ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đ ỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- ĐTNC: là điều dưỡng viên công tác tại các khoa lâm sàng của BVĐK tỉnh Phú Yên
Tiêu chuẩn lựa chọn ĐTNC là các ĐDV đang làm việc tại các khoa lâm sàng của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên, có chứng chỉ hành nghề và đã công tác trong lĩnh vực y tế tính đến tháng 12/2020.
- Tiêu chuẩn loại trừ ĐTNC:
+ Đối tượng vắng mặt tại thời điểm nghiên cứu (ra trực, nghỉ phép, nghỉ sinh, học tập/hội nghị…)
Trong giai đoạn 2019-2020, số liệu thứ cấp từ báo cáo tình hình nhân lực và tổng kết bệnh viện cho thấy sự quan tâm đến đào tạo Điều dưỡng viên Các văn bản, quyết định và giấy triệu tập liên quan đến việc cử Điều dưỡng viên đi học đã được ban hành, cùng với danh sách các Điều dưỡng viên tham gia các lớp đào tạo liên tục tại bệnh viện và các cơ sở đào tạo, trung tâm trên toàn quốc.
2.1.2 Nghiên cứu định tính Đối tượng: Đại diện BGĐ, Lãnh đạo phòng TCCB, Lãnh đạo phòng ĐD, Lãnh đạo phòng KHTH-CĐT; Lãnh đạo phòng TCKT; Đại diện ĐDT của các khoa lâm sàng và đại diện Điều dưỡng các khoa lâm sàng.
T HIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cắt ngang mô tả, kết hợp định tính.
T HỜI GIAN , ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Thời gian nghiên cứu bắt đầu từ tháng 08/2020, kết thúc tháng 10/2021
- Thời gian thu thập số liệu từ tháng 03/2021 đến tháng 7/2021
- Địa điểm: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên
C Ỡ MẪU , PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU
- Chọn toàn bộ ĐDV đang làm việc tại các khoa lâm sàng Theo danh sách của
BV có tổng cộng 231 điều dưỡng, nhưng chỉ có 198 người tham gia nghiên cứu, trong khi 33 người còn lại không tham gia do nghỉ sinh hoặc đi học dài hạn.
Trong giai đoạn 2019-2020, việc thu thập dữ liệu từ các báo cáo về tình hình nhân lực và tổng kết bệnh viện đã được thực hiện, bao gồm các văn bản, quyết định và giấy triệu tập liên quan đến việc cử Điều dưỡng viên đi học Danh sách các Điều dưỡng viên tham gia các lớp đào tạo liên tục tại Bệnh viện và các cơ sở đào tạo, trung tâm trên toàn quốc cũng đã được tổng hợp.
* Phỏng vấn sâu: chọn mẫu có chủ đích, tổng số 10 cuộc/10 người
- Ban giám đốc: 01 Phó Giám đốc phụ trách công tác đào tạo tại Bệnh viện
- 04 Trưởng/phó các phòng: Phòng TCCB, Phòng ĐD, Phòng TCKT, Phòng KHTH - CĐT
Trong bài viết này, chúng tôi sẽ đề cập đến 05 đơn vị điều trị (ĐDT) của các khoa lâm sàng, bao gồm Khoa Hồi sức tích cực – chống độc, Khoa Gây mê hồi sức, Khoa Nội tim mạch – Lão học, Khoa Nội tổng hợp và Khoa Ngoại tổng quát.
* Thảo luận nhóm: 02 cuộc, tổng số người tham gia 20 người
Đại diện Điều dưỡng từ các Khoa lâm sàng đã hoàn thành chương trình đào tạo với tổng số 48 tiết trong vòng 2 năm, với mỗi khóa học có sự tham gia của 10 người, được lựa chọn từ danh sách trong số liệu thứ cấp.
Đại diện Điều dưỡng từ các Khoa lâm sàng chưa hoàn thành đủ 48 tiết đào tạo trong vòng 2 năm Mỗi cuộc đào tạo có sự tham gia của 10 người, được chọn từ danh sách trong số liệu thứ cấp.
P HƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU
2.5.1 Thu thập số liệu thứ cấp
Nghiên cứu viên đã trao đổi với Lãnh đạo Bệnh viện để báo cáo mục đích sử dụng số liệu thứ cấp về công tác ĐTLT tại Bệnh viện trong giai đoạn 2019-2020 Sau khi nhận được sự đồng ý từ Lãnh đạo, nghiên cứu đã tiến hành thu thập số liệu từ các sổ sách, báo cáo tổng kết kế hoạch năm, các chương trình ĐTLT, cùng danh sách học viên từ phòng Điều dưỡng, phòng Tổ chức cán bộ và phòng Kế hoạch tổng hợp – chỉ đạo tuyến trong các năm 2019-2020.
HUPH thập thông tin đã thiết kế sẵn (Phụ lục 5 và Phụ lục 6)
2.5.2 Thu thập số liệu định lượng
* Công cụ thu thập số liệu
Sử dụng phiếu thu thập thông tin về thực trạng đào tạo theo nội dung của thông tư số 22/2013/TT-BYT và tài liệu quản lý ĐTLT của Bộ Y tế.
Phiếu phát vấn này áp dụng cho tất cả các dịch vụ của các khoa lâm sàng, nhằm đánh giá mức độ hoàn thành công việc và đào tạo dựa trên thực tế công việc và chức năng nhiệm vụ Nội dung chính tập trung vào các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản, theo dõi và chăm sóc bệnh nhân, cũng như các nhiệm vụ hàng ngày của điều dưỡng theo quy định.
- ĐTV lập danh sách các ĐDV tham gia nghiên cứu và tiến hành thu thập số liệu
- ĐTV liên hệ với ĐDT các khoa để thống nhất phương pháp làm việc, thu thập dữ liệu sau buổi họp giao ban của khoa hoặc cuối giờ chiều
ĐTV thông báo rõ ràng về mục đích và cung cấp hướng dẫn chi tiết để người tham gia biết cách trả lời phiếu Đồng thời, nhắc nhở không chia sẻ thông tin cá nhân khi hoàn thành bảng câu hỏi.
