ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đ ỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Nghiên cứu định lượng Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) là NB đang điều trị nội trú tại khoa Ngoại Chấn Thương Chỉnh Hình Bỏng trong thời gian nghiên cứu
Bệnh nhân nội trú đã điều trị từ 03 ngày trở lên, hoàn tất đợt điều trị và các thủ tục cần thiết, bao gồm viện phí, đang chuẩn bị ra về.
+ NB đủ 18 tuổi trở lên và điều kiện sức khỏe tâm thần bình thường để tham gia nghiên cứu
+ NB có khả năng đọc, viết tiếng việt
+ NB đang điều trị hoặc bỏ điều trị nội trú
+ NB không đồng ý tham gia nghiên cứu
- Lãnh đạo phòng điều dưỡng BV
- Lãnh đạo khoa Ngoại CTCH - Bỏng
- Điều dưỡng trưởng khoa Ngoại CTCH - Bỏng
- Cán bộ y tế gồm BS và ĐD tại khoa Ngoại CTCH - Bỏng
Tiêu chí lựa chọn NB: Tất cả NB điều trị nội trú từ 03 ngày trở lên và chuẩn bị ra viện tại Khoa Ngoại CTCH – Bỏng.
Đ ỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện tại Khoa Ngoại CTCH – Bỏng, Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ
Từ tháng 01 đến tháng 10 năm 2021.
T HIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cắt ngang kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và định tính nhằm mục tiêu mô tả trải nghiệm của bệnh nhân nội trú tại khoa Ngoại Chấn Thương Chỉnh Hình – Bỏng của Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ trong năm 2021.
Nghiên cứu định tính được thực hiện nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến trải nghiệm của bệnh nhân tại khoa Ngoại Chấn Thương Chỉnh Hình – Bỏng của Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ trong năm 2021.
C Ỡ MẪU
2.4.1 Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng
Công thức tính cỡ mẫu ước lượng cho một tỷ lệ:
Trong nghiên cứu này, cỡ mẫu được xác định là n, với tỷ lệ trải nghiệm tích cực chung đạt 82.5% Tỷ lệ này được lấy từ kết quả khảo sát của Sở Y tế Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2019.
Z 2 1- α/2 =1,96 với mức ý nghĩa thống kê α= 0,05 d: độ chính xác tuyệt đối mong muốn, chọn d=0,05
Thay vào công thức chọn được cỡ mẫu n= 222 là cỡ mẫu NB được chọn với dự trù 10%
NB từ chối tham gia mẫu được chọn 245
Trên thực tế thu thập được 300 mẫu
2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu định tính
- Phỏng vấn sâu 04 cán bộ quản lí
- Thảo luận nhóm: 1 nhóm với BS, 1 nhóm với ĐD, 2 nhóm với người bệnh nội trú
P HƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU
2.5.1 Chọn mẫu cho nghiên cứu định lượng
Tiến hành lấy mẫu ngẫu nhiên những NB nội trú tại khoa Ngoại CTCH – Bỏng
HUPH sẽ xuất viện từ thứ 2 đến thứ 6 trong khoảng thời gian 02 tháng (tháng 5 và tháng 6) cho đến khi đạt đủ cỡ mẫu cần thiết, dự kiến là 43 ngày Trung bình, mỗi ngày có khoảng 10 bệnh nhân được xuất viện.
Trong 43 ngày, có khoảng 430 bệnh nhân (NB) ra viện Tính khoảng cách k = N/n = 430/300 = 1,4, làm tròn xuống 1 Chọn một bệnh nhân ra viện đầu tiên để phỏng vấn, sau đó phỏng vấn cách 1 bệnh nhân ra viện cho đến khi đủ số mẫu cần thiết.
2.5.2 Chọn mẫu cho nghiên cứu định tính
Chủ đích của nghiên cứu là phỏng vấn sâu 4 cán bộ quản lý, bao gồm Lãnh đạo bệnh viện, Lãnh đạo phòng điều dưỡng, Lãnh đạo khoa và Điều dưỡng trưởng khoa Ngoại CTCH – Bỏng.
Chọn thuận tiện cho việc thảo luận nhóm với 4 nhóm, mỗi nhóm từ 3-6 người Cụ thể, có 1 nhóm thảo luận với bác sĩ, 1 nhóm với điều dưỡng, và 2 nhóm với bệnh nhân nội trú Nhóm 1 bao gồm những bệnh nhân từ 18 đến dưới 60 tuổi, trong khi Nhóm 2 tập trung vào bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên.
P HƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU
2.6.1 Công cụ thu thập số liệu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng bộ câu hỏi phát vấn tự điền về “Phiếu khảo sát trải nghiệm của người bệnh trong thời gian nằm điều trị nội trú tại bệnh viện” của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh Bộ câu hỏi này phù hợp với văn hóa và con người Việt Nam, đồng thời tương thích với cấu trúc của các bệnh viện và các quy định về khám chữa bệnh Việc áp dụng các bộ công cụ quốc tế thường không phù hợp với điều kiện của các bệnh viện Việt Nam do sự khác biệt trong hệ thống y tế và phương thức vận hành.
Bộ câu hỏi phát vấn tự điền có 49 câu hỏi bao gồm các lĩnh vực:
- Thông tin chung của NB bao gồm đặc điểm nhân khẩu học, tiếp cận dịch vụ, tiền sử lâm sàng và kết quả điều trị (09 câu)
- Trải nghiệm lúc nhập viện (08 câu)
- Trải nghiệm trong thời gian nằm viện (20 câu) trong đó:
+ Cơ sở vật chất – tiện ích phục vụ NB (08 câu): Mục C1.1 điều chỉnh từ nằm giường
HUPH ghép với người khác thành nằm ghế bố hành lang cho phù hợp với thực tế của khoa hiện nay
+Tinh thần thái độ phục vụ của NVYT (05 câu)
+ Hoạt động khám, chữa bệnh (07 câu)
- Trải nghiệm chi trả viện phí (03 câu)
- Trải nghiệm trước khi xuất viện (04 câu)
- Nhận xét chung về BV (05 câu)
(Chi tiết xin xem phụ lục 2)
- Bộ công cụ hướng dẫn phỏng vấn sâu cán bộ lãnh đạo BV (Phụ lục 3)
- Bộ công cụ hướng dẫn thảo luận nhóm (Phụ lục 4,5)
2.6.2 Phương pháp tổ chức và thu thập số liệu
Bộ công cụ điều tra định lượng sẽ được thực hiện bởi hai điều tra viên là điều dưỡng từ phòng điều dưỡng, trong khi bộ công cụ điều tra định tính sẽ do các nghiên cứu viên trực tiếp thực hiện.
