1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong, sau sinh và một số yếu tố ảnh hưởng của bà mẹ dân tộc chăm huyện vân canh, tỉnh bình định năm 2015

128 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong, sau sinh và một số yếu tố ảnh hưởng của bà mẹ dân tộc Chăm huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định năm 2015
Tác giả Lại Thị Minh Trà
Người hướng dẫn TS. Trần Mai Oanh, ThS. Đoàn Thị Thùy Dương
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn Thạc sĩ Y tế Công cộng
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 2,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (14)
    • 1.1. Thực trạng tử vong mẹ trên Thế giới và Việt Nam (14)
    • 1.2. Phạm vi và các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu (16)
      • 1.2.1. Chăm sóc trước sinh (0)
      • 1.2.2. Chăm sóc trong sinh (17)
      • 1.2.3. Chăm sóc sau sinh (18)
    • 1.3. Sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong và sau sinh (18)
      • 1.3.1. Sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh (0)
      • 1.3.2. Chăm sóc trong sinh (22)
      • 1.3.3. Chăm sóc sau sinh (25)
    • 1.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong và sau sinh của bà mẹ (27)
      • 1.4.1. Các yếu tố đặc trưng cá nhân của đối tượng nghiên cứu (27)
      • 1.4.2. Các yếu tố từ phía dịch vụ y tế (30)
      • 1.4.3. Các yếu tố phong tục tập quán từ phía bà mẹ (31)
    • 1.5. Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu (34)
    • 1.6. Khung lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong và (36)
  • CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (37)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (37)
      • 2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn (37)
      • 2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ (38)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (38)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (38)
    • 2.4. Mẫu và phương pháp chọn mẫu (38)
    • 2.5. Phương pháp thu thập số liệu (41)
    • 2.6. Biến số nghiên cứu, các khái niệm dùng trong nghiên cứu (42)
      • 2.6.1. Các biến số định lượng (42)
      • 2.6.2 Các nội dung, chủ đề nghiên cứu định tính (43)
    • 2.7. Phương pháp phân tích số liệu (45)
    • 2.8. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu (45)
    • 2.9. Hạn chế nghiên cứu (46)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (47)
    • 3.1. Các đặc trưng cá nhân của đối tượng nghiên cứu (47)
    • 3.2. Sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong và sau sinh (49)
      • 3.2.1. Sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh (49)
        • 3.2.1.1 Sử dụng dịch vụ khám thai của bà mẹ (49)
        • 3.2.1.2. Sử dụng viên sắt và tiêm phòng uốn ván trong quá trình mang thai (51)
      • 3.2.2. Sử dụng dịch vụ chăm sóc trong sinh (53)
      • 3.2.3. Sử dụng dịch vụ thăm khám 42 ngày sau sinh (54)
    • 3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng dịch vụ trước, trong và sau sinh (0)
      • 3.3.1. Từ phía người sử dụng dịch vụ (56)
      • 3.3.2. Về phía dịch vụ y tế (70)
  • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (74)
    • 4.1. Các đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (74)
    • 4.2. Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong và sau sinh (75)
    • 4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ trước, trong và sau sinh (85)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN (90)
    • 5.1. Thực trạng sử dụng dịch vụ trước, trong và sau sinh (90)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (93)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

- Bà mẹ có con dưới 1 tuổi (sinh con trong năm 2015),

Các bên liên quan bao gồm Trưởng trạm y tế, cán bộ chuyên trách sức khỏe sinh sản xã, đại diện Đội KHHGĐ huyện, y tế thôn, cô đỡ thôn bản, già làng, phụ trách văn hóa xã và đại diện chính quyền xã.

 Tiêu chuẩn chung: Đối tượng đang có mặt tại thời điểm nghiên cứu và đồng ý tham gia vào nghiên cứu

- Bà mẹ: dân tộc Chăm toàn huyện Vân Canh sinh con trong năm 2015 (từ ngày

1/1/2015-31/12/2015) Theo thống kê, dân tộc Chăm tại huyện Vân Canh chủ yếu sinh sống tại 5 xã gồm Canh Hiệp, Thị trấn Vân Canh, Canh Hòa, Canh Thuận, Canh Liên

- Đội KHHGĐ huyện Vân Canh: Là cán bộ Đội KHHGĐ huyện Vân Canh có thời gian công tác tại trên 1 năm

Trạm trưởng trạm y tế tại các xã là người có trách nhiệm chính trong việc quản lý các hoạt động và kế hoạch chăm sóc sức khỏe cộng đồng Họ cần nắm rõ tình hình sức khỏe của người dân trong địa bàn xã và phải có ít nhất một năm kinh nghiệm công tác.

- Phụ trách SKSS trạm y tế: Là nhân viên trạm y tế, phụ trách SKSS tại trạm, có thời gian công tác trên 1 năm

- Y tế thôn: Là nhân viên y tế thôn tại xã, có thời gian công tác trên 1 năm

- Cô đỡ thôn bản: Là người Chăm được đào tạo đỡ đẻ, sống tại các xã, có kinh nghiệm làm việc trên 1 năm

- Già làng: Là người có uy tín trong làng thuộc các xã, được người dân tín nhiệm và phong Già làng

- Phụ trách văn hóa xã: Là người công tác tại xã, phụ trách các hoạt động văn hóa của xã, có kinh nghiệm làm việc trên 1 năm

- Chính quyền xã: Là đại diện về chính quyền của xã, chủ tịch, phó chủ tịch xã phụ trách y tế, xã hội, có thời gian công tác trên 1 năm

- Đối tượng từ chối tham gia vào nghiên cứu

- Đối tượng có các vấn đề về tâm thần

- Đối tượng không có khả năng trả lời phỏng vấn

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm: Tại các xã Canh Hòa, Canh Hiệp, thị trấn Vân Canh, Canh Thuận, Canh Liên

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả cắt ngang, kết hợp định tính và định lượng trong đó:

Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua bộ câu hỏi dành cho các bà mẹ, sau đó tiến hành phân tích và nghiên cứu định tính để giải thích các kết quả thu được từ nghiên cứu định lượng.

