1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến cho trẻ bú sớm và nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu tại huyện lương sơn, hòa bình năm 2014

118 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến cho trẻ bú sớm và nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu tại huyện Lương Sơn, Hòa Bình năm 2014
Tác giả Đỗ Ngọc Ánh
Người hướng dẫn PGS. TS. Đinh Thị Phương Hòa, TS. Trần Thanh Tú
Trường học Trường Đại học Y tế công cộng
Chuyên ngành Y học công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số yếu tố liên quan đến thực hành cho trẻ bú sớm, bú mẹ trong 6 tháng đầu .... Liên quan giữa các yếu tố về mang thai và sinh đẻ của bà mẹ và thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu ....

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau gần 2 năm học tập, giờ đây cuốn luận văn tốt nghiệp đã hoàn thành, tôi

xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

Ban giám hiệu, phòng Đào tạo Sau đại học, các thầy cô giáo Trường Đại học Y tế công cộng đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Ủy ban nhân dân huyện Lương Sơn, Trung tâm Y tế huyện Lương Sơn, các Trạm y tế các xã Nhuận Trạch, Cao Răm, Tân Vinh, Liên Sơn, Thành Lập, Tiến

Sơn, Cao Dương, Thanh Lương và các bà mẹ tham gia nghiên cứu đã giúp đỡ, tạo

điều kiện cho tôi tiến hành đề tài và thu thập số liệu

PGS.TS Đinh Thị Phương Hòa, chuyên gia về sức khỏe bà mẹ và trẻ em, người thầy với đầy nhiệt tâm đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập, rèn luyện và hoàn thành đề tài nghiên cứu

TS Trần Thanh Tú, Viện Phó – Viện Nghiên cứu Sức khỏe Trẻ em – Bệnh viện Nhi Trung ương, người thầy đã tận tâm, tận tình hướng dẫn chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập, rèn luyện và hoàn thành đề tài nghiên cứu

Bố, Mẹ và các chị, các em trong gia đình đã luôn động viên và cho con nhiều

nghị lực để con hoàn thành tốt việc học tập, rèn luyện, nghiên cứu đề tài

Xin cảm ơn các bạn, bạn đồng nghiệp đã luôn bên cạnh động viên tôi trong

suốt quá trình học tập

Hà Nội, ngày 04 tháng 09 năm 2015

Đỗ Ngọc Ánh

HUPH

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CBYT Cán bộ y tế

CBVC Cán bộ viên chức

NCBSM Nuôi con bằng sữa mẹ

NCBSMHT Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn

UNICEF Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (United Nations Children's Fund)

TTYT Trung tâm y tế

WHO Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)

HUPH

Trang 5

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu 4

1.1 Sữa mẹ 4

1.2 Nuôi con bằng sữa mẹ 6

2 Lợi ích của NCBSM 6

2.1 Lợi ích của bú sớm 6

2.2 Lợi ích của việc NCBSMHT trong 6 tháng đầu 7

2.2.1 Lợi ích đối với trẻ 7

2.2.2 Lợi ích đối với mẹ 8

3 Các nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới về tình hình bú sớm và NCBSMHT 9

3.1 Thực hành cho trẻ bú sớm và NCBSMHT 9

3.1.1 Thế giới 9

3.1.2 Việt Nam 10

3.2 Các yếu tố liên quan đến thực hành cho trẻ bú sớm và NCBSMHT 12

3.2.1 Yếu tố từ phía mẹ 12

3.2.2 Yếu tố từ phía trẻ 17

3.2.3 Yếu tố thuộc về dịch vụ y tế 18

3.2.4 Yếu tố thuộc về gia đình 18

3.2.5 Yếu tố thuộc về xã hội 20

4 Thông tin về địa bàn nghiên cứu 23

5 Mô hình Lý thuyết 24

KHUNG LÝ THUYẾT 26

HUPH

Trang 6

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

1 Đối tượng nghiên cứu 27

Tiêu chuẩn loại trừ 27

2.Thời gian và địa điểm nghiên cứu 27

3 Thiết kế nghiên cứu 27

4 Cỡ mẫu 27

5 Phương pháp chọn mẫu 28

6 Thu thập số liệu 29

6.1 Công cụ thu thập số liệu 29

6.2 Phương pháp thu thập số liệu 29

7 Các biến số nghiên cứu (xem phụ lục 3) 29

8 Các khái niệm, thước đo và tiêu chuẩn đánh giá 29

8.1 Các khái niệm và thuật ngữ liên quan đến NCBSM cho trẻ từ 0-6 tháng tuổi 29

8.2 Tiêu chuẩn đánh giá 30

9 Quản lý và phân tích số liệu 31

9.1 Quản lý số liệu 31

9.2 Phương pháp phân tích số liệu 31

10 Đạo đức nghiên cứu 31

11 Sai số và biện pháp khắc phục 32

11.1 Những sai số có thể gặp 32

11.2 Phương pháp khống chế sai số 33

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34

1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 34

1.1 Thông tin về bà mẹ 34

1.2 Thông tin về trẻ 36

2 Thực hành của bà mẹ về cho trẻ bú sớm, NCBSMHT trong 6 tháng đầu 37

HUPH

Trang 7

2.1 Thực hành của bà mẹ cho con bú sớm 37

2.2 Thực hành của bà mẹ về NCBSMHT trong 6 tháng đầu 39

3 Một số yếu tố liên quan đến thực hành bú sớm, NCBSMHTtrong 6 tháng41 3.1 Một số yếu tố liên quan đến thực hành bú sớm của bà mẹ 41

3.2 Một số yếu tố liên quan đến thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu 48

3.3 Mô hình hồi quy đa biến xác định một số yếu tố liên quan đến thực hành cho trẻ bú sớm, NCBSMHT trong 6 tháng đầu 57

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 59

1 Thực hành cho trẻ bú sớm, NCBSMHT trong 6 tháng đầu 60

1.1 Thực hành của bà mẹ cho trẻ bú sớm 60

1.2 Thực hành của bà mẹ về NCBSMHT trong 6 tháng đầu 61

2 Một số yếu tố liên quan đến thực hành cho trẻ bú sớm, bú mẹ trong 6 tháng đầu 62

2.1 Phân tích 2 biến 62

2.1.1 Một số yếu tố liên quan đến thực hành cho trẻ bú sớm 62

2.1.2 Một số yếu tố liên quan đến thực hành về NCBSMHT trong 6 tháng đầu 65

3 Hạn chế của nghiên cứu 68

KẾT LUẬN 69

KHUYẾN NGHỊ 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

PHỤ LỤC 1: GIẤY ĐỒNG Ý THAM GIA NGHIÊN CỨU 78

PHỤ LỤC 2: PHIẾU PHỎNG VẤN BÀ MẸ 80

PHỤ LỤC 3 CÁC BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 89

PHỤ LỤC 4 DỰ TRÙ KINH PHÍ, VẬT TƯ, TRANG THIẾT BỊ PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU 95

PHỤ LỤC 5 KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU 96

HUPH

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang Biểu đồ1.1 Tỷ lệ bú hoàn toàn theo nghiên cứu tại các quốc gia (UNICEF, 2012)

10

Biểu đồ 3.1 Thực hành của bà mẹ cho con bú sớm 37

Biểu đồ 3.2 Lý do mẹ cho con bú trong vòng 1 giờ đầu sau sinh 38

Biểu đồ 3.3 Khó khăn khi trẻ được bú lần đầu và xử lý của bà mẹ khi có khó khăn khi bú lần đầu 38

Biểu đồ 3.4 Đồ uống trẻ được uống trước khi bú lần đầu 39

Biểu đồ 3.5 Thực hành của bà mẹ về NCBSMHT trong 6 tháng đầu 39

Biểu đồ 3.6 Đồ uống thêm và nguyên nhân cho trẻ uống trong 6 tháng 40

Biểu đồ 3.7 Ăn sữa ngoài/thức ăn ngoài sữa mẹ và nguyên nhân cho trẻ ăn thêm 40 Biểu đồ 3.8 Kiến thức đúng của bà mẹ về cho trẻ bú sớm 44

Biểu đồ 3.9 Kiến thức đúng của bà mẹ về NCBSMHT trong 6 tháng đầu 51

Biểu đồ 3.10 Nghỉ thai sản 6 tháng và nguyên nhân không nghỉ 55

Biểu đồ 3.11 Thời điểm đi làm lại sau sinh 55

HUPH

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 3.1 Đặc điểm về cá nhân bà mẹ 34

Bảng 3.2 Thông tin về quá trình mang thai và sau sinh trẻ của bà mẹ 35

Bảng 3.3 Thông tin về trẻ tại cuộc đẻ và sau đẻ 36

Bảng 3.4 Liên quan giữa các yếu tố cá nhân bà mẹ và thực hành cho trẻ bú sớm 41

Bảng 3.5 Liên quan giữa các yếu tố về mang thai và sinh đẻ của bà và thực hành bú sớm mẹ 42

Bảng 3.6 Kiến thức của bà mẹ về cho trẻ bú sớm và sữa non 43

Bảng 3.7 Liên quan giữa kiến thức của bà mẹ về cho trẻ bú sớm và thực hành bú sớm 44

Bảng 3.8 Liên quan giữa các yếu tố thuộc về trẻ và thực hành bú sớm 45

Bảng 3.9 Liên quan giữa các yếu tố thuộc về gia đình và thực hành bú sớm 46

Bảng 3.10 Liên quan giữa các yếu tố thuộc xã hội và thực hành bú sớm 47

Bảng 3.11 Liên quan giữa các yếu tố cá nhân bà mẹ và thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu 48

Bảng 3.12 Liên quan giữa các yếu tố về mang thai và sinh đẻ của bà mẹ và thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu 49

Bảng 3.13 Kiến thức của bà mẹ về NCBSMHT trong 6 tháng đầu 50

Bảng 3.14 Liên quan giữa kiến thức NCBSMHT và thực hành NCBSMHT trong 6 tháng 51

Bảng 3.15 Liên quan giữa các yếu tố thuộc về trẻ và thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu 52

Bảng 3.16 Liên quan giữa các yếu tố thuộc về gia đình và thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu 52

Bảng 3.17 Liên quan giữa các yếu tố thuộc về xã hội, dịch vụ y tế và thực hành NCBSMHT trong 6 tháng 54

