ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu định lượng
Số lượt thay băng của các điều dưỡng và hộ sinh được ghi nhận trong quá trình thực hiện trên bệnh nhân tại bốn khoa: Ngoại tổng hợp, Phụ sản, Hồi sức cấp cứu và Khám chữa bệnh theo yêu cầu.
- Số lượt thay băng của các ĐD, HS trong giờ hành chính, từ thứ 2 – thứ 6 hàng tuần
Nghiên cứu định tính tập trung vào số lượt thay băng của các điều dưỡng và hộ sinh ngoài giờ hành chính, với hai nhóm đối tượng được lựa chọn có chủ đích: nhóm 1 là nhóm quản lý và nhóm 2 là điều dưỡng viên, hộ sinh.
+ Phó giám đốc phụ trách công tác Điều dưỡng của Trung tâm Y tế
+ Trưởng phòng Điều dưỡng của Trung tâm Y tế
+ Trưởng khoa Ngoại tổng hợp; Phụ sản; Hồi sức cấp cứu; KCB TYC + Điều dưỡng trưởng khoa Ngoại tổng hợp; Phụ sản; Hồi sức cấp cứu; KCB TYC
+ Trưởng khoa Dược; Trưởng khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn
+ Trưởng phòng Quản lý chất lượng
+ Điều dưỡng các khoa (Ngoại tổng hợp; Phụ sản; Hồi sức cấp cứu; KCB TYC).
Thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2021 đến tháng 10/2021
- Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm Y tế thành phố M óng Cái
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp cắt ngang kết hợp giữa định lượng và định tính Phương pháp định lượng được áp dụng để đạt được mục tiêu 1, trong khi phương pháp định tính nhằm giải quyết mục tiêu 2 Sau khi thực hiện quan sát định lượng, nghiên cứu đã chỉ ra các sai phạm thường gặp và tiến hành phỏng vấn định tính để tìm kiếm mối liên hệ với kết quả định lượng Quy trình thực hiện định lượng trước, sau đó là định tính.
Cỡ mẫu, phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng được tính theo công thức \$ n = \frac{z^2 (1-\alpha/2) p (1-p)}{d^2} \$ Trong đó, \$ n \$ là số cơ hội quan sát trong quá trình thay băng của nhân viên y tế, với \$ z = 1,96 \$ tương ứng với mức chính xác 95% Tỷ lệ tuân thủ quy trình thiết bị y tế là \$ p = 0,79 \$, theo nghiên cứu của Đỗ Hương Thu và cộng sự (2005) Sai số mong muốn được đặt là \$ d = 0,05 \$, tương đương ± 5% Từ đó, cỡ mẫu được tính là \$ n = 1,96^2 \times 0,79 \times 0,21 \$.
- Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên thuận tiện
Từ tháng 5 đến tháng 7, tại 4 khoa Ngoại tổng hợp, Phụ sản, Hồi sức cấp cứu và KCB TYC, sẽ thực hiện việc thay băng vết thương vào các ngày từ thứ 2 đến thứ 6, với tổng số ca ước tính khoảng 1.170 ca.
Bước 2: Tính khoảng cách mẫu (k): k= N/n
N: Số ca thay băng tại 4 khoa Ngoại tổng hợp; Phụ sản; Hồi sức cấp cứu; KCB TYC
Thay vào ta tính được: k = N/n = 1.170/255 = 5.6
- Tại mỗi khoa, lập 02 danh sách bệnh nhân TBVT (01 danh sách TBVT sạch và 01 danh sách TBVT nhiễm khuẩn)
- Trong mỗi danh sách các ca được chỉ định, chọn các ca theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống với k=5, cho đủ cỡ mẫu 255
Trong nghiên cứu, chúng tôi thực hiện bốc thăm ngẫu nhiên để chọn một số từ 1 đến 5 Kết quả bốc thăm cho thấy số 1 được chọn, do đó ca thay băng có số thứ tự 1 sẽ được đưa vào nghiên cứu Các ca tiếp theo được lựa chọn là những ca thay băng đủ tiêu chuẩn, với số thứ tự 6, 11, 16, và tiếp tục theo quy trình đã định.
Nghiên cứu định tính được thực hiện với hai nhóm đối tượng chính: nhóm quản lý và nhóm điều dưỡng viên Cỡ mẫu cho từng nhóm được lựa chọn một cách có chủ đích để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.
+ 01 cuộc PVS Phó giám đốc phụ trách công tác Điều dưỡng của Trung tâm Y tế
+ 01 cuộc PVS Trưởng phòng Điều dưỡng của Trung tâm
+ 04 cuộc phỏng vấn Trưởng khoa Ngoại tổng hợp; Phụ sản; Hồi sức cấp cứu; KCB TYC
+ 04 cuộc phỏng vấn Điều dưỡng trưởng khoa Ngoại tổng hợp; Phụ sản; Hồi sức cấp cứu; KCB TYC
+ 02 cuộc phỏng vấn trưởng khoa Dược; khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn + 01 cuộc phỏng vấn trưởng phòng Quản lý chất lượng
+ 01 cuộc TLN giữa Điều dưỡng các khoa (Ngoại tổng hợp; Phụ sản; Hồi sức cấp cứu; KCB TYC), mỗi khoa 2 Điều dưỡng.
Phương pháp thu thập số liệu
* Xây dựng bộ công cụ nghiên cứu
Xây dựng bảng kiểm thực hành quy trình TBVT theo hướng dẫn của Bộ Y tế và bảng kiểm kỹ thuật điều dưỡng TBVT từ Trung tâm Y tế thành phố Móng Cái (Phụ lục 1, 2) là bước quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng dịch vụ y tế.
Mỗi bảng kiểm sử dụng cho 1 lần quan sát TBVT
+ Thử nghiệm bộ công cụ: Sau khi đã có bộ công cụ, tiến hành quan sát thử
30 ca TBVT được sử dụng để kiểm tra tính phù hợp và khả thi của bộ công cụ Sau khi thử nghiệm, bộ công cụ sẽ được đánh giá lại và điều chỉnh nội dung cho phù hợp Cuối cùng, tiến hành tập huấn và thực hiện quan sát để thu thập số liệu.
Xây dựng bộ câu hỏi phỏng vấn nhằm tìm hiểu tầm quan trọng của quy trình TBVT tại đơn vị Nội dung câu hỏi sẽ tập trung vào việc xác định các bước không tuân thủ hoặc tuân thủ kém, lý do dẫn đến tình trạng này ở ĐD và HS, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ quy trình TBVT của nhân viên y tế Bên cạnh đó, cần xem xét các biện pháp mà Trung tâm đã áp dụng để khuyến khích nhân viên tuân thủ quy trình.
Thu thập thông tin định lượng
Bước 1: Chọn điều tra viên
Nhóm điều tra viên gồm 4 thành viên, bao gồm một nghiên cứu viên và 3 người trong tổ Quản lý chất lượng Các điều tra viên đều có kinh nghiệm lâm sàng và nắm vững quy trình thiết bị y tế.
Bước 2: Tập huấn cho điều tra viên về bảng kiểm quan sát thực hành TBVT
- Người tập huấn: nghiên cứu viên
Bước 3: Tiến hành quan sát
Dựa vào bảng kiểm thực hành TBVT, tiến hành thu thập ca thay băng theo danh sách đã lập Điều tra viên cần đứng ở vị trí dễ quan sát mà không làm ảnh hưởng đến công việc chuyên môn của nhân viên y tế Việc quan sát phải được thực hiện một cách bí mật, chỉ có lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo khoa phòng và điều tra viên biết mục đích của việc này.
Thu thập thông tin định tính
Đội ngũ phỏng vấn đã thực hiện phỏng vấn sâu với 13 đối tượng có chủ đích, sử dụng bộ câu hỏi thiết kế sẵn Họ đã gặp gỡ và xin ý kiến đồng ý tham gia nghiên cứu từ các đối tượng nghiên cứu, đồng thời cung cấp phiếu đồng ý để các đối tượng đọc và ký xác nhận Để đảm bảo thu thập thông tin đầy đủ và chính xác, đội ngũ phỏng vấn đã xin phép ghi âm và ghi chép trong suốt quá trình phỏng vấn, kéo dài khoảng 45 phút Mỗi cuộc phỏng vấn đều có biên bản riêng và được lưu giữ làm tài liệu.
