1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cho điều dưỡng khoa khám bệnh, bệnh viện chợ rẫy – thành phố hồ chí minh, giai đoạn 2019 2020

116 5 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cho điều dưỡng khoa khám bệnh, bệnh viện Chợ Rẫy – Thành phố Hồ Chí Minh, giai đoạn 2019-2020
Tác giả Lâm Văn Minh
Người hướng dẫn TS. Trần Văn Vũ, PGS.TS. Bùi Thị Tú Quyên
Trường học Trường Đại học Y tế Công Cộng
Chuyên ngành Quản lý bệnh viện
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 2,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. (12)
    • 1.1. Một số khái niệm (12)
    • 1.2. Tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và nhiệm vụ chuyên môn của điều dưỡng (15)
    • 1.3. Một số văn bản chính sách liên quan đến đào tạo liên tục (16)
    • 1.4. Một số nghiên cứu về công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng trên thế giới và tại Việt Nam (20)
    • 1.5. Một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cho điều dưỡng (24)
    • 1.6. Thông tin địa bàn nghiên cứu (31)
    • 1.7. Khung lý thuyết (0)
  • Chương 2. (35)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (35)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (35)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (36)
    • 2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu (36)
    • 2.5. Phương pháp thu thập số liệu (37)
    • 2.6. Các biến số nghiên cứu (chi tiết phụ lục 6) (39)
    • 2.7. Các khái niệm, thước đo, tiêu chí đánh giá (40)
    • 2.8. Phân tích và xử lý số liệu (0)
    • 2.9. Vấn đề đạo đức nghiên cứu (40)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (42)
    • 3.1. Thông tin chung của điều dưỡng khoa khám bệnh (42)
    • 3.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến ĐTLT đối với ĐD tại Khoa Khám bệnh – Bệnh viện Chợ Rẫy, giai đoạn 2019-2020 (50)
  • Chương 4. Bàn luận (64)
    • 4.1. Thực trạng đào tạo liên tục của nhân viên Điều dưỡng khoa Khám bệnh - Bệnh viện Chợ Rẫy, giai đoạn 2019-2020 (64)
    • 4.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục của nhân viên Điều dưỡng khoa Khám bệnh - Bệnh viện Chợ Rẫy, giai đoạn 2019-2020 (71)
    • 4.3. Hạn chế nghiên cứu (80)
  • KẾT LUẬN (82)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (84)

Nội dung

Một số khái niệm

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) vào năm 2006, nguồn nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe.

Theo Ủy ban kiểm định giáo dục y học liên tục của Hoa Kỳ, ĐTLT bao gồm các hoạt động giáo dục nhằm duy trì và nâng cao kiến thức, kỹ năng, và hiệu suất làm việc của nhân viên y tế Nội dung của ĐTLT phản ánh tổng thể kiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực y học, cùng với các tiêu chuẩn thực hành lâm sàng ĐTLT không chỉ hỗ trợ nhân viên y tế trong việc cung cấp dịch vụ y tế cho bệnh nhân và cộng đồng, mà còn góp phần tăng cường sự chuyên nghiệp trong ngành y.

CME (Continuing Medical Education) được hiểu là các hoạt động rõ ràng nhằm nâng cao chuyên môn cho cán bộ y tế, từ đó cải thiện chất lượng chăm sóc bệnh nhân Đào tạo liên tục (ĐTLT) không phải là khái niệm mới tại Việt Nam, đã được quy định trong Luật Khám bệnh, chữa bệnh và nhiều văn bản quản lý y tế ĐTLT bao gồm các khóa đào tạo ngắn hạn, bồi dưỡng kiến thức và kỹ thuật chuyên môn, đào tạo lại theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến, chuyển giao kỹ thuật, và các khóa đào tạo khác không thuộc hệ thống bằng cấp quốc gia.

Theo Thông tư 22/2013/TT-BYT và Thông tư 26/2020/TT-BYT, đào tạo liên tục bao gồm các khóa đào tạo ngắn hạn nhằm bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng và nghiệp vụ cho cán bộ y tế Các hình thức đào tạo này bao gồm cập nhật kiến thức y khoa (CME), phát triển nghề nghiệp (CPD), đào tạo chuyển giao kỹ thuật, và các khóa đào tạo chuyên môn khác không thuộc hệ thống văn bằng giáo dục quốc dân.

Cơ sở đào tạo liên tục bao gồm các viện, bệnh viện có giường bệnh, viện nghiên cứu, và các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp hoặc dạy nghề y tế Ngoài ra, còn có các cơ sở giáo dục khác đào tạo mã ngành thuộc khối ngành khoa học sức khỏe, cùng với các trung tâm đào tạo nhân lực y tế, tất cả đều được Bộ Y tế thẩm định và công nhận.

Nhu cầu đào tạo là những gì cần thiết để đạt được mục tiêu trong cuộc sống và công việc, thường xuất phát từ mong muốn của người học Đôi khi, người học không nhận ra nhu cầu của mình và cần sự hỗ trợ từ chuyên gia đào tạo Đánh giá nhu cầu đào tạo là quá trình tìm hiểu năng lực của người tham gia trước khi đào tạo, tập trung vào những gì cần học thay vì sở thích cá nhân Quá trình này giúp xác định sự chênh lệch giữa kỹ năng, kiến thức và thái độ hiện tại của người học với những gì họ cần đạt được.

Từ xa xưa, con người đã tin vào thần linh và thượng đế, khi ốm đau họ thường mời pháp sư đến để điều trị và cầu nguyện Các đền miếu được xây dựng để thờ cúng và dần trở thành trung tâm chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân, nơi các pháp sư và nhóm nữ giúp lễ chăm sóc bệnh nhân, hình thành mối liên kết giữa Y khoa, điều dưỡng và Tôn giáo Florence Nightingale, người sáng lập ngành điều dưỡng, đã đóng góp lớn cho việc tổ chức và điều hành chăm sóc sức khỏe khi bà mới 30 tuổi.

Florence Nightingale đã thành lập trường đào tạo Y tá đầu tiên trên thế giới ở Anh vào năm 1860 với ngân sách 50.000 bảng Anh, đặt nền tảng cho hệ thống đào tạo Y tá toàn cầu Để vinh danh bà, ngày sinh của bà (12/05) được chọn làm Ngày Điều dưỡng Quốc tế, khẳng định vai trò của bà như người mẹ tinh thần của ngành điều dưỡng Tại miền Bắc, vào ngày 21 tháng 11 năm 1963, Bộ trưởng Bộ Y tế đã quyết định về chức vụ Y tá trưởng tại các cơ sở y tế Năm 1970, Hội điều dưỡng miền Nam được thành lập, với bà Lâm Thị Hạ là Chủ tịch đầu tiên Sau khi đất nước thống nhất vào năm 1975, công tác chăm sóc sức khỏe được thống nhất giữa hai miền, và tên gọi y tá ở miền Bắc và điều dưỡng ở miền Nam dần được thống nhất thành điều dưỡng, phản ánh đúng vị trí và vai trò của họ.

Vào ngày 26/10/1990, Hội Điều dưỡng Việt Nam đã tổ chức đại hội thành lập tại Hội trường Ba Đình theo Quyết định số 375/HĐBT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, đánh dấu sự ra đời của đội ngũ Y tá, điều dưỡng, Hộ sinh và Kỹ thuật viên y học, được gọi chung là điều dưỡng.

Nghề Điều Dưỡng (ĐD) là một chuyên ngành quan trọng trong hệ thống y tế, có vai trò bảo vệ và nâng cao sức khỏe, đồng thời tối ưu hóa khả năng dự phòng bệnh tật và chấn thương Điều Dưỡng không chỉ giúp xoa dịu nỗi đau thông qua chẩn đoán và điều trị mà còn tăng cường chăm sóc cho cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội Hiện nay, Điều Dưỡng đã được công nhận là một nghề nghiệp độc lập, hợp tác chặt chẽ với bác sĩ, kỹ thuật viên, dược sĩ và các chuyên gia y tế khác.

HUPH đóng vai trò quan trọng trong hệ thống y tế, cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội Điều dưỡng viên, bao gồm cả nam và nữ, chịu trách nhiệm kiểm tra tình trạng bệnh nhân, chăm sóc sức khỏe, kê toa thuốc và thực hiện các công việc khác trong hệ thống y tế, từ chăm sóc sức khỏe ban đầu đến quá trình trị liệu và phục hồi cho bệnh nhân Theo một định nghĩa khác, điều dưỡng viên là viên chức chuyên môn kỹ thuật trong ngành y tế, thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản và chuyên khoa tại các cơ sở y tế.

Tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và nhiệm vụ chuyên môn của điều dưỡng

Chức danh nghề nhiệp ĐD được phân thành 3 hạng: Hạng II, hạng III, hạng

IV có các bậc lương và trách nhiệm khác nhau, với tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của mỗi Hạng được phân biệt theo quyền hạn, trách nhiệm, nhiệm vụ, và trình độ đào tạo Thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 07 tháng 10 năm 2015 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ quy định nhiệm vụ, tiêu chuẩn trình độ đào tạo và bồi dưỡng của chức danh nghề nghiệp ĐD, là căn cứ cho việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức ĐD trong các cơ sở y tế công lập.

1.2.2 Nhiệm vụ chuyên môn điều dưỡng

Nhiệm vụ của điều dưỡng (ĐD) được quy định trong tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, nhưng tại hầu hết các bệnh viện ở Việt Nam, ĐD chưa phát huy hết vai trò của mình Họ chủ yếu thực hiện các công việc hàng ngày và y lệnh của bác sĩ Việc thiếu quy định phân cấp cụ thể về phạm vi hành nghề dẫn đến tình trạng ĐD, dù có trình độ khác nhau, vẫn thực hiện nhiệm vụ gần như giống nhau.

Thông tư 07/2011/TT-BYT ngày 26 tháng 01 năm 2011 của Bộ Y tế quy định nhiệm vụ của điều dưỡng viên trong bệnh viện, bao gồm 12 nhiệm vụ chính: tư vấn và hướng dẫn giáo dục sức khỏe, chăm sóc tinh thần, vệ sinh cá nhân, dinh dưỡng, phục hồi chức năng, chăm sóc bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật, và theo dõi việc sử dụng thuốc cho người bệnh.

HUPH chăm sóc người bệnh trong giai đoạn hấp hối và người bệnh đã tử vong, thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng, theo dõi và đánh giá tình trạng người bệnh Đảm bảo an toàn và phòng ngừa sai sót trong chuyên môn kỹ thuật là ưu tiên hàng đầu, cùng với việc ghi chép hồ sơ bệnh án đầy đủ và chính xác.

Một số văn bản chính sách liên quan đến đào tạo liên tục

1.3.1 Trên thế giới Đào tạo y khoa liên tục trên thế giới luôn gắn với lịch sử ra đời và phát triển của nghề y Các nước đều có quy định bắt buộc toàn bộ bác sĩ, ĐD và nhân viên y tế phải cập nhật, bổ sung kiến thức liên tục, cập nhật những thông tin mới nhất về kỹ năng lâm sàng, kiến thức chuyên môn, tổ chức quản lý công việc, về đạo đức y học, giảng dạy, nghiên cứu, không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn của mình

Liên đoàn Giáo dục Y học Thế giới (WFME) đã khởi xướng các phương pháp học tập mới và tiêu chuẩn quốc tế trong giáo dục y học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo y khoa toàn cầu Hợp tác với Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), WFME đã xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc tế bao gồm ba giai đoạn: Giáo dục y học cơ bản, Giáo dục y học sau đại học và Đào tạo liên tục Bộ tiêu chuẩn này được thông qua tại Hội nghị toàn cầu về Giáo dục y học ở Copenhagen năm 2003 và đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ để áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới.

Từ những năm 1950, CME đã được áp dụng phổ biến ở các nước phát triển như Hoa Kỳ, Canada, Anh và Châu Âu, yêu cầu cán bộ y tế, đặc biệt là các điều dưỡng, phải có điểm CME định kỳ để duy trì giấy phép hành nghề.

Tại Hoa Kỳ, một trong những quốc gia hàng đầu về y học, chứng chỉ ĐTLT được xem xét kỹ lưỡng và đóng vai trò quan trọng trong việc cấp lại chứng chỉ hành nghề cho nhân viên y tế Các chương trình ĐTLT tại đây được quản lý chặt chẽ bởi Hội đồng kiểm định giáo dục thường xuyên về y tế, đảm bảo chất lượng cho hơn 600 tổ chức khác nhau, đồng nhất về tiêu chuẩn chất lượng và số lượng chứng chỉ được cấp.

Các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu và Bắc Mỹ, bao gồm Hoa Kỳ, đã công nhận lẫn nhau về CPD và CME Một số quốc gia ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương, như New Zealand, yêu cầu cá nhân tham gia chương trình CPD và CME để duy trì quyền hành nghề Nếu không đáp ứng yêu cầu, cá nhân sẽ bị đình chỉ hành nghề và phải làm việc dưới sự giám sát của một tổ chức chung để tái cấp chứng chỉ Các hoạt động CPD và CME bao gồm hội nghị, hội thảo, tài liệu, chương trình đào tạo trực tuyến và các hình thức thông tin điện tử khác, được xây dựng và thực hiện bởi các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực chuyên môn.

Vào những năm 1990, Bộ Y tế đã bắt đầu áp dụng khái niệm Đào tạo Liên tục (ĐTLT) với sự hỗ trợ từ Dự án Hỗ trợ đào tạo nhân lực y tế của Thụy Điển (Dự án 03/SIDA) Các chương trình ĐTLT tại các địa phương được triển khai và đẩy mạnh, đồng thời Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách liên quan đến đào tạo liên tục, sử dụng và đãi ngộ cán bộ y tế, trong đó có Quyết định số 243/2005/QĐ-TTg.

Chương trình hành động của Chính phủ nhằm thực hiện nghị quyết số 46-NQ/TW tập trung vào việc xây dựng và ban hành quy hoạch mạng lưới các cơ sở đào tạo cán bộ y tế, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả chăm sóc sức khỏe Đồng thời, chương trình cũng sắp xếp, mở rộng và nâng cấp các cơ sở đào tạo để đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng cán bộ y tế, phù hợp với quy hoạch phát triển ngành y tế Đặc biệt, sẽ xây dựng hai trung tâm đào tạo cán bộ y tế tại Hà Nội và TP.HCM, đạt tiêu chuẩn ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực.

Đến năm 2008, Bộ Y tế đã ban hành thông tư 07/2008/TT-BYT hướng dẫn về đào tạo liên tục trong y tế Năm 2009, luật Khám, chữa bệnh được ban hành, quy định rõ trách nhiệm của quản lý nhà nước trong việc tổ chức đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Nghị định số 18/2010/NĐ-CP quy định nghĩa vụ học tập của công chức, nhằm trang bị kiến thức và kỹ năng cần thiết Nghị định 29/2012/NĐ-CP tiếp tục củng cố các quy định về đào tạo và bồi dưỡng công chức trong lĩnh vực y tế.

Năm 2012, việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức đã được hướng dẫn thực hiện bắt buộc việc cập nhật kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp chuyên ngành Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 19 tháng 05 năm 2016 của Thủ tướng Chính Phủ đã phát động thi đua nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 và kế hoạch 5 năm (2016-2020), theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, trong đó nhấn mạnh việc triển khai quy hoạch phát triển nguồn lực y tế giai đoạn 2010-2020.

Theo thông tư 22/2013/TT-BYT ngày 09 tháng 08 năm 2013 thay thế Thông tư số 07/2008/TT-BYT ngày 28/05/2008 về Hướng dẫn công tác ĐTLT cho cán bộ

Cán bộ y tế phải thực hiện đủ 48 tiết học đào tạo liên tục trong 2 năm để giữ chứng chỉ hành nghề, theo quy định của luật khám chữa bệnh Nếu quy định này được áp dụng nghiêm túc, đội ngũ nhân viên y tế không chú trọng đến đào tạo liên tục sẽ không đủ điều kiện hành nghề, ảnh hưởng lớn đến công tác khám, chữa bệnh Các hình thức đào tạo liên tục bao gồm đào tạo thập huấn, chuyển giao kỹ thuật, và bồi dưỡng chuyên môn ngắn hạn, có thể diễn ra trong và ngoài nước, theo hình thức tập trung hoặc trực tuyến (E-learning) Thời gian tham gia đào tạo được tính theo thực tế chương trình, với hội thảo, hội nghị, tọa đàm có xác nhận từ đơn vị tổ chức, cho phép người chủ trì hoặc có bài trình bày tối đa 8 tiết học và người tham dự tối đa 4 tiết học cho mỗi sự kiện.

HUPH án, luận văn; viết bài báo khoa học đã được công bố theo qui định: Được tính tối đa

Bài viết này đề cập đến 12 tiết học dành cho người hướng dẫn luận án, cũng như cho những ai chủ trì hoặc làm thư ký cho các đề tài cấp Nhà nước hoặc cấp Bộ Ngoài ra, còn có 8 tiết học dành cho việc hướng dẫn luận văn hoặc cho những người chủ trì/thư ký đề tài cấp cơ sở, tính từ thời điểm luận văn được bảo vệ thành công hoặc đề tài được nghiệm thu đạt.