Bảng 3.18 Liên quan giữa các yếu tố về thời điểm đi làm lại của bà mẹ, chính sách nghỉ thai sản và thực hành NCBSMHT trong 6 tháng 56

HUPH

Trang 10

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh và NCBSMHT trong 6 tháng đầu được đánh giá là can thiệp có hiệu quả nhất giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cho trẻ nhỏ Trong những năm gần đây, một số nghiên cứu đã đặt quan tâm nhiều hơn trong thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ, tuy nhiên hiện nay “Kế hoạch Hành động Quốc gia về Nuôi dưỡng Trẻ nhỏ giai đoạn 2012 – 2015” sắp kết thúc, chính sách nghỉ thai sản 6 tháng mới được triển khai được 2 năm Do đó, học viên tiến hành thực hiện đề tài để tìm hiểu thực trạng cho trẻ bú sớm, NCBSMHT trong 6 tháng đầu ở

bà mẹ có con từ 7 đến 12 tháng tuổi

Nghiên cứu được tiến hành trên 269 bà mẹ có con từ 7 đến 12 tháng tuổi tại

8 xã trên huyện Lương Sơn, Hòa Bình Thời gian nghiên cứu từ tháng 11/2014 – 9/2015 với phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích Đối tượng nghiên cứu được lấy theo phương pháp chọn mẫu cụm 2 giai đoạn Tất cả các bà mẹ đủ tiêu chuẩn sẽ được phỏng vấn theo bộ câu hỏi được thiết kế sẵn

Kết quả: Nghiên cứu cho thấy 79,9% bà mẹ thực hành cho con bú sớm đạt và 27,5% bà mẹ thực hành cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu đạt 26,8% bà mẹ cho trẻ uống đồ uống trước khi bú mẹ lần đầu, 48,2% bà mẹ đã cho con uống thêm

đồ uống và 56,5% bà mẹ cho con ăn sữa ngoài/thức ăn ngoài sữa mẹ trong 6 tháng đầu sau sinh Một số yếu tố liên quan đến thực hành cho trẻ bú sớm sau khi sử dụng

mô hình Hồi quy Logistics đa biến đó là: những bà mẹ đẻ mổ, không có sự ủng hộ của gia đình cho trẻ bú sớm có tỷ lệ không thực hành cho trẻ bú sớm cao hơn những

bà mẹ khác.Yếu tố liên quan đến thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu sau khi

sử dụng mô hình Hồi quy Logistics đa biến đó là: bà mẹ có thời điểm đi làm lại từ 1 đến 6 tháng có tỷ lệ không cho trẻ bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu cao hơn các bà

mẹ khác

HUPH

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) là phương pháp nuôi dưỡng trẻ tự nhiên mang lại lợi ích tối ưu nhất cho sự sống còn, lớn lên và phát triển của trẻ Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng trẻ được nuôi bằng sữa mẹ sẽ giảm nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn nặng, cải thiện dinh dưỡng và giảm nguy cơ béo phì ở tuổi vị thành niên[32, 39, 42] Đặc biệt cho trẻ bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh và nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn (NCBSMHT) trong 6 tháng đầu được đánh giá là can thiệp có hiệu quả nhất giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cho trẻ nhỏ Theo kết quả nghiên cứu của Edmond (2006), can thiệp này đã cứu sống được hơn 1 triệu trẻ

em và giảm 22,3% tử vong trẻ sơ sinh trên toàn thế giới[38]

Theo báo cáo của Save the Children năm 2013, một số quốc gia đã có nhiều tiến

bộ nhanh chóng vào việc cải thiện tỷ lệ cho con bú Trong 10 năm (từ 2000 đến 2010), tỷ lệ NCBSMHT trong 6 tháng tăng hơn 20% ở 27 quốc gia Đặc biệt một số quốc gia có tỷ lệ NCBSMHT tăng rất nhanh như ở Sri Lanka tăng từ 17% (1993) lên 76% (2007); Campuchia từ 12% (2000) lên 74% (2010); Ghana từ 7% (1993) lên 63% (2008) Trong khi đó một số nước, trong đó có Việt Nam hầu như không

có cải thiện về tỷ lệ NCBSMHT trong 6 tháng đầu[50]

Ở Việt Nam, hầu hết các bà mẹ đều NCBSM, tuy nhiên tỷ lệ bà mẹ cho con

bú sớm và NCBSMHT còn thấp Theo báo cáo của Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) và Tổng cục Thống kê năm2014, chỉ có 26,5% số bà mẹ cho con bú sớm

và 24,3% số bà mẹ NCBSMHT trong 6 tháng đầu[10] Hiện trạng này thực sự là một thách thức lớn trong can thiệp cải thiện thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ

Việt Nam đang thực hiện “Kế hoạch Hành động Quốc gia về Nuôi dưỡng Trẻ nhỏ giai đoạn 2012 – 2015” Kế hoạch tập trung vào việc chăm sóc trẻ trong

“1000 ngày đầu đời” để đảm bảo phát triển tối đa tiềm năng của trẻ Mục tiêu của

Kế hoạch bao gồm tăng tỷ lệ trẻ được bú sữa mẹ sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh, tỷ lệ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và tỷ lệ tiếp tục cho trẻ

bú tới khi trẻ được 24 tháng tuổi; qua đó cải thiện tình trạng sức khỏe, dinh dưỡng

HUPH

Trang 12

của bà mẹ - trẻ em; góp phần thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ về sức khỏe bà mẹ - trẻ em của Việt Nam đến năm 2015[14]

Huyện Lương Sơn là cửa ngõ của tỉnh miền núi Hoà Bình và miền Τây Bắc Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội khoảng 40 km Huyện có 1 thị trấn và 19 xã, có diện tích 369,8541 km², dân số toàn huyện là 97.446 người Lương Sơn là địa bàn sinh sống của người Mường (60%), người Kinh (hơn 30%), người Dao và các dân tộc khác Theo báo cáo của Trung tâm y tế (TTYT) huyện Lương Sơn thì tỷ lệ bú sớm

và bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu trong năm 2014 là 84% và 86% Tỷ lệ này cao hơn rất nhiều so với báo cáo của toàn quốc và theo ý kiến của cán bộ thống kê thì số liệu báo cáo về NCBSM là chưa chính xác

Câu hỏi đặt ra là thực trạng thực hành bú sớm, NCBSMHT trong 6 tháng đầu tại huyện Lương Sơn là như thế nào, các yếu tố nào ảnh hưởng đến thực hành này? Liệu các chính sách hỗ trợ của Nhà nước có ảnh hưởng tích cực đến việc cải thiện thực hành bú sớm và NCBSMHT không? Để có cơ sở trả lời các câu hỏi này học

viên tiến hành thực hiện đề tài “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến cho

trẻ bú sớm và NCBSMHT trong 6 tháng đầu tại huyện Lương Sơn, Hòa Bình năm 2014”

HUPH

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực hành của bà mẹ về cho trẻ bú sớm, NCBSMHT trong 6 tháng đầu tại huyện Lương Sơn, Hòa Bình năm 2014

2 Xác định một số yếu tố liên quan tới thực hành bú sớm và NCBSMHT trong

6 tháng đầu tại huyện Lương Sơn, Hòa Bình năm 2014

HUPH

Trang 14

CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.1 Sữa mẹ

Sữa mẹ là một dịch thể sinh học chứa nhiều yếu tố quan trọng bảo vệ cơ thể mà

không một thức ăn nào có thể thay thế được[62]

Các nghiên cứu và y văn đã chứng minh rằng sữa mẹ là thức ăn lý tưởng nhất phù hơp với trẻ nhỏ trong 6 tháng đầu đời Sữa mẹ là thức ăn tự nhiên, tinh khiết và

có nhiệt độ thích hợp Sữa mẹ có thay đổi theo thời gian nuôi con nhằm đáp ứng các nhu cầu lớn lên và phát triển của bé Mặt khác, sữa mẹ giúp bảo vệ cho bé chống các bệnh nhiễm khuẩn, dị ứng, suy dinh dưỡng béo phì và một số bệnh tật khác[62]

Trong sữa mẹ có đủ các chất dinh dưỡng như: Protein, lipid, vitamin và khoáng chất đủ cho trẻ phát triển trong 6 tháng đầu Về thành phần, các chất dinh dưỡng đó lại ở tỷ lệ thích hợp và dễ hấp thu đáp ứng với sự phát triển nhanh của trẻ[62]

Protein, lipid, glucid

Trong sữa mẹ thành phần protein tuy có ít hơn sữa động vật nhưng lại có đủ các acidamin cần thiết với tỷ lệ cân đối đồng thời lại dễ hấp thu Protein của sữa gồm nhiều casein kết cầu mềm dễ hấp thụ hơn so với sữa động vật Đối với lipid, cấu trúc hóa học của lipid trong sữa mẹ có nhiều acid béo chuỗi dài, không no cần thiết

dễ hấp thụ và nhiều acid béo đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển

hệ thần kinh ở trẻ nhỏ như DHA và ARA, không có trong sữa động vật Với hàm lượng khoảng 5,5 g/ml, lipid cung cấp khoảng một nửa lượng Kalo cho trẻ bú mẹ Đối với glucid trong sữa mẹ chủ yếu là đường lactose, hàm lượng 7g/10ml[62]

Vitamin và muối khoáng

Trong sữa mẹ vitamin đủ để cung cấp cho trẻ trong 4-6 tháng đầu khi bà mẹ được ăn uống đầy đủ, ngoại trừ Vitamin D là vitamin do cơ thể tự tổng hợp khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời Về thành phần muối khoáng thì lượng Fe và ZinC trong sữa mẹ tuy ít nhưng có hoạt tính cao, dễ hấp thụ nên vẫn thỏa mãn nhu cầu của trẻ[62]

HUPH

Trang 15

Các yếu tố miễn dịch khác

Ngoài các giá trị về thành phần dinh dưỡng nêu trên, sữa mẹ có nhiều yếu tố quan trọng có vai trò bảo vệ cơ thể mà trong sữa bò và các loại sữa thay thế khác không có được Trong đó có Globulin miễn dịch chủ yếu là IgA chống lại các bệnh đường ruột[61]