Quy trình thu thập thông tin định lượng:
Bước 1 : Xin phép được triển khai nghiên cứu từ lãnh đạo BV
Bước 2 : Tiến hành tuyển chọn và tập huấn cho 2 điều tra viên
Bước 3: Thực hiện điều tra thử nghiệm trên năm bệnh nhân nội trú tại khoa Nếu phát hiện vấn đề từ bộ công cụ, sẽ tiến hành điều chỉnh cho phù hợp.
Bước 4 : Lựa chọn ngẫu nhiên danh sách NB nội trú hàng ngày phù hợp với tiêu chí lựa chọn cho đến khi đủ mẫu trong hai tháng
Bước 5: Tiến hành gặp gỡ và giải thích cho đối tượng nghiên cứu về mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu, cũng như giới thiệu bộ công cụ, nhằm giúp đối tượng hiểu rõ và hợp tác tham gia vào nghiên cứu.
Bước 6 : Sau khi đối tượng nghiên cứu điền vào bảng nghiên cứu thì điều tra viên kiểm tra lại xem NB có điền đủ hay chưa
Quy trình thu thập thông tin định tính:
Phỏng vấn sâu được thực hiện với lãnh đạo bệnh viện, phòng điều dưỡng, lãnh đạo khoa Ngoại CTCH và điều dưỡng trưởng khoa nhằm thu thập quan điểm của họ về vấn đề TNNB nội trú tại bệnh viện Các câu hỏi phỏng vấn đã được thiết kế sẵn để phục vụ cho mục đích này.
HUPH thực hiện nghiên cứu và phỏng vấn các đối tượng độc lập, với thời gian mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài từ 45 đến 50 phút Các câu hỏi và câu trả lời sẽ được ghi âm và đưa vào kết quả nghiên cứu (Phụ lục 3).
- Thảo luận nhóm có 4 nhóm mỗi nhóm từ 3-6 người thảo luận bao gồm: 1 nhóm với BS,
Trong nghiên cứu này, sẽ có 1 nhóm với Điều dưỡng (ĐD) và 2 nhóm với Nhân viên Bệnh viện (NB) nội trú Các đối tượng tham gia thảo luận nhóm sẽ được mời vào một phòng yên tĩnh tại Phòng điều dưỡng sau khi được giải thích về nghiên cứu và đồng ý tham gia Thảo luận nhóm sẽ được điều khiển bởi học viên với các câu hỏi đã được thiết kế sẵn, và nội dung thảo luận sẽ được ghi chép và ghi âm để phục vụ cho nghiên cứu Sau đó, các nội dung ghi âm sẽ được xử lý và đưa vào kết quả nghiên cứu (phụ lục 4, phụ lục 5).
P HÂN TÍCH SỐ LIỆU
Các nghiên cứu viên sẽ tổng hợp các bảng nghiên cứu và tiến hành kiểm tra lại vào cuối ngày điều tra nhằm giảm thiểu khả năng thiếu sót trong việc trả lời của đối tượng nghiên cứu.
2.7.2 Các tiêu chí đánh giá
Dựa trên tiêu chí đánh giá của tác giả Lê Trương Bảo, các câu hỏi về TNCNB được phân loại thành 5 nhóm Mỗi nhóm mô tả sự TNCNB qua từng câu cụ thể.
Các câu hỏi được thiết kế với 5 lựa chọn, trong đó mỗi lựa chọn phản ánh một trải nghiệm khác nhau Cụ thể, lựa chọn 1 và 2 được phân loại là “trải nghiệm chưa tích cực”, lựa chọn 3 là “tạm chấp nhận”, lựa chọn 4 là “trải nghiệm tích cực”, và lựa chọn 5 thể hiện “không có ý kiến”.
- Các câu hỏi có 2 lựa chọn thì mô tả theo 2 lựa chọn tích cực và tiêu cực
- Các câu hỏi trải nghiệm về thời gian mô tả theo số liệu định lượng thu thập được
2.7.3 Phân tích số liệu Định lượng:
Bộ số liệu được nhập bằng Epidata 3.1 và xử lý trên phần mềm SPSS phiên bản 20.0, với kết quả phân tích số liệu dự kiến như sau:
Mô tả đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu và mô tả thực trạng TNCNB phục vụ cho mục tiêu 1
Phép kiểm định phi tham số Mann – Whitney U test được áp dụng để phân tích mối liên quan giữa điểm đánh giá chung TNCNB tại bệnh viện và các biến độc lập như tình trạng kinh tế, bảo hiểm y tế, lịch sử điều trị tại bệnh viện, số ngày điều trị nội trú, và phương thức nhập viện (qua khoa cấp cứu hoặc khoa khám bệnh) Mức độ có ý nghĩa thống kê được thiết lập ở α = 0,05, tương ứng với độ tin cậy 95%.
Các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được thực hiện với quy trình ghi âm, mã hóa và gỡ băng, đồng thời được ghi chép trung thực trên phần mềm Word.
Nghiên cứu viên sử dụng phần mềm Word để tóm tắt nội dung và mã hóa thông tin Đầu tiên, thông tin được mã hóa dựa trên các vấn đề trong khung lý thuyết, sau đó bổ sung thêm những khái niệm mới phát hiện từ các cuộc phỏng vấn.
Đ ẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này đã được thực hiện với sự chấp thuận của hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học của Trường Đại học Y tế công cộng, theo quyết định số 188/2021/YTCC-HD3.
26 tháng 4 năm 2021 và số liệu được thu thập, chính xác, trung thực và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu này dựa trên sự đồng ý tự nguyện của các đối tượng tham gia, và nhóm nghiên cứu cam kết bảo mật mọi số liệu và thông tin liên quan.
- Nghiên cứu được sự chấp thuận của lãnh đạo Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
T HÔNG TIN VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu TNCNB nội trú được tiến hành tại khoa Ngoại Chấn thương Chỉnh hình – Bỏng của Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ, với tổng số đối tượng tham gia nghiên cứu là
300 NB nội trú chuẩn bị xuất viện phù hợp với tiêu chuẩn lựa chọn
Bảng 3 1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm (N00) Số lượng
Tỷ lệ (%) Địa chỉ TP Cần Thơ 176 58,7
Trình độ học vấn THCS trở xuống 221 73,7
Tình trạng hôn nhân Đã kết hôn 228 76,0 Độc thân (chưa kết hôn/góa / ly dị) 72 24,0
Nông dân / Kinh doanh/ Tự do/ Hưu trí/ Chưa có việc làm
Bảng 3.1 trình bày đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu, cho thấy tỷ lệ người bệnh (NB) tại Thành phố Cần Thơ và các tỉnh khác không có sự chênh lệch lớn, với tỷ lệ tại Thành phố Cần Thơ là
Trong tổng số 176 người bệnh, tỷ lệ nam giới chiếm 54,3% và nữ giới chiếm 45,7% Đặc biệt, có 124 người bệnh đến từ tỉnh khác, chiếm 41,3% Nhóm tuổi từ 18 đến 59 tuổi chiếm hơn 2/3 tổng số người bệnh, với tỷ lệ 71,7%, cho thấy sự chênh lệch rõ rệt giữa các nhóm tuổi.