Vào năm 2020, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 26/TT-BYT ngày 28/12/2020, bổ sung và sửa đổi một số điều của Thông tư 22/2013/TT-BYT ngày 09/8/2013, nhằm hướng dẫn công tác đào tạo liên tục (ĐTLT) cho cán bộ y tế Thông tư mới này chủ yếu bổ sung yêu cầu đối với chương trình ĐTLT, giảng viên, công tác triển khai và báo cáo Công tác ĐTLT cho cán bộ y tế đã được triển khai từ sớm qua nhiều hình thức như hội nghị, hội thảo, tập huấn và giao ban chuyên môn tại các cơ sở y tế Từ năm 2013 đến nay, Bộ Y tế đã chỉ đạo và hướng dẫn việc triển khai ĐTLT trên toàn quốc, hình thành một mạng lưới đào tạo liên tục với hơn 510 đơn vị, bao gồm 106 Mã A (các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề y tế) và 72 Mã B (các bệnh viện, viện nghiên cứu và trung tâm đào tạo nhân lực y tế đủ điều kiện).

Mã C 331 bao gồm Sở Y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các đơn vị thuộc Sở Y tế, cùng với y tế các Bộ, Ngành, đã được cấp mã cơ sở đào tạo liên tục Mạng lưới đào tạo liên tục (ĐTLT) đảm bảo cung cấp các khóa đào tạo cập nhật kiến thức y khoa liên tục, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả nguồn nhân lực y tế.

Hình 1.1 Sơ đồ tổ chức cơ sở đào tạo liên tục tại Việt Nam

Ngày 25 và 26 tháng 3 năm 2015, Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo, Bộ

Hội thảo Kiểm định chất lượng đào tạo liên tục nhân lực y tế do Tổ chức The Partnership for Health Advancement in Vietnam (HAIVN) tổ chức, với giảng viên là Bác sĩ Murray Kopelow, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Hội đồng Kiểm định chất lượng Đào tạo liên tục y khoa của Mỹ (ACCME) Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo, Bộ Y tế sẽ phối hợp với các đơn vị đào tạo để triển khai các hoạt động kiểm định chất lượng, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế và cải thiện dịch vụ y tế.

Một số nghiên cứu về công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng trên thế giới và tại Việt Nam

Nghiên cứu của Mei Chan Chong và các cộng sự (2014) cho thấy 60,7% điều dưỡng viên đã tham gia các khóa học chuyên môn, bao gồm điều dưỡng tim mạch, chăm sóc vết thương và hồi sức tim phổi.

(26) Nghiên cứu đã phát hiện ra rằng các ĐD trong các nghiên cứu của họ thường

HUPH thích các khóa học mà họ tin rằng sẽ nâng cao và thúc đẩy các hoạt động điều dưỡng và công việc lâm sàng (27)

Nghiên cứu của tác giả Mei Chan Chong và cộng sự (2013) tại Malaysia trên 792 điều dưỡng cho thấy rằng tất cả các điều dưỡng đều nhận thức được tầm quan trọng của đào tạo liên tục (ĐTLT) đối với sự phát triển nghề nghiệp của họ Tuy nhiên, chỉ có 80% (562) điều dưỡng tham gia vào các hoạt động ĐTLT trong 12 tháng qua, và tất cả các hoạt động khác nhau đều có tỷ lệ tham gia dưới 50% Trong đó, hội thảo là hoạt động ĐTLT phổ biến nhất, chiếm 43.6% với 345 điều dưỡng tham gia.

Một nghiên cứu tại Trung Quốc với mẫu lớn các điều dưỡng (n = 335) cho thấy tỷ lệ tham gia nghiên cứu khoa học của điều dưỡng rất thấp, chỉ đạt 4,13%, 7,85%, 5,35% và 2,04% trong các dự án nghiên cứu, tham gia nghiên cứu, bài báo được xuất bản và bằng sáng chế Kỹ năng nghiên cứu tự đánh giá của họ cũng chỉ đạt 25,00 (12,50, 37,50) Tuy nhiên, nghiên cứu về năng lực điều trị (NCĐT) lại tương đối cao với giá trị 53,12 (37,50, 75,00).

Cách thức tổ chức đào tạo

Năm 2014, tác giả Chunping Ni và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu cắt ngang trên 2.727 điều dưỡng (ĐD) tại 10 bệnh viện ở Trung Quốc nhằm tìm hiểu quan niệm, nhu cầu và các yếu tố tạo động lực với đào tạo liên tục (ĐTLT) Kết quả cho thấy hơn 92,2% ĐD nhận thức được tầm quan trọng của ĐTLT, và 97,3% ĐD đã tham gia các chương trình ĐTLT trong 12 tháng qua Trung bình, ĐD mong muốn dành 05 ngày cho các hoạt động ĐTLT, với thời gian lý tưởng cho mỗi buổi ĐTLT là khoảng 02 giờ.

Một nghiên cứu tại Trùng Khánh (2019) cho thấy hình thức giáo dục ĐD chủ yếu bao gồm đào tạo tại bệnh viện (77,0%), đào tạo từ xa (62,0%), hội thảo (32,0%) và tự học (27,0%) Nội dung giáo dục thường xuyên tập trung vào kiến thức lý thuyết cơ bản mới (71,5%), kỹ thuật ĐD mới (62,0%), an toàn ĐD (56,0%), giáo dục sức khỏe (47,5%), giảng dạy ĐD (36,0%) và quản lý ĐD (34,5%) Về hiệu quả của ĐTLT, có 67,8% ĐD cảm thấy hài lòng, 30,2% chấp nhận được và 2,0% không hài lòng.

HUPH không đạt yêu cầu do nhiều lý do, trong đó công việc bận rộn chiếm 54,8% và chi phí cao là 20,7% Hình thức đào tạo từ xa được kỳ vọng cao nhất với 69,7%, tiếp theo là đào tạo tại bệnh viện (68,9%) và hội nghị/bài giảng học thuật (35,9%) Nội dung đào tạo từ xa được mong đợi bao gồm các kỹ thuật đào tạo mới (81,7%), kiến thức lý thuyết cơ bản mới (73,7%) và an toàn đào tạo (57,8%).

Nghiên cứu của tác giả Lyn Dyson tại hai bệnh viện khu vực New Zealand nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng và điều chỉnh chương trình đào tạo liên tục (ĐTLT) để phù hợp với từng đối tượng đào tạo khác nhau Việc điều chỉnh và bổ sung nội dung đào tạo định kỳ là cần thiết để đảm bảo tính thực tiễn và hiệu quả của chương trình.

Mức độ phù hợp, tự tin với công việc

Nghiên cứu tại Murcia, Tây Ban Nha cho thấy 94,2% các điều dưỡng viên (ĐD) được khảo sát tin rằng việc đào tạo liên kết với nơi làm việc có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng dịch vụ chăm sóc Chỉ có 2 trong số 314 ĐD cho rằng việc đào tạo này không quan trọng.

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Thu (2015) cho thấy nhu cầu đào tạo lâm sàng về chăm sóc phục hồi chức năng, tư vấn giáo dục sức khỏe và các kỹ thuật cấp cứu như bóp bóng ambu, ép tim ngoài lồng ngực, và đặt nội khí quản đạt từ 60-80% Mặc dù công tác nghiên cứu khoa học được sử dụng thường xuyên, nhưng mức độ tự tin của các nhân viên y tế chỉ dưới 10,2%, với nhu cầu đào tạo lâm sàng trên 70% Một nghiên cứu khác chỉ ra rằng các nội dung đào tạo chuyên ngành chiếm tỉ lệ cao nhất 84,4%, tiếp theo là giao tiếp ứng xử 67,1%, an toàn người bệnh 64,2% và kiểm soát nhiễm khuẩn 53,8%.

Nghiên cứu của Vũ Ngọc Ánh (2020) tại Bệnh viện Quận 11 cho thấy 64,1% điều dưỡng tham gia đào tạo liên tục trên 24 giờ Công tác đào tạo liên tục chủ yếu tập trung vào chuyên môn, với 34,3% là nghiên cứu khoa học và 33,6% là tổ chức tập huấn đào tạo.