Sự khác biệt giữa sữa mẹ và các loại sữa khác

Tuy sữa động vật chứa nhiều protein hơn sữa mẹ nhưng do thận của trẻ chưa trưởng thành nên khó đào thải hết các chất dư thừa từ protein của sữa động vật Trong khi đó, sữa mẹ chứa nhiều protein dạng lỏng hòa tan, còn gọi là protein nước sữa chứa các yếu tố miễn dịch Yếu tố miễn dịch chứa các protein kháng khuẩn giúp trẻ chống lại các bệnh nhiễm khuẩn Ngoài ra, sữa mẹ có chứa các acid béo cần thiết, giúp cho quá trình hoàn thiện não bộ, mắt và làm vững bền mạch máu Các acid béo này không có trong sữa động vật, tuy nhiên có thể được bổ sung trong sữa

công thức[62]

Sữa non được tiết ra trong 2-3 ngày đầu sau khi sinh, khoảng 40-50 ml vào ngày

đầu tiên, nhưng là đủ cho một đứa trẻ bình thường mới sinh[62]

Sữa non có nhiều các tế bào màu trắng và kháng thể, đặc biệt là SIGA và nó chứa một tỷ lệ lớn protein, khoáng chất và các vitamin tan trong chất béo (A, E và K) hơn sữa trung gian và sữa trưởng thành Vitamin A là rất quan trọng để bảo vệ của mắt và sự toàn vẹn của các bề mặt biểu mô và thường làm cho sữa non màu hơi vàng Sữa non cung cấp bảo vệ miễn dịch quan trọng cho một trẻ sơ sinh khi trẻ lần đầu tiên được tiếp xúc với các vi sinh vật trong môi trường, giúp niêm mạc của ruột nhận được các chất dinh dưỡng trong sữa Vì vậy, sau khi sinh, trẻ cần được bú sữa non ngay Không cần cho trẻ bất cứ thức ăn hoặc nước uống nào khác trước khi bắt đầu bú[62]

Sữa bắt đầu được sản xuất với số lượng lớn hơn giữa 2 và 4 ngày sau khi sinh,

làm cho vú cảm thấy căng, đầy gọi là hiện tượng xuống sữa Sau ngày thứ ba, một

trẻ sơ sinh thường được dùng khoảng 300-400 ml mỗi 24 giờ và ngày thứ năm dùng

khoảng 500-800 ml Từ ngày 7-14, sữa được gọi là sữa trung gian và sau 2 tuần, nó

HUPH

Trang 16

được gọi là sữa trưởng thành[62] Sữa đầu là sữa được sản xuất vào đầu một bữa

bú, có màu trong xanh Nó được sản xuất vớimột khối lượng lớn Cung cấp nhiều protein, lactose và các chất dinh dưỡng khác Trẻ không cần nước hoặc thêm bất cứ loại dịch nào khác trước khi trẻ được 4 - 6 tháng tuổi vì trẻ đã nhận đượctoàn bộ

lượng nước cần thiết từ sữa này Sữa cuối là sữa được sản xuất vào cuối một bữa

bú, đục hơn vì nó chứa nhiều chất béo Chất béo này cung cấp nhiều năng lượng cho bữa bú[2, 16]

1.2 Nuôi con bằng sữa mẹ

Nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) là đứa trẻ được bú mẹ trực tiếp hoặc uống sữa

từ vú mẹ vắt ra Trong khi đó, NCBSMHT là đứa trẻ chỉ được bú sữa từ mẹ hoặc từ

vú nuôi hoặc từ vú mẹ vắt ra, ngoài ra không ăn bất kỳ loại thức ăn dạng lỏng hoặc rắn nào khác trừ các dạng Vitamin, khoáng chất bổ sung hoặc thuốc[59]

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa bú sớm là cho trẻ bú ngay trong vòng 1

giờ sau khi sinh[63]

NCBSMHT: nghĩa là trẻ chỉ được bú sữa từ mẹ hoặc sữa mẹ được vắt ra không

cho trẻ bất cứ một đồ ăn hoặc thức uống nào kể cả nước (trừ thuốc và vitamin - muối khoáng)

Bú mẹ chủ yếu: nghĩa là nuôi trẻ bằng sữa mẹ nhưng cũng cho thêm một ít nước

hoặc đồ uống pha bằng nước

Bú mẹ một phần nghĩa là cho trẻ bú một vài bữa sữa mẹ, một vài bữa ăn nhân

Bú sớm trong vòng 1 giờ sau đẻ là cung cấp cho trẻ nguồn sữa non quí giá từ

mẹ Sữa non có trong bầu vú mẹ, ngay sau khi sinh sẵn sàng cho con bú ngay khi trẻ vừa lọt lòng mẹ Sữa non chứa nhiều kháng thể, các protein kháng khuẩn và nhiều

HUPH

Trang 17

tế bào bạch cầu hơn sữa trưởng thành giúp trẻ sơ sinh chống các bệnh nhiễm khuẩn nguy hiểm và cung cấp khả năng miễn dịch đầu tiên cho trẻ chống nhiều bệnh mà trẻ có thể mắc sau đẻ[39, 62] Sữa non có tác dụng xổ nhẹ, giúp thải phân su và cũng có tác dụng thải bilirubin ra khỏi ruột, giảm mức độ vàng da Thêm vào đó, sữa non chứa nhiều yếu tố tăng trưởng giúp ruột chưa trưởng thành của trẻ tiếp tục phát triển sau sinh, giúp trẻ phòng dị ứng và phòng bệnh không dung nạp những thức ăn khác Sữa non chứa nhiều vitamin A có tác dụng làm giảm độ nặng của các bệnh nhiễm khuẩn mà trẻ có thể mắc phải Vì vậy, trẻ được bú sữa non trong những bữa bú đầu tiên là rất quan trọng, tận dụng được thức ăn lý tưởng nhất, phù hợp nhất với trẻ mới sinh đồng thời cũng tạo nền tảng vững chắc cho sự lớn lên và phát triển của trẻ[62]

2.2 Lợi ích của việc NCBSMHT trong 6 tháng đầu

2.2.1 Lợi ích đối với trẻ

NCBSMHT là biện pháp nuôi dưỡng tự nhiên và tuyệt đối an toàn với trẻ em Biện pháp này cũng tiết kiệm được thời gian và tiền bạc vì sẽ không phải chi phí cho việc mua, vận chuyển, phân phối và chuẩn bị thực phẩm cho trẻ Hơn nữa, NCBSMHT giúp trẻ chống được các bệnh nhiễm trùng và cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của trẻ[62] Theo nghiên cứu của Arifeen (2011),

bú mẹ một phần hoặc không cho con bú được liên kết với nguy cơ tử vong trẻ sơ sinh cao 2,23 lần so với NCBSMHT trong 6 tháng đầu tiên của cuộc sống Trẻ bú

mẹ một phần hoặc không cho con bú được liên kết với nguy cơ cao tử vong do ARI

và tiêu chảy gấp 2,40 và 3,94 lần so với NCBSMHT trong 6 tháng đầu[21]

Bên cạnh đó, kết quả của việc NCBSMHT không những có tác động trong thời gian ngắn mà còn có những tác động lâu dài đến cuộc sống của trẻ Nghiên cứu của Jedrychowski và cộng sự cho thấy NCBSMHT trong 6 tháng hoặc hơn có hiệu quả tốt trong việc phát triển trí thông minh của trẻ Trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn cho đến 3 tháng có chỉ số thông minh trên trung bình 2,1 điểm cao hơn so với những người khác; trẻ em bú sữa mẹ từ 4-6 tháng chỉ số này cao hơn 2,6 điểm và trẻ em bú sữa

mẹ trên 6 tháng có chỉ số thông minh tăng 3,8 điểm[35]

HUPH

Trang 18

NCBSMHT cũng được chứng minh có liên quan đến khả năng giảm mắc các bệnh không truyền nhiễm khác Nghiên cứu của Knip (2005) khẳng định có mối liên quan giữa NCBSMHT với tình trạng mắc bệnh đái tháo đường tuýp 2 ở trẻ[41] NCBSMHT có một tác động đáng kể vào việc béo phì từ thơ ấu đến tuổi trưởng thành Nguyên cứu của Oddy (2014) đã chỉ ra rằng những trẻ ngừng NCBSMHT trước 6 tháng có liên quan với nguy cơ thừa cân và béo phì khi trẻ được 20 tuổi gấp 1,47 lần so với những trẻ ngừng cho bú 6 tháng hoặc sau 6 tháng (p = 0,005)[47]

2.2.2 Lợi ích đối với mẹ

Ngoài lợi ích của sữa mẹ đối với trẻ thì nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra lợi ích của việc cho con bú đối với mẹ Việc NCBSMHT sẽ tăng thêm tình cảm gần gũi giữa mẹ và con và chính điều đó là yếu tố tâm lý quan trọng giúp cho sự phát triển hài hòa của trẻ Bên cạnh đó NCBSMHT còn góp phần và hạn chế sự sớm có thai trở lại của mẹ[62]

Các nghiên cứu trước đây cho thấy, có mối liên quan giữa thời gian cho con bú của bà mẹ với việc mắc các bệnh không truyền nhiễm Những người phụ nữ không cho con bú sữa mẹ có nhiều khả năng bị bệnh cao huyết áp hơn những phụ nữ NCBSMHT ≥ 6 tháng[55] Bên cạnh đó, việc kéo dài thời gian NCBSM có liên quan đến việc giảm nguy cơ bà mẹ bị trầm cảm sau sinh Thêm vào đó, thời gian NCBSM kéo dài có liên quan đến việc giảm nguy cơ mắc đái tháo đường tuýt 2 Với mỗi một năm NCBSM thì nguy cơ mắc đái tháo đường của bà mẹ giảm đi 15%[54]

Ngoài ra, thời gian NCBSM kéo dài sẽ giảm nguy cơ bị loãng xương của mẹ, trong đó bà mẹ có thời gian NCBSM 7-12 tháng, 13 – 23 tháng hoặc trên 24 tháng thì nguy cơ mắc bệnh giảm dần từ 1,14 lần xuống 0,28 lần và 0,34 lần[30]

