và xử trí khi mắc bệnh với các đặc điểm của người chăm sóc chính

Bảng 3 19 Mối liên quan giữa thực hành phòng bệnh với các đặc điểm của người chăm sóc chính

Kết quả nghiên cứu cho thấy, nam giới là người chăm sóc chính có thực hành phòng bệnh TCM cao gấp 3,4 lần so với nữ giới (OR = 3,419; 95%CI (1,590 – 7,350), p = 0,001) Ngoài ra, những người chăm sóc chính dưới 35 tuổi có thực hành phòng bệnh đạt cao gấp 3 lần so với những người trên 35 tuổi (OR = 3,000; 95%CI (1,556 – 5,749); p).

= 0,001); Nhóm những người có nghề nghiệp là công nhân và viên chức thì thực

HUPH cho thấy rằng việc thực hành phòng bệnh đạt cao gấp 3 lần so với những người làm nghề khác (OR = 2,985; 95%CI (0,512 – 1,754); p = 0,001) Đối với nhóm người có thu nhập thấp, hộ nghèo và cận nghèo, thực hành phòng bệnh đạt cao gấp 3,3 lần so với những người có thu nhập khá, cao (OR = 3,272; 95%CI (1,129 – 9,479); p = 0,023) Ngược lại, nhóm có ≤ 2 con nhỏ hơn 5 tuổi chỉ thực hành phòng bệnh bằng 0,2 lần so với nhóm có trên 2 con (OR = 0,200; 95%CI (0,060 – 0,667); p = 0,004) Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn và thực hành phòng bệnh của người chăm sóc chính.

Mối liên quan giữa thực hành xử trí khi mắc bệnh với các đặc điểm của người chăm sóc chính

Bảng 3 20 Mối liên quan giữa thực hành xử trí khi mắc bệnh với các đặc điểm của người chăm sóc chính

Thực hành xử trí p OR 95% CI Đạt Không đạt n (%) n (%) Giới

Có sự liên hệ rõ ràng giữa đặc điểm của người chăm sóc chính và thực hành xử trí khi trẻ mắc bệnh Cụ thể, nam giới thực hành xử trí hiệu quả hơn nữ giới với tỷ lệ gấp 4,7 lần (OR = 4,694; 95%CI (2,086 – 10,563); p < 0,001) Những người dưới 35 tuổi có tỷ lệ thực hành xử trí cao gấp 3,4 lần so với những người trên 35 tuổi (OR = 3,453; 95%CI (1,792 – 6,583); p < 0,001) Nhóm công nhân và viên chức thực hành xử trí hiệu quả gấp 2 lần so với các nghề nghiệp khác (OR = 2,089; 95%CI (1,071 – 4,075); p = 0,029) Những hộ nghèo và cận nghèo có tỷ lệ thực hành xử trí cao gấp 2,7 lần so với những hộ có thu nhập khá, cao (OR = 2,759; 95%CI (2,246 – 3,388); p < 0,001) Cuối cùng, những người có trên 2 con nhỏ hơn 5 tuổi thực hành xử trí hiệu quả gấp 5,7 lần so với những người có 2 con trở xuống (OR 0,174; 95%CI (0,047- 0,647); p = 0,004).

Không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn và thực hành xử trí khi trẻ mắc bệnh của người chăm sóc chính

BÀN LUẬN

Một số đặc điểm dịch tễ ca bệnh bệnh tay chân miệng trên địa bàn thị xã Gò Công năm 2017

Nghiên cứu đã thu thập dữ liệu từ 206 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (TCM) thông qua phiếu thông tin ca bệnh do Trung tâm Y tế thị xã Gò Công quản lý, trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2017 Kết quả cho thấy sự phân bố ca bệnh có sự thay đổi theo mùa.