Mẫu và phương pháp chọn mẫu

Phương pháp nghiên cứu định lượng được áp dụng bằng cách chọn mẫu toàn bộ, bao gồm tất cả các bà mẹ dân tộc Chăm tại huyện Vân Canh sinh con trong năm 2015 Để ước lượng tỷ lệ, công thức tính mẫu sẽ được sử dụng.

Để xác định cỡ mẫu nghiên cứu tối thiểu, cần xem xét các yếu tố sau: n là cỡ mẫu tối thiểu, p là tỷ lệ bà mẹ được chăm sóc toàn diện trước, trong và sau sinh, theo nghiên cứu của Bùi Thị Thu Hà và cộng sự (2013) tại duyên hải Nam Trung Bộ là 36,5% Mức ý nghĩa thống kê được đặt ở 5% (α) và hệ số tin cậy ở mức 95% (z = 1,96).

HUPH d: Sai số ước lượng, chọn d = 0,075 n = 1,96 2 x (0,365 x 0,635)/0,082 2 = 132 n = 132 cho thấy số lượng này đủ lực mẫu để sử dụng các test kiểm định thống kê trong nghiên cứu

Phương pháp xác định danh sách bà mẹ:

+ Lập danh sách bà mẹ dân tộc Chăm sinh con năm 2015 được trạm y tế quản lý: Tính đến hết 31/12/2015 có 142 bà mẹ dân tộc chăm sinh con

+ Lấy danh sách Y tế thôn quản lý

+ Trong quá trình rà soát và tiến hành điều tra, chúng tôi đã bổ sung thêm, tổng cộng có 152 bà mẹ tham gia nghiên cứu

* Đối với phương pháp nghiên cứu định tính : tiến hành 29 cuộc phỏng vấn sâu và

02 cuộc thảo luận nhóm đối với Đối tượng phỏng vấn

Bà mẹ sinh con tại nhà

Nghiên cứu các yếu tố tác động đến hành vi sinh con tại nhà của bà mẹ và những giải pháp mà họ áp dụng để tiếp cận, sử dụng dịch vụ y tế cùng các bên liên quan là rất quan trọng.

Bà mẹ sinh con tại cơ sở y tế

Nghiên cứu về rào cản mà các bà mẹ gặp phải khi sử dụng dịch vụ y tế trong quá trình sinh nở, đồng thời đánh giá những thuận lợi và khó khăn mà họ trải qua Bài viết cũng xem xét mức độ hài lòng của các bà mẹ đối với dịch vụ y tế hiện có và đưa ra những đề xuất nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ y tế cho họ.

Tìm hiểu tập quán người chăm liên quan đến sinh đẻ, giải pháp cải thiện tình hình sử dụng dịch vụ của bà mẹ trước, trong và sau sinh

Nghiên cứu thói quen của các bà mẹ địa phương trong việc lựa chọn dịch vụ sinh đẻ là rất quan trọng, vì nó giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của họ Những yếu tố này có thể bao gồm sự tin tưởng vào cơ sở y tế, chất lượng dịch vụ, và kinh nghiệm của những người xung quanh Việc hiểu rõ những yếu tố này sẽ góp phần cải thiện dịch vụ sinh đẻ và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các bà mẹ.

HUPH dụng dịch vụ, giải pháp cải thiện tình hình từ phía dịch vụ y tế

Cô đỡ thôn bản nghiên cứu thói quen của các bà mẹ địa phương trong việc lựa chọn dịch vụ sinh đẻ, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ này Bài viết cũng đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện tình hình từ phía dịch vụ y tế.

Trưởng trạm y tế cần tìm hiểu các vấn đề liên quan đến khả năng cung cấp dịch vụ y tế sinh đẻ tại trạm, bao gồm những thuận lợi và khó khăn hiện tại Đồng thời, cần đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao tỷ lệ sử dụng dịch vụ của bà mẹ dân tộc Chăm.

Đội KHHGĐ tại huyện đang nghiên cứu các vấn đề liên quan đến khả năng cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản (SKSS) và kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) Bài viết sẽ phân tích những thuận lợi và khó khăn trong việc cung cấp dịch vụ này, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao tỷ lệ sử dụng dịch vụ của bà mẹ dân tộc Chăm.

Nhân viên phụ trách SKSS xã

Khám phá các vấn đề liên quan đến khả năng cung cấp dịch vụ y tế sinh đẻ tại trạm, bao gồm những thuận lợi và khó khăn, cùng với các giải pháp nhằm nâng cao tỷ lệ sử dụng dịch vụ của bà mẹ dân tộc Chăm.

Phụ trách văn hóa xã cần nghiên cứu tập quán sinh đẻ của người Chăm để tìm ra giải pháp cải thiện việc sử dụng dịch vụ cho bà mẹ trước, trong và sau sinh.