Trong nhóm đối tượng từ 60 tuổi trở lên, tỷ lệ chỉ chiếm 28,3%, trong khi đó, những người có trình độ học vấn từ trung học cơ sở trở xuống chiếm tới 73,7%, so với 26,3% của nhóm có trình độ từ trung học phổ thông trở lên Về tình trạng hôn nhân, 76% đã kết hôn, trong khi 24% chưa kết hôn, góa hoặc ly hôn Đối với nghề nghiệp, gần 80% thuộc nhóm nông dân, kinh doanh, tự do, hưu trí hoặc chưa có việc làm, trong khi chỉ 20% là cán bộ nhà nước và công nhân Nghiên cứu cũng cho thấy hơn 2/3 số người được hỏi có tình trạng kinh tế trung bình hoặc khá, với tỷ lệ 79%.
Bảng 3 2 Đặc điểm tình trạng khi điều trị nội trú của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm (N00)
Khả năng chi trả cho lần điều trị này
Số lần nằm điều trị tại bệnh viện
Số ngày điều trị nội trú
Cấp cứu (nhập viện tại khoa
Khám bệnh (nhập viện tại 92 30,7
Tình trạng khi xuất viện
Cảm nhận về tình trạng sức khỏe
Bảng 3.2 cho thấy rằng 87,7% bệnh nhân (NB) có bảo hiểm y tế (BHYT) và hơn 90% có khả năng chi trả cho lần nằm viện này, trong khi chỉ có 9,7% bệnh nhân phải vay mượn Đặc biệt, 77,7% bệnh nhân là lần đầu nằm viện, trong khi phần còn lại đã nằm viện từ 2 lần trở lên.
Trong nghiên cứu, 69,3% bệnh nhân (NB) được nhập viện từ khoa Cấp cứu, trong khi 30,7% còn lại từ Khoa Khám bệnh Tỷ lệ bệnh nhân có thời gian điều trị nội trú từ 5 ngày trở lên cao hơn so với những bệnh nhân nằm từ 3 đến 5 ngày, với tỷ lệ lần lượt là 61,3% và 31,7% Khi được hỏi về tình trạng xuất viện, 6% bệnh nhân cho biết đã khỏi hẳn, trong khi tỷ lệ bệnh nhân cảm thấy đỡ và khỏi hẳn chiếm 93%, và 1% có tình trạng khác Về cảm nhận sức khỏe, 55,3% bệnh nhân cảm thấy sức khỏe ở mức tốt, 6,7% ở mức rất tốt, 0,3% ở mức xuất sắc, 36,0% cảm thấy sức khỏe ở mức được, và 1,7% cảm thấy sức khỏe ở mức kém.
T HỰC TRẠNG TRẢI NGHIỆM CỦA NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ
Bảng 3 3 Trải nghiệm của người bệnh lúc nhập viện
Mã Nội dung trải nghiệm
B2 Bác sỹ giải thích lý do nhập viện
B5 Giải thích tình trạng bệnh và hướng điều trị
B6 Công khai giá các loại dịch vụ và kỹ thuật
B7 Giải thích các khoản BHYT chi trả và các khoản tự chi trả
B8 Thái độ của nhân viên y tế 2
Bảng 3 4 Thời gian chờ để nhập viện và được bác sĩ khám
Mã Nội dung trải nghiệm
Thời gian chờ trung bình (Độ lệch chuẩn)
B3 Thời gian nhập khoa nội trú
Khám ngay khi vào khoa trung bình nội trú
Bảng 3.3 và bảng 3.4 trình bày kết quả về TNCNB lúc nhập viện, tiêu chí Bs giải
HUPH cho thấy lý do nằm viện và tiêu chí giải thích tình trạng bệnh cùng hướng điều trị có tỷ lệ trải nghiệm tích cực cao nhất, đạt 90,7% và 85,4% Ngược lại, tiêu chí công khai giá dịch vụ kỹ thuật và giải thích các khoản BHYT cùng tự chi trả chỉ đạt tỷ lệ trải nghiệm tích cực thấp, lần lượt là 53,3% và 61,7% Thái độ của nhân viên y tế cũng ghi nhận tỷ lệ trải nghiệm tích cực thấp, chỉ đạt 66,3% Về thời gian chờ nhập khoa nội trú, có 61,7% bệnh nhân phải chờ, với thời gian chờ trung bình là 150 phút (độ lệch chuẩn 121 phút) Đối với thời gian chờ khám của bác sĩ khi vào khoa nằm viện, tỷ lệ bệnh nhân phải chờ là 34%, với thời gian chờ trung bình là 61 phút (độ lệch chuẩn 88 phút).
Bảng 3 5 Trải nghiệm của người bệnh về Cơ sở vật chất – Tiện ích phục vụ người bệnh
Mã Nội dung trải nghiệm
C12 Tình trạng nhà vệ sinh 9
15 (5,0) C13 Dung dịch sát khuẩn tay tại buồng bệnh
16 (5,3) C15 Các dịch vụ tiện ích (căn tin, siêu thị, sạc điện thoại, dịch vụ vận chuyển, taxi…)
C16 Hoạt động hỗ trợ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn
80 (26,7) C18 Bệnh viện xanh-sạch-đẹp 3
Biểu đồ 3 1 Trải nghiệm về nằm giường bệnh: có phải nằm ghế bố
Biểu đồ 3 2 Trải nghiệm về an ninh trật tự
Nằm suốt quá trình điều trị
Nằm trong ngày sau đó nằm giường riêng
Nằm giường riêng ngay từ đầu
Có qui định giờ ra vào
Khá yên tâm Không để ý
Biểu đồ 3.3 cho thấy trải nghiệm về sự yên tĩnh trong bệnh viện Kết quả từ bảng 3.5 và các biểu đồ 3.1, 3.2, 3.3 cho thấy tiêu chí trang bị nước sát khuẩn tay tại phòng bệnh có tỷ lệ trải nghiệm tích cực cao nhất, đạt 87,4% Các tiêu chí khác như tình trạng nhà vệ sinh, dịch vụ tiện ích, hỗ trợ bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn, và tiêu chí bệnh viện xanh sạch đẹp đều có tỷ lệ trải nghiệm tích cực tương đối đồng đều, khoảng 60% Trong quá trình điều trị, chỉ có 4 trường hợp phải nằm ghế bố suốt thời gian điều trị, trong khi 42 trường hợp nằm ghế bố trong ngày đầu và sau đó được chuyển sang giường bệnh, còn lại 254 đối tượng được sắp xếp nằm giường riêng ngay từ đầu.