Tác giả trình bày mục đích và nội dung nghiên cứu, sau đó thực hiện phỏng vấn sâu 13 đối tượng dựa trên bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn Nội dung phỏng vấn được ghi âm, chuyển đổi thành văn bản và phân tích theo các chủ đề Bộ công cụ sử dụng bao gồm Phiếu hướng dẫn phỏng vấn sâu (phụ lục 3, 4, 5).
Tất cả các đối tượng nghiên cứu được giải thích mục đích của buổi TLN và tự nguyện tham gia
Nghiên cứu viên chủ trì buổi TLN cùng với nhóm ĐTV thống nhất nội dung, hướng TLN và các bước tiến hành trước khi thảo luận
Buổi thảo luận được tổ chức dựa trên bộ câu hỏi thiết kế sẵn, giúp định hướng cho nhóm thảo luận Đội ngũ thực hiện đã chọn nhóm thảo luận để đảm bảo nội dung được tập trung hơn Cuối buổi, thư ký đã tóm tắt lại nội dung thảo luận trước khi kết thúc.
Nhóm biến số nghiên cứu định lượng
Để đảm bảo quy trình thay băng an toàn và hiệu quả, cần tuân thủ đúng phần 1 với 11 bước quan trọng Đầu tiên, thực hiện 5 đúng: đúng người, đúng thuốc, đúng liều, đúng đường, và đúng thời gian Tiếp theo, khai thác tiền sử dị ứng của bệnh nhân và thông báo, giải thích rõ ràng về quy trình sắp thực hiện Chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ thay băng, thuốc hoặc dung dịch rửa vết thương, vật tư tiêu hao, và các thùng chứa dung dịch khử khuẩn cũng như chất thải Cuối cùng, điều dưỡng cần mặc quần áo blouse, đội mũ, khẩu trang, và thực hiện rửa tay thường quy hoặc sát khuẩn tay nhanh trước khi tiến hành thay băng.
Tuân thủ quy trình thay băng vết thương sạch gồm 15 bước và vết thương nhiễm khuẩn gồm 19 bước Đầu tiên, hướng dẫn người bệnh ở tư thế thoải mái và mở gói dụng cụ vô khuẩn Sau đó, đi găng sạch, tháo bỏ băng bẩn và nhận định tình trạng vết thương Tiếp theo, tháo găng đã sử dụng, sát khuẩn tay nhanh, và mang găng vô khuẩn Đối với vết thương sạch, rửa vết thương và đối với vết thương nhiễm khuẩn, cần rửa trong vết thương bằng cách cắt lọc tổ chức hoại tử, tách rộng mép vết thương, ấn nhẹ xung quanh và cho dung dịch oxy già vào Sau khi rửa ngoài vết thương, thấm khô và sát khuẩn bằng povidine 10%, đặt gạc vô khuẩn che kín vết thương và băng cố định lại bằng băng dính hoặc băng cuộn Cuối cùng, giúp người bệnh nằm ở tư thế thoải mái và dặn dò những điều cần thiết.
Tuân thủ phần 3 sau khi thay băng bao gồm 5 bước quan trọng: ngâm dụng cụ, phân loại rác thải, tháo găng tay, rửa tay thường quy hoặc sát khuẩn tay nhanh, và ghi phiếu chăm sóc.
Chủ đề nghiên cứu định tính
TT NHÓM YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG NỘI DUNG
1 Nhóm yếu tố về cá nhân
- tuổi, chuyên ngành đào tạo, trình độ chuyên môn và thâm niên công tác có ảnh hưởng như thế nào đến việc tuân thủ quy trình TBVT?
- Kiến thức của ĐD, HS có ảnh hưởng gì đến việc tuân thủ quy trình TBVT?
2 Những yếu tố về cơ sở vật chất
Số lượng và chất lượng của các phương tiện, dụng cụ và vật tư y tế như xe thay băng, bông, băng, gạc, kéo, phẫu tích, bát kền, săng, dung dịch rửa và dung dịch sát khuẩn cần được đảm bảo đầy đủ và sẵn sàng để đáp ứng nhu cầu trong công tác y tế.
HUPH có trong chăm sóc người bệnh có TBVT có ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động TBVT?
- Vai trò của khoa KSNK– khoa Dược– vật tư trang thiết bị y tế có ảnh hưởng như thế nào đến sự tuân thủ quy trình TBVT của ĐD, HS?
3 Nhóm yếu tố về quản lý, điều hành
- Quy trình, hướng dẫn, bảng kiểm thực hiện TBVT
- Công tác đào tạo, tập huấn cho ĐD, HS
- Công tác kiểm tra, giám sát của các cấp quản lý
- Công tác đánh giá thi đua khen thưởng/phạt về việc thực hiện kỹ thuật chuyên môn
Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá (nếu có)
Bảng kiểm đánh giá tuân thủ quy trình TBVT được xây dựng dựa trên Hướng dẫn quy trình Kỹ thuật điều dưỡng của Bộ Y tế và quy trình, bảng kiểm TBVT của Trung tâm Y tế thành phố Móng Cái.
TT Nội dung thực hiện quy trình
Thực hiện quy trình Đạt Không đạt
1 Đánh giá từng thao tác một bước trong quy trình
Thực hiện đúng và đầy đủ các thao tác trong một bước
Thực hiện không đúng hoặc thiếu các thao tác trong một bước
2 Đánh giá thực hiện cả một quy trình cho một lần quan sát
Thực hiện đúng tất cả các bước, đúng thứ tự các bước trong cả quy trình cho một mẫu quan sát
Không thực hiện, thực hiện không đúng, thiếu ≥ một bước hoặc không đúng thứ tự các bước trong cả quy trình cho một mẫu quan sát
- Quy trình TBVT sạch có 31 tiêu chí đánh giá tương ứng với số điểm cao nhất là 31 điểm
- Quy trình TBVT nhiễm khuẩn có 35 tiêu chí đánh giá tương ứng với số điểm cao nhất là 35 điểm
+ Mỗi tiêu chí thực hiện đúng = 1 điểm
+ Mỗi tiêu chí không thực hiện, thực hiện không đúng (không đảm bảo vô trùng, không chính xác, không đúng trình tự các bước) = 0 điểm
Mỗi Quy trình TBVT được chia làm 3 phần:
+ Chuẩn bị NB: gồm 3 bước, tương ứng với 3 điểm
+ Chuẩn bị dụng cụ: gồm 6 bước, tương ứng với 6 điểm
+ Chuẩn bị nhân viên y tế: gồm 2 bước, tương ứng với 2 điểm
+ Quy trình TBVT sạch gồm 15 bước, tương ứng với 15 điểm
+ Quy trình TBVT nhiễm khuẩn 20 bước, tương ứng với 20 điểm
- Sau thay băng: gồm 5 bước, tương ứng với 5 điểm
- Tỷ lệ tuân thủ ở từng thao tác = (Số thao tác có thực hiện đạt/tổng số quan sát) x 100%
- Tỷ lệ tuân thủ ở từng phần được tính như sau:
+ Tỷ lệ tuân thủ chuẩn bị người bệnh (có 3 thao tác) = (Tất cả các trường hợp thực hiện đạt 3 thao tác/tổng số quan sát) x 100%
+ Tỷ lệ tuân thủ chuẩn bị dụng cụ (có 6 thao tác) = (Tất cả các trường hợp thực hiện đạt 6 thao tác/tổng số quan sát) x 100%
+ Tỷ lệ tuân thủ chuẩn bị nhân viên y tế (có 2 thao tác) = (Tất cả các trường hợp thực hiện đạt 2 thao tác/tổng số quan sát) x 100%
+ Tỷ lệ tuân thủ phần trong thay băng:
Tỷ lệ tuân thủ phần trong thay băng vết thương sạch (có 15 thao tác) (Tất cả các trường hợp thực hiện đạt 15 thao tác/tổng số quan sát) x 100%
Tỷ lệ tuân thủ phần trong thay băng vết thương nhiễm khuẩn (có 20 thao tác) = (Tất cả các trường hợp thực hiện đạt 20 thao tác/tổng số quan sát) x 100%
+ Tỷ lệ tuân thủ phần sau thay băng (có 5 thao tác) = (Tất cả các trường hợp thực hiện đạt 5 thao tác/tổng số quan sát) x 100%
- Tỷ lệ tuân thủ chung toàn bộ quy trình thay băng vết thương:
+ Tỷ lệ tuân thủ chung toàn bộ quy trình thay băng vết thương sạch = (số quan sát thực hiện đủ tất cả 31 thao tác/tổng số quan sát) x 100%
+ Tỷ lệ tuân thủ chung toàn bộ quy trình thay băng vết thương nhiễm khuẩn
= (số quan sát thực hiện đủ tất cả 35 thao tác/tổng số quan sát) x 100%
Phương pháp phân tích số liệu
* Số liệu định lượng: Nhập số liệu bằng Epidata 3.1, phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 2.0 Thống kê mô tả: tần số và tỷ lệ phần trăm
Dữ liệu định tính từ các băng ghi âm của TLN và PVS được chuyển đổi thành văn bản, sau đó được mã hóa, phân tích và tổng hợp theo các chủ đề Nghiên cứu viên lựa chọn những câu trích dẫn phù hợp để trả lời các câu hỏi chính của nghiên cứu, từ đó làm rõ mục tiêu nghiên cứu.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện theo quy trình xét duyệt của Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Y tế công cộng Hà Nội, sau khi nhận được sự chấp thuận từ Quyết định số: 217/2021/YTCC-HD3 ngày 07/5/2021 liên quan đến các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.