2 PVS Đại diện chính quyền tìm hiểu xã giải pháp cải thiện tình hình sử dụng dịch vụ của bà mẹ trước, trong và sau sinh

Nhóm bà mẹ sinh con tại nhà và nhóm bà mẹ sinh con tại cơ sở y tế thường xuyên thảo luận về những trải nghiệm và thách thức của họ Các cuộc thảo luận này diễn ra tại trụ sở thôn hoặc nhà truyền thống thôn, tạo điều kiện cho việc chia sẻ thông tin và hỗ trợ lẫn nhau giữa các bà mẹ.

Thông tin thu thập số liệu được dừng lại khi đã bão hòa

Phương pháp thu thập số liệu

Bước 1: Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu

- Xây dựng bộ câu hỏi phỏng vấn dựa trên bộ công cụ (Phụ lục 1)

Thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu là bước quan trọng; sau khi bộ câu hỏi được xây dựng, cần tiến hành điều tra thử với 06 bà mẹ để thu thập phản hồi Dựa trên kết quả này, bộ câu hỏi sẽ được chỉnh sửa cho phù hợp trước khi tổ chức tập huấn và thực hiện điều tra chính thức.

Bước 2: Tập huấn (nội dung thu thập số liệu)

Nội dung tập huấn cho điều tra viên:

+ Mục đích cuộc điều tra

+ Kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng phỏng vấn và điều tra sử dụng dịch vụ trước trong và sau sinh và làm việc với cộng đồng

+ Thực hành điều tra sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong và sau sinh của bà mẹ

Bước 3: Điều tra, giám sát

+ Điều tra viên: 05 người (là sinh viên năm 4 ngành Xã hội học trường Đại học Quy Nhơn có kỹ năng và kinh nghiệm tham gia các cuộc điều tra

+ Dẫn đường: 22 người Nhóm nghiên cứu sử dụng 22 y tế thôn dẫn đường và hỗ trợ phiên dịch tiếng Chăm nếu cần

Trong phỏng vấn định lượng, quá trình điều tra diễn ra trong 8 ngày, với mỗi ngày khảo sát 20 bà mẹ theo lịch trình do nhân viên y tế thôn sắp xếp Các buổi phỏng vấn được chia thành hai thời gian: buổi sáng và buổi chiều, diễn ra tại nhà của các bà mẹ hoặc tại các điểm hẹn do họ lựa chọn.

Trong nghiên cứu phỏng vấn sâu định tính, ba điều tra viên sẽ thực hiện phỏng vấn và thảo luận nhóm theo lịch hẹn với đối tượng Đối với các bà mẹ, phỏng vấn sẽ được tiến hành tại nhà truyền thống của thôn hoặc tại trạm y tế của bên cung cấp dịch vụ y tế Quá trình này sẽ diễn ra trong vòng một tháng sau khi có kết quả định lượng.

Các nhóm tiến hành điều tra bằng cách nhận phiếu điều tra và danh sách bà mẹ cùng địa chỉ, sau đó thực hiện điều tra tại thực địa theo phương pháp nhà kế tiếp Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được tổ chức tại trạm, nhà truyền thống thôn hoặc nhà dân.

Bước 4: Thu thập phiếu điều tra

Sau mỗi buổi điều tra, các nhóm cần nộp phiếu điều tra cho GSV để kiểm tra và quản lý số lượng cũng như chất lượng của phiếu Nếu phát hiện thiếu sót, ĐTV sẽ được yêu cầu bổ sung và hoàn chỉnh các phiếu điều tra.

Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, diễn ra sau khi đã có kết quả định lượng.

Công cụ hỗ trợ: Máy ghi âm

Biến số nghiên cứu, các khái niệm dùng trong nghiên cứu

2.6.1 Các biến số định lượng

* Nhóm biến số liên quan đến yếu tố cá nhân của người mẹ

- Tuổi mang thai lần đầu

- Khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế

* Nhóm biến số sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh

* Nhóm biến số sử dụng dịch vụ chăm sóc trong sinh

- Cán bộ y tế đỡ đẻ

- Đẻ tại cơ sở y tế

* Nhóm biến số sử dụng dịch vụ chăm sóc sau sinh

- Thăm khám 42 ngày sau sinh

* Nhóm biến số tiếp cận dịch vụ

- Kênh tiếp nhận thông tin

- Sử dụng bảo hiểm y tế

2.6.2 Các nội dung, chủ đề nghiên cứu định tính

Chủ đề con Nội dung thu thập đối với bà mẹ

Sử dụng dịch vụ Chăm sóc trước, trong và sau sinh của bà mẹ

- Nhận xét về dịch vụ họ sử dụng, thuận lợi, khó khăn

- Niềm tin và phong tục tập quán, dư luận xã hội, tín ngưỡng

- Các dịch vụ chăm sóc sản khoa được cung cấp tại địa phương

- Lý do vì sao ĐTNC chọn đẻ tại nhà Họ gặp thuận lợi và khó khăn gì? Những nghi lễ họ tiến hành trong sinh?

- Quan niệm/niềm tin người dân hoặc phụ nữ Chăm và ĐTNC về thai nghén và sinh nở, tai biến khi có thai/đẻ

- Thực hành liên quan đến niềm tin, tín ngưỡng, phong tục tập quán khi mang thai và sinh đẻ

- Việc sử dụng dịch vụ này của ĐTNC và người dân? Liên quan đến tính tự chủ, tảo hôn, cúng an thai, làm việc nặng….)