Trong một khảo sát về tình hình an ninh trật tự tại bệnh viện, có 77,3% người bệnh cảm thấy khá an tâm Tuy nhiên, vẫn có 1% người bệnh báo cáo bị mất trộm và 8,7% gặp phải tình trạng người bán hàng rong và vé số ra vào khu vực Về trải nghiệm sự yên tĩnh, hơn 2/3 người bệnh cho rằng bệnh viện tương đối yên tĩnh, trong đó 37,7% cảm thấy rất yên tĩnh Ngược lại, 3,7% không thể nghỉ ngơi và 13,3% nghe tiếng ồn từ bên ngoài, trong khi phần còn lại không để ý đến vấn đề này.
Không nghỉ ngơi được Có tiếng ồn từ bên ngoài Tương đối yên tĩnh Rất yên tĩnh Không để ý
Bảng 3 6 Trải nghiệm của người bệnh về tinh thần và thái độ của nhân viên y tế
Mã Nội dung trải nghiệm
7 (2,3) C22 NVYT tôn trọng và đối xử tử tế
11 (3,7) C23 NVYT thông tin, giải thích rõ tình trạng và diễn tiến của bệnh,
C24 Trả lời thỏa đáng của NVYT về bệnh của người bệnh
37 (12,3) C25 Thống nhất trong cách trả lời về tình trạng diễn tiến bệnh
Trong Bảng 3.6, tỷ lệ trải nghiệm tích cực của người bệnh (NB) về thái độ của nhân viên y tế (NVYT) trong 5 tiêu chí đánh giá đều vượt 65% Hai tiêu chí có tỷ lệ trải nghiệm tích cực cao nhất là NVYT giải thích rõ tình trạng và diễn tiến bệnh với 86,7%, tiếp theo là trang phục của NVYT với 85% Ngoài ra, tiêu chí về sự tôn trọng và đối xử tử tế của NVYT cũng được nhấn mạnh.
Tỷ lệ trả lời thỏa đáng của người bệnh (NB) đạt 77,0% và 75,4%, trong khi trải nghiệm tích cực thấp nhất liên quan đến sự thống nhất trong cách trả lời của bác sĩ (BS) và điều dưỡng (ĐD) chỉ đạt 65,7%.
Bảng 3 7 Trải nghiệm của người bệnh về hoạt động khám chữa bệnh
Mã Nội dung trải nghiệm
C31 Bác sĩ thông tin lý do sử dụng thuốc
26 (8,7) C32 Bác sĩ thông tin và giải thích lý do thực hiện xét nghiệm, cận lâm sàng
C33 Bác sĩ thông tin và giải thích lý do thực hiện thủ thuật, phẫu thuật
C34 Điều dưỡng hướng dẫn sử dụng thuốc hằng ngày
12 (4,0) C35 Bác sĩ khám ngay khi có dấu hiệu bất thường
C36 Bác sĩ tư vấn lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp
C37 Bảo đảm riêng tư khi Bác sĩ và Điều dưỡng thăm khám
Bảng 3.7 cho thấy trong 7 tiêu chí đánh giá hoạt động khám chữa bệnh của TNCNB, có 5 tiêu chí liên quan đến trải nghiệm của bệnh nhân, bao gồm thông tin lý do sử dụng dịch vụ, lý do làm xét nghiệm và cận lâm sàng, lý do thực hiện phẫu thuật, và tư vấn phương pháp phẫu thuật phù hợp Các tiêu chí này có tỷ lệ trải nghiệm tích cực cao, dao động từ 79% đến 81,7% Tiêu chí đảm bảo sự riêng tư cho bệnh nhân trong quá trình thăm khám và chăm sóc đạt tỷ lệ 71,3%, trong khi tiêu chí khám lại khi có triệu chứng bất thường có tỷ lệ thấp nhất, chỉ đạt 55%.
Bảng 3 8 Trải nghiệm của người bệnh về thanh toán viện phí
Mã Nội dung trải nghiệm
D1 Công khai các khoản viện phí 9
40 (13,3) D2 Chi thêm tiền bồi dưỡng
(0) D3 Hỗ trợ thanh toán viện phí cho người có hoàn cảnh khó khăn
Theo Bảng 3.8, 100% bệnh nhân được hỏi cho biết họ không phải chi thêm tiền bồi dưỡng cho nhân viên y tế Về tiêu chí công khai các khoản thu trên hóa đơn, có 82,7% bệnh nhân có trải nghiệm tích cực Tuy nhiên, tỷ lệ trải nghiệm tích cực đối với hỗ trợ thanh toán viện phí cho bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn chỉ đạt 39%.
Bảng 3 9 Trải nghiệm của người bệnh điều trị nội trú trước khi xuất viện
Mã Nội dung trải nghiệm
E1 Được hướng dẫn sử dụng thuốc, chế độ ăn, cách tự chăm sóc khi về nhà
Mã Nội dung trải nghiệm
E2 Được hướng dẫn về những dấu hiệu và thời gian cần quay lại để tái khám
E4 Thời gian từ lúc thông báo đến khi nhận giấy xuất viện
Thời gian chờ trung bình: 5 giờ 36 phút Độ lệch chuẩn: 1,6
Biểu đồ 3 4 Khó khăn khi thanh toán viện phí Bảng 3.9 và biểu đồ 3.4 trải nghiệm của người bệnh trước khi xuất viện trên 2/3
Theo khảo sát, 77,3% người bệnh không gặp khó khăn trong quá trình thanh toán viện phí Thời gian chờ trung bình để xuất viện là 5 giờ 36 phút Đặc biệt, 83% người bệnh có trải nghiệm tích cực về sự hướng dẫn của bác sĩ và điều dưỡng liên quan đến chế độ ăn uống, thuốc men, thời gian tái khám, cũng như các dấu hiệu cần tái khám ngay.