Tình hình mắc tay chân miệng (TCM) ở thị xã Gò Công giai đoạn 2013-2017 diễn biến phức tạp, với 210 ca mắc vào năm 2017, gấp 2,4 lần so với năm 2016 Bệnh TCM xuất hiện rải rác quanh năm, nhưng có đỉnh dịch từ tháng 8 đến tháng 11 Kết quả này khác với các nghiên cứu khác tại Việt Nam, cho thấy đỉnh bệnh thường rơi vào tháng 3 đến tháng 5 và tháng 9 đến tháng 12 Mặc dù bệnh TCM có thể xảy ra quanh năm, nhưng chủ yếu gia tăng vào mùa hè và mùa thu Do đó, cần thực hiện các nghiên cứu sâu hơn và chú trọng theo dõi diễn biến bệnh, đặc biệt trong khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng 11 hàng năm.

Nghiên cứu cho thấy các xã nông thôn như Bình Xuân, Bình Đông, Tân Trung có tỷ lệ mắc bệnh tay chân miệng cao hơn so với các phường, điều này phù hợp với báo cáo của ngành y tế thị xã Gò Công trong giai đoạn 2013-2017 Bệnh tay chân miệng lây truyền trực tiếp từ người bệnh hoặc gián tiếp qua bàn tay và đồ vật có dính dịch tiết từ bệnh nhân, không lây qua động vật trung gian Do đó, việc giữ vệ sinh sạch sẽ cho nhà cửa, đồ dùng và thường xuyên rửa tay cho trẻ là rất quan trọng, đồng thời cần hạn chế việc để trẻ ngậm mút tay hoặc đồ chơi.

Đặc điểm của TCM miệng mắc cao/mắc thấp cần được xem xét cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, cùng với các yếu tố nông thôn và thành thị Nghiên cứu của Luan-Yin Chang vào năm 2008 tại Đài Loan trên 129.106 ca TCM cho thấy rằng việc sống ở khu vực nông thôn có liên quan đến TCM với tỷ lệ odds ratio là 1,4 (95% CI = 1,2-1,6).

Giới tính mắc bệnh TCM

Nam giới có nguy cơ mắc bệnh tay chân miệng (TCM) cao hơn nữ giới, điều này đã được ghi nhận trong nhiều vụ bùng phát dịch ở Việt Nam và một số quốc gia khác trên thế giới.

Năm 2017, tại thị xã Gò Công, tỷ lệ bệnh nhân TCM cho thấy nam giới chiếm 56,8% và nữ giới 43,2%, với tỷ số nam/nữ là 1,31/1, cho thấy sự chênh lệch trong tỷ lệ mắc bệnh giữa hai giới Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Tiến tại các tỉnh phía Nam Việt Nam cũng chỉ ra rằng bệnh TCM xảy ra nhiều hơn ở trẻ em trai, với tỷ lệ lên tới 61,43%.

Theo nghiên cứu năm 2012, tỷ lệ mắc bệnh TCM ở bé trai là 61,8% và bé gái là 39,2% Nghiên cứu của Thái Quang Hùng (2017) tại Đắklắk cho thấy tỷ số mắc bệnh giữa nam và nữ dao động từ 1,29 đến 1,53 Kết quả này tương đồng với một số nghiên cứu dịch tễ học ở Singapore, nơi tỷ lệ này là 1,3, nhưng thấp hơn so với nghiên cứu ở Trung Quốc năm 2008-2009, với tỷ số chênh lệch giữa nam và nữ là 1,56.

Bệnh tay chân miệng chủ yếu xảy ra ở trẻ em dưới 5 tuổi, với tỷ lệ mắc cao nhất ở nhóm 2-3 tuổi (61,2%) và giảm dần ở các nhóm lớn tuổi hơn Nghiên cứu năm 2017 tại thị xã Gò Công cho thấy trẻ từ 1-2 tuổi chiếm 79,6% tổng số ca mắc, tương tự như kết quả của Mary Jane Carddosa (2003) và cao hơn so với số liệu ở Hồng Kông (66,4%) trong giai đoạn 2001-2009 Mặc dù bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng trẻ dưới 3 tuổi là nhóm có nguy cơ cao nhất, phù hợp với hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của Bộ Y tế.

Triệu chứng bệnh TCM ở trẻ em cho thấy 99% trường hợp có biểu hiện sốt, tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Thái Quang Hùng.