Nghiên cứu nhận được sự quan tâm và ủng hộ mạnh mẽ từ Ban lãnh đạo cùng các khoa, phòng của Trung tâm Y tế thành phố Móng Cái Đối tượng nghiên cứu đã được thông tin rõ ràng về mục đích của nghiên cứu trước khi tham gia trả lời các câu hỏi.
Kết quả của nghiên cứu được phản hồi tới lãnh đạo Trung tâm y tế sau khi kết thúc nghiên cứu
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thực trạng tuân thủ quy trình TBVT
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ tuân thủ từng bước chuẩn bị NB của ĐD, HS
Theo biểu đồ 3.1, tỷ lệ điều dưỡng và học sinh tuân thủ đúng bước thông báo và giải thích cho người bệnh về quy trình sắp thực hiện đạt cao nhất là 80,4% Tuy nhiên, tỷ lệ tuân thủ bước thực hiện 5 đúng để xác định chính xác người bệnh và dịch vụ cung cấp chỉ đạt 77,3%.
Thực hiện 5 đúng Khai thác tiền sử dị ứng Thông báo và giải thích cho người bệnh Tuân thủ đúng Tuân thủ không đúng Không tuân thủ
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ tuân thủ từng bước chuẩn bị dụng cụ của ĐD, HS
Trong 255 lượt quan sát về việc tuân thủ chuẩn bị dụng cụ trước khi thực hiện TBVT, tỷ lệ tuân thủ cao nhất được ghi nhận ở bước chuẩn bị xe thay băng và thùng đựng rác thải, đạt 100% Tuy nhiên, tỷ lệ tuân thủ thấp nhất là ở bước chuẩn bị vật tư tiêu hao, chỉ đạt 83,5%.
Xe thay băng Bộ dụng cụ thay băng
Thuốc/ Dung dịch rửa vết thương
Thùng đựng dung dịch khử khuẩn
Tuân thủ đúng Tuân thủ không đúng
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ tuân thủ từng bước chuẩn bị NVYT của ĐD, HS
Biểu đồ 3.3 cho thấy tỷ lệ chuẩn bị nhân viên y tế của ĐD và HS đạt lần lượt là 89,4% và 78,8% Tuy nhiên, tỷ lệ tuân thủ quy trình rửa tay thường quy vẫn cao với 17,3%, trong đó có 3,9% nhân viên y tế không tuân thủ quy trình này.
100% Đội mũ, đeo khẩu trang Rửa tay thường quy
Tuân thủ đúng Tuân thủ không đúng không tuân thủ
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ tuân thủ từng bước kỹ thuật TBVT của ĐD, HS
Tuân thủ đúng Tuân thủ không đúng Không tuân thủ
Theo biểu đồ 3.4, trong tổng số 255 lượt quan sát, tỷ lệ thực hiện bước mở gói dụng cụ vô khuẩn đạt 100% Tuy nhiên, bước rửa tay thường quy sau khi bóc băng bẩn chỉ đạt 72,2%, với 31 lượt (12,2%) thực hiện không đúng và 40 lượt (15,7%) không thực hiện sát khuẩn tay.
Hướng dẫn NB ở tư thế thuận lợi
Mở gói dụng cụ vô khuẩn Đi găng sạch Tháo bỏ băng bẩn Nhận định tình trạng vết thương
Tháo bỏ găng đã sử dụng
Sát khuẩn tay nhanh Mang găng vô khuẩn Rửa vết thương sạch Cắt lọc vết thương Tách rộng mép vết thương Ấn nhẹ xung quanh vết thương
Cho oxy già vào vết thương
Rửa ngoài vết thương nhiễm khuẩn
Thấm khô Sát khuẩn bằng Povidin 10% Đặt gạc che kín VT Băng cố định Đặt lại tư thế NB Dặn NB những điều cần thiết
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ tuân thủ từng bước sau thay băng của ĐD, HS
100% điều dưỡng và hộ sinh tháo bỏ găng tay sau khi thay băng Tuy nhiên, chỉ có 82,7% điều dưỡng và hộ sinh thực hiện rửa tay sau khi thay băng Đáng chú ý, có 14 lượt điều dưỡng và hộ sinh không ghi chép nội dung chăm sóc thay băng vết thương vào hồ sơ bệnh án, chiếm tỷ lệ 5,5%.
HS có ghi hồ sơ nhưng không đúng, không đầy đủ các nội dung
Ngâm dụng cụ Phân loại rác thải Tháo bỏ găng Rửa tay thường quy/sát khuẩn tay nhanh
Tuân thủ đúng Tuân thủ không đúng không tuân thủ
3.1.4 Tỷ lệ tuân thủ chung quy trình TBVT của ĐD, HS
Bảng 3.1 Tỷ lệ tuân thủ chung từng phần của quy trình TBVT của ĐD, HS
Tuân thủ đúng Không tuân thủ
Theo bảng 3.1, tỷ lệ tuân thủ quy trình thay băng trong chăm sóc y tế cho thấy: tỷ lệ tuân thủ trong thay băng đạt 49,8%, tỷ lệ tuân thủ trước khi thay băng là 54,9%, và tỷ lệ tuân thủ sau khi thay băng đạt 72,9%.
Bảng 3.2 Tỷ lệ tuân thủ chung toàn bộ quy trình TBVT của ĐD, HS
TT Nội dung Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Theo bảng 3.2, kết quả nghiên cứu cho thấy có 46,7% ĐD, HS tuân thủ thực hành quy trình TBVT và có 53,3% không tuân thủ quy trình TBVT
3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình TBVT của ĐD, HS tại Trung tâm Y tế thành phố Móng Cái năm 2021 Để tìm hiểu một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình TBVT của ĐD, HS tại Trung tâm Y tế thành phố Móng Cái, nhóm nghiên cứu đã tiến hành 13 cuộc phỏng vấn sâu và với lãnh đạo Trung tâm, trưởng phòng Điều dưỡng, Trưởng khoa, Điều dưỡng trưởng khoa Ngoại, Phụ sản, Hồi sức cấp cứu, Khám chữa bệnh theo yêu cầu, Trưởng phòng Quản lý chất lượng, trưởng khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, trưởng khoa Dược, 1 cuộc thảo luận nhóm với các ĐD,
HS Kết quả cho thấy có một số yếu tố ảnh hưởng như sau:
3.2.1 Yếu tố về đặc điểm cá nhân của ĐD, HS
Nghiên cứu đã tiến hành trên 38 điều dưỡng và hộ sinh, với tổng cộng 255 lượt quan sát Kết quả cho thấy có 119/255 lần tuân thủ đúng toàn bộ các bước trong quy trình TBVT.