Không được hướng dẫn Thời gian đóng viện phí lâu Nơi thanh toán viện phí ở xa
Thời gian chờ giấy xuất viện lâu
Không gặp khó khăn gì
Bảng 3.10 trình bày đánh giá tổng quan về trải nghiệm của người bệnh tại Khoa Ngoại Chấn thương Chỉnh hình – Bỏng, với các chỉ số cụ thể phản ánh điểm đánh giá trải nghiệm của người bệnh đối với bệnh viện.
Cam kết quay trở lại điều trị tại bệnh viện
Biểu đồ 3 5 Nhu cầu quay trở lại bệnh viện điều trị
Theo bảng 3.10 và biểu đồ 3.5, điểm trải nghiệm của người bệnh (NB) đạt 8,54 với độ lệch chuẩn 1,16 Đặc biệt, nhu cầu quay trở lại bệnh viện điều trị rất cao, với 283/300 NB được hỏi, chiếm tỷ lệ 94,3%.
Có nhu cầu Không có nhu cầu
M ỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TRẢI NGHIỆM CỦA NGƯỜI BỆNH
3.3.1 Yếu tố thuộc về người bệnh
Bảng 3 11 Mối liên quan giữa một số đặc điểm nhân khẩu học của người bệnh với điểm trải nghiệm chung về bệnh viện
Mann-Whitney U test Đặc điểm Điểm trải nghiệm chung Mann -
Không 157,7 37 Đã từng điều trị tại bệnh viện
Số ngày điều trị nội trú
Bảng 3.11 cho thấy hầu hết các đặc điểm nhân khẩu học của người bệnh (NB) không ảnh hưởng đáng kể đến điểm trải nghiệm chung của họ về bệnh viện (BV) Tuy nhiên, có sự khác biệt thống kê giữa tình trạng kinh tế của NB, cụ thể là nhóm nghèo/cận nghèo có điểm trải nghiệm chung cao hơn so với nhóm trung bình/khá, với Z = -3,376 và P = 0,001 < 0,05.
Kết quả phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm cũng đưa ra những yếu tố ảnh hưởng như sau:
HUPH Ảnh hưởng tích cực:
Người bệnh (NB) khi nhập viện từ khoa Khám bệnh thường trải qua thời gian chờ đợi ngắn hơn so với khi nhập viện từ khoa cấp cứu Sự khác biệt này không chỉ ảnh hưởng đến tâm lý của người bệnh mà còn góp phần tạo ra trải nghiệm tích cực hơn trong quá trình điều trị.
Khi tôi đến khám tại phòng khám, bác sĩ đã chỉ định tôi nhập viện Tôi chỉ phải chờ một thời gian ngắn trước khi nhân viên y tế đưa tôi lên khoa nội trú để nằm viện.
Tình trạng sức khỏe khi xuất viện ảnh hưởng lớn đến trải nghiệm của người bệnh Người bệnh thường có trải nghiệm tích cực khi ra viện nếu kết quả điều trị đạt được sự hồi phục hoàn toàn và ổn định.
Đối với tôi, điều quan trọng nhất là khi vào viện điều trị, tôi sẽ khỏi bệnh và được xuất viện về nhà Những vấn đề khác không phải là mối quan tâm của tôi.
Kết quả điều trị có ảnh hưởng lớn đến trải nghiệm của người bệnh Nếu kết quả tích cực, người bệnh sẽ nhanh chóng hồi phục và có trải nghiệm tốt Ngược lại, nếu kết quả không như mong đợi, trải nghiệm của họ sẽ trở nên tiêu cực.
Trong quá trình thảo luận nhóm, hai nhóm bệnh nhân (NB) đã chỉ ra rằng thời gian nằm viện kéo dài và độ tuổi cao của bệnh nhân đều ảnh hưởng đến trải nghiệm của họ.
NB phải nằm dài ngày thì ít nhiều cũng ảnh hưởng không tốt đến tâm lý của họ
Tôi đã lớn tuổi và khi vào viện, bác sĩ giải thích rằng tôi cần phải phẫu thuật Tuy nhiên, tôi phải chờ đợi lâu vì cần làm xét nghiệm và siêu âm, sau đó lại phải chờ bác sĩ khoa khác xuống khám Cuối cùng, tôi phải chờ vài ngày mới được phẫu thuật và nằm viện thêm gần một tuần nữa Tôi hiểu rằng ở tuổi của mình, việc khám kỹ lưỡng là rất cần thiết.
BS có giải thích tôi hiểu nhưng nằm viện lâu quá cũng thấy khó chịu” (TLN NB 02) 3.3.2 Yếu tố thuộc về bệnh viện:
3.3.2.1 Yếu tố về quy trình, quy định và các thủ tục hành chính Ảnh hưởng tích cực:
Bệnh viện tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình và quy định khám chữa bệnh theo hướng dẫn của Bộ Y tế, nhằm bảo vệ quyền lợi của người bệnh.
HUPH và tránh sai xót trong quá trình khám chữa bệnh cho NB
Quy trình nhập viện và xuất viện, cùng với thủ tục khám chữa bệnh, có ảnh hưởng lớn đến chất lượng dịch vụ y tế Cụ thể, khi bệnh nhân từ Khoa Cấp cứu chuyển lên khoa nội trú, sau khi được xử trí ban đầu, bác sĩ chuyên khoa sẽ tiến hành khám và yêu cầu các xét nghiệm Việc chờ kết quả và bác sĩ xem xét lại trước khi quyết định nhập viện giúp hạn chế việc bỏ sót chẩn đoán.
Việc thực hiện quy trình khám chữa bệnh, chăm sóc, tư vấn tại khoa khiến cho NB hiểu và có thái độ tích cực, đồng tình
Lãnh đạo khoa luôn chú trọng công tác khám chữa bệnh và tư vấn giáo dục sức khỏe cho người bệnh (NB), thường xuyên nhắc nhở nhân viên trong các buổi giao ban và đi buồng Nhờ đó, các thành viên trong khoa đã nắm rõ những nhiệm vụ cần thực hiện để đảm bảo người bệnh an tâm trong quá trình điều trị.
“Khi vào khoa thì BS khám ngay tư vấn rất nhiệt tình chú ạ! ĐD thì chăm sóc hướng dẫn rất nhiệt tình” (TLN NB 01)
Khi vào khoa, tôi phải chờ bác sĩ khám hơi lâu, khoảng 3 giờ Tuy nhiên, tôi không cảm thấy phiền vì nghe các điều dưỡng nói rằng bác sĩ đang thực hiện ca mổ cấp cứu.