Cách thức tổ chức đào tạo

Nghiên cứu của Vũ Ngọc Ánh (2020) tại Bệnh viện Quận 11 cho thấy hầu hết các khóa đào tạo kéo dài từ 2-4 giờ, chủ yếu tập trung vào lý thuyết, với 64,1% được thực hiện qua hình thức tập huấn Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng 28,1% người tham gia cho rằng nội dung tập huấn chưa phù hợp, 32,8% cảm thấy chưa đáp ứng nhu cầu, và 37,5% cho rằng chương trình chưa mang lại hiệu quả.

Nghiên cứu cho thấy hầu hết giảng viên đều đáp ứng đầy đủ các tiêu chí về trình độ, bằng cấp và chứng chỉ sư phạm Phương pháp giảng dạy của giảng viên được đánh giá tích cực, với 84,2% học viên cho rằng phương pháp này phù hợp và 14,3% đánh giá là rất phù hợp Sự nhiệt tình của giảng viên cũng được học viên ghi nhận cao, với 80,8% nhận xét giảng viên nhiệt tình và 18,7% cho rằng giảng viên rất nhiệt tình Một nghiên cứu khác chỉ ra rằng trong các khóa đào tạo lâm sàng tại bệnh viện, 46,3% giảng viên đến từ bệnh viện, 6,3% từ trường đại học và 7,4% từ các bệnh viện khác Đối với các lớp đào tạo lâm sàng ngoài viện, chủ yếu giảng viên là từ các trường và bệnh viện khác, không có giảng viên từ bệnh viện.

Mức độ phù hợp với công việc

Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Điệp (2019) cho thấy 98% nhân viên y tế (NVYT) cho rằng kiến thức đào tạo lý thuyết (ĐTLT) phù hợp với công việc hiện tại Tương tự, nghiên cứu của Triệu Văn Tuyến (2015) trên 259 học viên lớp cấp cứu tại Vĩnh Phúc cho thấy 99,6% đào tạo nâng cao nghề nghiệp (ĐTNC) cho rằng nội dung ĐTLT phù hợp với mong muốn cá nhân, và 99,2% đánh giá nội dung này phù hợp với công việc đang đảm nhiệm Mức độ sử dụng nội dung ĐTLT trong công việc đạt 60,2% Mặc dù phần lớn người được khảo sát cho biết họ đã tham gia đào tạo, vẫn cần xem xét sự phù hợp của việc đào tạo với nhu cầu tại nơi làm việc.

HUPH cung cấp các khóa đào tạo tại nơi làm việc, tuy nhiên, nhiều người vẫn cảm thấy cần được đào tạo thêm Điều này được thể hiện qua dữ liệu cho thấy khoảng 53,8% người tham gia cho rằng chương trình đào tạo hiện tại không đáp ứng nhu cầu thực tế của công việc.

Mức độ tự tin thực hành

Công tác truyền thông và giáo dục sức khỏe (GDSK) được đội ngũ điều dưỡng (ĐD) thực hiện thường xuyên và tự tin, với tỷ lệ trên 70% Một số kỹ thuật mà ĐD tự nhận là tự tin khi thực hiện cũng đạt trên 70%, tuy nhiên, do đặc thù công việc, mức độ sử dụng không thường xuyên cho các kỹ thuật như thay băng, cắt chỉ, và tiêm tĩnh mạch Các kỹ thuật chuyên sâu không có trong danh mục kỹ thuật nên không được thực hiện tại trạm y tế, với tỷ lệ chỉ 40% Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Thu năm 2015 về năng lực điều dưỡng tại Bệnh viện Phổi Trung ương cho thấy, trong số 224 ĐD khoa lâm sàng được phỏng vấn, mức độ sử dụng thường xuyên và tự tin chỉ đạt 2/6 nhiệm vụ chăm sóc người bệnh và 2/13 kỹ thuật ĐD cơ bản, trong khi 4/10 kỹ thuật phụ giúp bác sĩ có tỷ lệ dưới 60%.

Một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cho điều dưỡng

1.5.1 Yếu tố thuộc về Cơ quan quản lý, ban hành chính sách

Khái niệm đào tạo liên tục trong ngành y tế Việt Nam đã được triển khai từ những năm 1990, nhờ vào sự hỗ trợ của Dự án hỗ trợ hệ thống đào tạo nhân lực y tế.

Bộ Y tế đã chỉ đạo các tỉnh thực hiện công tác đào tạo lại và đào tạo liên tục cho cán bộ y tế, theo hướng dẫn của 03/SIDA-Thụy Điển Trong hơn 10 năm qua, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách quan trọng liên quan đến đào tạo, sử dụng và đãi ngộ cán bộ y tế, bao gồm Quyết định số 243/2005/QĐ-TTg về “Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 46/NQ-TW”.

Nhân lực y tế Việt Nam hiện còn nhiều hạn chế, không chỉ thiếu về số lượng mà còn về năng lực chuyên môn Cán bộ y tế chưa đáp ứng được nhu cầu khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của người dân Một nguyên nhân chính là do thiếu đào tạo liên tục để cập nhật kiến thức chuyên môn, khiến nhiều cán bộ y tế sau khi ra trường không được nâng cao kỹ năng trong nhiều năm, dẫn đến việc không đáp ứng được yêu cầu thực tế.

Bộ Y tế Việt Nam coi việc đào tạo và cập nhật kiến thức cho cán bộ y tế là nhiệm vụ bắt buộc Tất cả cán bộ y tế cần được trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ chuyên môn để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.

Năm 2012, Bộ Y tế đã ban hành quyết định số 493/QĐ-BYT nhằm quy định các tiêu chuẩn chất lượng cho các cơ sở đào tạo liên tục (ĐTLT) như bệnh viện tuyến trung ương và các trường y tế Quyết định này nêu rõ các tiêu chí về tổ chức quản lý đào tạo, chương trình và tài liệu đào tạo, giảng viên, cơ sở vật chất, quản lý học viên và hợp tác đào tạo Tất cả các yếu tố này đều rất quan trọng và cần được phát triển toàn diện để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của cơ sở ĐTLT.

Luật khám bệnh, chữa bệnh và Thông tư 22/2013/TT-BYT về đào tạo liên tục (ĐTLT) đóng vai trò quyết định trong hoạt động ĐTLT cho cán bộ y tế (CBYT) Những chính sách và luật này tạo ra tiêu chuẩn cho các cơ sở đào tạo, giúp hoạt động ĐTLT diễn ra hợp lý và hiệu quả, đồng thời tạo điều kiện cho CBYT tham gia vào quá trình này.

Các quy định về chính sách và luật phù hợp có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả đào tạo liên tục cho cán bộ y tế Ngược lại, nếu không có những quy định này, các cơ sở đào tạo và cán bộ y tế sẽ gặp khó khăn trong việc tổ chức và tham gia các hoạt động đào tạo.

Theo chủ trương của Bộ Y tế, đến năm 2020, các bệnh viện công lập sẽ chuyển sang tự chủ hoàn toàn, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa cơ sở y tế tư nhân và nhà nước Sự phát triển của cơ sở y tế phụ thuộc vào đội ngũ bác sĩ có trình độ chuyên môn cao và điều dưỡng viên lành nghề Do đó, nhu cầu đào tạo liên tục cho điều dưỡng là rất cần thiết để củng cố kỹ năng lâm sàng và kiến thức, phù hợp với sự chuyển biến của ngành y tế.

1.5.2 Yếu tố thuộc về Cơ sở đào tạo

Yếu tố nhân lực đóng vai trò quyết định trong mọi hoạt động xã hội, đặc biệt trong công tác đào tạo Đội ngũ lãnh đạo, giảng viên và nhân viên hỗ trợ quản lý là những thành phần quan trọng Lãnh đạo có trách nhiệm quản lý và điều hành, thiết lập quy định cụ thể để đảm bảo công tác đào tạo được thực hiện theo tiêu chuẩn Hiệu quả của công tác đào tạo phụ thuộc nhiều vào quan điểm và chính sách của từng nhà lãnh đạo.

Những cán bộ tổ chức đào tạo đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các quy định và chính sách của lãnh đạo, kết nối các hoạt động thành một quy trình hoàn chỉnh Chất lượng đào tạo phụ thuộc vào năng lực và phương pháp triển khai của đội ngũ này.

Giảng viên đóng vai trò quan trọng trong đào tạo CBYT, giúp truyền tải kiến thức và hướng dẫn học viên về phương pháp, nội dung và kỹ thuật thực hành Năng lực của giảng viên được thể hiện qua trình độ kiến thức, khả năng sư phạm và khả năng áp dụng phương pháp giảng dạy phù hợp với chương trình và nhu cầu của học viên.