Bảng 3.3 Tỷ lệ tuân thủ quy trình TBVT của ĐD, HS theo nhóm tuổi tại
Trung tâm Y tế thành phố Móng Cái (n= 255 lượt quan sát)
Số lần quan sát theo nhóm tuổi
Tuân thủ đúng Không tuân thủ n % n %
Theo bảng 3.3, Tỷ lệ tuân thủ đúng ở nhóm tuổi từ 20-29 tuổi chiếm 23,5%, nhóm tuổi 30-39 tuổi chiếm 57%, nhóm tuổi ≥ 40 chiếm 75%
Nhóm tuổi từ 40 trở lên trong nghiên cứu chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp, với chỉ 3 người và 12 lượt quan sát Do đó, chưa có đủ bằng chứng để kết luận về mối liên quan giữa độ tuổi và việc tuân thủ quy trình thay băng vết thương của điều dưỡng và hộ sinh.
Theo kết quả phỏng vấn, học sinh trẻ thiếu kinh nghiệm trong việc đánh giá vết thương, dẫn đến việc chưa xác định được phương pháp thay băng phù hợp.
Điều dưỡng trẻ thường rất nhiệt tình và năng động, nhưng họ còn thiếu kinh nghiệm trong chuyên môn trang bị vật tư y tế, đặc biệt là trong việc nhận định và đánh giá sự tiến triển của vết thương.
Kết quả phỏng vấn với Điều dưỡng trưởng khoa cho thấy rằng, tỷ lệ tuân thủ quy trình của điều dưỡng viên và học sinh càng cao khi tuổi tác tăng Mặc dù các điều dưỡng mới được đào tạo bài bản hơn, nhưng trong thực tế, họ vẫn cần được hướng dẫn nhiều do sự khác biệt giữa lý thuyết và thực hành.
Bảng 3.4 Tỷ lệ tuân thủ quy trình TBVT của ĐD, HS theo trình độ chuyên môn tại Trung tâm Y tế thành phố Móng Cái (n= 255 lượt quan sát)
Số lần quan sát theo trình độ chuyên môn
Tuân thủ đúng Không tuân thủ n % n %
Theo bảng 3.4, Tỷ lệ tuân thủ quy trình đạt cao nhất là ĐD, HS có trình độ đại học đạt 56,3%, trình độ trung cấp chỉ đạt 37,5%
Trong những năm gần đây, ngành y tế đã có sự phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là tại Trung tâm Y tế thành phố Móng Cái, nơi mà đội ngũ nhân lực y tế đã trải qua nhiều thay đổi đáng kể.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thực trạng tuân thủ quy trình TBVT
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ tuân thủ từng bước chuẩn bị NB của ĐD, HS
Theo biểu đồ 3.1, tỷ lệ điều dưỡng và học sinh tuân thủ đúng bước thông báo và giải thích cho người bệnh về các bước sắp thực hiện đạt cao nhất là 80,4% Tuy nhiên, tỷ lệ tuân thủ bước thực hiện 5 đúng để xác định chính xác người bệnh và dịch vụ cung cấp chỉ đạt 77,3%.
Thực hiện 5 đúng Khai thác tiền sử dị ứng Thông báo và giải thích cho người bệnh Tuân thủ đúng Tuân thủ không đúng Không tuân thủ
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ tuân thủ từng bước chuẩn bị dụng cụ của ĐD, HS
Trong 255 lượt quan sát về việc tuân thủ chuẩn bị dụng cụ trước khi thực hiện TBVT, tỷ lệ tuân thủ cao nhất được ghi nhận ở bước chuẩn bị xe thay băng và thùng đựng rác thải, đạt 100% Tuy nhiên, tỷ lệ tuân thủ thấp nhất là ở bước chuẩn bị vật tư tiêu hao, chỉ đạt 83,5%.
Xe thay băng Bộ dụng cụ thay băng
Thuốc/ Dung dịch rửa vết thương
Thùng đựng dung dịch khử khuẩn
Tuân thủ đúng Tuân thủ không đúng
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ tuân thủ từng bước chuẩn bị NVYT của ĐD, HS
Biểu đồ 3.3 cho thấy tỷ lệ chuẩn bị nhân viên y tế của ĐD và HS đạt lần lượt là 89,4% và 78,8% Tuy nhiên, tỷ lệ tuân thủ quy trình rửa tay thường quy vẫn cao, với 17,3% không tuân thủ, trong đó có 3,9% nhân viên y tế không thực hiện đúng quy trình.
100% Đội mũ, đeo khẩu trang Rửa tay thường quy
Tuân thủ đúng Tuân thủ không đúng không tuân thủ
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ tuân thủ từng bước kỹ thuật TBVT của ĐD, HS
Tuân thủ đúng Tuân thủ không đúng Không tuân thủ
Theo biểu đồ 3.4, trong tổng số 255 lượt quan sát, tỷ lệ thực hiện bước mở gói dụng cụ vô khuẩn đạt 100% Tuy nhiên, bước rửa tay thường quy sau khi bóc băng bẩn chỉ đạt 72,2%, với 31 lượt (12,2%) thực hiện không đúng và 40 lượt (15,7%) không thực hiện sát khuẩn tay.
Hướng dẫn NB ở tư thế thuận lợi
Mở gói dụng cụ vô khuẩn Đi găng sạch Tháo bỏ băng bẩn Nhận định tình trạng vết thương
Tháo bỏ găng đã sử dụng
Sát khuẩn tay nhanh Mang găng vô khuẩn Rửa vết thương sạch Cắt lọc vết thương Tách rộng mép vết thương Ấn nhẹ xung quanh vết thương
Cho oxy già vào vết thương
Rửa ngoài vết thương nhiễm khuẩn
Thấm khô Sát khuẩn bằng Povidin 10% Đặt gạc che kín VT Băng cố định Đặt lại tư thế NB Dặn NB những điều cần thiết
Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ tuân thủ từng bước sau thay băng của ĐD, HS
100% điều dưỡng và hộ sinh tháo bỏ găng tay sau khi thay băng Tỷ lệ rửa tay sau khi thay băng chỉ đạt 82,7% Có 14 lượt điều dưỡng và hộ sinh không ghi chép nội dung chăm sóc thay băng vết thương vào hồ sơ bệnh án, chiếm 5,5%.
HS có ghi hồ sơ nhưng không đúng, không đầy đủ các nội dung
Ngâm dụng cụ Phân loại rác thải Tháo bỏ găng Rửa tay thường quy/sát khuẩn tay nhanh
Tuân thủ đúng Tuân thủ không đúng không tuân thủ
3.1.4 Tỷ lệ tuân thủ chung quy trình TBVT của ĐD, HS
Bảng 3.1 Tỷ lệ tuân thủ chung từng phần của quy trình TBVT của ĐD, HS
Tuân thủ đúng Không tuân thủ
Theo bảng 3.1, tỷ lệ tuân thủ quy trình thay băng trong các giai đoạn khác nhau được ghi nhận như sau: tỷ lệ tuân thủ trong thay băng đạt 49,8%, tỷ lệ tuân thủ trước khi thay băng là 54,9%, và tỷ lệ tuân thủ sau khi thay băng đạt 72,9%.