Mỗi đơn vị điều dưỡng (ĐDV) sẽ nhận 01 phiếu được thiết kế sẵn để tự điền Phiếu này bao gồm thông tin chung và đánh giá về công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng, đồng thời phản ánh những mặt tích cực và tiêu cực liên quan đến công tác đào tạo liên tục cho ĐDV.
ĐTV hướng dẫn ĐTNC thực hiện theo nội dung phiếu khảo sát, đánh dấu vào ô tương ứng Nếu ĐTNC gặp nội dung nào không hiểu, hãy hỏi ngay và chọn lựa phù hợp.
Sau khi hoàn tất việc thu thập dữ liệu, ĐTV sẽ kiểm tra tính đầy đủ của các thông tin mà đối tượng đã cung cấp theo yêu cầu nghiên cứu Nếu phát hiện thiếu sót, ĐTV sẽ yêu cầu đối tượng điền lại các nội dung cần thiết.
2.5.3 Thu thập số liệu cho nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định tính được thực hiện sau khi hoàn tất việc thu thập và điều tra số liệu định lượng Học viên lựa chọn các đối tượng một cách có chủ đích để tiến hành phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm (TLN) nhằm đảm bảo khả năng trả lời các câu hỏi Trong các cuộc PVS, học viên đóng vai trò là người phỏng vấn dựa trên bộ câu hỏi bán cấu trúc và là người chủ trì các cuộc TLN.
- Bộ câu hỏi được xây dựng chi tiết cho từng chủ đề PVS: Phỏng vấn Phó giám
Lãnh đạo các phòng như TCCB, ĐD, TCKT, KHTH-CĐT, cùng với đội ngũ giảng viên của các khoa Hồi sức tích cực - Chống độc, Gây mê hồi sức, Nội Tim mạch - Lão học, Nội tổng hợp và Ngoại tổng quát được nêu trong Phụ lục 2 và Phụ lục 3.
- Các cuộc PVS được thực hiện tại nơi làm việc của ĐTNC sau khi hẹn và được ghi âm nếu có sự đồng ý
Các cuộc phỏng vấn có thể được ghi âm (nếu được sự đồng ý), ghi chép cẩn thận và tóm tắt thành văn bản Thời gian cho mỗi cuộc phỏng vấn là từ 20 đến 30 phút Dữ liệu này được thu thập trực tiếp từ những người tham gia phỏng vấn và bao gồm cả biên bản cuộc phỏng vấn.
- Bộ công cụ TLN của nhóm Điều dưỡng viên (Phụ lục 4)
Các cuộc thảo luận nhóm được tổ chức sau cuộc hẹn tại phòng họp của bệnh viện, với ĐTV giữ vai trò chủ tọa Một thành viên trong nhóm sẽ đảm nhận vai trò thư ký, và cuộc thảo luận sẽ được ghi âm nếu có sự đồng ý của các thành viên.
- Thời gian 01 cuộc TLN khoảng 45-60 phút
Sau khi thu thập kết quả sơ bộ định lượng, chúng tôi tiến hành các cuộc họp PVS và TLN với các ĐTNC để tìm hiểu về cách quản lý và phương pháp tổ chức thực hiện ĐTLT Chúng tôi cũng đánh giá khả năng thực hiện nhiệm vụ của điều dưỡng viên, yêu cầu từ lãnh đạo đối với họ, cũng như các yếu tố tích cực và tiêu cực trong quá trình đào tạo.
Biến số nghiên cứu
2.6.1 Các biến số nghiên cứu định lượng (Phụ lục 7)
- Thông tin chung của ĐTNC
- Thực trạng công tác ĐTLT cho điều dưỡng
- Đánh giá của điều dưỡng về công tác tổ chức và nội dung ĐTLT
2.6.2 Chủ đề nghiên cứu định tính
Những yếu tố ảnh hưởng trong công tác đào tạo liên tục cho ĐDV tại BVĐK tỉnh Phú Yên:
- Nhân lực (số lượng ĐD tham gia ĐTLT, chất lượng giảng viên, kinh nghiệm giảng dạy, trình độ chuyên môn giảng viên,…);
- Cơ sở ĐTLT (cơ sở vật chất, TTB)
- Cơ chế chính sách liên quan đến ĐTLTcho ĐD (kinh phí tổ chức và đào tạo)
- Cơ quan quản lý, sử dụng ĐD.
P HƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
2.7.1 Phương pháp làm sạch và quản lý số liệu
Phiếu điều tra sẽ được thu hồi để xác minh tính hợp lệ, kiểm tra thông tin không chính xác và không đầy đủ trong quá trình khảo sát, cũng như kiểm tra số liệu trước và sau khi nhập vào máy tính.
2.7.2 Xử lý và phân tích số liệu định lượng, thông tin định tính
2.7.2.1 Đối với số liệu định lượng
- Số liệu phát vấn sau khi thu thập được làm sạch, nhập vào máy tính với phần mềm Epi Data 3.1 và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0
- Số liệu thứ cấp được xử lý bằng phần mềm ứng dụng Microsoft Exel, được chọn lọc, phân tích dưới dạng các bảng biểu đúng mục tiêu nghiên cứu
2.7.2.2 Đối với thông tin định tính
Các băng ghi âm từ các cuộc họp PVS và TLN đã được chuyển đổi thành file Word, trong đó ĐTV đã đọc và mã hóa thông tin Phương pháp phân tích theo chuyên đề được áp dụng, và một số thông tin từ đối tượng nghiên cứu đã được trích dẫn và minh họa trong kết quả nghiên cứu.
V ẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng Đạo đức Trường ĐH YTCC theo Quyết định số 113/2021/YTCC-HD3, ngày 23/3/2021 chấp thuận các vấn đề đạo đức NCSYH
Trước khi trả lời phiếu phát vấn, ĐTV sẽ thông báo rõ ràng về mục đích điều tra và nhấn mạnh rằng nghiên cứu chỉ được tiến hành khi có sự đồng ý của điều dưỡng viên Điều này nhằm đảm bảo tính khách quan và chính xác của thông tin Những người tham gia nghiên cứu không cần phải điền đầy đủ thông tin vào mẫu khảo sát.
Mỗi đối tượng nghiên cứu sẽ nhận một mã để nhập vào phiếu khảo sát Thông tin thu thập được sẽ được bảo mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu, với quyền truy cập chỉ dành cho các nhà nghiên cứu.
Nghiên cứu này sẽ hỗ trợ bệnh viện trong việc phát triển kế hoạch ĐTLT cho ĐDV trong tương lai, đảm bảo nội dung phù hợp với nhu cầu thực tế và nhận được sự đồng thuận từ Ban giám đốc Bệnh viện.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
T HÔNG TIN CHUNG CỦA ĐIỀU DƯỠNG
Bảng 3.1 Thông tin chung điều dưỡng tham gia nghiên cứu (n8) Đặc điểm thông tin N (%)
Theo kết quả khảo sát, nhóm điều dưỡng chủ yếu nằm trong độ tuổi từ 25-35, chiếm 58,1% Các nhóm tuổi khác bao gồm 36-45 tuổi với tỷ lệ 17,7%, dưới 25 tuổi chiếm 12,1%, và trên 45 tuổi là 12,6%.
Trong một nghiên cứu, tỷ lệ giới nữ chiếm 89,9% trong khi giới nam chỉ chiếm 10,1% Về trình độ học vấn của đội ngũ, 53% có trình độ cao đẳng, 30,8% có trình độ đại học, và 16,2% có trình độ trung cấp.
Thời gian công tác dưới 5 năm tỷ lệ cao 50%, thâm niên từ 5 - 10 năm chiếm tỉ lệ 21,2%, thâm niên 11-20 năm chiếm tỷ lệ 23,7% và thâm niên >20 năm chiếm tỷ lệ 10,1%
T HỰC TRẠNG ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CHO ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN
Bảng 3.2 Tỷ lệ điều dưỡng đã tham gia đào tạo liên tục theo các nội dung
TT Nội dung Tần số
3 CS và theo dõi NB chuyên khoa 167 84,3
4 Kỹ thuật ĐD cơ bản 157 79,3
5 Phổ biến văn bản, quy định chuyên môn 164 82,8
6 Khác (an toàn truyền máu) 6 3
Theo kết quả khảo sát, ĐDV đã tham gia ĐTLT chủ yếu về các chủ đề như KSNK (100%), chăm sóc người bệnh (84,3%), phổ biến văn bản và quy định chuyên môn (82,8%), kỹ thuật điều dưỡng cơ bản (79,3%), và an toàn người bệnh (63,6%) Trong khi đó, chủ đề có tỷ lệ tham gia thấp nhất là an toàn truyền máu với chỉ 3%.
Lãnh đạo Bệnh viện nhận định về nội dung đào tạo và các chủ đề đào tạo:
Chuyên môn kỹ thuật trong ngành Điều dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao tính chuyên nghiệp của điều dưỡng viên tại bệnh viện Đặc biệt, việc đào tạo về an toàn người bệnh và kiểm soát nhiễm khuẩn cũng được chú trọng để đảm bảo chất lượng dịch vụ y tế.
3.2.2 Cách thức tổ chức, giảng viên, quản lý đào tạo liên tục điều dưỡng của
Bảng 3.3 Phương pháp ĐTLT cho điều dưỡng viên
Phương pháp Số lớp đào tạo Tỷ lệ n(%)
Thực hành /cầm tay chỉ việc 0 1 1 (4)
Lý thuyết + thực hành/cầm tay chỉ việc 2 0 2 (8)
Từ năm 2019 đến 2020, phòng KHTH- CĐT và phòng Điều dưỡng đã tổ chức tổng cộng 24 lớp đào tạo Trong đó, phương pháp đào tạo lý thuyết áp dụng trên nhiều lớp chiếm 88%, phương pháp thực hành/cầm tay chỉ việc chiếm 4%, và phương pháp kết hợp lý thuyết với thực hành/cầm tay chỉ việc chiếm 8%.
Bảng 3.4 Hình thức tổ chức đào tạo liên tục trong giai đoạn 2019 - 2020
Hình thức ĐTLT Số lượng người
Hội thảo; hội nghị; tọa đàm khoa học 6 2,5
Qua số liệu phát vấn cho thấy, có 97,5% điều dưỡng được ĐTLT bằng hình thức tập huấn ngắn hạn; các hình thức khác chỉ chiếm tỉ lệ 2,5%
Bệnh viện phân công phòng Điều dưỡng để xây dựng chương trình kế hoạch và tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn cho điều dưỡng Khi tuyến trên tổ chức đào tạo các nội dung phù hợp, bệnh viện sẽ cử cán bộ tham gia và sau đó tập huấn lại cho nhân viên khác Phòng Kế hoạch tổng hợp có trách nhiệm chỉ đạo, quản lý giám sát và cấp chứng nhận đào tạo liên tục tại Bệnh viện.
Bảng 3.5 Thành phần Giảng viên giảng dạy ĐTLT cho ĐD
Theo số liệu thứ cấp, năm 2019 có 13 lớp đào tạo được tổ chức với 7 giảng viên tham gia giảng dạy, trong đó tỷ lệ bác sĩ chiếm 57% và điều dưỡng chiếm 43%.
13 lớp đào tạo được tổ chức có 06 giảng viên giảng dạy trong đó bác sĩ bằng với điều dưỡng (50%)
Vào năm 2020, một bác sĩ đã nghỉ hưu theo chế độ, và hiện tại chưa có bác sĩ hay điều dưỡng nào đáp ứng đủ năng lực chuyên môn và chứng chỉ cần thiết để thay thế.