Lập kế hoạch và triển khai đào tạo:

Năng lực tổ chức đào tạo của cơ sở đào tạo thể hiện qua việc xây dựng kế hoạch đào tạo, chiêu sinh, triệu tập học viên, và bố trí giảng viên một cách hợp lý và hiệu quả Đánh giá khách quan từ CBYT về các khâu như đón tiếp, hội trường, phòng học, và thiết bị giảng dạy là cần thiết để xác định mức độ hiệu quả Sự phối hợp giữa các phòng, ban trong bệnh viện trong việc tuyển dụng và luân chuyển cán bộ còn thiếu, dẫn đến việc luân chuyển không dựa trên nhu cầu thực tế mà theo mong muốn cá nhân Hơn nữa, hiện tại chưa có đánh giá về khoảng cách năng lực hoặc hiệu quả đào tạo.

Chương trình và nội dung đào tạo:

Chương trình và nội dung đào tạo có ảnh hưởng lớn đến kết quả đào tạo, đặc biệt trong hình thức đào tạo tập trung Nội dung đào tạo y khoa thường không ổn định và cần cập nhật thường xuyên, gây khó khăn cho việc biên soạn tài liệu và làm tăng chi phí đào tạo Hơn nữa, sự thiếu đồng bộ trong tài liệu cũng gây khó khăn cho giảng viên và học viên Ngược lại, cơ sở đào tạo thực hiện tốt nội dung và chương trình sẽ giúp quá trình đào tạo diễn ra suôn sẻ, giảm chi phí và nâng cao chất lượng Nghiên cứu của Lưu Thị Nguyệt Minh tại Bệnh viện Tai Mũi Họng chỉ ra rằng các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức đào tạo liên tục bao gồm công việc quá tải, thiếu cán bộ chuyên trách và hình thức giảng dạy chủ yếu là lý thuyết, cùng với giảng viên chưa phù hợp với chuyên môn định hướng.

Nghiên cứu của Triệu Văn Tuyến (2015) chỉ ra rằng 99,0% người tham gia đánh giá nội dung đào tạo trực tuyến (ĐTLT) phù hợp với mong muốn cá nhân và công việc thực tế Kết quả này cho thấy rằng sự phù hợp của nội dung ĐTLT không chỉ làm tăng sự hứng thú của học viên mà còn mang lại hiệu quả tích cực hơn trong quá trình học tập.

Cơ sở vật chất, bao gồm hội trường, thiết bị nghe - nhìn và mô hình giảng dạy, đóng vai trò quan trọng trong công tác đào tạo Một cơ sở vật chất đầy đủ tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai đào tạo hiệu quả, trong khi cơ sở vật chất kém hoặc thiếu thốn có thể gây cản trở lớn, thậm chí làm trì trệ hoạt động đào tạo.

Thông tin địa bàn nghiên cứu

Bệnh viện Chợ Rẫy (BVCR), được thành lập từ năm 1900, có diện tích 50.000m² và được Bộ Y tế xếp hạng đặc biệt Tính đến ngày 30/9/2019, bệnh viện có hơn 4.000 cán bộ công chức, viên chức tham gia khám và điều trị bệnh nhân BVCR sở hữu 3.201 giường kế hoạch, 66 khoa phòng và trung tâm, bao gồm 11 phòng chức năng, 10 khoa cận lâm sàng, 40 khoa lâm sàng và 5 trung tâm.

Bệnh viện có 4 khoa Khám bệnh, bao gồm Khoa Khám bệnh II chuyên khám cho người bệnh ngoại trú không có BHYT và người Campuchia Khoa Khám bệnh khám và điều trị cho người bệnh ngoại trú có BHYT và dịch vụ Khoa Khám Xuất cảnh phục vụ cho những người cần khám sức khỏe để xuất cảnh Khoa Chăm sóc sức khỏe theo yêu cầu cung cấp dịch vụ khám và tư vấn sức khỏe định kỳ cho cả người Việt Nam và nước ngoài, phục vụ 7.500 lượt bệnh nhân ngoại trú và 3.000 lượt bệnh nhân nội trú mỗi ngày Số lượng nhân viên tại các khoa gồm: Khoa Khám bệnh I: 75, Khoa Khám bệnh II: 06, Khoa Chăm sóc sức khỏe theo yêu cầu: 22, và Khoa Khám xuất cảnh: 24.

Bệnh viện HUPH yêu cầu nhân viên y tế tại khoa khám bệnh phải đảm bảo cả số lượng lẫn chất lượng Do đó, việc đào tạo, đặc biệt là đối với điều dưỡng tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân, trở nên vô cùng quan trọng.

Trung tâm Đào tạo – Chỉ đạo tuyến bao gồm 5 phòng chức năng: Văn phòng Trung tâm, phòng Đào tạo, phòng Nghiên cứu khoa học, phòng Chỉ đạo tuyến và phòng Truyền thông & Kỹ năng lâm sàng Với vai trò là bệnh viện đa khoa đầu ngành phía Nam, Phòng Chỉ đạo tuyến luôn chú trọng vào công tác Chỉ đạo tuyến và thực hiện hiệu quả các đề án như bệnh viện vệ tinh.

Phòng Chỉ đạo tuyến của BVCR đã thành công trong việc đào tạo và chuyển giao nhiều gói kỹ thuật, nâng cao chất lượng chuyên môn cho các bệnh viện tuyến dưới Kể từ năm 2008, Bộ Y tế đã cho phép BVCR triển khai công tác đào tạo liên tục theo công văn số 8366/BYT-KHĐT, với mã đào tạo B, bao gồm các chuyên ngành lâm sàng, cận lâm sàng và phục hồi chức năng Năm 2009, Trung tâm Đào tạo và Chỉ đạo tuyến BVCR được thành lập theo quyết định số 4397/QĐ-BYT, với nhiệm vụ tổ chức và quản lý đào tạo, nghiên cứu khoa học, và hỗ trợ các khoa trong việc thực hiện kỹ năng lâm sàng Phòng Chỉ đạo tuyến đã nhận được nhiều bằng khen từ Ủy ban Nhân dân Tỉnh, Bộ Y tế và Thủ tướng Chính phủ.

Cán bộ y tế được đào tạo chuyên nghiệp trong hệ thống giáo dục quốc dân và nhận chứng nhận chuyên môn theo quy định.

Bộ Giáo dục và Đào tạo (12, 14)

Khoa khám bệnh hiện có hơn 140 nhân viên ĐD, phần lớn đã hoàn thành chương trình đào tạo cử nhân đại học Do đặc thù công việc diễn ra liên tục trong giờ hành chính, việc tham gia các chương trình đào tạo do bệnh viện tổ chức hàng tuần gặp nhiều khó khăn.

Tỷ lệ điều dưỡng (ĐD) tại Khoa Khám bệnh chưa đủ số giờ tham gia đào tạo liên tục theo thông tư 22/2013/TT-BYT là khá cao (9) Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng đào tạo liên tục của các ĐD và các yếu tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất các biện pháp khắc phục để nâng cao chất lượng đào tạo liên tục cho đối tượng ĐD tại Khoa Khám bệnh.

Dựa trên cơ cấu tổ chức và quy định quản lý công tác đào tạo liên tục theo Luật KCB và Thông tư 22/2013/TT-BYT, chúng tôi đã xác định đối tượng đào tạo liên tục và các đề tài nghiên cứu đã được thực hiện trong lĩnh vực này, từ đó xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu.

Chính sách và các văn bản pháp quy

- Luật khám bệnh, chữa bệnh và các văn bản pháp quy liên quan

Nhóm yếu tố cơ quan chủ quản

- Kinh phí cho đào tạo liên tục

- Nội dung ĐTLT Đối tượng đào tạo

- Điều dưỡng Nội dung đào tạo

- Kỹ năng mềm Hình thức đào tạo

- Hội nghị, hội thảo khoa học

Cách thức tổ chức đào tạo

- Giảng viên trong Bệnh viện

- Giảng viên là giáo viên ở các trường y tế

- Giảng viên từ các bệnh viện khác

Mức độ phù hợp với công việc

Mức độ tự tin thực hành

- Tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác

- Tính sẵn sàng và quan tâm đến đào tạo

Khung lý thuyết

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Nghiên cứu định lượng Điều dưỡng viên đang làm việc tại Khoa Khám bệnh (Khoa khám bệnh I, Khoa khám bệnh II, Khoa Chăm sóc sức khỏe theo yêu cầu, Khoa Khám xuất cảnh) của Bệnh viện Chợ Rẫy

Báo cáo, bảng tổng hợp của Phòng Điều dưỡng, Trung tâm đào tạo về đào tạo liên tục cho ĐD trong những năm 2019, 2020

Tất cả nhân viên ĐD Khoa khám bệnh tại Bệnh viện Chợ Rẫy đều có ít nhất 3 năm kinh nghiệm làm việc và đã tham gia các chương trình đào tạo liên tục trong và ngoài bệnh viện Họ cũng đồng ý tham gia nghiên cứu.