Bảng 3.2 Tỷ lệ tuân thủ chung toàn bộ quy trình TBVT của ĐD, HS
TT Nội dung Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Theo bảng 3.2, kết quả nghiên cứu cho thấy có 46,7% ĐD, HS tuân thủ thực hành quy trình TBVT và có 53,3% không tuân thủ quy trình TBVT.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình TBVT của ĐD, HS tại
Năm 2021, tại Trung tâm Y tế thành phố Móng Cái, nhóm nghiên cứu đã tiến hành 13 cuộc phỏng vấn sâu với lãnh đạo và các trưởng phòng, bao gồm Điều dưỡng, Khoa Ngoại, Phụ sản, Hồi sức cấp cứu, Khám chữa bệnh theo yêu cầu, Quản lý chất lượng, Kiểm soát nhiễm khuẩn, và Dược Mục tiêu là tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình TBVT của ĐD và HS tại trung tâm Ngoài ra, nhóm cũng tổ chức một cuộc thảo luận nhóm với các ĐD để thu thập thêm thông tin.
HS Kết quả cho thấy có một số yếu tố ảnh hưởng như sau:
3.2.1 Yếu tố về đặc điểm cá nhân của ĐD, HS
Nghiên cứu đã được tiến hành trên 38 điều dưỡng và hộ sinh, với tổng cộng 255 lượt quan sát Kết quả cho thấy có 119/255 lần tuân thủ đúng toàn bộ các bước trong quy trình TBVT.
Bảng 3.3 Tỷ lệ tuân thủ quy trình TBVT của ĐD, HS theo nhóm tuổi tại
Trung tâm Y tế thành phố Móng Cái (n= 255 lượt quan sát)
Số lần quan sát theo nhóm tuổi
Tuân thủ đúng Không tuân thủ n % n %
Theo bảng 3.3, Tỷ lệ tuân thủ đúng ở nhóm tuổi từ 20-29 tuổi chiếm 23,5%, nhóm tuổi 30-39 tuổi chiếm 57%, nhóm tuổi ≥ 40 chiếm 75%
Nhóm tuổi từ 40 trở lên trong nghiên cứu chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp, với chỉ 3 người và 12 lượt quan sát Do đó, chưa có đủ bằng chứng để kết luận mối liên quan giữa độ tuổi và việc tuân thủ quy trình thay băng vết thương của điều dưỡng và hộ sinh.
Theo kết quả phỏng vấn, học sinh trẻ thiếu kinh nghiệm trong việc đánh giá vết thương, dẫn đến việc chưa xác định được phương pháp thay băng phù hợp.
Điều dưỡng trẻ thường rất nhiệt tình và năng động, nhưng họ còn thiếu kinh nghiệm trong chuyên môn trang bị vật tư y tế, đặc biệt là trong việc nhận định và đánh giá sự tiến triển của vết thương.
Kết quả phỏng vấn với Điều dưỡng trưởng khoa cho thấy rằng, tỷ lệ tuân thủ quy trình của điều dưỡng và học sinh càng cao khi tuổi tác tăng Điều này được minh chứng qua ý kiến của một điều dưỡng trưởng: “Khoa tôi năm vừa rồi được tuyển nhiều điều dưỡng mới, mặc dù các bạn được học hành bài bản hơn, nhưng trong quá trình thực hành chuyên môn, phải hướng dẫn nhiều vì từ lý thuyết đến thực tế là rất khác nhau.”
Bảng 3.4 Tỷ lệ tuân thủ quy trình TBVT của ĐD, HS theo trình độ chuyên môn tại Trung tâm Y tế thành phố Móng Cái (n= 255 lượt quan sát)
Số lần quan sát theo trình độ chuyên môn
Tuân thủ đúng Không tuân thủ n % n %
Theo bảng 3.4, Tỷ lệ tuân thủ quy trình đạt cao nhất là ĐD, HS có trình độ đại học đạt 56,3%, trình độ trung cấp chỉ đạt 37,5%
Trong những năm gần đây, ngành y tế đã có sự phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là tại Trung tâm Y tế thành phố Móng Cái, nơi mà đội ngũ nhân lực y tế đã trải qua nhiều thay đổi đáng kể.
Sau nhiều năm không tuyển dụng, từ năm 2019, Trung tâm đã bắt đầu tuyển dụng điều dưỡng và hộ sinh, dẫn đến việc trẻ hóa đội ngũ Nhiều điều dưỡng và hộ sinh mới ra trường với trình độ đại học và cao đẳng đã được tuyển dụng, đồng thời họ cũng tự túc học liên thông để nâng cao trình độ Điều này đã góp phần nâng cao nhận thức nghề nghiệp và cải thiện kỹ năng thực hành của đội ngũ.
Trình độ chuyên môn càng cao thì nhận thức được tầm quan trọng của tuân thủ quy trình thay băng càng cao
Trong quá trình kiểm tra và giám sát, các hội thi cho thấy rằng nhận thức về việc tuân thủ quy trình của Điều dưỡng đại học cao hơn so với cao đẳng và trung học Điều này chứng tỏ rằng, khi trình độ chuyên môn được nâng cao, nhận thức về tầm quan trọng của việc tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật, như thay băng vết thương, cũng được cải thiện.
Theo thông tư 26/2015/TTLT-BYT-BNV, từ ngày 01 tháng 01 năm 2025, trình độ điều dưỡng và hộ sinh tối thiểu phải đạt cao đẳng đúng chuyên ngành Do đó, hầu hết điều dưỡng và hộ sinh tại trung tâm đã tham gia các chương trình đào tạo khác nhau Tuy nhiên, điều kiện thực hành tại mỗi trường đào tạo không đồng nhất, dẫn đến chất lượng đầu ra của sinh viên cũng khác nhau.
“ điều dưỡng tốt nghiệp ở các trường khác nhau thì trình độ cũng khác nhau, nhưng hầu hết đều thực hiện những nhiệm vụ thông thường như thực hiện
HUPH y lệnh của bác sĩ, tiêm truyền tính chủ động và phối hợp với bác sĩ còn rất thấp ” (PVS 05)
Bảng 3.5 Tỷ lệ tuân thủ quy trình TBVT của ĐD, HS theo thâm niên công tác tại Trung tâm Y tế thành phố Móng Cái
Số lần quan sát theo thâm niên
Tuân thủ đúng Không tuân thủ n % n %
Theo bảng 3.5, trong 119 lần tuân thủ quy trình TBVT, nhóm điều dưỡng và hộ sinh có thời gian công tác từ 10 năm trở lên đạt tỷ lệ 71,2%, trong khi nhóm có thời gian công tác dưới 5 năm chỉ đạt 23,7% Điều này cho thấy rằng điều dưỡng có thâm niên công tác càng cao thì càng tích lũy được nhiều kinh nghiệm chuyên môn, đặc biệt là trong lĩnh vực TBVT.
Điều dưỡng có kinh nghiệm lâu năm thực hiện quy trình thay băng một cách khéo léo và thành thạo, giúp họ nhận định vết thương một cách đầy đủ và chính xác hơn, từ đó thực hiện quy trình một cách hoàn chỉnh hơn.
Thâm niên công tác ảnh hưởng đến việc tuân thủ quy trình kỹ thuật và quy trình bảo trì, vận hành thiết bị y tế Theo thông tin từ điều dưỡng trưởng khoa, yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng dịch vụ y tế.
Tại khoa, những điều dưỡng có thâm niên lâu năm thể hiện kỹ năng xuất sắc trong việc nhận định và đánh giá sự tiến triển của vết thương Họ có khả năng phát hiện sớm các bất thường và thực hiện các thao tác thay băng vết thương nhiễm khuẩn một cách thành thạo và nhanh chóng.
3.2.2 Các yếu tố về cơ sở vật chất
Yếu tố về cơ sở vật chất, phương tiện tạo điều kiện tốt cho ĐD, HS tuân thủ quy trình thay băng vết thương
Cơ sở vật chất đóng vai trò quan trọng trong việc tuân thủ quy trình thay băng vết thương của điều dưỡng và hộ sinh Trung tâm Y tế thành phố Móng Cái đã đầu tư vào các phương tiện, dụng cụ và vật tư y tế để đáp ứng nhu cầu chăm sóc bệnh nhân Điều này không chỉ giúp giảm thiểu biến chứng nhiễm khuẩn vết thương và vết mổ, mà còn giảm thời gian nằm viện, chi phí điều trị và nâng cao chất lượng chuyên môn.