Bệnh viện đã thực hiện cải cách để rút gọn nhiều thủ tục hành chính, nhằm giảm thiểu thời gian chờ đợi cho bệnh nhân Việc áp dụng quy trình cải cách này giúp nâng cao hiệu quả phục vụ và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người bệnh.
Bệnh viện đã thực hiện cải cách nhiều thủ tục hành chính và áp dụng công nghệ thông tin, giúp rút ngắn thời gian khám chữa bệnh cho bệnh nhân Trước đây, thời gian khám ngoại trú mất khoảng 5-6 giờ, nhưng hiện tại chỉ còn 1-3 giờ Đối với bệnh nhân nội trú, quy trình khám tại cấp cứu được xử lý nhanh chóng và mời các chuyên khoa tham gia chẩn đoán, nhằm tránh bỏ sót các triệu chứng bất thường.
Thủ tục xuất viện cũng đã được thay đổi thông qua việc dự kiến xuất viện từ ngày hôm trước
“Để giúp cho NB được xuất viện sớm bệnh viện đã tiến hành thông qua việc dự
HUPH kiến ra viện cho NB trước 1 ngày” (PVS 03 với lãnh đạo khoa)
Bệnh viện cũng có quy định, quy trình để hỗ trợ NB có hoàn cảnh khó khăn
Bệnh viện đã tích cực triển khai hỗ trợ bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn thông qua việc thành lập phòng Công tác Xã Hội Mặc dù tâm lý e ngại về việc không có tiền có thể ảnh hưởng đến việc tiếp cận dịch vụ điều trị, nhưng các trường hợp khó khăn vẫn được báo cáo và hỗ trợ kịp thời thông qua các khoa phòng.
Việc chờ đợi để được chuyển từ khoa Cấp cứu lên khoa Ngoại CTCH-Bỏng lâu khiến cho NB cảm thấy không thoải mái
BÀN LUẬN
M ỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Trong tổng số 300 mẫu nghiên cứu, nam giới chiếm 54,3% và nữ giới chiếm 45,7% Đối tượng nghiên cứu chủ yếu ở độ tuổi 18-60, chiếm 71,7%, cho thấy đây là độ tuổi lao động chính, có nguy cơ chấn thương và cần phẫu thuật cao hơn Nghiên cứu của tác giả Lê Trương Bảo tại BV Chợ Rẫy năm 2020 cũng xác nhận rằng 63,5% người bệnh là nam giới, với gần 50% thuộc nhóm tuổi trung niên từ 41-60.
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu có trình độ học vấn thấp, với 73,7% có trình độ từ THCS trở xuống, trong khi chỉ 26,3% có trình độ từ THPT trở lên Điều này cho thấy trình độ học vấn của bệnh nhân đến khám tại Khoa Ngoại CTCH-Bỏng, BVĐK TP Cần Thơ không cao.
Số lượng NB có trình độ dưới THCS trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với
Nghiên cứu của tác giả Lê Trương Bảo năm 2020 tại HUPH cho thấy tỷ lệ 63,6% (39), thấp hơn so với tỷ lệ trong nghiên cứu đánh giá trải nghiệm của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh năm 2019, khi đa phần người bệnh có trình độ học vấn trên THCS (35).
Về tình trạng hôn nhân, 76,0% người bệnh (NB) đã kết hôn, con số này thấp hơn so với nghiên cứu của Lê Trương Bảo năm 2020, khi hơn 80% NB thuộc nhóm đã kết hôn.
Kết quả nghiên cứu cho thấy 79,0% người bệnh (NB) đánh giá tình trạng kinh tế của họ ở mức trung bình/khá, tương đồng với nghiên cứu của Lê Trương Bảo năm 2020 Tuy nhiên, vẫn có 21,0% NB cho rằng tình trạng kinh tế của họ ở mức nghèo/cận nghèo, cho thấy tỷ lệ người bệnh gặp khó khăn vẫn còn tương đối cao Đặc biệt, chi phí điều trị tại Khoa Ngoại khá tốn kém, do đó những NB có hoàn cảnh khó khăn rất cần sự hỗ trợ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy 87,7% bệnh nhân (NB) có bảo hiểm y tế (BHYT) và 84,7% có khả năng tự chi trả Điều này chứng tỏ rằng đa số NB đánh giá khả năng tự chi trả của mình là cao Tuy nhiên, vẫn có 15,3% NB cho rằng họ không có khả năng chi trả, điều này có thể do chi phí phẫu thuật kỹ thuật cao vượt quá mức thanh toán của BHYT, buộc NB phải chi thêm Ngoài ra, những NB không có BHYT cũng gặp khó khăn trong việc thanh toán viện phí Nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với kết quả của Nguyễn Thị Huyền Trâm tại BV Đại học Y Hà Nội năm 2018 và Lê Trương Bảo tại BV Chợ Rẫy năm 2020.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, số ngày nằm viện của bệnh nhân tương đối dài, với 61,3% bệnh nhân điều trị nội trú từ 5 ngày trở lên Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của tác giả Lê Trương Bảo.
Tỷ lệ bệnh nhân nằm viện từ 10 ngày trở lên tại BV Chợ Rẫy năm 2020 đạt 56,6% Do đặc điểm bệnh lý, bệnh nhân phải trải qua nhiều giai đoạn trong quá trình chăm sóc và điều trị, bao gồm nhập viện, theo dõi, chờ phẫu thuật, thực hiện phẫu thuật, chăm sóc sau phẫu thuật, vật lý trị liệu và xuất viện.
NB tại Khoa Ngoại CTCH-Bỏng, BVĐK TP Cần Thơ tương đối dài
Tình trạng khi xuất viện cho thấy 21,7% bệnh nhân có tình trạng đỡ và 71,0% bệnh nhân ổn định, tương đồng với nghiên cứu của Lê Trương Bảo tại BV Chợ Rẫy năm 2020, khi có gần 93% bệnh nhân xuất viện trong tình trạng đỡ/ổn định Điều này chứng tỏ bệnh viện luôn chú trọng đầu tư vào trang thiết bị hiện đại và nâng cao trình độ chuyên môn của nhân viên y tế, với đội ngũ bác sĩ có trình độ cao trong lĩnh vực Chấn thương Chỉnh hình – Bỏng, bao gồm 03 bác sĩ Chuyên khoa II, 02 bác sĩ Cao học và 02 bác sĩ Chuyên khoa I Kết quả này phản ánh tích cực về hiệu quả điều trị tại bệnh viện.