- Mong muốn dịch vụ: chất lượng, sẵn có, hài lòng, nhân viên y tế, gói đẻ, hỗ trợ tuyến…

- Chính sách: bảo hiểm, tài chính, gói đẻ sạch…

- Đối với các bên liên quan khác Cung ứng dịch vụ trước, trong và sau sinh của cơ sở y tế có trách nhiệm

Khả năng cung cấp dịch vụ của Trạm y tế

Thuận lợi, khó khăn trong việc thực hiện

- Thông tin y tế đã cung cấp trong năm 2015 cho bà mẹ

- Cơ chế quản lý, điều hành của Trạm

- Nhân lực, thuốc, trang thiết bị y tế của Trạm

- Tính sẵn có dịch vụ chăm sóc trước, trong và sau sinh Trạm y tế cung cấp

- Gói đẻ sạch cung cấp

- Bà đỡ thôn bản Giải pháp nâng cao tỷ lệ và chất lượng sử dụng dịch vụ của bà mẹ dân tộc Chăm

- Chính sách: nhân lực, trang thiết bị, tài chính, truyền thông

- Các bên liên quan: chính quyền, ban ngành đoàn thể

- Mong muốn với bà mẹ: hợp tác, hỗ trợ, phản ánh thông tin Đối với các bên liên quan

Giải pháp nâng cao tỷ lệ sử dụng dịch vụ sinh đẻ bà mẹ dân tộc Chăm

- Phong tục tập quán địa phương và bản sắc dân tộc Chăm liên quan đến sinh đẻ

- Về việc thay đổi niềm tin, tập quán của phụ nữ Chăm về những tập tục ảnh hưởng đến chăm sóc trước, trong và sau sinh của bà mẹ

Phương pháp phân tích số liệu

- Kiểm tra phiếu ngay sau khi thu thập: kiểm tra lại thông tin để tránh không bỏ sót hoặc phiếu không hợp lệ, làm sạch phiếu phỏng vấn

- Nhập các thông tin của phiếu phỏng vấn bằng EpiData

- Kiểm tra các thông tin sau nhập số liệu để tránh những sai sót trong quá trình nhập liệu

- Phân tích bằng phần mền SPSS: thống kê mô tả, phân tích đơn biến, đa biến

- Nội dung các cuộc phỏng vấn sâu được thu âm bằng máy ghi âm

- Nghiên cứu viên tự gỡ băng, phân tích bằng cách mã hóa, xếp nhóm và trích dẫn theo mục tiêu nghiên cứu.

Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

- Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức Trường Đại học y tế công cộng thông qua trước khi tiến hành nghiên cứu

Nghiên cứu viên đã giải thích rõ ràng mục đích của cuộc phỏng vấn cho các đối tượng tham gia, những người hoàn toàn tự nguyện và không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ yếu tố bên ngoài nào Sau khi đồng ý, họ sẽ tham gia phỏng vấn sâu và có quyền từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào mà họ không muốn Các đối tượng có thể tiếp tục tham gia mà không bị ràng buộc hay chịu trách nhiệm pháp lý Thông tin mà họ cung cấp chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu và sẽ không được tiết lộ danh tính.

Trong phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, người tham gia có quyền rút lại ý kiến mà không cần lý do Người phỏng vấn cần tôn trọng quyết định này và không được tranh cãi hay áp đặt quan điểm của mình.

Sau khi kết thúc buổi phỏng vấn, người phỏng vấn cần tóm tắt lại câu trả lời để đối tượng có thể kiểm tra thông tin đã lưu Điều này giúp họ có cơ hội bổ sung hoặc lược bỏ những thông tin cần thiết.

HUPH bỏ phần nào đi không Nếu đã kiểm tra kỹ thì cảm ơn và xin số điện thoại, hẹn gặp lại khi có thắc mắc

- Nghiên cứu được lãnh đạo địa phương và cấp chính quyền cho phép tiến hành

Tất cả thông tin cá nhân và thông tin nhạy cảm thu thập được qua phỏng vấn sẽ chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu và sẽ được bảo mật hoàn toàn.

- Người tham gia nghiên cứu có quyền biết kết quả nghiên cứu.

Hạn chế nghiên cứu

Tiêu chí đánh giá kinh tế hộ gia đình hiện chưa rõ ràng, gây khó khăn trong việc phân loại tình trạng kinh tế một cách chính xác Nghiên cứu này sẽ sử dụng tiêu chí phân loại hộ gia đình của Cục thống kê, đánh giá theo hai nhóm: nghèo (bao gồm nghèo và cận nghèo) và không nghèo (trung bình trở lên).

Việc đánh giá tiêm đủ vắc xin uốn ván chỉ dựa trên thông tin rằng bà mẹ chưa từng sinh con cần tiêm 2 mũi, trong khi bà mẹ đã từng sinh con chỉ cần tiêm 1 mũi Tuy nhiên, không xác định được khoảng cách 5 năm giữa các lần tiêm theo Chuẩn quốc gia chăm sóc sức khỏe sinh sản năm 2009.

Sau sinh, theo chuẩn quốc gia, việc đánh giá sự thăm khám của bà mẹ bởi cán bộ y tế bao gồm cả trường hợp bà mẹ chủ động đến cơ sở y tế và được nhân viên y tế đến thăm tại nhà.

Nghiên cứu cắt ngang thu thập thông tin từ quá khứ, do đó không thể tránh khỏi sai số trong việc nhớ lại, đặc biệt là đối với những bà mẹ có con khoảng 1 tuổi Thời gian nhớ lại về việc khám thai từ lúc mang thai đến khi phỏng vấn có thể kéo dài gần 2 năm.

Các bà mẹ thuộc dân tộc thiểu số, mặc dù phụ nữ Chăm có thể nói tiếng phổ thông, nhưng vẫn gặp khó khăn trong việc hiểu một số thuật ngữ và tiếng lóng địa phương Để khắc phục vấn đề này, chúng tôi đã nhận được sự hỗ trợ từ người dẫn đường.