HUPH

Trang 19

3 Các nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới về tình hình bú sớm và NCBSMHT

Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng có một số nơi có nhiều tiến bộ nhanh chóng vào việc cải thiện tỷ lệ cho con bú hoàn toàn như: Sri Lanka tăng tỷ lệ NCBSMHT từ 17% (1993) lên 76% (2007); Campuchia tỷ lệ trẻ NCBSMHT là chỉ 12% (2000) đã tăng lên 74% (2010); Ghana từ 7% (1993) lên 63% (2008) Có 27 quốc gia có tỷ lệ NCBSMHT tăng hơn 20 phần trăm trong mười năm Theo hầu hết dữ liệu quốc gia sẵn gần đây, hai phần ba số 92 triệu trẻ em không được bú sữa mẹ trực tiếp chỉ trong mười quốc gia, bảy trong số các nước (Ấn Độ, Trung Quốc, Nigeria, Indonesia, Philippines, Ethiopia và Việt Nam) đã thực hiện nhưng không có cải thiện về tỷ lệ NCBSMHT Các khu vực đó là nguyên nhân lớn nhất cho mối quan tâm là Đông Á và Thái Bình Dương UNICEF gần đây xem xét sự suy giảm của tỷ

lệ NCBSMHT trong khu vực này và thấy rằng đây là xu hướng chung, trong đó năm 2006 là 45% bao gồm cả Trung Quốc hoặc 32% không bao gồm Trung Quốc,

đã giảm đến 29% cho toàn bộ khu vực vào năm 2012 Khu vực này là các khu vực nơi mà các ngành công nghiệp thực phẩm trẻ em đang nhắm tới[50]

HUPH

Trang 20

Biểu đồ1.1 Tỷ lệ bú hoàn toàn theo nghiên cứu tại các quốc gia

(UNICEF, 2012)

Theo số liệu thống kê từ báo cáo thống kê sức khỏe thế giới năm 2014, tỷ lệ NCBSMHT từ năm 2006 - 2012 tại Châu Phi là 35%, Đông Địa Trung Hải là 36%, Châu Mỹ 31%, Tây Thái bình Dương 30%, Đông Nam Á 47%[61]

Trang 21

ngoài sữa mẹ Trong một theo dõi dọc từ lúc mới sinh cho đến tháng thứ 6 tháng, tỷ

lệ trẻ em được bú sữa mẹ hoàn toàn giảm xuống thấp dưới 3%[12]

Năm 2011, Viện Dinh dưỡng Quốc gia có Điều tra giám sát dinh dưỡng cho thấy tỷ lệ trẻ bú sớm (trong vòng 1 giờ đầu) là 61,7%, tỷ lệ không vắt bỏ sữa non trước lần cho bú đầu 69,9%, NCBSMHT trong 6 tháng đầu chỉ có 19,6%, trẻ bú mẹ chính trong vòng 6 tháng đầu là 30,8%[15]

Kết quả điều tra của Dự án Alive&Thive tại 4 tỉnh năm 2010 cho thấy, tỷ lệ được bú sớm sau sinh là 58,5%, tỷ lệ trẻ được NCBSMHT trong 6 tháng đầu là 18,4%; tỷ lệ trẻ được bú sữa mẹ chủ yếu trong 6 tháng đầu là 44,7%[20] Năm

2011, Alive&Thive phối hợp với Viện Nghiên cứu Y- Xã hội học (ISMS) tiến hành điều tra tại 11 tỉnh cũng cho kết quả tương tự Chỉ có 0,5% trẻ không được bú mẹ, 50,5% bà mẹ có trẻ dưới 24 tháng tuổi nói rằng họ bắt đầu cho bú trong vòng 1 giờ sau khi sinh Tuổi trung bình bà mẹ có con từ 6 đến 23,9 tháng tuổi là 28,3 tuổi, đa

số bà mẹ đã kết hôn (96,7%) và thuộc dân tộc Kinh (92,3%) Có 7,4% bà mẹ tốt nghiệp từ cao đẳng trở lên và chỉ 1,8% không đi học Có 20,1% bà mẹ là CNVC hoặc làm việc cho cơ quan nước ngoài Chủ yếu bà mẹ sinh con ở bệnh viên (79,4%), trẻ được sinh mổ chiếm 20,7% Các bà mẹ có con từ 6 đến 23,9 tháng tuổi

có nhiều khả năng nói rằng họ cho con bú trong giờ đầu tiên hơn so với các bà mẹ

có con dưới 6 tháng tuổi (51,7% so với 49,5%) Chỉ 1/5 (20%) trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi được NCBSMHT và 54,6% trẻ ở độ tuổi này được bú mẹ là chủ yếu Sự giảm đều theo độ tuổi của việc NCBSMHT và bú mẹ là chủ yếu ở trẻ dưới 6 tháng tuổi Tỷ lệ NCBSMHT giảm từ 41,4% ở trẻ sơ sinh dưới 1 tháng tuổi tới chỉ 6,2% ở trẻ 5 tháng tuổi và tỷ lệ bú mẹ là chủ yếu đã giảm từ 81,9% xuống 21,7% trong cùng khoảng thời gian Mặc dù tỷ lệ cho ăn đồ ăn đặc trong tháng đầu tiên thấp dưới 1%, gần ba phần tư số trẻ được cho ăn bổ sung ở 5 tháng tuổi (70,4%)[1] Năm

2014, báo cáo của Alive&Thive từ năm 2000 đến năm 2014, tỷ lệ nuôi con bằng sữa

mẹ hoàn toàn đã tăng từ 19% lên 58%, tức là lên gấp 3 lần trên địa bàn có các phòng tư vấn "Mặt trời bé thơ" hoạt động[9]

HUPH

Trang 22

3.2 Các yếu tố liên quan đến thực hành cho trẻ bú sớm và NCBSMHT

Nhiều nghiên cứu trong nước và trên thế giới đã chứng minh rằng thực hành cho

bú sớm và NCBSMHT chịu ảnh hưởng của một số yếu tố thúc đẩy cũng như cản trở Có thể chia làm 5 nhóm yếu tố chính là yếu tố về phía người mẹ, về phía trẻ, các dịch vụ y tế, gia đình và xã hội

3.2.1 Yếu tố từ phía mẹ

Các yếu tố từ phía mẹ liên quan đến thực hành NCBSM như đặc điểm nhân khẩu học của mẹ như tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thời gian nghỉ sinh, tình trạng hôn nhân, bệnh lý của mẹ, cách sinh, hiểu biết của bà mẹ về NCBSM

Tuổi của mẹ khi sinh con

Tuổi của bà mẹ có liên quan chặt chẽ với thực hành NCBSM, các mẹ lớn tuổi có xu hướng cho con bú lâu hơn các bà mẹ trẻ.Theo nghiên cứu thuần tập tại

Úc của Jennifer Baxter (năm 2008 trên 931 trẻ là tuổi từ 4-6 tháng, 1402 trẻ ở độ tuổi 7-8 tháng, 1415 trẻ ở độ tuổi từ 9-10 tháng và 917 trẻ ở độ tuổi từ 11-12 tháng), những bà mẹ thuộc nhóm tuổi dưới 25 tuổi có xu hướng ít tiếp tục NCBSM hơn so với những bà mẹ thuộc nhóm tuổi trên 25 tuổi[36]

Dân tộc của mẹ

Những bà mẹ là người dân tộc thiểu số có khả năng NCBSMHT lâu hơn các bà

mẹ khác Theo báo cáo gần đây của Tổng cục Thống kê (2011) tại 6 vùng ở Việt Nam: Đồng bằng sông Hồng, Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, trẻ em trong các hộ gia đình có chủ hộ là người dân tộc thiểu số có khả năng được

bú sữa mẹ hoàn toàn cao gấp hai lần những trẻ em trong hộ gia đình có chủ hộ là người Kinh/Hoa (31,9% so với 14,0%)[12]

Không chỉ nghiên cứu tại Việt nam mà nghiên cứu trên thế giới cũng đề cập đến mối liên quan giữa dân tộc mẹ và tình trạng bú sớm Nghiên cứu của Ahluwalia (2012) cho rằng khả năng con bú sớm trong những giờ đầu tiên sau sinh khác nhau giữa phụ nữ da trắng và phụ nữ gốc Tây Ban Nha (AOR = 1,29; 95% CI: 1,16-

HUPH

Trang 23

1,45); chỉ ăn sữa mẹ (AOR = 2,40; 95% CI: 2,15-2,68); bú sữa mẹ theo nhu cầu (AOR = 1,23; 95% CI 1,08-1,40)[45]

Trình độ học vấn của mẹ

Theo một số nghiên cứu nước ngoài những bà mẹ có trình độ học vấn cao có xu hướng cho con bú sớm nhiều hơn các bà mẹ có trình độ học vấn thấp hơn Theo nghiên cứu thuần tập tại Úc của Jennifer Baxter (năm 2008, mẫu gồm 931 trẻ là tuổi

từ 4-6 tháng, 1402 trẻ ở độ tuổi 7-8 tháng, 1415 trẻ ở độ tuổi từ 9-10 tháng và 917 trẻ ở độ tuổi từ 11-12 tháng), những bà mẹ có học vấn đại học hoặc cao hơn đại học

có khả năng cho con bú sớm nhiều hơn các bà mẹ có trình độ học vấn thấp hơn[36] Điều này cũng được nhắc đến trong nghiên cứu của Okolo và cộng sự trên 310 bà

mẹ tại Nigeria năm 1999[48] Kết quả nghiên cứu của tác giả trong nước lại cho kết quả ngược lại theo báo cáo của Tổng cục Thống kê (2011) tại 6 vùng ở Việt Nam: Đồng bằng sông Hồng, Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu Long, trình độ học vấn của người mẹ càng cao thì xác suất đứa trẻ sẽ được bú sữa mẹ trong vòng một giờ đầu sau khi sinh ra càng thấp[11]