Thực trạng tuân thủ quy trình thay băng vết thương của điều dưỡng, hộ
4.1.1 Thực trạng tuân thủ chung quy trình thay băng vết thương
Kết quả tổng hợp cho thấy tỷ lệ tuân thủ thực hành đúng toàn bộ các bước quy trình thay băng vết thương của điều dưỡng (ĐD) và học sinh (HS) là 46,7% Tỷ lệ này tương đồng với nghiên cứu của Đỗ Thị Lan năm 2020 (44,6%) nhưng thấp hơn so với nghiên cứu của Hoàng Thị Phương năm 2018 (59,1%).
Tại Trung tâm Y tế tuyến huyện, 58% (36) số liệu cho thấy sự khác biệt trong công tác chăm sóc người bệnh và công tác TBVT do điều kiện cơ sở vật chất hạn chế Trong 255 lượt quan sát TBVT, có 119 lượt ĐD, HS tuân thủ đúng toàn bộ quy trình, cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoan tại Bệnh viện Đa khoa huyện Đan Phượng, nơi không có kỹ thuật nào thực hiện đúng quy trình thay băng Nghiên cứu của Lê Đại Thanh tại Bệnh viện Đa khoa Chương Mỹ cho thấy không có lần nào thực hiện đúng toàn bộ 30 tiêu chí đánh giá trong quy trình thay băng, với 77,5% số lần thực hiện đúng từ 90% đến 100% tiêu chí Sự tuân thủ này được cải thiện nhờ tổ chức hội thi tay nghề 2 năm/lần và các buổi tập huấn quy trình thường xuyên, giúp ĐD cập nhật kiến thức và nâng cao nhận thức về tuân thủ quy trình TBVT.
Theo nghiên cứu của Đỗ Hương Thu tại Bệnh viện Đa khoa Bắc Thăng Long, tỷ lệ thực hiện đúng toàn bộ quy trình thay băng đạt 79% trên 200 lần thực hành, cao hơn so với tỷ lệ 70% của phòng Điều dưỡng Trung tâm Sự khác biệt này có thể do việc đánh giá thường quy, khiến người được quan sát ý thức hơn trong thực hành So với nghiên cứu của Mc Fadden và Miler năm 2004, tỷ lệ thực hiện sai quy trình thay băng cho bệnh nhân phẫu thuật là 85%.
4.1.2 Thực hiện các bước trước thay băng vết thương
Trước khi thay băng vết thương, cần chuẩn bị kỹ lưỡng về người bệnh, dụng cụ và nhân viên y tế để đảm bảo quy trình thực hiện hiệu quả và đạt chất lượng chuyên môn cao.
Để chuẩn bị người bệnh trước khi cung cấp dịch vụ, nhân viên y tế cần đặt ít nhất ba câu hỏi mở như họ tên, ngày tháng năm sinh và địa chỉ Việc lắng nghe và đối chiếu thông tin là rất quan trọng để xác định chính xác danh tính người bệnh Đồng thời, cần khai thác tiền sử dị ứng của người bệnh và thông báo, giải thích rõ ràng về kỹ thuật sắp thực hiện, cũng như hướng dẫn để người bệnh có thể hợp tác tốt nhất.
Kết quả tổng hợp cho thấy tỷ lệ thực hành chuẩn bị người bệnh trong quy trình thay băng vết thương chỉ đạt 56,9% Mặc dù hầu hết các bước chuẩn bị người bệnh được thực hiện, nhưng nhiều bước không đúng hoặc không đủ, đặc biệt là bước thực hiện 5 đúng, với 22,7% nhân viên y tế không xác định chính xác người bệnh Nhân viên y tế thường chỉ dựa vào phiếu công khai vật tư y tế và trí nhớ, sử dụng câu hỏi đóng thay vì câu hỏi mở để xác định người bệnh Ngoài ra, tỷ lệ thông báo và giải thích cho người bệnh trước khi thay băng chỉ đạt 4,7%, thấp hơn so với nghiên cứu của Ngô Thị Huyền (11,1%) và Lê Đình Anh (12%) Những kết quả này cho thấy cần cải thiện quy trình chuẩn bị người bệnh để đảm bảo an toàn và hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe.
Tỷ lệ nghiên cứu cao hơn so với nghiên cứu của chúng tôi là do Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đang phải đối mặt với tình trạng quá tải bệnh nhân, dẫn đến việc công tác tư vấn và giải thích chưa được thực hiện thường xuyên.
Tỷ lệ thực hành đúng khâu chuẩn bị dụng cụ khi thay băng vết thương đạt 71,8%, cao hơn so với nghiên cứu của Ngô Thị Huyền năm 2012 là 64,8% Sự chênh lệch này có thể do Bệnh viện Việt Đức tiếp nhận nhiều vết thương phức tạp hơn, với số lượng thay băng được nghiên cứu từ 8 khoa lâm sàng.
HUPH đã thực hiện rất tốt các bước, với hơn 80% đạt yêu cầu 100% lượt quan sát thay băng đều sử dụng xe thay băng và có đủ thùng đựng rác Tuy nhiên, bước chuẩn bị vật tư tiêu hao chỉ đạt 16,5%, chủ yếu do thiếu băng và gạc Bước chuẩn bị dung dịch rửa và dung dịch sát khuẩn đạt 86,7%, thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoan là 100%.
* Chuẩn bị nhân viên y tế
Nhân viên y tế cần chuẩn bị bằng cách mặc áo blouse, đội mũ, đeo khẩu trang và thực hiện rửa tay thường quy hoặc sát khuẩn tay nhanh bằng dung dịch chứa cồn Hiện tại, Trung tâm đã trang bị dung dịch sát khuẩn tay nhanh tại các phòng thủ thuật, trên xe tiêm và xe thay băng để đảm bảo an toàn trong quá trình thực hiện thủ thuật cho bệnh nhân.
Kết quả thực hành đúng 2 bước chuẩn bị của nhân viên y tế đạt là 82,7%,
Tỷ lệ nghiên cứu này của chúng tôi cao hơn nghiên cứu của Nguyễn Minh Nguyệt
(2017) tại Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn là 75,6% và 78% (22) Nghiên cứu của Ngô Thị Huyền năm 2012 là 75,3% (23), nghiên cứu của Phùng Thị Huyền và cộng sự là 79,5% (20)
4.1.3 Thực hiện các bước trong thay băng
Thay băng vết thương sạch bao gồm 15 bước kỹ thuật, trong khi thay băng vết thương nhiễm khuẩn có 19 bước, bắt đầu từ việc chuẩn bị tư thế cho người bệnh, nhận định và đánh giá sự tiến triển của vết thương Sự khác biệt chính giữa hai quy trình này nằm ở bước rửa vết thương, trong khi các bước còn lại tương tự nhau Việc lựa chọn loại gạc và băng phù hợp cũng rất quan trọng trong cả hai quy trình.
Trong tổng số 255 lượt quan sát thực hiện thay băng vết thương, tỷ lệ tuân thủ đúng tất cả các bước chỉ đạt 49,8%, trong khi tỷ lệ không tuân thủ là 50,2% Tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Ngô Thị Huyền năm 2012, với tỷ lệ tuân thủ đạt 48,1% và không tuân thủ 51,9% Nguyên nhân có thể do thiết kế nghiên cứu của Ngô Thị Huyền được thực hiện tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức, nơi có lượng bệnh nhân đông, dẫn đến tình trạng quá tải cho điều dưỡng Bước rửa tay hoặc sát khuẩn tay nhanh sau khi bóc băng thường bị bỏ qua hoặc thực hiện không đúng, với 27,8% điều dưỡng và học sinh không đạt yêu cầu, so với 19,8% trong nghiên cứu của Ngô Thị Huyền Mặc dù tại Bệnh viện Việt Đức, mỗi giường bệnh đều có chai dung dịch sát khuẩn tay nhanh, giúp việc tuân thủ dễ dàng hơn, nhưng tỷ lệ tuân thủ vẫn thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoan, đạt 45%.