T HỰC TRẠNG TRẢI NGHIỆM CỦA NGƯỜI BỆNH ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng nhóm người tham gia có đánh giá tích cực về trải nghiệm tại bệnh viện, với điểm trung bình đạt 8,54 Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Huyền Trâm tại Bệnh viện Đại học.
Y Hà Nội năm 2018 với điểm đánh giá đều trên 8 điểm, kết quả nghiên cứu của tác giả
Lê Trương Bảo tại BV Chợ Rẫy năm 2020 đạt mức điểm 8,28, thấp hơn so với điểm trung bình của các BV công lập tại Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020 là 8,65 So với kết quả đánh giá năm 2019, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy điểm số cao hơn các BV nhà nước tuyến huyện (8,29) và tuyến thành phố (8,44), nhưng vẫn thấp hơn các BV tư nhân (8,77).
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 94,3% bệnh nhân dự kiến sẽ quay trở lại bệnh viện điều trị trong tương lai nếu cần, nhờ vào sự quan tâm và đầu tư mạnh mẽ của bệnh viện về cơ sở vật chất, trang thiết bị và trình độ đội ngũ nhân viên y tế Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Huyền Trâm tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2018, với 84,4% bệnh nhân sẵn sàng giới thiệu bệnh viện cho người thân và gia đình, cũng như nghiên cứu của Hàng Quang Định tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang với tỷ lệ 88,8%.
Trải nghiệm của người bệnh trong quá trình điều trị nội trú khi nhập viện cho thấy tỷ lệ đánh giá tích cực vượt 50% ở tất cả các tiểu mục Đặc biệt, tiểu mục "BS giải thích lý do nhập viện" đạt tỷ lệ cao nhất với 90,7%, trong khi tiểu mục "Công khai giá các loại dịch vụ và kỹ thuật" có tỷ lệ thấp nhất là 53,3%.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, giá các loại dịch vụ và kỹ thuật tại HUPH thấp hơn so với khảo sát của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020, với tỷ lệ 85,1% ở các bệnh viện công lập Mặc dù giá các dịch vụ kỹ thuật đã được công khai và dán ở những vị trí dễ tìm, nhưng có thể do bệnh nhân không chú ý hoặc khi nhận bệnh đông, đội ngũ y tế quên hướng dẫn cho họ.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ đánh giá tích cực về việc “Giải thích các khoản BHYT chi trả và các khoản tự chi trả” chỉ đạt 61,7%, thấp hơn nhiều so với 88,8% của khảo sát Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020 tại các bệnh viện công lập Điều này cho thấy cần ưu tiên cải thiện việc công khai giá dịch vụ và kỹ thuật để nâng cao trải nghiệm và sự hài lòng của người bệnh Mặc dù tỷ lệ đánh giá về thái độ của nhân viên y tế rất thấp (0,7%), nhưng tỷ lệ nhận được giải thích về lý do nhập viện, tình trạng bệnh và hướng điều trị lại rất cao (> 90%) Điều này cho thấy công tác hướng dẫn và tư vấn cho người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ được chú trọng, mặc dù số lượng bệnh nhân đến khám và nhập viện ngày càng tăng.
Thời gian chờ nhập viện và chờ khám tại Khoa Ngoại CTCH – Bỏng, BV Đa khoa Thành phố Cần Thơ dài hơn nhiều so với khảo sát của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh năm 2020, với thời gian chờ nhập viện là 150 phút so với 27 phút và thời gian chờ khám là 61 phút so với 17 phút Nguyên nhân là do bệnh nhân (NB) được sơ cứu tại Khoa Cấp cứu trước khi được bác sĩ chuyên khoa khám và chỉ định nhập viện, dẫn đến việc thực hiện các xét nghiệm và cận lâm sàng tại đây Sau khi có kết quả, NB sẽ được chuyển lên khoa nội trú, làm tăng thời gian chờ Khi vào khoa nội trú, bác sĩ phải thực hiện phẫu thuật cấp cứu, và do NB đã được khám tại Khoa Cấp cứu, nên việc khám lại diễn ra chậm hơn.
Trải nghiệm của người bệnh về cơ sở vật chất và dịch vụ tiện ích :
Tất cả các tiểu mục đều ghi nhận tỷ lệ trải nghiệm tích cực từ 57,0% trở lên Tuy nhiên, trải nghiệm về cơ sở vật chất và dịch vụ tiện ích trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với khảo sát của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh tại các bệnh viện năm 2020.
Tại các bệnh viện công lập ở thành phố, tỷ lệ trải nghiệm tích cực của người bệnh (NB) đạt từ 78,8% trở lên Tuy nhiên, tiểu mục “Các dịch vụ tiện ích” như căn tin và siêu thị có tỷ lệ đánh giá thấp nhất, với người bệnh cho rằng giá cả còn cao Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Võ Nguyễn Phước Thảo năm 2020, cho thấy tỷ lệ trải nghiệm tích cực về dịch vụ tiện ích tại Khoa Ngoại Chấn thương BV Đa khoa Tỉnh Kiên Giang chỉ đạt 55,4% Về công tác vệ sinh, bệnh viện đã hợp tác với công ty chuyên vệ sinh để đảm bảo môi trường sạch sẽ, nhằm hạn chế lây nhiễm cho người bệnh và nhân viên y tế Tỷ lệ trải nghiệm tích cực với môi trường bệnh viện trong nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự như nghiên cứu của Geoffrey và Jonathan năm 2016, với tỷ lệ cao nhất đạt 64,8%.
Trải nghiệm nằm giường bệnh cho thấy hơn 75% bệnh nhân được xếp nằm trên giường bệnh ngay từ đầu, trong khi chỉ 25% phải nằm ghế bố Đặc biệt, chỉ có 1,3% bệnh nhân phải nằm ghế bố trong suốt quá trình điều trị Điều này là do đặc thù của khoa Ngoại CTCH – Bỏng, nơi điều trị các bệnh lý liên quan đến chấn thương và bỏng, với nhiều vết thương hở, nhằm tránh lây nhiễm chéo giữa các bệnh nhân.
Trải nghiệm về sự yên tĩnh có 45,7% người bệnh (NB) đánh giá ở mức rất yên tĩnh, tuy nhiên, 3,7% NB cho rằng không thể nghỉ ngơi và 13,3% cảm thấy có tiếng ồn từ bên ngoài Bệnh viện (BV) là tuyến cuối của Thành phố Cần Thơ, với số lượng NB đông dẫn đến tình trạng quá tải và vị trí nằm ngay trung tâm thành phố có lưu lượng xe cộ cao, gây ra tiếng ồn Về tình hình an ninh trật tự, 77,3% NB cảm thấy khá yên tâm, cao hơn so với 35,3% tại Khoa Ngoại Chấn thương BV Đa khoa Tỉnh Kiên Giang năm 2020 Mặc dù tỷ lệ NB yên tâm về an ninh trật tự cao, vẫn tồn tại tình trạng mất trộm và người bán hàng rong trong khoa Bảo vệ an ninh được hợp đồng với công ty bảo vệ riêng, nhưng lực lượng còn mỏng, dẫn đến việc khó kiểm soát tình hình.