- Số lượng bà mẹ dân tộc chăm đẻ trong năm 2015 chỉ 152 bà mẹ làm hạn chế lực mẫu và áp dụng các phân tích thống kê

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Các đặc trưng cá nhân của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3 1 Các đặc trưng cá nhân của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm Tần số

Trình độ học vấn Dưới tiểu học

Tình trạng kinh tế Hộ nghèo

Tuổi kết hôn Dưới 18 tuổi

Tuổi mang thai lần đầu Dưới 20 tuổi

Số lần mang thai Từ 1 đến 2 lần

Số con đã sinh Từ 1 đến 2

Số con còn sống đến nay Từ 1 đến 2

80,9 19,1 Khoảng cách đến cơ sở y tế gần nhất

Trong nghiên cứu về 152 bà mẹ dân tộc Chăm sinh con năm 2015 tại huyện Vân Canh, phần lớn là bà mẹ trẻ với độ tuổi trung bình là 25 Đáng chú ý, gần một nửa số bà mẹ sinh con khi dưới 20 tuổi hoặc trên 35 tuổi, độ tuổi được khuyến cáo có nhiều nguy cơ cho cả mẹ và trẻ sơ sinh Trong khi đó, 53,5% bà mẹ sinh con trong độ tuổi lý tưởng từ 20-35 tuổi.

Trình độ học vấn của các bà mẹ dân tộc Chăm chủ yếu thấp, với 31,6% có trình độ dưới tiểu học, trong khi 68,4% còn lại đạt trình độ tiểu học trở lên.

Hầu hết các bà mẹ trong cộng đồng đều làm nghề lao động phổ thông, với hơn một nửa trong số họ làm nông nghiệp, bao gồm trồng lúa và chăn nuôi gia súc tại nhà (56,6%) Khoảng một phần ba các bà mẹ làm nghề nương rẫy (32,9%), chủ yếu là trồng keo Nhiều hộ gia đình được giao khoán đất rừng để trồng keo, và họ thường sống tại các lán trong rừng, chỉ thỉnh thoảng trở về nhà Số ít còn lại làm nghề buôn bán, tự do hoặc làm việc trong khu vực nhà nước (10,5%).

Vân Canh là huyện miền núi đặc biệt khó khăn, với 85,5% các bà mẹ tham gia nghiên cứu thuộc hộ nghèo và nhận hỗ trợ từ chính phủ Chỉ có 14,5% các bà mẹ còn lại thuộc diện cận nghèo và có thu nhập trung bình, cho thấy đời sống vật chất của họ gặp nhiều khó khăn và thiếu thốn.

Hầu hết các bà mẹ dân tộc Chăm được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, đặc biệt cho những người thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo và dân tộc thiểu số Chỉ có một trường hợp duy nhất không có bảo hiểm y tế do mới chuyển đến từ vùng khác Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng dịch vụ y tế của các bà mẹ trong cộng đồng.

Hơn 51% đối tượng nghiên cứu kết hôn trước 18 tuổi, với tuổi kết hôn trung bình là 17,8, cho thấy tình trạng tảo hôn phổ biến trong cộng đồng dân tộc Chăm Tuổi mang thai lần đầu trung bình là 18,4, trong đó 83,6% các bà mẹ mang thai dưới 20 tuổi, độ tuổi có nguy cơ cao về tai biến sản khoa và tử vong do thai sản, cũng như suy dinh dưỡng trẻ em Đa số các bà mẹ (71,1%) có từ 1-2 lần mang thai, và 77% đã sinh từ 1 đến 2 con, với khoảng 80,9% các mẹ có từ 1-2 con còn sống.

Khoảng cách đến cơ sở y tế là một yếu tố quan trọng, với 78,9% các bà mẹ có khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế thấp hơn hoặc bằng 5km, chủ yếu tập trung ở các xã Canh Hiệp, Thị trấn Vân Canh, Canh Hòa và Canh Thuận Trong khi đó, 21,1% còn lại có khoảng cách trên 5km, đặc biệt là tại hai thôn Canh Tiến xã Canh Liên và Canh Giao thuộc xã Canh Hiệp, với khoảng cách đến trạm lần lượt là 45 km và 30 km.

Sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong và sau sinh

3.2.1 Sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh

3.2.1.1 Sử dụng dịch vụ khám thai của bà mẹ

Biểu đồ 3 1 Sử dụng dịch vụ khám thai của bà mẹ (n2)

Biểu đồ 3.1 cho thấy các đặc điểm về việc sử dụng dịch vụ khám thai WHO và

Theo khuyến cáo của vụ sức khỏe bà mẹ trẻ em, các bà mẹ cần khám thai ít nhất 4 lần trong suốt thai kỳ Tuy nhiên, trong số 152 bà mẹ dân tộc chăm sinh con năm 2015, chỉ có 42 bà mẹ (27,6%) thực hiện đủ số lần khám thai này Bên cạnh đó, chỉ có 140 bà mẹ (92,1%) sử dụng dịch vụ khám thai, trong khi 95 bà mẹ (62,5%) khám thai từ 3 lần trở lên, và 12 bà mẹ (7,9%) không khám thai lần nào.

Thời điểm khám thai lần đầu rất quan trọng đối với các bà mẹ Kết quả khảo sát cho thấy, trong số 140 bà mẹ đã sử dụng dịch vụ khám thai, 72,3% đã đi khám trong 3 tháng đầu của thai kỳ Chỉ có 25% bà mẹ khám thai lần đầu vào 3 tháng giữa.