Tỉ lệ nhận định vết thương đúng đạt 73,3%, gần tương đương với nghiên cứu của Geraldine là 73,8% Trong khi đó, nghiên cứu của Nguyễn Minh Nguyệt (2017) cho thấy có đến 40,7% trường hợp không thực hiện đánh giá và thông báo cho người bệnh.
Kỹ thuật rửa và sát khuẩn vết thương cần thực hiện đúng cách, từ trong ra ngoài theo hình xoáy trôn ốc, với vùng sát khuẩn trên da lành có bán kính tối thiểu 5 cm để ngăn ngừa nhiễm khuẩn Tuy nhiên, tỷ lệ thực hiện đúng kỹ thuật của đội ngũ y tế và học sinh chỉ đạt 72,6%, thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Ngô Thị Huyền năm 2012 (95,7%) và Nguyễn Thị Hoan năm 2017 (91%).
Bước Băng vết thương đạt 98,4%, tỷ lệ này tương đương với nghiên cứu của Ngô Thị Huyền năm 2021 là 99,4% (23)
4.1.4 Thực hiện các bước sau thay băng vết thương
Sau khi thay băng vết thương, đội ngũ điều dưỡng (ĐD) và hộ sinh (HS) thực hiện xử lý dụng cụ, phân loại rác thải và ghi chép phiếu chăm sóc trong hồ sơ bệnh án Tỷ lệ tuân thủ các bước sau trang bị vật tư y tế của ĐD và HS đạt 72,9%, cao hơn so với nghiên cứu của Ngô Thị Huyền năm 2012 (56,8%) Bước ngâm dụng cụ vào thùng khử nhiễm đạt 97,3%, thấp hơn so với 100% trong nghiên cứu của Ngô Thị Huyền Tỷ lệ phân loại rác thải đạt 97,6%, nhờ vào công tác truyền thông và đào tạo về kiểm soát nhiễm khuẩn Tuy nhiên, tỷ lệ rửa tay và sát khuẩn tay nhanh chỉ đạt 82,7%, thấp hơn so với 90% trong nghiên cứu của Lê Đại Thanh và 89,8% của Lê Đình Anh năm 2015 Đây là bước thường bị bỏ qua do thói quen chuyển tiếp giữa các bệnh nhân, cần được giám sát chặt chẽ hơn để đảm bảo vệ sinh tay, tránh nhiễm khuẩn chéo cho bệnh nhân.
Một số yếu tố ảnh hưởng tuân thủ quy trình thay băng vết thương của điều dưỡng, hộ sinh tại Trung tâm Y tế thành phố Móng Cái năm 2021
An toàn người bệnh là ưu tiên hàng đầu trong ngành y tế, và việc tuân thủ quy trình thay băng vết thương là một trong những giải pháp quan trọng Nghiên cứu chỉ ra rằng có ba nhóm yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hành này: yếu tố cá nhân của nhân viên y tế, yếu tố cơ sở vật chất, và yếu tố quản lý Việc xác định chính xác các yếu tố này sẽ giúp các nhà quản lý đưa ra giải pháp nâng cao tỷ lệ tuân thủ quy trình kỹ thuật, từ đó giảm thiểu các sự cố y khoa không mong muốn.
Nghề điều dưỡng và hộ sinh có chức năng độc lập, phụ thuộc và phối hợp, nhưng hiện tại chức năng phụ thuộc và thực hiện y lệnh mới được phát huy Đối tượng nghiên cứu được chia thành ba nhóm tuổi, trong đó nhóm 30-39 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 57,9%, trong khi nhóm ≥ 40 tuổi chỉ chiếm 5,3% Tỷ lệ tuân thủ quy trình chăm sóc cao nhất thuộc về nhóm ≥ 40 tuổi với 75%, tiếp theo là nhóm 30-39 tuổi đạt 57%, và nhóm 20-29 tuổi chỉ đạt 23,5% Nghiên cứu của Ngô Thị Huyền và Phan Thị Dung tại Bệnh viện Việt Đức cho thấy nhóm tuổi 30-39 chiếm 54,4% và có mối liên quan giữa tuổi tác và tỷ lệ tuân thủ quy trình thay băng, với tỷ lệ tuân thủ cao hơn ở nhóm ≥ 40 tuổi.
Về thâm niên công tác chủ yếu là > 10 năm chiếm 42,3%, thấp nhất là 5-
Lực lượng lao động có thâm niên trên 10 năm chiếm 23,7%, tạo thuận lợi cho quy trình thay băng vết thương Tỷ lệ tuân thủ quy trình cao nhất đạt 71,2% ở nhóm công tác trên 10 năm, trong khi nhóm công tác dưới 5 năm chỉ đạt 23,7%.
Tỷ lệ nhân viên y tế có thâm niên công tác trong nghiên cứu này khác biệt so với nghiên cứu của Ngô Thị Huyền (2012) tại Bệnh viện Việt Đức, trong đó 45,1% thuộc nhóm có số năm công tác dưới 5 năm, 31,5% từ 5-10 năm, và chỉ 23,3% có thâm niên trên 10 năm Nghiên cứu của Williamson và Guta cho thấy nhân viên có trên 10 năm công tác thực hành ngăn ngừa nhiễm khuẩn kém hơn so với nhóm mới làm việc Trong khi đó, nghiên cứu của Geraldine Mccarthy cho thấy nhóm có thâm niên trên 10 năm chiếm tỷ lệ cao nhất 46,2%, nhóm từ 6-10 năm chiếm 32,4%, và nhóm dưới 5 năm chỉ chiếm 21,4%.
Nghiên cứu năm 2002 cho thấy điều dưỡng có kiến thức và thực hành tốt về chăm sóc vết thương chủ yếu là những người có nhiều năm kinh nghiệm Sự khác biệt này xuất phát từ chính sách của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, trong giai đoạn 2012 – 2018 không tuyển dụng thêm viên chức vào Trung tâm Y tế thành phố Móng Cái nhằm tinh giản biên chế Đến năm 2019, Trung tâm đã tuyển dụng 23 điều dưỡng và nữ hộ sinh mới, tiếp theo là 06 điều dưỡng và nữ hộ sinh mới vào năm 2020 Sự phân công công việc giữa các nhân viên lâu năm và mới cũng khác nhau, với nhân viên có kinh nghiệm được giao những nhiệm vụ phức tạp hơn, trong khi điều dưỡng mới thường đảm nhận công việc đơn giản hơn Trong khi đó, ở nước ngoài, nhân viên mới được đào tạo để làm việc như những nhân viên lâu năm.