Các tiêu chuẩn loại trừ bao gồm: đối tượng đang trong thời gian nghỉ thai sản hoặc nghỉ ốm trong quá trình nghiên cứu; đối tượng theo học các khóa đào tạo dài hạn (thời gian trên 1 năm); và đối tượng có thời gian làm việc dưới 2 năm tại Khoa Khám bệnh, không đủ điều kiện tham gia nghiên cứu từ năm 2019-2020.

Tiêu chí lựa chọn nhân viên tham gia nghiên cứu bao gồm việc họ phải đồng ý tham gia và có ít nhất 3 năm kinh nghiệm làm việc tính đến thời điểm nghiên cứu.

Lãnh đạo phòng Đào tạo (Trưởng/ phó phòng Đào tạo)

Lãnh đạo Phòng điều dưỡng bao gồm Trưởng và Phó phòng Điều dưỡng, cùng với Điều dưỡng trưởng tại Khoa Khám bệnh I và Khoa Chăm sóc sức khỏe theo yêu cầu Đội ngũ Điều dưỡng viên hoạt động tại Khoa Khám bệnh I, Khoa Khám bệnh II, Khoa Chăm sóc sức khỏe theo yêu cầu và Khoa Khám xuất cảnh.

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 02 năm 2021 đến tháng 08 năm 2021

Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Nghiên cứu định lượng Điều dưỡng viên đang làm việc tại Khoa Khám bệnh (Khoa khám bệnh I, Khoa khám bệnh II, Khoa Chăm sóc sức khỏe theo yêu cầu, Khoa Khám xuất cảnh) của Bệnh viện Chợ Rẫy

Báo cáo, bảng tổng hợp của Phòng Điều dưỡng, Trung tâm đào tạo về đào tạo liên tục cho ĐD trong những năm 2019, 2020

Tất cả nhân viên ĐD Khoa khám bệnh tại Bệnh viện Chợ Rẫy đều có ít nhất 3 năm kinh nghiệm làm việc và đã tham gia các chương trình đào tạo liên tục trong và ngoài bệnh viện Họ cũng đồng ý tham gia nghiên cứu.

Các tiêu chuẩn loại trừ bao gồm: đối tượng đang trong thời gian nghỉ thai sản hoặc nghỉ ốm trong quá trình nghiên cứu; đối tượng theo học các khóa đào tạo dài hạn (thời gian trên 1 năm); và đối tượng có thời gian làm việc dưới 2 năm tại Khoa Khám bệnh, không đủ điều kiện tham gia nghiên cứu từ năm 2019-2020.

Tiêu chí lựa chọn nhân viên tham gia nghiên cứu bao gồm việc họ phải đồng ý tham gia và có ít nhất 3 năm kinh nghiệm làm việc tính đến thời điểm nghiên cứu.

Lãnh đạo phòng Đào tạo (Trưởng/ phó phòng Đào tạo)

Lãnh đạo Phòng Điều dưỡng bao gồm Trưởng và Phó phòng Điều dưỡng, cùng với Điều dưỡng trưởng tại Khoa Khám bệnh I và Khoa Chăm sóc sức khỏe theo yêu cầu Đội ngũ Điều dưỡng viên hoạt động tại Khoa Khám bệnh I, Khoa Khám bệnh II, Khoa Chăm sóc sức khỏe theo yêu cầu và Khoa Khám xuất cảnh.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 02 năm 2021 đến tháng 08 năm 2021

Bệnh viện Chợ Rẫy là địa điểm nghiên cứu chính, bao gồm các khoa như Khoa Khám bệnh I, Khoa Khám bệnh II, Khoa Chăm sóc sức khỏe theo yêu cầu và Khoa Khám xuất cảnh.

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang kết hợp phương pháp định lượng và định tính

Nghiên cứu định lượng đã mô tả thực trạng đào tạo liên tục cho đội ngũ điều dưỡng tại Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Chợ Rẫy trong giai đoạn 2019-2020 Đồng thời, nghiên cứu định tính được thực hiện song song nhằm làm rõ hơn về thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đào tạo liên tục cho điều dưỡng tại khoa này.

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Công thức tính cỡ mẫu:

Z 2 1 - α/2 * p (1 – p) n = ————————— d 2 Trong đó: n là tổng số ĐD tối thiểu cần cho nghiên cứu

Với độ tin cậy 95%, giá trị Z1 - α/2 là 1,96 và tỷ lệ p là 0,6 Nghiên cứu của Vũ Ngọc Ánh (2020) tại Bệnh viện Quận 11 cho thấy có 64,1% đối tượng đủ thời gian để thực hiện điều trị Độ chính xác mong muốn (sai số dự kiến) được xác định là 10%, với d = 0,1.

Dựa vào công thức và các chỉ số đã nêu, cỡ mẫu tối thiểu cần thiết là 92 nhân viên ĐD Tuy nhiên, chúng tôi đã thu thập được dữ liệu từ 125/140 ĐD viên, do có 2 ĐD đang nghỉ thai sản và một số ĐD không đồng ý tham gia hoặc không đáp ứng tiêu chí chọn.

Số liệu thứ cấp: Toàn bộ báo cáo, số liệu có sẵn trong năm 2019, 2020 về đào tạo liên tục của ĐD

Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ toàn bộ ĐD viên trong khu vực nghiên cứu, đáp ứng các tiêu chí cụ thể Cụ thể, số lượng ĐD viên tại Khoa khám bệnh I là 75, Khoa khám bệnh II là 06, Khoa Chăm sóc sức khỏe theo yêu cầu là 22, và Khoa Khám xuất cảnh là 24.

Chọn mẫu có chủ đích theo nguyên tắc dừng PVS/TLN khi thông tin bão hòa (thông tin trùng lặp và không có thêm được thông tin mới)

Phỏng vấn sâu: Thực hiện 04 cuộc PVS

01 lãnh đạo Phòng đào tạo

01 lãnh đạo Phòng điều dưỡng

02 điều dưỡng trưởng khoa khám bệnh I và khoa CSSK theo yêu cầu

Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã thực hiện một cuộc khảo sát với 12 điều dưỡng viên từ các khoa khác nhau, bao gồm 3 điều dưỡng viên khoa khám bệnh I, 3 điều dưỡng viên khoa khám bệnh II, 3 điều dưỡng viên khoa khám xuất cảnh, và 3 điều dưỡng viên khoa chăm sóc sức khỏe theo yêu cầu Mỗi khoa có 1 điều dưỡng viên có hơn 20 năm kinh nghiệm và 2 điều dưỡng viên có dưới 20 năm kinh nghiệm, tất cả đều đã tham gia đào tạo liên tục từ năm 2019-2020 và đồng ý tham gia thảo luận.

Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu định lượng

Bộ công cụ được phát triển và điều chỉnh dựa trên các thông tư và quy định liên quan đến ĐTLT, cụ thể là Thông tư số 07/2011/TT-BYT ban hành ngày 26/01/2011 của Bộ Y tế.

Bài viết này hướng dẫn công tác điều dưỡng trong việc chăm sóc người bệnh tại bệnh viện, dựa trên chuẩn năng lực cơ bản của điều dưỡng Việt Nam theo quyết định số 1352/QĐ-BYT ngày 24/04/2012 và thông tư số 22/2013/TT-BYT ngày 09/08/2013 của Bộ Y tế về đào tạo liên tục cho cán bộ y tế Chúng tôi xây dựng bộ câu hỏi phát vấn tự điền phù hợp với điều kiện thực tế tại đơn vị nghiên cứu, đồng thời tham khảo các đề tài nghiên cứu của tác giả Nguyễn Xuân Chi và Nguyễn Ngọc Điệp, với một số chỉnh sửa để phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi, bao gồm việc bỏ một số biến về nghiên cứu điều trị liên tục.

Bộ câu hỏi điều tra bao gồm 2 phần (Phụ lục 1):

Phần thông tin đối tượng nghiên cứu bao gồm việc đánh giá chung của ĐTNC về ĐTLT Chúng tôi thu thập thông tin từ các báo cáo tổng kết kế hoạch năm, các chương trình ĐTLT, danh sách học viên, danh sách cấp chứng chỉ và chứng nhận đào tạo từ phòng Đào tạo Ngoài ra, chúng tôi cũng xem xét chứng nhận/chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm/sư phạm y học và thời gian làm lâm sàng của giảng viên trong giai đoạn 2019-2020 theo mẫu thu thập thông tin đã được thiết kế sẵn (Phụ lục 5).