Bảng 3.6 Trình độ chuyên môn của giảng viên tham gia giảng dạy cho ĐD
Theo số liệu thứ cấp, trong giai đoạn 2019 – 2020, hơn 50% giảng viên là bác sĩ có trình độ sau đại học, bên cạnh đó có 01 giảng viên điều dưỡng cũng đạt trình độ sau đại học.
Bệnh viện cần bổ sung bác sĩ có chứng chỉ giảng dạy sư phạm và lâm sàng để đào tạo điều dưỡng có trình độ sau đại học.
Bảng 3.7 Số lượt trung bình ĐDV tham gia đào tạo, thời gian ĐTLT trung bình của ĐD lâm sàng (n8)
Theo số liệu thứ cấp, trong năm 2019-2020, Bệnh viện đã tổ chức 39 lớp đào tạo, với tổng số lượt điều dưỡng viên tham gia là 780 Tất cả 231 điều dưỡng viên của viện đều được tham gia đào tạo, trung bình mỗi điều dưỡng viên tham gia 1,69 lượt mỗi năm.
Bệnh viện đã lập kế hoạch chi tiết và danh sách học viên để cấp chứng chỉ ĐTLT cho những người tham gia các lớp học Phòng KHTH-CĐT đã tư vấn cho Lãnh đạo Bệnh viện trong việc xây dựng kế hoạch tổng thể, bao gồm việc tổng hợp đăng ký từ các khoa từ đầu năm và kèm theo danh sách ĐDV tham gia các lớp học cụ thể.
Qua số liệu thứ cấp thì thời gian ĐTLT trung bình ước tính của một ĐD trong
Trong 2 năm 2019-2020, tổng số tiết học chỉ đạt 23 tiết, chưa đủ so với quy định 48 tiết/ĐD/2 năm Đặc biệt, số tiết học của các điều dưỡng năm 2020 đã giảm so với năm 2019.
“…thời gian ĐTLT trung bình ước tính của một ĐD trong 1 năm là 23 tiết, năm 2020 thời gian thời gian đào tạo giảm hơn do dịch COVID-19 kéo dài ” PVS
Kết quả phát vấn cho 198 Điều dưỡng cho thấy thời gian ĐTLT của ĐDV đủ
(48 tiết/2 năm) chiếm tỷ lệ 47,9%; không đủ số tiết học (48 tiết/2 năm) chiếm tỷ lệ 52,1%
Qua tổng hợp số liệu và kết quả phát vấn thì trên 50% ĐDV thời gian ĐTLT chưa đủ 48 tiết/2 năm
Nghiên cứu định tính cũng cho kết quả tương tự:
Tại Bệnh viện trong giai đoạn 2019-2020, nhiều nhân viên y tế, bao gồm cả Điều dưỡng viên, chưa hoàn thành đủ thời gian ĐTLT theo quy định do bận rộn với công việc và phòng, chống dịch COVID-19 Chúng tôi sẽ tiến hành rà soát và điều chỉnh hình thức cũng như nội dung để đảm bảo họ có thể tham gia ĐTLT đầy đủ theo yêu cầu.
Lãnh đạo phòng ĐD và phòng KHTH-CĐT nhấn mạnh rằng BV chú trọng đến hình thức và nội dung đào tạo hơn là thời gian Họ cho rằng việc đảm bảo thời gian đào tạo 48 tiết trong 2 năm cho tất cả ĐDV là khó thực hiện Thay vào đó, cần tính cả thời gian học tập chuyên môn tại khoa, không chỉ thời gian ĐTLT tập trung, vì những buổi học tại khoa như chia sẻ kinh nghiệm và trao đổi chuyên môn cũng có thể được xem là một phần của đào tạo.
Bảng 3.8 Chương trình, tài liệu đào tạo liên tục qua các năm được phê duyệt; số lớp cấp chứng chỉ ĐTLT
Chương trình, tài liệu ban hành 21 (100) 18 (100) 39 (100) Chương trình, tài liệu được phê duyệt 21 (100) 18 (100) 39 (100)
Số lớp được cấp chứng chỉ ĐTLT 21 (100) 18 (100) 39 (100)
Theo số liệu thứ cấp, 39 tài liệu giảng dạy ĐTLT cho ĐDV đã được Bệnh viện hoặc Sở Y tế phê duyệt trong hai năm 2019 - 2020 Tất cả các lớp tổ chức ĐTLT đều được Bệnh viện cấp chứng chỉ cho ĐDV tham gia đào tạo.
Tất cả chương trình giảng dạy, tài liệu và nội dung giảng dạy của chúng tôi đều được trình lên Sở hoặc Bệnh viện để phê duyệt trước khi đưa vào giảng dạy, đảm bảo tuân thủ quy định theo Thông tư 22/2013/TT-BYT.
M ỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CỦA ĐIỀU DƯỠNG
Đội ngũ giảng viên tại Bệnh viện bao gồm bác sĩ và điều dưỡng có kinh nghiệm, đã tham gia các khóa đào tạo giảng viên lâm sàng và nghiệp vụ sư phạm do các tổ chức lớn như GIZ và Jica tổ chức Các giảng viên này được đánh giá có đủ năng lực để giảng dạy các lớp đào tạo liên tục do bệnh viện tổ chức.
“…Đội ngũ giảng viên đảm bảo trình độ năng lực chuyên môn đủ điều kiện để tham gia giảng dạy” (PVS1)
Chương trình PP19 các giảng viên giảng dạy là các chuyên gia nước ngoài như
Mỹ, Hàn Quốc và các quốc gia khác nên chia sẻ kiến thức về chăm sóc người bệnh với đội ngũ điều dưỡng tại bệnh viện, đồng thời tạo cơ hội cho các giảng viên học hỏi kinh nghiệm và nâng cao kỹ năng giảng dạy.
Đội ngũ giảng viên là các chuyên gia nước ngoài theo chương trình PP19, mang đến cơ hội quý giá cho các giảng viên tại Bệnh viện trong việc học hỏi kinh nghiệm và nâng cao kỹ năng giảng dạy.