Nghề nghiệp của mẹ

Các nhóm bà mẹ có thời gian đi làm từ 1 đến 14 tiếng/tuần, đi làm trở lại sau sinh, làm việc trong khu vực tư nhân, mẹ có đi làm có nguy cơ không cho trẻ bú hoàn toàn so với các nhóm khác Theo nghiên cứu thuần tập tại Úc của Jennifer Baxter (năm 2008, mẫu gồm 931 trẻ là tuổi từ 4-6 tháng, 1402 trẻ ở độ tuổi 7-8 tháng, 1415 trẻ ở độ tuổi từ 9-10 tháng và 917 trẻ ở độ tuổi từ 11-12 tháng), những

bà mẹ làm việc từ 1 đến 14 tiếng/tuần có khả năng cho NCBSM lâu hơn các bà mẹ không đi làm và các bà mẹ đi làm 15 đến 34 tiếng hoặc trên 35 tiếng/tuần[36]

Nghiên cứu của Dearden (2002) trên 120 bà mẹ có con dưới sáu tháng tuổi ở miền Bắc Việt Nam, cũng chỉ ra rằng nguy cơ những phụ nữ đã trở lại làm việc không cho con bú hoàn toàn lớn hơn 14,0 lần so với những phụ nữ đã không trở lại làm việc sau đẻ[28].Theo nghiên cứu của Amin và cộng sự (2011) tại Malaysia trên

290 bà mẹ có con từ 6 -12 tháng tuổi, bà mẹ làm việc trong khu vực tư nhân (57%)

đã ngưng cho con bú nhiều so với các bà mẹ làm việc trong khu vực nhà nước

HUPH

Trang 24

(40%, p <0,01)[49] Nghiên cứu cắt ngang của Abdulbasit (năm 2013 tại Tây Bắc Ethiopia trên 819 bà mẹ) đã chỉ ra rằng các bà nội trợ có khả năng cho con bú sữa

mẹ lâu gấp 2,2 lần các bà mẹ làm các nghề khác[17]

Cách sinh trẻ

Những trẻ sinh mổ sẽ có nguy cơ được bú sớm và bú hoàn toàn thấp hơn so với trẻ sinh thường Theo nghiên cứu của James (năm 2014 trên 60 bà mẹ tại Vương quốc Saudi Arabia) và nghiên cứu của Guo (năm 2013 trên 2354 trẻ dưới 2 tuổi tại Trung Quốc) cho thấy, những bà mẹ sinh mổ sẽ có ít khả năng cho trẻ bú sớm so với bà mẹ sinh thường là 0,53 lần[19, 33] Nghiên cứu cắt ngang của Abdulbasit (năm 2013 tại Tây Bắc Ethiopia trên 819 bà mẹ) đã chỉ ra rằng những bà mẹ sinh con qua đường âm đạo có khả năng NCBSMHT gấp 2,3 lần so với những bà mẹ không sinh con bằng đường âm đạo[17]

Tình trạng hôn nhân

Tình trạng hôn nhân không chỉ liên quan đến thực hành bú sớm mà còn liên quan đến thực hành NCBSMHT Những bà mẹ đơn thân có nguy cơ cho trẻ bú sớm

và bú hoàn toàn thấp hơn so với các bà mẹ có chồng Theo nghiên cứu thuần tập tại

Úc của Jennifer Baxter (năm 2008 trên 931 trẻ ở độ tuổi từ 4-6 tháng, 1402 trẻ ở độ tuổi 7-8 tháng, 1415 trẻ ở độ tuổi từ 9-10 tháng và 917 trẻ ở độ tuổi từ 11-12 tháng) cho rằng những bà mẹ đơn thân có tỷ lệ cho trẻ bú sớm thấp hơn những bà mẹ có chồng bên cạnh[36] Theo nghiên cứu của Kim và cộng sự (tại Mỹ năm 2014, trên

1801 bà mẹ đơn thân và 11337 bà mẹ có chồng) ở bà mẹ đơn thân có tỷ lệ cho con

bú trong 6 tháng thấp hơn 0,57 lần và từng bú sữa mẹ thấp hơn 0,66 lần so với những bà mẹ có chồng bên cạnh[40]

Thời gian nghỉ sinh

Thời gian nghỉ thai sản có liên quan chặt chẽ đến thực hành bú hoàn toàn Những bà mẹ nghỉ thai sản dưới 3 tháng sẽ có khả năng cho con bú ít hơn nhóm bà

mẹ khác Theo nghiên cứu của Aikawa (năm 2012 tại Thái Lan trên 84 bà mẹ có con từ 6 -24 tháng tuổi), các bà mẹ đi làm trở lại sau khi sinh từ 3 tháng trở lên bú sữa mẹ nhiều hơn 4 lần so với các bà mẹ trở lại làm việc trong vòng chưa đầy 3 tháng[18] Tuy nhiên, nghiên cứu của Amin và cộng sự (năm 2011 tại Malaysia trên

HUPH

Trang 25

290 bà mẹ có con từ 6 -12 tháng tuổi) lại cho kết quả ngược lại, những bà mẹ nghỉ thai sản trên 2 tháng thì sẽ có nguy cơ ngừng bú sữa mẹ gấp 5,2 lần những bà mẹ nghỉ thai sản dưới 2 tháng[49]

Kiến thức của bà mẹ

Những bà mẹ có kiến thức tốt sẽ có khả năng cho trẻ bú sớm và bú hoàn toàn cao hơn so với các bà mẹ khác Theo nghiên cứu cắt ngang của Ipekci và cộng cự (năm 2012 tại Thổ Nhĩ Kỳ trên 992 bà mẹ), nguy cơ không cho trẻ bú sữa non tăng 3,99 lần trong các bà mẹ không có kiến thức cho con bú so với các bà mẹ được hướng dẫn của các chuyên gia y tế (p <0,0001)[34]

Theo điều tra của Alive&Thive (2012) tại 11 tỉnh của Việt Nam, trung bình các bà mẹ trả lời đúng 5,6 câu trên 11 câu hỏi về nuôi con bằng sữa mẹ Các bà mẹ

có con từ 6 đến 23,9 tháng tuổi hiểu biết về NCBSM ít hơn so với các bà mẹ có trẻ dưới 6 tháng tuổi (p<0,001), kết quả này có thể phản ánh sự khác nhau trong các các giai đoạn nuôi dưỡng trẻ Khoảng ba phần tư những người tham gia nghiên cứu hiểu rằng trẻ cần được cho bú ngay hoặc trong vòng 1 giờ Tỷ lệ bà mẹ biết rằng trong 6 tháng đầu chỉ bú sữa mẹ tốt hơn việc kết hợp giữa sữa mẹ và sữa bột là rất cao 83,9% Tuy nhiên, chỉ 52,5% thấy cho trẻ chỉ bú sữa mẹ trong 6 tháng đầu là tốt Điều này phần lớn là do mọi người tin rằng trẻ cần được cho uống thêm nước, các chất lỏng khác hoặc thức ăn đặc trước khi trẻ 6 tháng tuổi Chỉ 23,2% bà mẹ tham gia vào nghiên cứu nói rằng cần bắt đầu bổ sung nước cho trẻ từ 6 đến 8 tháng tuổi; tỷ lệ người biết rằng đây là thời điểm đúng đắn để bổ sung thêm chất lỏng thay

vì nước vào chế độ ăn của trẻ cao hơn (62,3%) sau khi sinh (78,8%) và trẻ sơ sinh cần được bú sữa non (74,4%) Hơn nữa, một phần mười số người tham gia cho biết rằng thức ăn đặc nên được đưa vào bữa ăn của trẻ dưới 6 tháng tuổi[1]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Kim Tuyết (2010), bà mẹ có trình độ cấp 1 chiếm 43,1%, cấp hai chiếm 35,4% Kiến thức của bà mẹ về định nghĩa cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu chỉ đạt 44,5% và không biết 55,5% Kiến thức về lợi ích của việc NCBSMHT: không biết chiếm 39,7%, nhiều chất dinh dưỡng 29,7%, hợp vệ sinh 12,4%, tiện lợi, ít tốn thời gian 18,2%[7]

HUPH

Trang 26

Nghiên cứu của Trương Quý Dương (2003) trên các bà mẹ dân tộc Mường tại Lương Sơm, Hòa Bình năm 2003 có 92,3% bà mẹ trả lời là biết NCBSMHT tuy nhiên chỉ có 56,7% trả lời đúng thế nào là NCBSMHT và có 21,7% cho rằng phải cho trẻ uống thêm nước, chỉ có 29,1% biết đầy đủ về NCBSMHT[13]

Nghiên cứu của Bùi Thị Duyên (2013) cho rằng tỷ lệ mẹ trả lời đúng về thời điểm cho trẻ bú sữa sớm cao chiếm 66,5% Trong 4 lợi ích của bú sớm sau sinh đối với trẻ chỉ có 11,8% bà mẹ trả lời đủ 4 lợi ích Lợi ích mà các bà mẹ biết nhiều nhất chỉ là bú sữa non – dinh dưỡng tốt nhất cho trẻ (chiếm 81,9%) Lợi ích của bú sữa sớm sau sinh đối với mẹ mà các bà mẹ biết nhiều nhất là kích thích sữa về (74,2%) Nghiên cứu cũng cho thấy các bà mẹ biết về lợi ích của bú sớm sau sinh đối với trẻ nhiều hơn lợi ích đối với mẹ 53,5% số bà mẹ trả lời đúng NCBSMHT là chỉ bú mẹ

và không kèm theo bất kỳ thức ăn nước uống nào khác Lợi ích được phát triển tốt được bà mẹ biết nhiều nhất (93,9%) và lợi ích tránh thai chiếm tỷ lệ thấp nhất 11,6%, chỉ có 6,4% bà mẹ biết 5 lợi ích và tỷ lệ bà mẹ biết 1 lợi ích 37,1% Chỉ có 33,9% bà mẹ có kiến thức đạt về NCBSMHT[4]

Nghiên cứu gần đây của Mekuria (năm 2015 tại Ethiopia trên 423 bà mẹ có con dưới 6 tháng tuổi) đã chỉ ra rằngcác bà mẹ có kiến thức đầy đủ về cho con bú hoàn toàn có khả năng cho con bú hoàn toàn cao gấp 2,57 lần với những người không có kiến thức đầy đủ về cho con bú hoàn toàn[31]