Sử dụng dịch vụ trước sinh (n2)

Có khám thai Khám thai từ 3 lần trở lên Khám thai từ 4 lần trở lên

Trong tháng giữa thai kỳ, có tới 8 bà mẹ lần đầu tiên khám thai vào 3 tháng cuối Phỏng vấn sâu cho thấy các bà mẹ thường không chủ động trong việc chọn thời điểm khám thai, mà thường phụ thuộc vào lịch hẹn của bác sĩ, y sỹ hoặc hộ sinh trực tiếp.

Khi đi khám, bác sĩ thường khuyên bệnh nhân nên quay lại sau 3 đến 4 tuần Người bệnh cần ghi nhớ thời gian này để tái khám, trừ khi có triệu chứng bất thường xuất hiện.

Trong một nghiên cứu về dịch vụ khám thai, 140 bà mẹ đã tham gia, cho thấy 77,6% trong số họ đã được khám bởi y sỹ hộ sinh ít nhất một lần, trong khi 52,6% đã được bác sĩ khám Đáng chú ý, không có bà mẹ nào được khám bởi nhân viên y tế thôn bản hoặc bà mụ vườn.

Nơi khám thai là yếu tố quan trọng thể hiện sự chủ động của các bà mẹ trong việc lựa chọn dịch vụ Kết quả khảo sát cho thấy, bệnh viện huyện là địa điểm được 59,2% bà mẹ lựa chọn để khám thai, cho thấy sự tin tưởng vào dịch vụ tại đây.

Theo thống kê, 42,1% các bà mẹ đã sử dụng dịch vụ khám thai ít nhất một lần tại trạm y tế xã Đặc biệt, 37,6% trong số đó đã chọn phòng khám tư nhân hoặc bệnh viện tư nhân để thực hiện khám thai, trong khi chỉ có 1,3% bà mẹ lựa chọn bệnh viện tỉnh cho dịch vụ này.

Nhiều bà mẹ tại thị trấn Vân Canh lựa chọn cơ sở y tế tư nhân tuyến tỉnh, mặc dù phải di chuyển gần 50km bằng xe máy với chi phí cao Họ tin tưởng vào kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh và chất lượng đội ngũ bác sĩ tại các phòng khám tư nhân tuyến tỉnh hơn so với các cơ sở y tế tuyến huyện hay xã.

Mặc dù việc đi khám xa tốn kém từ 200-500 nghìn đồng mỗi lần, nhưng tôi cảm thấy yên tâm hơn vì bác sĩ ở đó có chuyên môn cao hơn Họ sử dụng máy siêu âm màu, giúp xác định rõ giới tính của thai nhi, điều mà ở huyện chỉ có siêu âm đen trắng và bác sĩ không thực hiện kỹ lưỡng.

Nhiều bà mẹ không đi khám thai, trong đó 66,7% cho rằng lý do chính là khoảng cách xa cơ sở y tế.

HUPH cho biết rằng 50% các bà mẹ không đi khám thai vì cảm thấy khỏe mạnh và không thấy cần thiết Đặc biệt, có đến 41,7% (5/12) bà mẹ cho rằng lý do không đi khám là do kiêng cữ hoặc bị người nhà, họ hàng phản đối.

Nhiều bà mẹ cho biết khi đến trạm y tế, họ chỉ nhận được tiêm uốn ván hoặc viên sắt mà không được khám sức khỏe Việc kiêng cử trong thai kỳ thường do mẹ của họ quyết định, với quan niệm rằng chỉ nên đi khám khi có dấu hiệu bất thường Họ tin rằng nếu được các bà mụ hỗ trợ, chỉ cần ăn uống đầy đủ, nghỉ ngơi và lao động nhiều thì việc sinh nở sẽ dễ dàng như các thế hệ trước.

"Ngày trước, không cần khám thai mà vẫn khỏe mạnh, chỉ cần làm việc để thai nhi dễ sinh Quan trọng là có bà mụ hỗ trợ trong lúc đẻ Trong thời gian mang thai, cần cúng các bà mụ để cầu mong sức khỏe cho mẹ và bé, tránh bị ma quấy rối."

Một phụ nữ 33 tuổi ở thị trấn Vân Canh cho biết rằng cô đã đến trạm y tế và gặp nhân viên, nhưng sau khi được hướng dẫn uống thuốc và làm siêu âm, cô đã không quay lại vì cảm thấy thai kỳ của mình diễn ra bình thường và không có vấn đề gì.

3.2.1.2 Sử dụng viên sắt và tiêm phòng uốn ván trong quá trình mang thai

Bảng 3 2 Sử dụng dịch vụ uống viên sắt và tiêm phòng uốn ván Đặc điểm Tần số n2 Tỷ lệ

Sử dụng viên sắt Có 140 92,1

Thời gian sử dụng viên sắt

Số lần tiêm uốn ván trước đây

Tiêm uốn ván trong lần mang thai cháu sinh 2015

Tiêm đủ uốn ván (2 mũi nếu trước đó chưa tiêm, 1 mũi nếu trước đó đã tiêm)

Theo hướng dẫn của Chuẩn quốc gia Chăm sóc sức khỏe sinh sản/KHHGĐ, bà mẹ nên bắt đầu uống viên sắt/Acid Folic càng sớm càng tốt, với liều 1 viên mỗi ngày trong suốt thời kỳ mang thai, kéo dài ít nhất 10 tháng từ khi phát hiện có thai đến sau sinh ít nhất 1 tháng để phòng chống thiếu máu Trong một nghiên cứu với 152 bà mẹ, 92% cho biết đã sử dụng viên sắt trong thai kỳ, với thời gian sử dụng phổ biến từ 4-6 tháng, và trung bình mỗi bà mẹ uống viên sắt trong 5 tháng.