Nhân lực tham gia học
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên có nguồn nhân lực chất lượng, độ tuổi trẻ, nhiệt huyết, yêu nghề
Đội ngũ điều dưỡng viên (ĐDV) tại Bệnh viện có chuyên môn vững vàng, trẻ trung và nhanh nhẹn, tự tin trong công việc Họ không chỉ làm việc hiệu quả mà còn thể hiện tinh thần ham học hỏi và chịu khó, điều này góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong bệnh viện.
Bệnh viện tổ chức đào tạo cho tất cả các ĐDV mà không phân biệt trình độ hay hình thức lao động, bao gồm cả biên chế và hợp đồng Đội ngũ ĐDV được kỳ vọng tham gia đào tạo lý thuyết toàn thời gian, không bị vướng bận bởi chuyên môn tại khoa, nhằm nâng cao hiệu quả học tập.
Tất cả cán bộ y tế đều mong muốn nhận được sự ủng hộ từ lãnh đạo Bệnh viện, khoa và phòng, cũng như được hỗ trợ trong công việc trong quá trình học tập Sau khi hoàn thành khóa đào tạo liên tục, điều dưỡng các khoa sẽ nâng cao tay nghề, từ đó phục vụ bệnh nhân một cách tốt hơn.
Đội ngũ điều dưỡng luôn nỗ lực nâng cao kiến thức và kỹ năng để hoàn thiện tay nghề, nhằm chăm sóc và phục vụ bệnh nhân một cách tốt nhất.
Nhân lực tham gia giảng dạy
Bệnh viện đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc tổ chức lớp học và quản lý giảng dạy cho công tác ĐTLT, do thiếu hụt nguồn nhân lực theo đề án vị trí việc làm.
Biên chế hiện tại của Bệnh viện chưa đáp ứng đủ yêu cầu cho công tác khám và chữa bệnh, với tỷ lệ nhân viên y tế trên giường bệnh và tỷ lệ bác sĩ trên điều dưỡng chưa đạt tiêu chuẩn của bệnh viện đa khoa hạng II, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến việc triển khai ĐTLT tại bệnh viện.
Bệnh viện đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nhân lực, đặc biệt là bác sĩ, điều này gây khó khăn trong việc cử nhân viên đi đào tạo nâng cao chuyên môn hoặc nghiệp vụ giảng dạy để trở về giảng dạy tại bệnh viện.
Bệnh viện hiện chưa có cán bộ chuyên trách cho công tác đào tạo lâm sàng, trong khi đó, phần lớn cán bộ y tế của bệnh viện chủ yếu được cử đi đào tạo tại các đơn vị tuyến trên, nhưng số lượng cán bộ này hàng năm vẫn rất hạn chế.
Do thiếu cán bộ tham gia giảng dạy nên huy động thêm điều dưỡng các khoa để trợ giảng nên hạn chế về kỹ năng nghiệp vụ sư phạm
Các nội dung ĐTLT được giảng dạy bởi các ĐD trưởng có nhiều năm kinh nghiệm tại bệnh viện Tuy nhiên, do thiếu kỹ năng sư phạm bài bản, việc truyền tải nội dung đôi khi trở nên khó hiểu.
Một trong những khó khăn trong việc tổ chức đào tạo liên tục tại Bệnh viện là sự thiếu hụt nhân lực chuyên trách đã được đào tạo bài bản, dẫn đến việc tổ chức các khóa đào tạo chưa được thực hiện thường xuyên.
Khó khăn trong công tác đào tạo tại bệnh viện chủ yếu là do thiếu cán bộ chuyên trách và việc tổ chức đào tạo liên tục chưa được thực hiện đều đặn cho tất cả đội ngũ điều dưỡng.
Đội ngũ giảng viên đào tạo chuyên ngành điều dưỡng chủ yếu là các bác sĩ trưởng, phó khoa, nhưng hiện tại còn thiếu hụt giảng viên chuyên môn Việc mời bác sĩ giảng dạy có thể không hoàn toàn phù hợp với nội dung giảng dạy điều dưỡng, vì họ thường tập trung vào chuyên ngành điều trị hơn là đáp ứng yêu cầu của chương trình đào tạo điều dưỡng.
BÀN LUẬN
T HỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LIÊN TỤC CỦA ĐIỀU DƯỠNG TỪ NĂM 2019-2020
Kết quả nghiên cứu cho thấy 100% điều dưỡng viên tại các khoa lâm sàng được khảo sát đã tham gia đào tạo liên tục, tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hằng (2016) tại bệnh viện C tỉnh Thái Nguyên, nơi tỷ lệ đào tạo dao động từ 37,0% đến 93,6% Nghiên cứu của Lưu Thị Nguyệt Minh (2017) tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương chỉ ra tỷ lệ 26,3%, trong khi nghiên cứu của Trần Thị Hồng Thắm (2017) tại Khoa Chấn thương Chỉnh hình Bệnh viện Việt Đức cho thấy 65,3% điều dưỡng được tham gia đào tạo Để đáp ứng yêu cầu luân chuyển hàng năm theo đề án vị trí việc làm và đảm bảo đủ trình độ chuyên môn trong việc giải quyết bệnh nhân, việc đào tạo liên tục cho điều dưỡng viên là cần thiết và bắt buộc.
Bệnh viện đã xây dựng và phê duyệt kế hoạch ĐTLT theo đúng hướng dẫn của BYT, với sự chỉ đạo của Lãnh đạo bệnh viện và sự phối hợp giữa Phòng Điều dưỡng, Phòng KHTH - CĐT cùng các khoa, phòng Hàng năm, kế hoạch được trình Ban Giám đốc phê duyệt và triển khai đến tất cả các khoa, phòng trong bệnh viện Kết quả cho thấy 92% ĐDV tại các khoa lâm sàng biết đến kế hoạch ĐTLT, giúp họ chủ động sắp xếp công việc và thời gian để tham gia các lớp đào tạo, hội nghị, tập huấn một cách hiệu quả.