Bệnh lý/ tình trạng sức khỏe của mẹ

Những bà mẹ có biến chứng sau sinh, hoặc có vấn đề về vú có nguy cơ không cho con bú cao hơn so với nhóm bà mẹ khác Theo nghiên cứu cắt ngang của Brown (năm 2013 tại Anh trên 284 bà mẹ), các bà mẹ đã trải qua những biến chứng sinh sẽ bú sữa mẹ trong thời gian ngắn hơn đáng kể so với những người không trải qua biến chứng này Cụ thể là sinh mổ, suy thai và xuất huyết sau khi sinh có liên quan tới cho con bú trong thời gian ngắn hơn Các bà mẹ đã trải qua những biến chứng có nhiều khả năng phải ngừng cho con bú vì lý do đau đớn và khó khăn hơn

so với các bà mẹ người không trải qua những biến chứng[24] Bên cạnh đó, theo nghiên cứu của Chan (năm 2000 tại Trung Quốc trên 44 bà mẹ), 31% bà mẹ có vấn

đề về vú đã ngừng cho con bú hoặc cho con uống sữa công thức[27]

HUPH

Trang 27

3.2.2 Yếu tố từ phía trẻ

Ngoài các yếu tố thuộc về bà mẹ, một số nghiên cứu cũng chứng minh các yếu tố thuộc về trẻcũng ảnh hưởng đến thực hành bú sớm, bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu

Giới tính của trẻ

Giới tính của trẻ có liên quan chặt chẽ đến thực hành bú hoàn toàn Trẻ trai

sẽ ít có cơ hội được bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu so với trẻ gái.Theo nghiên cứu của Elizabeth (năm 2011 tại Kenya trên 4299 trẻ), có mối liên quan giữa việc bổ sung thức ăn cho trẻ trước 6 tháng tuổi với trẻ trai nhiều hơn trẻ gái[29]

Nơi sinh trẻ

Một số nghiên cứu cho rằng cho trẻ sinh ra tại nhà có khả năng được bú sớm cao hơn trẻ sinh tại cơ sở y tế tư nhân hoặc nhà nước Theo nghiên cứu của Ipekci và cộng sự (năm 2012 tại Thổ Nhĩ Kỳ trên 992 bà mẹ), nguy cơ không cho trẻ bú sữa non tăng 2,7 lần trong các bà mẹ sinh con tại nhà so với những người sinh trong bệnh viện (p = 0,011)[34] Báo cáo gần đây của Tổng cục Thống kê (2011) cũng cho rằng trẻ sinh tại nhà có tỷ lệ được bú sữa mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh cao gấp 2 lần so với các trẻ sinh ra ở có sở y tế nhà nước hoặc tư nhân (64% so với 37,8%)[11] Tuy nhiên nghiên cứu cắt ngang của Abdulbasit (năm 2013 tại Tây Bắc Ethiopia trên 819 bà mẹ) lại cho thấy điều ngược lại, bà mẹ sinh con tại một cơ sở y

tế có khả năng thực hành cho trẻ bú sớm gấp 3 lần so với những bà mẹ sinh con tại nhà[17]

Tháng tuổi của trẻ

Trẻ có tháng tuổi nhỏ thì khả năng NCBSMHT cao hơn trẻ có tháng tuổi lớn Nghiên cứu cắt ngang của Tesfaye (năm 2012 tại Ethiopia trên 608 bà mẹ) cho rằng những trẻ có tuổi < 2 tháng nhiều khả năng được bú sữa mẹ hoàn toàn gấp 5,6 lần

so với trẻ trong độ tuổi từ 4-5 tháng[57]

Trang 28

thất bại cho con bú ở lần sinh đầu tiên đã không cho con bú ở lần sinh sau So với lần sinh đầu tiên, khả năng mẹ không cho con bú sớm sau khi sinh ở lần sinh thứ hai gần như tăng gấp đôi và khả năng không cho con bú sớm với người sinh ở lần thứ

ba đã được tăng 2,5 lần[56]

Bệnh lý/ tình trạng sức khỏe của trẻ

Nghiên cứu của Brahmbhatt (năm 2003 trên 14 quốc gia đnag phát triển), bệnh của trẻ là lý do phổ biến nhất cho việc không cho con bú (63,9%)[23] Nghiên cứu của Ngô Minh Xuân (2012) chỉ ra rằng bệnh rối loạn chuyển hóa bẩm sinh ở trẻ

sơ sinh khiến cho trẻ bú sữa mẹ chết sau vài ngày Vì vậy tác giả khuyến cáo cần có chương trình sàng lọc cho trẻ từ khi mẹ mang thai[6]

3.2.3 Yếu tố thuộc về dịch vụ y tế

Tư vấn trước sinh và sau sinh

Các bà mẹ được tư vấn trước và sau sinh có khả năng cho con bú hoàn toàn cao hơn các bà mẹ khác Theo cắt ngang của Abdulbasit (năm 2013 tại Tây Bắc Ethiopia trên 819 bà mẹ), các bà mẹ được tư vấn về nuôi dưỡng trẻ có khả năng NCBSMHT gấp 5,2 lần so với các bà mẹ không được tư vấn[17] Điều này cũng được đề cập trong nghiên cứu của Bonuck (năm 2005 tại Mỹ trên 304 phụ nữ 145 người trong nhóm can thiệp và 159 người trong nhóm kiểm soát), các nhóm can thiệp được tư vấn cho con bú 2 lần trước khi sinh, một lần đi bệnh viện sau khi sinh, và/hoặc thăm nhà và các cuộc gọi điện thoại có nhiều khả năng cho con bú qua tuần

20 (53,0% so với 39,3%) hơn so với nhóm không được can thiệp[22]

3.2.4 Yếu tố thuộc về gia đình

Bên cạnh yếu tố thuộc về bà mẹ, yếu tố thuộc về trẻ, về dịch vụ y tế thì một

số nghiên cứu cũng chứng minh yếu tố thuộc về gia đình như sự hỗ trợ từ gia đình, mức sống của gia đình, cũng liên quan đến thực hành bú sớm, bú hoàn toàn trong

Trang 29

đã chỉ ra rằng hộ gia đình càng giầu thì xác suất đứa trẻ sẽ được bú sữa mẹ trong vòng một giờ đầu sau khi sinh ra càng thấp 28% trẻ em sống trong các hộ gia đình nghèo nhất được NCBSMHT so với 11,2% sống trong các hộ gia đình giàu nhất[11]

Sự hỗ trợ từ gia đình

Những bà mẹ có chồng hoặc mẹ đẻ, mẹ chồng có thái độ tích cực và kiến thức

về NCBSM sẽ có khả năng NCBSMHT và cho con bú sớm cao hơn các bà mẹ khác Theo nghiên cứu của Mueffelmann (năm 2014 tại Mỹ trên 4690 bà mẹ), cho con bú trong vài tuần đầu tiên sau khi sinh là cao hơn gấp 7 lần hoặc 2,5 lần ở những bà

mẹ có bố của em bé hoặc bà của em bé thích cho con bú sữa[46] Nghiên cứu của Hoàng Thế Kỷ (2012) cũng chỉ ra rằng những người chồng có kiến thức về bú sớm chưa đạt thì có khả năng không nhắc vợ cho con bú sớm sau sinh cao gấp 2,2 lần nhóm có kiến thức đạt Tương tự như vậy, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những người chồng có thái độ NCBSMHT chưa tích cực thì có khả năng không nhắc vợ cho con

bú sớm ngay sau sinh gấp 2,5 lần và không động viên người nhà giúp vợ cho con bú gấp 2,5 lần so với nhóm có thái độ tích cực[5] Nghiên cứu của Trần Hữu Bích (2012) kiểm định giả thuyết về sự cải thiện kiến thức của người cha sau chương trình can thiệp giáo dục sức khỏe cộng đồng, sử dụng thiết kế nghiên cứu phỏng thực nghiệm, trước - sau, có đối chứng Đối tượng can thiệp là những người cha có

vợ đang mang thai Hình thức can thiệp là các hoạt động truyền thông qua loa dài,

tư vấn cá nhân và nhóm; các hoạt động vui chơi tại cộng đồng cùng với các sản phẩm truyền thông như pano, tờ rơi, cốc và áo phông có in hình ảnh và thông điệp của chương trình được gửi tới người cha Sau can thiệp, kiến thức về NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng của người cha ở địa bàn can thiệp được cải thiện một cách đáng

kể so với người cha tại địa bàn không can thiệp Kiến thức về khái niệm đúng, tầm quan trọng của NCBSM hoàn toàn và thời gian NCBSM hoàn toàn là 6 tháng của người cha ở địa bàn can thiệp cao hơn gấp 2,6 lần, 1,86 lần và 1,9 lần so với người cha ở địa bàn không can thiệp[12]

Bên cạnh đó, những bà mẹ có mẹ đẻ, mẹ chồng đề nghị cho trẻ uống thêm nước hoặc ăn thêm đồ ăn sẽ có khả năng NCBSM thấp hơn các bà mẹ khác Theo nghiên

HUPH

Trang 30

cứu của Lulie (năm 2005 tại Brazil trên 601 bà mẹ), các bà đề nghị cho trẻ uống thêm nước hoặc các loại trà làm tăng 2 lần nguy cơ mà trẻ không được bú sữa mẹ ở tháng đầu tiên Khi các bà mẹ khuyên nên sử dụng sữa khác, nguy cơ trẻ có thể không được bú sữa mẹ ở những tháng đầu tiên tăng 4,51 lần và nguy cơ không cho con bú trong hoàn toàn trong sáu tháng đầu tăng 2,39 lần Khi những lời khuyên để cho sữa khác đến từ bà nội, nguy cơ trẻ không bú sữa mẹ sớm tăng 1,86 lần và không được NCBSMHT trong sáu tháng đầu tiên tăng 2,05 lần[43]

Địa dư

Những trẻ sinh ra tại vùng Trung du và miền núi phía Bắc có khả năng bú sớm

và NCBSMHT cao hơn trẻ được sinh ra ở các vùng khác tại Việt Nam Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê (2011), có sự khác biệt trong tỷ lệ trẻ được bú sữa mẹ trong vòng một giờ sau khi sinh giữa các vùng.Vùng Trung du và miền núi phía Bắc

có tỷ lệ trẻ được bú sữa mẹ trong vòng một giờ đầu sau sinh cao nhất (57%) và vùng Đông nam bộ có tỷ lệ thấp nhất 28,9% Tỷ lệ này ở các vùng nông thôn cũng cao hơn so với đô thị, tương ứng là 43,5 và 30,3%[11] Báo cáo của Tổng cục Thống kê (2011) đã chỉ ra rằngmột trẻ em sống ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc (37,6%) có khả năng được NCBSMHT cao gấp đôi trẻ sống ở vùng Bắc Trung

bộ và duyên hải miền Trung (14%) hoặc ở vùng Đồng bằng sông Hồng (15,3%)[11]