Theo nghiên cứu năm 2017, tỷ lệ bệnh nhân TCM có triệu chứng loét miệng là 19,4%, thấp hơn so với 49,3% trong nghiên cứu của Thái Quang Hùng Đặc biệt, 100% bệnh nhân TCM xuất hiện triệu chứng phỏng nước, cao nhất so với các nghiên cứu khác.

Theo nghiên cứu, vị trí phỏng nước bệnh TCM chủ yếu xảy ra ở tay với tỷ lệ 56,8%, tiếp theo là chân 46,1%, mông 18,9% và đầu gối 17,5% Kết quả này nhất quán với các nghiên cứu khác, cho thấy tỷ lệ phỏng nước giảm dần từ tay đến chân, mông và gối.

Trong nghiên cứu này, triệu chứng kèm theo của bệnh TCM cho thấy chán ăn chiếm tỷ lệ cao nhất với 89,8%, tiếp theo là mệt mỏi 42,2%, đau họng 22,3%, tiêu chảy 8,7% và nôn 2,9%.

Trong nghiên cứu này, bệnh tay chân miệng có triệu chứng nặng với tỷ lệ trẻ quấy khóc chiếm 63,6%, giật mình 1,5% và triệu chứng co giật chỉ chiếm 0,5%.

Trong nghiên cứu này, tỷ lệ phân độ lâm sàng khi điều trị bệnh TCM cho thấy độ 1 chiếm 93,2%, trong khi độ 2a chỉ chiếm 6,8%, không có ca bệnh nào thuộc độ 2b, 3, hoặc 4 Sự chênh lệch này có thể được giải thích bởi mức độ nặng nhẹ khác nhau của các ca bệnh trong các nghiên cứu, cùng với các yếu tố khách quan khác.

Tuyến điều trị bệnh tay chân miệng cho thấy tỷ lệ cao nhất ở tuyến trung ương với 72,8%, trong khi tuyến huyện chỉ chiếm 15,5% và tuyến tỉnh thấp nhất với 11,7% Việc trẻ được nhập viện ở tuyến trung ương phản ánh sự quan tâm đến tình trạng bệnh, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ lây nhiễm chéo và làm quá tải bệnh viện Do đó, cần tăng cường thông tin từ các trung tâm giáo dục sức khỏe để người dân có thể xử trí và chọn lựa tuyến điều trị phù hợp.

Mối liên quan giữa thực hành phòng bệnh và thực hành xử trí khi mắc bệnh với các đặc tính mẫu nghiên cứu

Nam giới thực hành phòng bệnh cao gấp 3,4 lần nữ giới (OR = 3,42; 95%CI (1,59 – 7,3)) Những người dưới 35 tuổi thực hành phòng bệnh gấp 3 lần so với những người trên 35 tuổi (OR = 3; 95%CI (1,56 – 5,75)) Công nhân và viên chức thực hành phòng bệnh cao gấp 3 lần so với các nghề khác (OR = 2,99; 95%CI (0,51 – 1,75)) Người có thu nhập thấp, hộ nghèo, cận nghèo thực hành phòng bệnh cao gấp 3,3 lần so với người có thu nhập khá, cao (OR = 3,27; 95%CI (1,13 – 9,48)) Những người có ≤ 2 con nhỏ hơn 5 tuổi thực hành phòng bệnh chỉ bằng 0,2 lần so với những người có trên 2 con (OR = 0,20; 95%CI (0,06 – 0,67)) Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn và thực hành phòng bệnh của người chăm sóc chính Kết quả nghiên cứu tương đồng với nghiên cứu của Phan Trọng Lân và Lê Thị Thanh Hương (2014), cho thấy công nhân, viên chức thực hành phòng bệnh cao gấp 3,9 lần so với các nghề khác.