Theo báo cáo từ phòng ĐD và phòng KHTH - CĐT, hàng năm bệnh viện tổ chức đào tạo liên tục, với 100% ĐDV nắm rõ quy định về ĐTLT của Bộ Y Tế Đặc biệt, hầu hết điều dưỡng đều biết rằng số tiết đào tạo bắt buộc tối thiểu là 48 tiết trong 2 năm Điều này giúp ĐDV nhận thức rõ ràng về nhiệm vụ tham gia ĐTLT 100% ĐDV cho rằng chương trình ĐTLT tại bệnh viện đã được cập nhật theo hướng dẫn của Bộ Y tế, và việc cập nhật nội dung chương trình là cần thiết để trang bị kiến thức mới cho ĐDV.
Bảng 3.11 cho thấy 100% khóa đào tạo và tập huấn được đánh giá kết quả đầu ra, trong khi nghiên cứu của Lưu Thị Nguyệt Minh năm 2017 tại Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương chỉ đạt 76,2% Việc đánh giá kết quả sau đào tạo giúp ban tổ chức cải thiện chất lượng lớp tập huấn Một số khóa đào tạo như hội nghị, hội thảo không yêu cầu kiểm tra, đánh giá 100% kiến thức ĐTLT đã được ĐDV áp dụng trong công tác chăm sóc bệnh nhân, chứng tỏ kế hoạch đào tạo khả thi, phương pháp giảng dạy dễ hiểu và giảng viên truyền đạt tốt Điều này cho thấy ĐTLT tại Bệnh viện mang lại hiệu quả tích cực cho ĐDV.
Kết quả bảng 3.5 và bảng 3.6 cho thấy tỷ lệ điều dưỡng là giảng viên vẫn duy trì ở mức trung bình (43-50%); năm 2019 chỉ có 3/7 điều dưỡng là giảng viên; năm
Năm 2020, chỉ có 1/3 giảng viên điều dưỡng tại các bệnh viện tuyến tỉnh có trình độ sau đại học, dẫn đến thiếu hụt chuyên môn trong công tác đào tạo lâm sàng Điều này gây khó khăn cho việc giảng dạy về chăm sóc bệnh nhân, khi bác sĩ giảng viên không thể cung cấp kiến thức chuyên sâu như các giảng viên điều dưỡng Để nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng tiêu chuẩn của Bệnh viện hạng I, cần thiết phải cử điều dưỡng đi đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn trong thời gian sớm nhất.
Thời gian ĐTLT trung bình của một ĐD trong 1 năm ước tính là 23 tiết, dẫn đến tổng số tiết của 2 năm (2019-2020) chưa đạt quy định 48 tiết/ĐD/2 năm Số tiết học của các điều dưỡng năm 2020 giảm so với năm 2019 do dịch COVID-19 kéo dài, hạn chế tập trung đông người, làm giảm thời gian ĐTLT Theo số liệu, chỉ 47,9% ĐDV đạt đủ 48 tiết/2 năm, trong khi 52,1% không đủ Mặc dù ĐTLT tại bệnh viện đã được chú trọng về nội dung và hình thức, nhưng số tiết theo quy định vẫn chưa đạt yêu cầu Nghiên cứu định tính chỉ ra rằng nguyên nhân của tình trạng này là do một số điều.
Trong bối cảnh Bệnh viện là tuyến đầu chống dịch COVID-19 tại tỉnh Phú Yên, việc đào tạo nhân viên y tế gặp nhiều khó khăn do họ phải tham gia công tác phòng, chống dịch, nghỉ sinh, nghỉ ốm hoặc đi công tác đột xuất Điều này dẫn đến việc hạn chế tiếp xúc giữa các đồng nghiệp và tạm dừng các hoạt động đào tạo liên tục Các khóa đào tạo thường diễn ra trong giờ làm việc, trong khi khoa luôn đông bệnh nhân và thiếu nhân lực, khiến việc sắp xếp thời gian học trở nên khó khăn Để đảm bảo việc đào tạo diễn ra theo kế hoạch, cần chú trọng đến thời gian, phương pháp giảng dạy và hình thức học, giúp nhân viên y tế có thể yên tâm tham gia học tập.
Kết quả bảng 3.7 cho thấy trong 2 năm từ 2019 - 2020, Bệnh viện tổ chức được
Trong 39 lớp ĐTLT, tổng số lượt ĐDV tham gia học là 780, với 198 ĐD tham gia, trung bình mỗi ĐD được học 1,69 lượt/ĐD/năm, cao hơn so với nghiên cứu của Lưu Thị Nguyệt Minh là 1,5 lượt/ĐD/năm Nghiên cứu định tính cho thấy BVĐK tỉnh cần xây dựng kế hoạch tổng thể dựa trên nhu cầu từ các khoa.
LS đã lập danh sách ĐDV tham gia các lớp cụ thể từ đầu năm, kèm theo kế hoạch để đánh giá thời gian tham gia ĐTLT của ĐDV.
Theo bảng 3.4, hình thức đào tạo liên tục (ĐTLT) chủ yếu là tập huấn và đào tạo, chiếm tới 97,5% Đây là hình thức ĐTLT phổ biến hiện nay tại các cơ sở y tế, đặc biệt là các bệnh viện, và phù hợp với quy định cấp chứng chỉ tại Điều 6.
Kết quả từ Bảng 3.3 cho thấy phương pháp đào tạo lý thuyết chiếm 88% trong hầu hết các lớp đào tạo, dẫn đến việc ĐDV ít tích cực tham gia Thiếu nguồn cán bộ chuyên trách là một khó khăn trong tổ chức đào tạo, khiến việc này không được thực hiện thường xuyên Việc kết hợp đào tạo lý thuyết với thực hành chỉ chiếm 8%, trong khi ngành y yêu cầu thực hành thường xuyên Do đó, cần chú trọng vào thực hành và chia sẻ kinh nghiệm thực tế, tạo sự tương tác hai chiều giữa giảng viên và ĐDV để khuyến khích sự chủ động và tích cực trong học tập.