3.2.5 Yếu tố thuộc về xã hội

Ngoài yếu tố thuộc về bà mẹ, yếu tố thuộc về trẻ, yếu tố thuộc về dịch vụ y tế, yếu tố thuộc về gia đình một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng yếu tố thuộc về xã hội như hỗ trợ của cộng đồng, chính sách nghỉ thai sản, … cũng liên quan đến thực hành cho trẻ bú sớm, NCBSMHT

Chính sách nghỉ đẻ

Chính sách nghỉ thai sản được áp dụng rộng rãi trên thế giới và Việt Nam Tại

Na Uy, nơi mà chính sách cho con bú bảo vệ nhu cầu bú của phụ nữ đã được đưa ra

từ những năm 1970, khoảng 97% phụ nữ cho con bú khi rời bệnh viện, 80% đang cho con bú khi được 3 tháng và 20% sau 12 tháng Chính sách gia đình của chính

HUPH

Trang 31

phủ đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp phụ nữ để đạt được tỷ lệ cho con

bú tốt Tại Na Uy: nghỉ thai sản là 42 tuần với đầy đủ lương hoặc 52 tuần với 80% của tiền lương; linh hoạt bán thời gian dành cho phụ nữ từ 2 tháng sau khi sinh với thu nhập bổ sung từ thai sản; sau khi trở lại làm việc, phụ nữ có quyền được nghỉ 1 đến 1,5 giờ trở về nhà để cho con bú, hoặc để có con mang đến nơi làm việc[26] Tại Việt Nam, năm 2013, Chính phủ thông qua Bộ Luật Lao động sửa đổi cho người mẹ có thể nghỉ 6 tháng trước và sau khi sinh con nhằm hỗ trợ, bảo vệ và thúc đẩy NCBSMHT trong 6 tháng đầu và tiếp tục duy trì lâu hơn nữa[8]

Những bà mẹ có thời gian nghỉ thai sản lâu có khả năng NCBSMHT cao hơn các bà mẹ khác Theo nghiên cứu của Meta van den (2013), chính sách nghỉ đẻ tại

Cu ba là 12 tháng có tỷ lệ NCBSMHT 26% trong khi đó các nước thụy Điển, Hà Lan, Canada, Mỹ chính sách nghỉ đẻ từ 12 tuần đến 68 tuần có tỷ lệ NCBSMHT dưới 15%[44] Điều này cũng được đề cập đến trong nghiên cứu của Skafida (năm

2012 tại Scotland trên 5217 bà mẹ) và Staehelin (năm 2007 tại Thụy Sĩ), những bà

mẹ được nghỉ làm càng lâu thì thời gian NCBSM càng dài Các mối quan hệ giữa việc làm, nghỉ thai sản và thời gian cho con bú là có ý nghĩa khi kiểm soát các yếu

tố khác[51, 53] Cùng quan điểm trên, nghiên cứu của Joyce Yen Feng (năm 2010 tại Đài Loan), so với các bà mẹ làm việc không có kế hoạch đi làm lại sau sinh, các

bà mẹ với một kế hoạch đi làm lại sau sinh ít có khả năng NCBSM và nhiều khả năng sử dụng công thức hoặc kết hợp với sữa mẹ và sữa công thức trong 6 tháng sau sinh[37]

Hỗ trợ của cộng đồng

Những bà mẹ có sự hỗ trợ của đồng đẳng viên, có phòng cho con bú hoặc vắt sữa tại nơi làm việc có khả năng cho con bú hoàn toàn lâu hơn các bà mẹ khác Theo nghiên cứu của Campbell (năm 2014 tại Mỹ), những người phụ nữ được tư vấn viên đồng đẳng liên lạc trong thời gian mang thai, trong bệnh viện, và sau khi

đẻ có nhiều khả năng cho con bú so với phụ nữ không có tiếp xúc đó (OR tương ứng 1,36; 2,06; 1,85)[25]

Nghiên cứu của Amin và cộng sự (năm 2011 tại Malaysia trên 290 bà mẹ có con từ 6 -12 tháng tuổi) cũng chỉ ra rằng có mối liên hệ giữa cho con bú và hỗ trợ

HUPH

Trang 32

tại nơi làm việc để cho con bú sữa mẹ Các bà mẹ làm việc ở nơi làm việc mà không cung cấp tủ lạnh có nhiều khả năng ngừng cho con bú Thiếu thời gian linh hoạt để vắt sữa cũng có mối liên quan với ngừng cho con bú (p <0,01) Ngoài ra, những nơi không có phòng cho con bú tại nơi làm việc có khả năng mẹ không cho con bú gấp 1,8 lần những nơi có phòng cho con bú tại nơi làm việc[49] Nghiên cứu của Smith-Gagen (năm 2014 tại Mỹ) cũng đề cập đến việc tăng 1,3 lần khả năng cho con bú sữa mẹ vào lúc 6 tháng với việc có một khu vực riêng tư tại nơi làm việc để vắt sữa (OR = 1,3; CI = 1,1- 1,7) và tăng 1,2 lần nơi có thời gian nghỉ ngơi cho con bú so với nơi khác[52]

Nguồn cung cấp thông tin chính

Nguồn cung cấp thông tin chính về NCBSM chủ yếu từ CBYT Theo nghiên cứu của Nguyễn Kim Tuyết (2010), nhận nguồn thông tin về NCHTBSM: Có 93,8%, không 6,2 % Các nguồn thông tin được nhận:CBYT cơ sở 84,7%, ti vi 80,9%, đài phát, tờ rơi 55,5%, các cuộc họp cộng đồng 45,9%, truyền thanh 41,6%, pano áp phích 23,9%,sách báo 21,1%, nguồn khác 1,4%[7]

6 tháng với việc miễn thuế khi đang trong chế độ cho con bú so với các nơi khác[52]

Hầu hết các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam trong những năm qua đã chỉ

ra nơi sinh trẻ, dân tộc, trình độ học vấn mẹ, nghề nghiệp mẹ, thu nhập bình quân của gia đình là một số các yếu tố liên quan đến thực hành cho trẻ bú sớm và bú

HUPH

Trang 33

hoàn toàn trong 6 tháng đầu Bên cạnh đó, các nghiên cứu can thiệp có chỉ ra sự tác động từ các thành viên khác trong gia đình (chồng, mẹ chồng, .) đến thực hành này Tuy nhiên các nghiên cứu tại Việt Nam đã thực hiện với chế độ nghỉ thai sản là

4 tháng sau sinh Đây cũng gây khó khăn cho các bà mẹ muốn nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu Vậy thực trạng thực hành bú sớm, bú hoàn toàn trong 6 tháng tại thời điểm hiện nay khi bà mẹ đang trong chế độ nghỉ thai sản 6 tháng sau sinh như thế nào, đồng thời năm 2015 là năm kết thúc Kế hoạch hành động quốc gia về nuôi dưỡng trẻ nhỏ Trên những luận điểm trên thì nghiên cứu

“Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến bú sớm và NCBSMHT trong 6

tháng đầu tại huyện Lương Sơn, Hòa Bình năm 2014” sẽ góp phần trả lời thực

trạng và một số yếu tố liên quan đến vấn đề này Từ đó đưa ra những khuyến nghị nhằm tăng tỷ lệ trẻ được bú sớm và bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu

4 Thông tin về địa bàn nghiên cứu

Huyện Lương Sơn là cửa ngõ của tỉnh miền núi Hoà Bình và miền Τây Bắc Việt Nam, cách thủ đô Hà Nội khoảng 40 km Huyện có 1 thị trấn và 19 xã, có diện tích 369,8541 km², dân số toàn huyện là 92.860 người Lương Sơn là địa bàn sinh sống của người Mường (60%), người Kinh (hơn 30%), còn lại là người Dao và các dân tộc khác chiếm tỷ lệ không đáng kể Hiện tại, tính đến tháng 2 - 2014, dân số huyện Lương Sơn vào khoảng 97.446 người

Những lợi thế về giao thông cùng tiềm năng lớn về tài nguyên thiên nhiên như:

có nhiều núi đá vôi phục vụ ngành sản xuất vật liệu xây dựng, có 14.000 hecta đồi núi và đất đai màu mỡ để phát triển nông, lâm nghiệp Huyện này còn có điều kiện xây dựng các khu nghỉ dưỡng, nhằm phát triển du lịch hiện nay trên địa bàn huyện có rất nhiều dự án du lịch lớn như sân golf Phượng Hoàng và Làng văn hóa các dân tộc tỉnh Hòa Bình, Khu du lịch sinh thái Xóm Mòng

Những năm gần đây, ngành Công nghiệp ở Lương Sơn phát triển khá mạnh Những khu công nghiệp Lương Sơn, Bắc Lương Sơn, Nam Lương Sơn đang thu hút các nhà đầu tư đến với mảnh đất giàu tiềm năng này

HUPH

Trang 34

Với đặc trưng nghề nghiệp phải đi làm xa nhà, thời gian làm việc tương đối dài

do đó các bà mẹ có những khó khăn trong việc cho trẻ bú sữa mẹ, vì vậy đa số các

bà mẹ cho con ăn dặm khi trẻ được 3 đến 4 tháng tuổi Theo ý kiến của cán bộ y tế (CBYT) thuộc TTYT huyện cũng như Trạm y tế xã thì số liệu về tỷ lệ bà mẹ cho con bú sớm, tỷ lệ bà mẹ cho con bú hoàn toàn đến 6 tháng đầu được thu thập thiếu chính xác

5 Mô hình Lý thuyết

Mô hình lý thuyết của Lalonde (1974) là mô hình giải thích các yếu tố góp phần làm cho con người khỏe mạnh cũng như những nguyên nhân làm cho con người bị đau ốm Các yếu tố quyết định vấn đề sức khỏe được chia thành bốn nhóm chính đó

là yếu tố sinh học hay yếu tố di truyền, yếu tố dịch vụ y tế, yếu tố môi trường, yếu

tố hành vi/phong cách sống

Các yếu tố sinh học là các yếu tố bên trong của mỗi cá nhân có ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp/trung gian đến sức khỏe và bệnh tật (có những tỷ lệ bệnh tật đặc trưng theo gen, tuổi, giới tính)