Các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng dịch vụ trước, trong và sau sinh

Bảng 3 3 Mối liên quan giữa yếu tố cá nhân người mẹ với sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong và sau sinh Đặc điểm

Trước sinh Trong sinh Khám trong vòng 42 ngày

Khám thai từ 4 lần trở lên Người khác CBYT đỡ đẻ Không Có n % n % n % n % n % n %

OR = 1,77; CI = 0,73 – 4,26; p = 0,2 Trình độ học vấn

OR = 2,29; CI = 1,05 – 4,98; p = 0,035 Tuổi kết hôn

OR = 2,09; CI = 1,05 – 4,16; p = 0,034* Điều kiện kinh tế

OR = 2,25; CI = 0,9 – 5,62 ; p = 0,077 Khoảng cách từ nhà đến TYT

Kết quả hồi quy logistic đơn biến chỉ ra rằng có mối liên hệ giữa các yếu tố cá nhân của người mẹ, bao gồm trình độ học vấn, nghề nghiệp, tuổi kết hôn và khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế gần nhất, với việc sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong và sau sinh.

Các bà mẹ có trình độ học vấn dưới tiểu học có khả năng không sử dụng dịch vụ khám thai 4 lần trở lên cao gấp 2,65 lần so với các bà mẹ có trình độ học vấn từ tiểu học trở lên (95% CI = 1,08 – 6,51; p = 0,030) Họ cũng có khả năng không đến cơ sở y tế để sinh con cao gấp 5,38 lần so với các bà mẹ có trình độ học vấn trên tiểu học (95% CI = 1,21-23,9; p = 0,015) Tuy nhiên, không tìm thấy mối liên quan giữa trình độ học vấn của người mẹ với việc sử dụng dịch vụ thăm khám 42 ngày sau sinh.

Nghiên cứu cho thấy rằng các bà mẹ làm nông có khả năng không đi khám thai đầy đủ cao hơn 2,63 lần so với các bà mẹ làm nghề khác (95% CI: 1,11- 6,21; p = 0,025) Hơn nữa, họ cũng có khả năng không đi thăm khám sau sinh trong 42 ngày cao gấp 2,29 lần so với các bà mẹ làm nghề khác (95% CI: 1,05 - 4,98; p = 0,035) Tuy nhiên, không có mối liên quan nào được tìm thấy giữa nghề nghiệp và việc sử dụng dịch vụ đỡ đẻ của mẹ.

Bà mẹ kết hôn sớm, tức là dưới 18 tuổi, có khả năng không đi khám thai đầy đủ cao gấp 2,7 lần so với bà mẹ kết hôn từ 18 tuổi trở lên, với khoảng tin cậy 95% là từ 1,16 đến 5,04 và giá trị p là 0,017.

Bà mẹ kết hôn dưới 18 tuổi có nguy cơ không đi thăm khám 42 ngày sau sinh cao gấp 2,09 lần so với bà mẹ từ 18 tuổi trở lên (p=0,034) Không có mối liên quan giữa tuổi kết hôn của mẹ và việc sử dụng dịch vụ y tế đỡ đẻ Các bà mẹ thuộc diện nghèo có khả năng không sử dụng dịch vụ y tế đỡ đẻ cao gấp 4,77 lần so với những bà mẹ có điều kiện kinh tế trung bình trở lên (p=0,026) Ngoài ra, bà mẹ nghèo cũng có nguy cơ không đi thăm khám 42 ngày sau sinh cao gấp 2,25 lần so với bà mẹ có điều kiện kinh tế từ trung bình trở lên (p=0,077) Không tìm thấy mối liên quan giữa điều kiện kinh tế của bà mẹ và việc sử dụng dịch vụ khám thai đầy đủ.

Khoảng cách từ nhà đến Trạm y tế gần nhất ảnh hưởng lớn đến việc khám thai và sử dụng dịch vụ y tế Cụ thể, các bà mẹ có khoảng cách từ nhà đến Trạm y tế lớn hơn 5 km có khả năng không đi khám thai 4 lần trở lên cao gấp 7,5 lần so với những bà mẹ có khoảng cách ≤ 5 km, với p = 0,008 và 95% CI = 1,71 – 12,9 Hơn nữa, khả năng không sử dụng dịch vụ nhân viên y tế đỡ đẻ của các bà mẹ này cũng cao gấp 3,9 lần so với những bà mẹ có khoảng cách gần hơn, với p = 0,001.

Các bà mẹ có khoảng cách từ nhà đến Trạm y tế gần nhất lớn hơn 5km có khả năng không đi thăm khám 42 ngày sau sinh cao gấp 2,6 lần so với các bà mẹ có khoảng cách nhỏ hơn hoặc bằng 5km Kết quả này có ý nghĩa thống kê với p = 0,046 và khoảng tin cậy 95% là 1,99 – 6,8.

Có 2 địa bàn thôn thuộc 2 xã Canh Liên và Canh Hiệp tham gia nghiên cứu có khoảng cách xa nhất từ nhà đến trạm y tế xã với giao thông không thuận lợi, trong đó, làng Canh Giao cách trạm y tế hơn 30km và làng Canh Tiến xã Canh Liên cách trạm đến hơn 45km, vì thế việc di chuyển đến trạm y tế hoặc bệnh viện huyện gặp khó khăn

PVS chỉ ra rằng, đường sá xa xôi và giao thông không thuận lợi là những rào cản lớn khiến các bà mẹ khó tiếp cận cơ sở y tế Đặc biệt, những bà mẹ không có người hỗ trợ thường chỉ đến Trạm y tế khi có thể kết hợp với các hoạt động khác như tiêm chủng.