Kết quả từ Bảng 3.2 cho thấy nội dung đào tạo cao nhất là KSNK (100%) và thấp nhất là an toàn truyền máu (3%), phản ánh tầm quan trọng của các chủ đề này trong đào tạo cho ĐDV tại các bệnh viện KSNK và chăm sóc người bệnh là những lĩnh vực được đào tạo nhiều nhất và lặp lại qua các năm Tương tự, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Thị Hoài Thu cũng chỉ ra rằng kỹ thuật chăm sóc bệnh nhân như tiêm, truyền đạt tỷ lệ từ 80% đến 90% và được lặp lại nhiều năm Xu hướng này cho thấy ĐDV trên toàn thế giới cần chú trọng vào công tác KSNK, chăm sóc bệnh nhân và an toàn người bệnh, nhằm đảm bảo an toàn cho cả nhân viên y tế và bệnh nhân.
Kết quả bảng 3.8, hầu hết (100%) các chương trình, tài liệu ĐTLT đều được
Sở Y tế hoặc BVĐK tỉnh cần phê duyệt chương trình và tài liệu ĐTLT trước khi triển khai, nhằm đảm bảo nội dung phù hợp với quy định của BYT Tất cả các khóa đào tạo trong chương trình ĐTLT đều được cấp chứng chỉ hoặc giấy chứng nhận 100%, giúp ĐDV tính số tiết học theo Thông tư 22/2013/TT-BYT Tài liệu và dụng cụ trực quan được cung cấp đầy đủ cho 99% ĐDV tham gia học, điều này góp phần tích cực vào hiệu quả ĐTLT tại bệnh viện Do đó, bệnh viện cần chú trọng bố trí kinh phí để mua sắm và trang bị thêm TTB cho công tác ĐTLT, nhằm nâng cao hiệu quả trong tương lai.
Kết quả từ bảng 3.10 cho thấy, sau khi được đào tạo lại, đa số các điều dưỡng viên (ĐDV) đánh giá công tác đào tạo là tốt (trên 73%) và rất tốt (trên 13%) Điều này chứng tỏ rằng công tác đào tạo lại đã đáp ứng nhu cầu của cán bộ y tế tại bệnh viện, góp phần đảm bảo chất lượng theo quy định của Bộ Y tế.
M ỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO LIÊN CỤC CHO ĐIỀU DƯỠNG NĂM 2019-2020
Giảng viên có trình độ chuyên môn cao, với hơn 50% có trình độ sau đại học, đã tham gia chương trình đào tạo giảng viên lâm sàng và nghiệp vụ sư phạm.
HUPH đã đáp ứng được trình độ và năng lực giảng dạy tại bệnh viện trên toàn quốc Điều dưỡng trẻ, khỏe mạnh và có trình độ chuyên môn cao từ cao đẳng trở lên đang công tác tại bệnh viện, giúp việc tiếp thu bài giảng và áp dụng vào công việc chăm sóc bệnh nhân đạt hiệu quả cao Công tác đào tạo liên tục không phân biệt biên chế, hợp đồng, giới tính hay độ tuổi, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai đào tạo tại bệnh viện ngày càng hiệu quả hơn.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ Điều dưỡng trung cấp tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên thấp hơn nhiều so với các nghiên cứu trước đó, cụ thể là 55,2% theo Lưu Thị Nguyệt Minh và 56,2% theo Nguyễn Thị Hoài Thu Để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên đã thực hiện chuẩn hóa trình độ Điều dưỡng từ trung cấp lên cao đẳng, với mục tiêu xóa bỏ trình độ trung cấp vào năm 2025 theo Thông tư liên tịch của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ năm 2015 Điều này nhằm đảm bảo rằng lực lượng Điều dưỡng có trình độ cao đẳng và đại học chiếm tỷ lệ cao, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của người dân.
Giảng viên giảng dạy cho ĐTLT tại BVĐK tỉnh giảm dần theo thời gian, năm
Năm 2020, số lượng giảng viên giảm 01 so với năm 2019 do nghỉ hưu, nhưng chưa có nhân sự bổ sung Đội ngũ giảng viên giảng dạy cho ĐDV chủ yếu là bác sĩ, chiếm tỷ lệ trên 50% Sự thiếu hụt giảng viên điều dưỡng xuất phát từ việc Bệnh viện chỉ có 01 điều dưỡng có trình độ sau đại học, gây khó khăn cho công tác giảng dạy tại Bệnh viện.
BVĐK tỉnh đang đối mặt với tình trạng thiếu biên chế so với đề án vị trí việc làm, dẫn đến đội ngũ giảng viên chủ yếu là lãnh đạo các khoa, phòng và điều dưỡng trưởng khoa Họ phải đảm bảo công tác quản lý và chuyên môn, do đó không có nhiều thời gian cho giảng dạy Việc thiếu nhân lực cũng gây khó khăn cho điều dưỡng viên trong việc tham gia học tập, trong khi bệnh nhân đông dẫn đến quá tải công việc, càng làm giảm khả năng tham gia học tập của họ.
Nghiên cứu của Nadas (2015) tại Haiti cho thấy nhu cầu và nguồn lực cho công việc tại đây là không đủ, đồng thời thiếu sự hỗ trợ từ đồng nghiệp Mặc dù có kế hoạch tổ chức các lớp đào tạo cho ĐDV tại các khoa lâm sàng, nhưng do khối lượng công việc lớn, họ chỉ tham gia một cách hạn chế Hơn nữa, ĐDV chưa coi trọng việc cập nhật kiến thức, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân Hình thức đào tạo chủ yếu là lý thuyết và thiếu các buổi thực hành thực tế, dẫn đến việc ít thu hút ĐDV tham gia học tập.