Trong 38 ĐTNC có 26 nhân viên có trình độ cao đẳng, chiếm 68,4%, trình độ đại học có 9 người chiếm 23,7%, thấp nhất là trình độ trung học là 3 người chiếm 7,9% Tỷ lệ này trình độ đại học và cao đẳng cao hơn nghiên cứu của Ngô Thị Huyền (2012) có 46 đối tượng có trình độ cao đẳng và đại học, chiếm 28,4% và 116 đối tượng có trình độ trung cấp chiếm tỷ lệ 71,6% (23) Trong 255 lượt quan sát tỷ lệ tuân thủ quy trình thay băng vết thương cũng tăng lên theo trình độ thấp nhất là trung cấp 37,5%, cao đẳng 44% và cao nhất là trình độ đại học chiếm 56,3% Tương đồng với nghiên cứu của Williamson và Guta khi ông chứng minh có mối liên quan giữa điều dưỡng có trình độ đại học thực hành tốt hơn điều dưỡng có trình độ cao đẳng (26) Điều này hoàn toàn phù hợp vì khi học từ trung cấp lên cao đẳng, đại học đều phải qua lâm sàng, qua đó trau dồi kiến thức, kỹ năng thực hành và ý thức tuân thủ quy trình Tỷ lệ, đối tượng đại học trong nghiên cứu là 23,7% cao hơn tỷ lệ đại học của toàn trung tâm là 19,2% Trong 2 năm sau khi được tuyển dụng, Hội đồng tuyển dụng của Trung tâm có chủ trương nhận nhân viên có trình độ từ cao đẳng trở lên để đảm bảo chất lượng chăm sóc và đảm bảo thông tư 26/2015/TT-BYT của Bộ Y tế
Kiến thức của ĐTNC không chỉ bao gồm những thông tin thu nhận được mà còn là kỹ năng và kinh nghiệm tích lũy từ quá trình làm việc Do đó, nhiều ý kiến cho rằng
Nghiên cứu định tính cho thấy thâm niên công tác lâu dài có thể giảm thiểu sai sót, nhưng cũng cần lưu ý đến sự chủ quan của nhân viên y tế có thâm niên, do thói quen khó thay đổi Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành của điều dưỡng trong quy trình thay băng vết thương được chứng minh qua nghiên cứu của Ngô Thị Huyền (2012), cho thấy nhóm có kiến thức đúng thực hành đúng quy trình với tỷ lệ 44,7%, cao hơn nhóm có kiến thức sai với tỷ lệ 32,5%, chênh lệch 12,2% Ngoài ra, nghiên cứu của Haumuan Kabiz (2010) tại Bangladesh chỉ ra rằng mối tương quan giữa kiến thức và thực hành trong ngăn ngừa nhiễm khuẩn vết mổ là rất yếu.
Sự tuân thủ quy trình thay băng vết thương chịu ảnh hưởng lớn từ sự sẵn có của trang thiết bị và y dụng cụ cần thiết Kết quả này nhất quán với các báo cáo nghiên cứu trước đó.
Lê Minh Luân nhấn mạnh rằng yếu tố phương tiện và dụng cụ có liên quan đến quy trình thay băng vết thương rất quan trọng Nghiên cứu định tính cho thấy Ban lãnh đạo, ĐD, và HS tham gia PVS, TLN đều đồng ý rằng việc cung cấp và quản lý đầy đủ trang thiết bị, dụng cụ rửa và sát khuẩn có ảnh hưởng lớn đến thực hành thay băng Trung tâm đã cung cấp bộ dụng cụ thay băng đầy đủ và thùng đựng rác theo mã màu quy định Tuy nhiên, xe thay băng chưa chuyên dụng, các dụng cụ như pank và kéo đã cùn, gãy mà chưa được thay thế kịp thời, và gạc vô trùng tự sản xuất chưa đảm bảo về thẩm mỹ và kích thước.
Nhóm yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình thay băng vết thương của ĐTNC bao gồm quy định và quy trình rõ ràng, công tác đào tạo cho điều dưỡng và nữ hộ sinh, sự quan tâm của lãnh đạo, cùng với công tác kiểm tra, giám sát và chế độ khen thưởng, xử phạt Các yếu tố này đã được chứng minh là có tác động tích cực đến việc tuân thủ quy trình, với quy định và hướng dẫn rõ ràng giúp thống nhất các bước thực hành và cung cấp căn cứ pháp lý để đánh giá thực hành của ĐTNC.
Bộ Y tế đã ban hành các văn bản quan trọng như Thông tư 07/2011/TT-BYT về công tác điều dưỡng và hướng dẫn thực hành điều dưỡng tập 1, 2 Ngoài việc thiết lập các cơ chế chính sách, Bộ còn tổ chức nhiều hội thảo và hội nghị về an toàn người bệnh, nhằm nâng cao nhận thức và kiến thức cho nhân viên y tế về tầm quan trọng của việc tuân thủ quy trình kỹ thuật trong chăm sóc người bệnh.
HUPH, dưới sự quản lý của Sở Y tế, đã tổ chức nhiều lớp đào tạo liên tục về chăm sóc người bệnh toàn diện theo Thông tư 07/2011/TT-BYT Điều này tạo cơ hội cho nhân viên Trung tâm Y tế, đặc biệt là các khoa Ngoại, Phụ sản, Hồi sức cấp cứu và Khám chữa bệnh theo yêu cầu, tiếp cận kiến thức và giải pháp chăm sóc người bệnh toàn diện Nhờ đó, họ có thể tuân thủ đúng các quy trình kỹ thuật và đưa ra các giải pháp tối ưu cho đơn vị của mình.
Theo lý thuyết, quy trình thay băng vết thương được thống nhất giữa các cơ sở y tế và trường học theo hướng dẫn của Bộ Y tế Tuy nhiên, thực tế tại các bệnh viện và trường học cho thấy thông tin chuyên môn và quy trình thường xuyên được cập nhật và cải tiến Ngược lại, quy trình tại các trường đại học ít thay đổi do liên quan đến việc xin sửa chữa và tái bản sách, dẫn đến sự không thống nhất trong quy trình Hàng năm, số lượng nhân viên mới tại các trung tâm tuyển dụng tăng cao, khiến các khoa, phòng phải mất nhiều thời gian để hướng dẫn lại cho nhân viên mới.
Việc áp dụng quy trình thay băng vết thương yêu cầu nhân viên y tế thực hành để thực hiện hiệu quả, mặc dù một số người cho rằng đây là sự lãng phí thời gian Bảng kiểm được thiết kế nhằm đảm bảo an toàn cho người bệnh, với hai mục đích chính: duy trì sự nhất quán trong an toàn và phát triển văn hóa nhận thức về giá trị của nó Để thành công, Bảng kiểm cần được điều chỉnh phù hợp với thói quen và kỳ vọng của người sử dụng, điều này phụ thuộc vào cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo bệnh viện Sự tích cực và tâm huyết của nhân viên y tế cũng đóng vai trò quan trọng, vì thái độ tích cực sẽ nâng cao tuân thủ quy trình Phản ứng của nhân viên đối với bảng kiểm quy trình thay băng vết thương nhìn chung là tích cực.
Hạn chế của nghiên cứu
Nghiên cứu được sự hỗ trợ mạnh mẽ từ Ban giám đốc và các khoa lâm sàng, cùng với các bộ phận liên quan, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình thực hiện Chúng tôi đã chỉ ra những sai số có thể xảy ra trong nghiên cứu và đề xuất các biện pháp khắc phục nhằm đảm bảo độ tin cậy cao nhất cho kết quả.
Tuy nhiên nghiên cứu này cũng có một số hạn chế nhất định:
Nghiên cứu sử dụng bảng kiểm quy trình có tính đơn giản và dễ quan sát, nhưng điều này có thể dẫn đến sự chủ quan của ĐTV, ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu.
Nghiên cứu viên còn thiếu kỹ năng phỏng vấn sâu và thu thập thông tin, dẫn đến việc câu hỏi chưa đi vào chiều sâu và không phản ánh đầy đủ bản chất vấn đề Thông tin định tính chưa được giải thích một cách sâu sắc, do đó không thể hiện rõ thực trạng thay băng vết thương tại trung tâm.
Nghiên cứu định tính có thể gặp sai số do câu hỏi không đầy đủ hoặc không phù hợp, cũng như sự dẫn dắt của nghiên cứu viên chưa đi vào gốc rễ vấn đề Yếu tố tâm lý và thái độ không hợp tác của đối tượng cũng có thể ảnh hưởng đến kết quả Để giảm thiểu sai số, cần thông báo trước thời gian phỏng vấn cho các đối tượng nghiên cứu, giải thích rõ mục đích của nghiên cứu và tạo không khí thoải mái, cởi mở trong quá trình thực hiện.
Tài liệu tham khảo ít, nên phần bàn luận không có nhiều sự so sánh giữa các bệnh viện
Mặc dù có một số hạn chế nhưng đây là nghiên cứu đầu tiên tại Trung tâm
Y tế thành phố Móng Cái đang chú trọng tuân thủ quy trình thay băng vết thương của điều dưỡng và hộ sinh Nghiên cứu này là cơ sở để cải tiến chất lượng dịch vụ y tế tại Trung tâm, đồng thời mở ra hướng cho các nghiên cứu sâu hơn và các can thiệp trong tương lai.