Phương pháp thu thập số liệu định lượng

Nghiên cứu viên chính tập huấn cho các điều tra viên về phương pháp thu thập số liệu trong 1/2 ngày

Nghiên cứu viên chính liên hệ với ĐD trưởng của các khoa để sắp xếp thời gian phát phiếu lấy thông tin

Nghiên cứu viên sẽ thông báo mục đích và hướng dẫn chi tiết cách trả lời bộ câu hỏi phát vấn Người tham gia cần lưu ý không trao đổi thông tin khi điền phiếu Nếu có thắc mắc, hãy hỏi trực tiếp nghiên cứu viên để được giải đáp Sau khi hoàn thành, nghiên cứu viên sẽ thu phiếu và kiểm tra lại để đảm bảo thông tin được điền đầy đủ và hợp lệ.

2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu định tính

Hướng dẫn PVS được thiết kế riêng cho từng đối tượng: Trưởng/phó phòng đào tạo; Trưởng/phó phòng ĐD (phụ lục 2); ĐD trưởng (phụ lục 3)

Các cuộc PVS được tiến hành tại phòng làm việc riêng của ĐTNC sau khi có lịch hẹn, được ghi biên bản và ghi âm khi được sự đồng ý

Thời gian PVS từ 20 - 30 phút

Hướng dẫn TLN với ĐD viên (phụ lục 4)

Các cuộc thảo luận nhóm (TLN) được thực hiện tại nơi làm việc của đội ngũ nghiên cứu, sau khi nhận được sự đồng ý từ trưởng khoa và điều dưỡng viên Quá trình TLN được ghi chép và ghi âm để phục vụ cho nghiên cứu, đồng thời đảm bảo bảo mật danh tính của người tham gia.

Thời gian TLN từ 45 - 50 phút

Các biến số nghiên cứu (chi tiết phụ lục 6)

2.6.1 Các nhóm biến cơ bản dành cho mục tiêu 1:

Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu: Tuổi, giới, trình độ học vấn, thâm niên công tác, đơn vị công tác

Thực trạng ĐTLT giai đoạn 2019-2020:

Biến đầu ra: Tỷ lệ ĐD khoa khám bệnh được ĐTLT đủ 48 giờ từ 2019- 2020; Tỷ lệ cán bộ y tế ĐTLT đáp ứng Thông tư 22;

Trong năm học 2019-2020, số lượng khóa đào tạo liên tục (ĐTLT) bao gồm các hình thức như tập huấn, đào tạo, hội nghị và hội thảo Thời gian đào tạo và phương pháp giảng dạy được chia thành lý thuyết và thực hành, với địa điểm tổ chức cả trong viện và ngoài viện Các chủ đề của khóa ĐTLT được thiết kế phù hợp với nội dung của thông tư 22/2013/TT-BYT Nhận xét về khóa học cho thấy sự cải thiện trong kiến thức và kỹ năng của học viên, đồng thời chứng nhận và chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm/sư phạm y học được cấp cho giảng viên sau thời gian làm lâm sàng trong giai đoạn này.

2.6.2 Các biến yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục – Mục tiêu 2:

Chủ đề nghiên cứu định tính về thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động ĐTLT:

Nhóm yếu tố về cá nhân: tuổi, giới, trình độ học vấn, … của ĐD KKB ảnh hưởng như thế nào đối với ĐTLT

Nhóm yếu tố ảnh hưởng về chính sách và văn bản pháp quy

Luật khám, chữa bệnh và các văn bản pháp quy liên quan hiện nay có ảnh hưởng lớn đến công tác đào tạo lâm sàng tại bệnh viện Những quy định này không chỉ đảm bảo chất lượng dịch vụ y tế mà còn định hướng cho việc thực hiện các chương trình đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn cho nhân viên y tế Việc tuân thủ các quy định pháp lý giúp cải thiện quy trình khám chữa bệnh, đồng thời tạo ra môi trường học tập và làm việc an toàn, hiệu quả cho các bác sĩ và nhân viên y tế.

Thông tư quy định về ĐTLT, hướng dẫn ĐTLT tại bệnh viện triển khai áp dụng như thế nào? ảnh hưởng như thế nào?

Nhóm yếu tố về cơ quan chủ quản (Bệnh viện Chợ Rẫy)

Kinh phí cho công tác ĐTLT tại bệnh viện như nào? ĐD tham gia ĐTLT thì kinh phí từ nguồn nào? Có ảnh hưởng đến ĐD như thế nào?

Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo ảnh hưởng như thế nào đến công tác ĐTLT?

Kế hoạch và nội dung ĐTLT có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến công tác ĐTLT, đặc biệt là trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy Đội ngũ nhân lực và giảng viên đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện ĐTLT, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của quá trình đào tạo và sự phát triển của người học.

Các khái niệm, thước đo, tiêu chí đánh giá

Cán bộ y tế cần đáp ứng ĐTLT theo Thông tư 22/2013/TT-BYT bằng cách có chứng chỉ và đang hành nghề khám, chữa bệnh, với yêu cầu đào tạo liên tục từ 48 giờ trở lên trong 2 năm 2019-2020, hoặc đang theo học liên thông trình độ cao đẳng, đại học trong giai đoạn này.

Chứng chỉ hành nghề khám, chữa bệnh: Là chứng chỉ được cấp có thẩm quyền (BYT - SYT) cấp theo bằng cấp chuyên môn đã được đào tạo

Kỹ năng mềm như giao tiếp, ngoại ngữ và tin học là rất quan trọng và cần thiết cho từng đối tượng Thông tin về các khóa đào tạo liên tục trong giai đoạn 2019-2020 đã được tổ chức thành các chủ đề cụ thể, kèm theo gợi ý về tên khóa học, thời gian và địa điểm, giúp người nghiên cứu dễ dàng ghi nhớ và tiếp cận thông tin hơn.

2.8 Phân tích và xử lý số liệu

Sau khi thu thập, các bảng câu hỏi đã được kiểm tra bởi nghiên cứu viên để đảm bảo tính đầy đủ và đồng nhất của thông tin Dữ liệu được nhập vào phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng phần mềm SPSS 20, sử dụng các lệnh thống kê mô tả và thống kê phân tích đơn biến.

Để thu thập số liệu định tính, cần thực hiện việc gỡ băng và kiểm tra lại biên bản phỏng vấn Sau đó, liệt kê các câu hỏi nghiên cứu theo chủ đề và nội dung nghiên cứu Cuối cùng, trích dẫn nội dung phỏng vấn theo từng chủ đề nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu.

Số liệu thứ cấp được rà soát, chọn lọc, nhập vào máy tính và thống kê bằng phần mềm Excel

2.9 Vấn đề đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế Công Cộng thông qua theo Quyết định số 104/2021/YTCC-HD3, ngày 15 tháng 03 năm 2021

Nghiên cứu được thực hiện với sự đồng ý của Lãnh đạo Bệnh viện và Lãnh đạo khoa Trước khi tiến hành, các đối tượng nghiên cứu được thông báo rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu, và chỉ tiến hành khi họ đồng ý tham gia.

Thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu được bảo mật hoàn toàn Dữ liệu thu thập chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu và không được áp dụng cho bất kỳ mục đích nào khác.

Nghiên cứu này sẽ hỗ trợ Lãnh đạo Bệnh viện trong việc xây dựng chiến lược và kế hoạch đào tạo liên tục, phù hợp với tình hình hiện tại và giai đoạn tiếp theo.

Vấn đề đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế Công Cộng thông qua theo Quyết định số 104/2021/YTCC-HD3, ngày 15 tháng 03 năm 2021

Trước khi tiến hành nghiên cứu, sự đồng ý của Lãnh đạo Bệnh viện và Lãnh đạo khoa là cần thiết Các đối tượng nghiên cứu sẽ được giải thích rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu, và chỉ khi họ đồng ý tham gia, nghiên cứu mới được thực hiện.

Thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu được bảo mật hoàn toàn Dữ liệu thu thập chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu và không được áp dụng cho bất kỳ mục đích nào khác.