HUPH nhận mối liên quan giữa nhóm tuổi, và thu nhập của gia đình với thực hành phòng ngừa TCM của ĐTNC.[11, 15]

4.3.2.Thực hành xử trí khi trẻ mắc bệnh:

Những người giới nam thì thực hành xử trí khi trẻ mắc bệnh đạt cao gấp 4,7 lần so với những người giới nữ (OR = 4,7; 95%CI (2,09 – 10,56); Những người ≤

35 tuổi thì thực hành xử trí khi trẻ mắc bệnh đạt cao gấp 3,4 lần so với những người

Người ở độ tuổi 35 trở lên có khả năng xử trí khi trẻ mắc bệnh cao gấp 3,45 lần so với nhóm tuổi khác (OR = 3,45; 95%CI (1,79 – 6,58)) Những người làm nghề công nhân và viên chức thực hành xử trí tốt hơn gấp 2,9 lần so với những người làm nghề khác (OR = 2,09; 95%CI (1,07 – 4,08)) Đặc biệt, nhóm hộ nghèo và cận nghèo có khả năng xử trí khi trẻ mắc bệnh cao gấp 2,7 lần so với nhóm có thu nhập khá và cao (OR = ).

Nghiên cứu cho thấy rằng những người có ≤ 2 con nhỏ hơn 5 tuổi thực hành xử trí khi trẻ mắc bệnh chỉ đạt 0,17 lần so với những người có trên 2 con (OR = 0,17; 95%CI (0,05-0,65)) Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn và thực hành xử trí trẻ mắc bệnh TCM của người chăm sóc chính Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Phan Thanh Sơn và Trần Thị Anh Đào, khi cũng không tìm thấy mối liên quan giữa trình độ học vấn và thực hành phòng ngừa của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi Tuy nhiên, kết quả này khác với nghiên cứu của Đinh Xuân Hải, Phan Thanh Sơn và Trần Thị Anh Đào, khi không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nghề nghiệp, nhóm tuổi và thu nhập gia đình với thực hành xử trí của ĐTNC.

Hạn chế của nghiên cứu

Nghiên cứu chỉ dựa vào thông tin hồi cứu từ phiếu điều tra ca bệnh TCM theo mẫu của Bộ Y tế, do đó không thể mô tả đầy đủ các đặc điểm của ca bệnh TCM ở thị xã Gò Công Thời gian nghiên cứu hạn chế và thiết kế nghiên cứu chưa khai thác hết thông tin trên phiếu cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả.

Bộ câu hỏi phỏng vấn nhằm thu thập thông tin về thực hành phòng ngừa và xử trí khi trẻ mắc bệnh có thể dẫn đến sai số nhớ lại do chứa thông tin hồi cứu Đặc biệt, phần thực hành phòng bệnh có thể gây ra sai số trong nghiên cứu vì không xác định rõ thời điểm thực hiện trước hay sau khi trẻ mắc bệnh.

Nghiên cứu hiện tại chỉ mới khám phá mối liên quan giữa thực hành phòng bệnh và cách xử trí khi trẻ mắc bệnh với các đặc tính của ĐTNC Tuy nhiên, vẫn chưa có thông tin về mối liên hệ với kiến thức của ĐTNC, các biện pháp phòng bệnh, cũng như ảnh hưởng của chính sách và hoạt động y tế tại địa phương.