HUPH xấu lợi dụng trộm cắp tài sản
Trải nghiệm của người bệnh về tinh thần và thái độ của nhân viên y tế :
Tỷ lệ TNCNB tích cực đạt 65,7%, trong khi tỷ lệ chấp nhận cũng từ 6% trở lên, mặc dù vẫn thấp hơn so với nghiên cứu của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 2020, tại các bệnh viện công lập ở thành phố, tỷ lệ người bệnh có thái độ tích cực đối với tinh thần và thái độ làm việc của nhân viên y tế đạt từ 95,5% trở lên Đặc biệt, tiêu chí giải thích rõ về tình trạng và diễn tiến bệnh được người bệnh đánh giá cao nhất với tỷ lệ 86,7%, cao hơn so với nghiên cứu của Fadi Hachem (76%) Điều này rất quan trọng trong công tác chăm sóc và điều trị nội trú, vì nhân viên y tế, đặc biệt là điều dưỡng, là người trực tiếp thăm khám và chăm sóc người bệnh hàng ngày Tại khoa Ngoại CTCH – Bỏng, công tác chăm sóc người bệnh được thực hiện nghiêm túc từ giao tiếp đến cấp phát thuốc và thực hiện các kỹ thuật chăm sóc đúng giờ, dẫn đến tỷ lệ trải nghiệm tích cực về chăm sóc của điều dưỡng Tiêu chí nhân viên y tế trả lời thỏa đáng các câu hỏi của người bệnh cũng đạt tỷ lệ cao là 75,4%, cho thấy sự hiện diện thường xuyên của điều dưỡng tại bệnh phòng và thông tin rõ ràng về nhân viên y tế tại quầy nhận bệnh Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Nguyễn Thị Huyền Trâm tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội năm 2018.
Trải nghiệm của người bệnh về hoạt động khám chữa bệnh :
Trong thời gian nằm viện, TNCNB đạt tỷ lệ tích cực cao ở các tiểu mục, đều trên 70%, nhưng tiêu chí “BS khám ngay khi có triệu chứng bất thường” chỉ đạt 55% Điều này có thể do 36,7% bệnh nhân không có ý kiến và không gặp triệu chứng bất thường Kết quả này cho thấy kỹ năng giao tiếp, thăm khám và chăm sóc của bác sĩ và điều dưỡng rất hiệu quả, nhờ vào việc bác sĩ luôn tôn trọng, lắng nghe và giải thích nhiệt tình các vấn đề mà bệnh nhân gặp phải.
HUPH cam kết đảm bảo sự riêng tư cho bệnh nhân trong quá trình thăm khám và chăm sóc, bao gồm việc sử dụng thuốc, thực hiện xét nghiệm, thủ thuật và phẫu thuật, cũng như tư vấn lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp Kết quả nghiên cứu của chúng tôi hiện vẫn thấp hơn so với nghiên cứu của Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh tại các bệnh viện công lập, nơi tỷ lệ đạt từ 94,1% trở lên Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh nhân được bác sĩ giải thích và điều dưỡng hướng dẫn uống thuốc hàng ngày trong nghiên cứu của chúng tôi lại cao hơn so với nghiên cứu của Fadi Hachem và cộng sự, với tỷ lệ đạt 76%.
B ÀN LUẬN VỀ HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về trải nghiệm của 300 NB điều trị nội trú tại Khoa Ngoại Chấn thương Chỉnh hình – Bỏng Bệnh viện Đa khoa Thành phố Cần Thơ năm 2021
Thực trạng trải nghiệm của người bệnh nội trú:
- Điểm trung bình đánh giá chung về TNNB là 8,54 điểm (SD = ± 1,16) tương đối khả quan
Khi nhập viện, lý do được bác sĩ giải thích chiếm tỷ lệ cao nhất với 90,7%, trong khi tiêu chí công khai giá các loại dịch vụ và kỹ thuật chỉ đạt 53,3%.
Cơ sở vật chất và tiện ích phục vụ người bệnh cho thấy rằng tiêu chí dung dịch sát khuẩn tay tại buồng bệnh đạt tỷ lệ cao nhất với 87,4%, trong khi đó các dịch vụ tiện ích lại có tỷ lệ thấp nhất là 57,0% Mặc dù vậy, tỷ lệ người bệnh cảm thấy yên tâm về an ninh trật tự vẫn đạt 77,3%.
- Về tinh thần và thái độ của NVYT: các tiêu chí có tỷ lệ trải nghiệm tích cực của
NB tương đối cao (từ 65,7% trở lên)
Trong hoạt động khám chữa bệnh, tiêu chí bác sĩ thông tin và giải thích lý do thực hiện thủ thuật, phẫu thuật đạt tỷ lệ cao nhất là 81,7% Ngược lại, tiêu chí bác sĩ khám ngay khi có dấu hiệu bất thường chỉ đạt 55,0%, cho thấy cần cải thiện trong việc phát hiện sớm các triệu chứng.
- Về thanh toán viện phí: tiêu chí hỗ trợ thanh toán viện phí cho người có hoàn cảnh khó khăn là thấp nhất với 39%
- Trước khi xuất viện: 16,7% NB cho thấy thời gian chờ giấy xuất viện lâu
Một số yếu tố ảnh hưởng đến trải nghiệm người bệnh điều trị nội trú:
Tình trạng sức khỏe của bệnh nhân khi xuất viện được cải thiện tích cực nhờ vào việc bệnh viện áp dụng đúng quy trình khám chữa bệnh theo quy định của Bộ Y tế Bệnh viện đã tiến hành cải cách, rút gọn các thủ tục hành chính và có quy định hỗ trợ cho những bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn Cơ sở vật chất khang trang cùng với trang thiết bị hiện đại, cùng với đội ngũ nhân viên y tế đủ số lượng và phân bổ hợp lý theo trình độ chuyên môn, đã góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ Công tác đào tạo và tập huấn về quy tắc ứng xử của nhân viên y tế được triển khai thường xuyên, đảm bảo việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp với chẩn đoán.