Nghiên cứu này sẽ hỗ trợ Lãnh đạo Bệnh viện trong việc xây dựng chiến lược và kế hoạch đào tạo liên tục, phù hợp với tình hình hiện tại và giai đoạn tiếp theo.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bàn luận

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nghị quyết công tác bảo vệ chăm sóc nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, (2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết công tác bảo vệ chăm sóc nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới
Năm: 2005
2. Trần Thanh Son. Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cán bộ y tế tại các Bệnh viện đa khoa trong tỉnh Hậu Giang năm 2015 Hà Nội:Trường Đại học Y tế công cộng 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cán bộ y tế tại các Bệnh viện đa khoa trong tỉnh Hậu Giang năm 2015
Tác giả: Trần Thanh Son
Nhà XB: Trường Đại học Y tế công cộng
Năm: 2015
3. Cathy Peck, Martha McCall, Belinda McLaren, Tai Rotem. Continuing medical education and continuing professional development: international comparisons. BMJ. 2000;320(7232):432 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Continuing medical education and continuing professional development: international comparisons
Tác giả: Cathy Peck, Martha McCall, Belinda McLaren, Tai Rotem
Nhà XB: BMJ
Năm: 2000
4. Bộ Y tế. Thông tư 07/2008/TT-BYT, Hướng dẫn công tác đào tạo liên tục đối với cán bộ y tế. Hà Nội. 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn công tác đào tạo liên tục đối với cán bộ y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2008
5. Bộ Y tế. Thông tư 22/2013/TT-BYT, Hướng dẫn việc đào tạo liên tục cho cán bộ y tế. Hà Nội. 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn việc đào tạo liên tục cho cán bộ y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
7. Nguyễn Việt Cường. Đánh giá nhu cầu đào tạo liên tục cán bộ điều dưỡng 14 trạm Y tế phường quận Ba Đình Hà Nội, năm 2010. Hà Nội: Đại học Y tế công cộng; 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nhu cầu đào tạo liên tục cán bộ điều dưỡng 14 trạm Y tế phường quận Ba Đình Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Việt Cường
Nhà XB: Đại học Y tế công cộng
Năm: 2010
8. Bệnh viện Chợ Rẫy. Báo cáo tổng kết công tác khám. chữa bệnh năm 2017 và phương hướng hoạt động năm 2018. Hồ Chí Minh. 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác khám. chữa bệnh năm 2017 và phương hướng hoạt động năm 2018
Tác giả: Bệnh viện Chợ Rẫy
Nhà XB: Hồ Chí Minh
Năm: 2018
9. Trung tâm đào tạo - chỉ đạo tuyến - Bệnh viện Chợ Rẫy. Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2016 - Phương hướng hoạt động năm 2017. Hồ Chí Minh. 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2016 - Phương hướng hoạt động năm 2017
Tác giả: Trung tâm đào tạo - chỉ đạo tuyến - Bệnh viện Chợ Rẫy
Nhà XB: Hồ Chí Minh
Năm: 2016
10. World Health Organization. Working together for health: the World health report 2006: policy briefs. 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Working together for health: the World health report 2006: policy briefs
Tác giả: World Health Organization
Năm: 2006
11. Adam B. Wilson và các cộng sự. “Is the supply of continuing education in the anatomical sciences keeping up with the demand? Results of a national survey”.Anatomical Sciences Education, 11(3), tr 225-235. 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Is the supply of continuing education in the anatomical sciences keeping up with the demand? Results of a national survey
Tác giả: Adam B. Wilson, các cộng sự
Nhà XB: Anatomical Sciences Education
Năm: 2018
12. Lương Ngọc Khuê. Quản lý đào tạo liên tục tại bệnh viện. Cục khám chữa bệnh, Bộ Y tế, Hà Nội. 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý đào tạo liên tục tại bệnh viện
Tác giả: Lương Ngọc Khuê
Nhà XB: Cục khám chữa bệnh, Bộ Y tế, Hà Nội
Năm: 2014
13. Bộ Y tế. Thông tư 26/2020/TT-BYT ngày 28/12/2020 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 22/2013/TT-BYT ngày 09/8/2013 của Bộ trưởng BộHUPH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 26/2020/TT-BYT
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2020

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Sơ đồ tổ chức cơ sở đào tạo liên tục tại Việt Nam - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cho điều dưỡng khoa khám bệnh, bệnh viện chợ rẫy – thành phố hồ chí minh, giai đoạn 2019 2020
Hình 1.1. Sơ đồ tổ chức cơ sở đào tạo liên tục tại Việt Nam (Trang 20)
Bảng 3. 1: Thông tin chung của điều dưỡng khoa khám bệnh - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cho điều dưỡng khoa khám bệnh, bệnh viện chợ rẫy – thành phố hồ chí minh, giai đoạn 2019 2020
Bảng 3. 1: Thông tin chung của điều dưỡng khoa khám bệnh (Trang 42)
3.2.1. Hình thức đào tạo liên tục - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cho điều dưỡng khoa khám bệnh, bệnh viện chợ rẫy – thành phố hồ chí minh, giai đoạn 2019 2020
3.2.1. Hình thức đào tạo liên tục (Trang 43)
Hình  thức - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cho điều dưỡng khoa khám bệnh, bệnh viện chợ rẫy – thành phố hồ chí minh, giai đoạn 2019 2020
nh thức (Trang 44)
Bảng 3. 6: Thực trạng về thời gian tổ chức các khóa ĐTLT mà điều dưỡng đã - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cho điều dưỡng khoa khám bệnh, bệnh viện chợ rẫy – thành phố hồ chí minh, giai đoạn 2019 2020
Bảng 3. 6: Thực trạng về thời gian tổ chức các khóa ĐTLT mà điều dưỡng đã (Trang 46)
Bảng 3. 7: Thực trạng giảng viên đào tạo liên tục từ 2019-2020 - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cho điều dưỡng khoa khám bệnh, bệnh viện chợ rẫy – thành phố hồ chí minh, giai đoạn 2019 2020
Bảng 3. 7: Thực trạng giảng viên đào tạo liên tục từ 2019-2020 (Trang 47)
Bảng 3. 8: Điều kiện năng lực trình độ giảng viên tại bệnh viện từ 2019 - 2020 - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cho điều dưỡng khoa khám bệnh, bệnh viện chợ rẫy – thành phố hồ chí minh, giai đoạn 2019 2020
Bảng 3. 8: Điều kiện năng lực trình độ giảng viên tại bệnh viện từ 2019 - 2020 (Trang 47)
Bảng 3. 9: Thực trạng đánh giá của điều dưỡng về nội dung đào tạo liên tục - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cho điều dưỡng khoa khám bệnh, bệnh viện chợ rẫy – thành phố hồ chí minh, giai đoạn 2019 2020
Bảng 3. 9: Thực trạng đánh giá của điều dưỡng về nội dung đào tạo liên tục (Trang 48)
Bảng 3. 10: Thực trạng đánh giá của điều dưỡng về tính phù hợp và mức độ tự - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cho điều dưỡng khoa khám bệnh, bệnh viện chợ rẫy – thành phố hồ chí minh, giai đoạn 2019 2020
Bảng 3. 10: Thực trạng đánh giá của điều dưỡng về tính phù hợp và mức độ tự (Trang 49)
Bảng 3. 11: Mối liên quan giữa nhóm tuổi với thời gian đào tạo theo quy định - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cho điều dưỡng khoa khám bệnh, bệnh viện chợ rẫy – thành phố hồ chí minh, giai đoạn 2019 2020
Bảng 3. 11: Mối liên quan giữa nhóm tuổi với thời gian đào tạo theo quy định (Trang 50)
Bảng 3. 13. Kiến thức về thời gian dành cho đào tạo liên tục trong năm - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cho điều dưỡng khoa khám bệnh, bệnh viện chợ rẫy – thành phố hồ chí minh, giai đoạn 2019 2020
Bảng 3. 13. Kiến thức về thời gian dành cho đào tạo liên tục trong năm (Trang 51)
Hình  thức  Địa - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cho điều dưỡng khoa khám bệnh, bệnh viện chợ rẫy – thành phố hồ chí minh, giai đoạn 2019 2020
nh thức Địa (Trang 103)
6  Hình  thức - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cho điều dưỡng khoa khám bệnh, bệnh viện chợ rẫy – thành phố hồ chí minh, giai đoạn 2019 2020
6 Hình thức (Trang 105)
PHỤ LỤC 7: Sơ đồ tổ chức Bệnh viện Chợ Rẫy - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cho điều dưỡng khoa khám bệnh, bệnh viện chợ rẫy – thành phố hồ chí minh, giai đoạn 2019 2020
7 Sơ đồ tổ chức Bệnh viện Chợ Rẫy (Trang 108)
Bảng 3.4 chưa rõ ràng và không - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cho điều dưỡng khoa khám bệnh, bệnh viện chợ rẫy – thành phố hồ chí minh, giai đoạn 2019 2020
Bảng 3.4 chưa rõ ràng và không (Trang 109)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w