BVĐK tỉnh hiện chưa có chế tài xử lý đối với ĐDV chưa tham gia đào tạo đủ thời gian do thiếu nhân lực, dẫn đến việc chủ yếu động viên ĐDV tham gia học tập để nâng cao kiến thức và kỹ năng chăm sóc BN, đồng thời đảm bảo số tiết để Sở Y tế không thu hồi CCHN Nghiên cứu của tác giả Trần Thanh Sơn (2016) chỉ ra rằng, hầu hết giảng viên tham gia dạy đều kiêm nhiệm, không có chế độ bồi dưỡng, thiếu cán bộ chuyên trách và chưa được đào tạo chuyên môn về quản lý ĐTLT Bên cạnh đó, tình trạng quá tải bệnh viện khiến nhân viên y tế không có đủ thời gian để sắp xếp việc học, dẫn đến việc không đáp ứng đủ số tiết đào tạo theo quy định.
Do ảnh hưởng của dịch COVID-19, các đơn vị điều dưỡng tại bệnh viện đã tập trung vào công tác phòng, chống dịch, điều này đã tác động đến hoạt động đào tạo lâm sàng Đây là một điểm khác biệt so với các nghiên cứu trước đây.
Chương trình đối tác Châu Á Thái Bình Dương tổ chức tại Bệnh viện năm
Năm 2019, chương trình PP19 đã cung cấp kinh phí cho Bệnh viện nhằm tổ chức các lớp đào tạo và tập huấn cho đội ngũ điều dưỡng viên (ĐDV) tại Bệnh viện.
Ngân sách từ UBND tỉnh và Sở Y tế được cấp để đào tạo lực lượng cán bộ y tế toàn ngành, bao gồm cả đội ngũ điều dưỡng viên tại Bệnh viện, nơi có mã số đào tạo được tổ chức.
Theo TT số 22/2013/TT-BYT, kinh phí đào tạo liên tục được lấy từ nhiều nguồn, bao gồm cả nguồn thu của đơn vị Tuy nhiên, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên đã tự chủ hoàn toàn về chi thường xuyên, dẫn đến kinh phí cho công tác đào tạo còn hạn chế Bệnh viện chỉ trích một phần nhỏ nguồn thu để chi cho hoạt động đào tạo và tập huấn Ngoài ra, nguồn kinh phí cho việc sửa chữa cơ sở vật chất và trang thiết bị tại Bệnh viện rất ít, hầu hết các trang thiết bị đã cũ và chưa được sửa chữa, ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với các nghiên cứu quốc tế, như nghiên cứu của Zohreh (2015) tại Iran, cho thấy nguồn vốn hạn chế là một trở ngại đối với việc ĐTLT Tương tự, nghiên cứu của Alkhazim (2015) tại Ả Rập Xê Út cũng chỉ ra rằng mặc dù có nhiều nguồn kinh phí từ bệnh viện và các công ty dược phẩm, nhưng nguồn tài trợ vẫn hạn chế và thiếu chính sách kinh phí rõ ràng cho ĐTLT.
Nghiên cứu của Trần Thanh Son (2015) tại Hậu Giang chỉ ra rằng các bệnh viện gặp khó khăn về kinh phí, với hầu hết các khóa đào tạo tại chỗ không có ngân sách, trong khi kinh phí dành cho cán bộ y tế đi đào tạo tuyến trên chỉ chiếm một phần nhỏ Tương tự, nghiên cứu của Nguyễn Như Bình (2018) về công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng tại một số bệnh viện đa khoa huyện Bắc Ninh cũng khẳng định rằng thiếu kinh phí đã gây ra nhiều khó khăn cho hoạt động đào tạo liên tục tại các bệnh viện.
4.2.3 Trang thiết bị, cơ sở vật chất
Bệnh viện, được xây dựng và đưa vào hoạt động từ năm 2012, luôn được duy tu và sửa chữa, mang đến không gian phòng ốc rộng rãi, thoáng mát và khang trang, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác đào tạo.
Cơ sở vật chất và trang thiết bị tại một số khoa, bộ phận đang trong tình trạng xuống cấp Hầu hết trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy ĐTLT chưa được cập nhật, nhiều thiết bị đã cũ và hư hỏng, điều này đã ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng giảng dạy.
H ẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu, do hạn chế về thời gian và nhân lực, Bệnh viện đã tập trung nguồn lực cho công tác phòng, chống dịch COVID-19, dẫn đến việc kết quả không phản ánh đầy đủ hoạt động đào tạo lâm sàng cho đội ngũ điều dưỡng viên trong bệnh viện.
Bộ công cụ nghiên cứu được xây dựng dựa trên Thông tư số 22/2013/TT-BYT và các văn bản quản lý đào tạo Tuy nhiên, do nội dung của thông tư rất rộng, nên chưa thể tham khảo toàn bộ để áp dụng vào nghiên cứu này.
Trong quá trình thu thập thông tin từ phiếu phát vấn, một số ĐTNC có thể không tham gia nhiệt tình hoặc không hiểu rõ nội dung câu hỏi, dẫn đến sai sót Để khắc phục tình trạng này, NCV luôn có mặt để giám sát và hỗ trợ người phỏng vấn cũng như ĐTNC.
HUPH đã thu thập số liệu về hoạt động ĐTLT trong hai năm 2019-2020, tổng hợp theo các chủ đề cụ thể để giúp ĐTNC nhớ lại chính xác Nghiên cứu định tính không khai thác hết các yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo trong bệnh viện Thiết kế nghiên cứu là cắt ngang mô tả, chỉ cho phép đánh giá kết quả tại thời điểm nghiên cứu Trong quá trình thu thập, rủi ro va chạm có thể khiến ĐDV không chia sẻ đầy đủ thông tin, dẫn đến câu trả lời không chính xác Để khắc phục, điều tra viên đã tổ chức các cuộc họp yên tĩnh, tạo không gian thoải mái để người nghiên cứu có thể trao đổi cởi mở về các chủ đề cần thiết.