Hành vi cá nhân ảnh hưởng trực tiếp/gián tiếp đến sức khỏe: ăn uống, tập thể dục, uống rượu, sử dụng ma túy Hình thành do tác động của nhiều yếu tố về xã hội, môi trường tự nhiên, gen

Dịch vụ y tế là chất lượng chăm sóc điều trị, thái độ, trình độ chuyên môn của cán bộ y tế, khả năng tiếp cận dịch vụ của người dân (chi phí, khoảng cách, thời gian chờ đợi ), tính chất của hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu hay chuyên sâu,

y tế nhà nước hay y tế tư nhân

Yếu tố môi trường đóng một vai trò quan trọng quyết định tình trạng sức khỏe của bất cứ cộng đồng nào Thuật ngữ môi trường ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm: môi trường xã hội, tổ chức xã hội, các nguồn lực, Môi trường tự nhiên như: nhiệt độ, ánh sáng, không khí, đất nước, các thiên tai, thảm họa Môi trường sống làm việc như: tình trạng nhà ở, đường xá, nhà máy, bệnh viện, [3]

Nhằm tìm hiểu thực trạng cho trẻ bú sớm, NCBSMHT trong 6 tháng đầu trên bà

mẹ có con từ 7 đến 12 tháng tuổi, học viên tiến hành nghiên cứu“Thực trạng và

HUPH

Trang 35

một số yếu tố ảnh hưởng đến bú sớm và NCBSMHT trong 6 tháng đầu tại huyện Lương Sơn, Hòa Bình năm 2014” dựa theo mô hình lý thuyết của Lalonde (1974)

Tuy nhiên do thời gian và nguồn lực có hạn nên học viên không đi sâu tìm hiểu về yếu tố hành vi cá nhân

HUPH

Trang 36

KHUNG LÝ THUYẾT

Xây dựng dựa trên Mô hình lý thuyết của Lalode (1974)[3]

Thực hành

Bú sớm, bú hoàn toàn trong

- Hỗ trợ của cộng đồng:

lập câu lạc bộ, truyền thông về NCBSM

- Sự quảng cáo của các sản phẩm sữa thay thế

Yếu tố gia đình

- Mức sống gia đình

- Sự hỗ trợ từ gia đình: vai

trò của người chồng, mẹ chồng, thời gian được nghỉ công việc

- Địa dư

Yếu tố về dịch vụ y tế

- Tư vấn trước sinh

- Tư vấn sau sinh

- Dịch vụ chăm sóc khi sinh và sau sinh

HUPH

Trang 37

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là: bà mẹ có con từ 7 tháng đến 12 tháng tuổi (sinh từ 01/03/2014 đến 31/8/2014) sống tại huyện Lương Sơn, Hòa Bình ít nhất 6 tháng trước ngày điều tra

Tiêu chuẩn loại trừ

Những đối tượng:

- Không đủ tiêu chuẩn lựa chọn trên

- Không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Không có mặt trên địa bàn trong thời gian nghiên cứu

2.Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: từ tháng 11 năm 2014 đến tháng 9 năm 2015

- Nghiên cứu được tiến hành tại huyện Lương Sơn, Hòa Bình

3 Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang

Z: ứng với độ tin cậy 95% thì z =1,96

α: là mức ý nghĩa thống kê, lấy α = 5%

d: sai số cho phép 0,06

2

2 2 / 1d

) p 1 (

p

Trang 38

Cỡ mẫu được tính toán cho từng nhóm theo công thức trên là:

Tỷ lệ bú sớm p = 26,5% Tỷ lệ bú hoàn toàn

p = 24,5%

Cỡ mẫu cần thiết

208, thêm 10 % từ chối

trả lời, làm tròn mẫu lên

229

198, thêm 10 % từ chối trả lời, làm tròn mẫu lên

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp chọn mẫu cụm 2 giai đoạn Giai đoạn đầu tiên là chọn các xã; giai đoạn thứ hai là chọn tất cả các cặp mẹ con, con từ 7-12 tháng tuổi ở mỗi xã

Giai đoạn 1: Trước hết lập danh sách 20 xã của huyện Lương Sơn Chia 20 xã tại huyện theo tình trạng kinh tế xã hội: 5 xã có kinh tế khá, 4 xã có kinh tế nghèo

và 11 xã có kinh tế trung bình Chọn ngẫu nhiên 8/20 xã tham gia nghiên cứu bằng cách lấy bốc thăm Lấy ngẫu nhiên 2 xã có kinh tế nghèo (Cao Răm, Thanh Lương) trong 4 xã có kinh tế nghèo, 2 xã có kinh tế khá(Tân Vinh, Nhuận Trạch) trong 5 xã

có kinh tế khá và 4 xã có kinh tế trung bình (Liên Sơn, Thành Lập, Tiến Sơn, Cao Dương) trong 11 xã có kinh tế trung bình 8 xã tham gia nghiên cứu là: Nhuận Trạch, Cao Răm, Tân Vinh, Liên Sơn, Thành Lập, Tiến Sơn, Thanh Lương, Cao Dương

Giai đoạn 2: Chọn toàn bộ các cặp mẹ con tại 8 xã được lựa chọn ở giai đoạn 1

HUPH

Trang 39

6 Thu thập số liệu

6.1 Công cụ thu thập số liệu

Bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên khung lý thuyết và tham khảo từ bộ câu hỏi sử dụng điều tra ban đầu của Alive & Thrive về Thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ

Bộ câu hỏi được thử nghiệm tại một xã thuộc huyện Lương Sơn không được chọn tham gia vào điều tra trước khi tiến hành thu thập số liệu Sau giai đoạn thử nghiệm, bộ câu hỏi được chỉnh sửa và hoàn thiện

Bộ câu hỏi bao gồm các thông tin vềcác yếu tố thuộc về mẹ, trẻ, các yếu tố gia đình, xã hội và dịch vụ y tế

6.2 Phương pháp thu thập số liệu

Phỏng vấn trực tiếp bà mẹ tại hộ gia đình, dựa trên bộ câu hỏi được thiết kế sẵn Điều tra viên phỏng vấn các bà mẹ tại nhà, học viên giám sát việc thực hiện phỏng vấn

7 Các biến số nghiên cứu

Các nhóm biến số nghiên cứu chính: Thực hành cho trẻ bú sớm, thực hành NCBSMHT, yếu tố thuộc về bà mẹ, yếu tố thuộc về trẻ, yếu tố dịch vụ y tế, yếu tố gia đình, yếu tố xã hội (Bảng biến số xem phụ lục 3)

8 Các khái niệm, thước đo và tiêu chuẩn đánh giá

8.1 Các khái niệm và thuật ngữ liên quan đến NCBSM cho trẻ từ 0-6 tháng tuổi

- Bú mẹ ngay sau sinh (bú sớm): trẻ được bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau khi sinh

- NCBSMHT: chỉ cho trẻ bú mẹ mà không cho ăn, uống bất cứ thức ăn, đồ uống

nào khác, kể cả nước trắng, trừ trường hợp phải uống bổ sung các vitamin, khoáng chất hoặc thuốc

- Sữa non: sữa mẹ được tiết ra trong vài ngày đầu sau đẻ Sữa sánh đặc có màu

vàng nhạt hoặc trong Sữa non chứa nhiều protein, vitamin A và kháng thể hơn sữa trưởng thành

HUPH

Trang 40

- Ăn bổ sung (ăn dặm, ăn sam): ngoài sữa mẹ, trẻ được ăn thêm các loại thức ăn

lỏng, đặc hoặc thức ăn mềm từ sau 6-8 tháng tuổi

- Khuyến nghị: WHO và UNICEF khuyến nghị rằng trẻ em cần được NCBSMHT

trong 6 tháng đầu và sau đó được ăn bổ sung đầy đủ, hợp lý cùng với bú mẹ kéo dài tới 24 tháng tuổi và hơn nữa

8.2 Tiêu chuẩn đánh giá

 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức bú sớm

- Kiến thức về bú sớm được đánh giá qua 08 câu hỏi (câu hỏi số 33 đến 40) Điểm

tối đa là 18 điểm

- Mỗi ý trả lời đúng được 1 điểm Câu số 33 trả lời đúng là ý số 1, câu số 34 trả

lời đúng là ý số 1, câu số 35 trả lời đúng là ý số 1 hoặc ý số 2; câu số 36 trả lời đúng là ý số 1, 2, 3; câu số 37 trả lời đúng là ý số 1, 2, 3, 4; câu số 38 trả lời đúng là ý số 1, 2, 3, 4; câu số 39 trả lời đúng là ý số 1, 2, 3, 4; câu số 40 trả lời đúng là ý số 2

- Kiến thức bú sớm được đánh giá là đạt nếu mỗi câu hỏi phải trả lời được ít nhất

1 điểm đồng thời tổng điểm kiến thức phải lớn hơn hoặc bằng 10 điểm (điểm trung bình của tổng điểm kiến thức)

 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức NCBSMHT

- Kiến thức về NCBSMHT được đánh giá qua 07 câu hỏi (câu hỏi số 41 đến 47)

Điểm tối đa là 25 điểm

- Mỗi ý trả lời đúng được 1 điểm Câu số 41 trả lời đúng là ý số 3, câu số 42 trả

lời đúng là ý số 3, câu số 43 trả lời đúng là từ ý số 1 đến ý số 6, câu số 44 trả lời đúng là từ ý số 1 đến ý số5, câu số 45 trả lời đúng là từ ý số 1 đến ý số 6, câu số

46 trả lời đúng ý số 1, câu số 47 trả lời đúng là từ ý số 1 đến ý số 5

- Kiến thức NCBSMHT được đánh giá là đạt nếu mỗi câu hỏi phải trả lời được 1

điểm đồng thời tổng điểm kiến thức phải lớn hơn hoặc bằng 14 điểm (điểm trung bình của tổng điểm kiến thức)

 Tiêu chuẩn đánh giá thực hành bú sớm

HUPH

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w