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3. 1. Đặc điểm của trẻ trong nghiên cứu - Đặc điểm dịch tễ học và thực hành phòng ngừa, xử trí khi trẻ mắc bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính tại thị xã gò công, tỉnh tiền giang, năm 2017
Bảng 3. 1. Đặc điểm của trẻ trong nghiên cứu (Trang 34)
Bảng 3. 2 . Những triệu chứng chính - Đặc điểm dịch tễ học và thực hành phòng ngừa, xử trí khi trẻ mắc bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính tại thị xã gò công, tỉnh tiền giang, năm 2017
Bảng 3. 2 . Những triệu chứng chính (Trang 35)
Bảng 3. 5  Vị trí phỏng nước các ca bệnh ở trẻ - Đặc điểm dịch tễ học và thực hành phòng ngừa, xử trí khi trẻ mắc bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính tại thị xã gò công, tỉnh tiền giang, năm 2017
Bảng 3. 5 Vị trí phỏng nước các ca bệnh ở trẻ (Trang 36)
Bảng 3. 6  Phân độ lâm sàng - Đặc điểm dịch tễ học và thực hành phòng ngừa, xử trí khi trẻ mắc bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính tại thị xã gò công, tỉnh tiền giang, năm 2017
Bảng 3. 6 Phân độ lâm sàng (Trang 36)
Bảng 3. 7  Loại ca bệnh ghi nhận - Đặc điểm dịch tễ học và thực hành phòng ngừa, xử trí khi trẻ mắc bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính tại thị xã gò công, tỉnh tiền giang, năm 2017
Bảng 3. 7 Loại ca bệnh ghi nhận (Trang 36)
Bảng 3. 9  Nguồn nước sử dụng - Đặc điểm dịch tễ học và thực hành phòng ngừa, xử trí khi trẻ mắc bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính tại thị xã gò công, tỉnh tiền giang, năm 2017
Bảng 3. 9 Nguồn nước sử dụng (Trang 37)
Bảng 3. 8 Tiền sử tiếp xúc - Đặc điểm dịch tễ học và thực hành phòng ngừa, xử trí khi trẻ mắc bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính tại thị xã gò công, tỉnh tiền giang, năm 2017
Bảng 3. 8 Tiền sử tiếp xúc (Trang 37)
Bảng 3. 11  Đặc điểm của người chăm sóc chính - Đặc điểm dịch tễ học và thực hành phòng ngừa, xử trí khi trẻ mắc bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính tại thị xã gò công, tỉnh tiền giang, năm 2017
Bảng 3. 11 Đặc điểm của người chăm sóc chính (Trang 38)
Bảng 3. 12  Thực hành rửa tay của người chăm sóc trẻ - Đặc điểm dịch tễ học và thực hành phòng ngừa, xử trí khi trẻ mắc bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính tại thị xã gò công, tỉnh tiền giang, năm 2017
Bảng 3. 12 Thực hành rửa tay của người chăm sóc trẻ (Trang 39)
Bảng 3. 14  Thực hành lau rửa đồ chơi của trẻ - Đặc điểm dịch tễ học và thực hành phòng ngừa, xử trí khi trẻ mắc bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính tại thị xã gò công, tỉnh tiền giang, năm 2017
Bảng 3. 14 Thực hành lau rửa đồ chơi của trẻ (Trang 40)
Bảng 3. 15  Thực hành lau chùi sàn nhà, nơi chơi đùa của trẻ - Đặc điểm dịch tễ học và thực hành phòng ngừa, xử trí khi trẻ mắc bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính tại thị xã gò công, tỉnh tiền giang, năm 2017
Bảng 3. 15 Thực hành lau chùi sàn nhà, nơi chơi đùa của trẻ (Trang 41)
Bảng 3. 16  Thực hành vệ sinh ăn uống cho trẻ - Đặc điểm dịch tễ học và thực hành phòng ngừa, xử trí khi trẻ mắc bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính tại thị xã gò công, tỉnh tiền giang, năm 2017
Bảng 3. 16 Thực hành vệ sinh ăn uống cho trẻ (Trang 42)
Bảng 3. 18  Thực hành xử trí khi trẻ mắc bệnh - Đặc điểm dịch tễ học và thực hành phòng ngừa, xử trí khi trẻ mắc bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính tại thị xã gò công, tỉnh tiền giang, năm 2017
Bảng 3. 18 Thực hành xử trí khi trẻ mắc bệnh (Trang 44)
Bảng 3. 19  Mối liên quan giữa thực hành phòng bệnh với các đặc điểm  của người chăm sóc chính - Đặc điểm dịch tễ học và thực hành phòng ngừa, xử trí khi trẻ mắc bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính tại thị xã gò công, tỉnh tiền giang, năm 2017
Bảng 3. 19 Mối liên quan giữa thực hành phòng bệnh với các đặc điểm của người chăm sóc chính (Trang 46)
Bảng  3.  20    Mối  liên  quan  giữa  thực  hành  xử  trí  khi  mắc  bệnh  với  các  đặc điểm của người chăm sóc chính - Đặc điểm dịch tễ học và thực hành phòng ngừa, xử trí khi trẻ mắc bệnh tay chân miệng của người chăm sóc chính tại thị xã gò công, tỉnh tiền giang, năm 2017
ng 3. 20 Mối liên quan giữa thực hành xử trí khi mắc bệnh với các đặc điểm của người chăm sóc chính (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w