Nhiều người thường ngại đi khám thai do lười biếng, bụng to khiến việc đi bộ trở nên khó khăn, và ít ai có thể chở họ đến bệnh viện Tuy nhiên, việc khám thai là rất quan trọng và không tốn chi phí.

Phụ nữ ở xã Canh Liên phải di chuyển hơn 45 cây số để đến trạm y tế, và nhiều người không thể tự đi mà phải nhờ người nhà chở Đường đi khó khăn khiến họ lo lắng, vì vậy mỗi khi cảm thấy khỏe mạnh, họ đều cảm thấy vui mừng.

Khi có cán bộ trạm đến tiêm chủng, họ thường khám sức khỏe ngay tại chỗ, vì việc di chuyển ra ngoài quá xa là không khả thi.

Trước sinh Trong sinh Sau sinh

Khám thai dưới 4 lần Khám thai từ 4 lần trở lên Người khác CBYT đỡ đẻ Không Có n % n % n % n % n % n %

Tuổi lần đầu mang thai

Mô hình hồi quy logistic đơn biến cho thấy mối liên quan giữa tiền sử sinh đẻ của người mẹ và việc sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong và sau sinh Kết quả chỉ ra rằng số lần sinh và số con còn sống của người mẹ có ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ của nhân viên y tế đỡ đẻ.

Các bà mẹ mang thai lần đầu trên 20 tuổi có khả năng không sử dụng dịch vụ y tế khám thai 4 lần trở lên cao gấp 1,46 lần so với các bà mẹ dưới 20 tuổi, với p = 0,045 và 95% CI = 0,17-1,99 Tuy nhiên, không có mối liên quan nào giữa tuổi lần đầu mang thai và việc sử dụng dịch vụ y tế đỡ đẻ bởi nhân viên y tế cũng như thăm khám 42 ngày sau sinh.

Các bà mẹ có số lần mang thai từ 2 lần trở lên có khả năng không sử dụng dịch vụ nhân viên y tế đẻ cao gấp 2,18 lần so với các bà mẹ mang thai dưới 2 lần (p = 0,038, 95% CI: 1,04-4,6) Tuy nhiên, không tìm thấy mối liên quan giữa số lần mang thai của bà mẹ với việc sử dụng dịch vụ y tế khám thai và thăm khám 42 ngày sau sinh Đối với các bà mẹ có số lần sinh từ 2 lần trở xuống, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,001, 95% CI: 1,68-8,2), nhưng cũng không phát hiện mối liên quan giữa số lần sinh và việc sử dụng dịch vụ y tế khám thai cũng như thăm khám 42 ngày sau sinh.

BÀN LUẬN

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. 1. Tỷ số tử vong bà mẹ theo vùng theo WHO - Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong, sau sinh và một số yếu tố ảnh hưởng của bà mẹ dân tộc chăm huyện vân canh, tỉnh bình định năm 2015
Bảng 1. 1. Tỷ số tử vong bà mẹ theo vùng theo WHO (Trang 14)
Bảng 1. 2.  Số lần khám thai của phụ nữ 15-49 tuổi có con sinh ra sống trong 2 - Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong, sau sinh và một số yếu tố ảnh hưởng của bà mẹ dân tộc chăm huyện vân canh, tỉnh bình định năm 2015
Bảng 1. 2. Số lần khám thai của phụ nữ 15-49 tuổi có con sinh ra sống trong 2 (Trang 20)
Bảng 3. 1.  Các đặc trưng cá nhân của đối tượng nghiên cứu - Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong, sau sinh và một số yếu tố ảnh hưởng của bà mẹ dân tộc chăm huyện vân canh, tỉnh bình định năm 2015
Bảng 3. 1. Các đặc trưng cá nhân của đối tượng nghiên cứu (Trang 47)
Bảng 3. 2. Sử dụng dịch vụ uống viên sắt và tiêm phòng uốn ván - Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong, sau sinh và một số yếu tố ảnh hưởng của bà mẹ dân tộc chăm huyện vân canh, tỉnh bình định năm 2015
Bảng 3. 2. Sử dụng dịch vụ uống viên sắt và tiêm phòng uốn ván (Trang 51)
Bảng 3. 3. Mối liên quan giữa yếu tố cá nhân người mẹ với sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong và sau sinh - Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong, sau sinh và một số yếu tố ảnh hưởng của bà mẹ dân tộc chăm huyện vân canh, tỉnh bình định năm 2015
Bảng 3. 3. Mối liên quan giữa yếu tố cá nhân người mẹ với sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong và sau sinh (Trang 56)
Bảng 3. 5. Mô hình hồi quy đa biến giữa khám thai đầy đủ của bà mẹ với một số - Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong, sau sinh và một số yếu tố ảnh hưởng của bà mẹ dân tộc chăm huyện vân canh, tỉnh bình định năm 2015
Bảng 3. 5. Mô hình hồi quy đa biến giữa khám thai đầy đủ của bà mẹ với một số (Trang 63)
Bảng 3. 6. Mô hình hồi quy đa biến liên quan giữa các yếu tố cá nhân của mẹ với - Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc trước, trong, sau sinh và một số yếu tố ảnh hưởng của bà mẹ dân tộc chăm huyện vân canh, tỉnh bình định năm 2015
Bảng 3. 6. Mô hình hồi quy đa biến liên quan giữa các yếu tố cá nhân của mẹ với (Trang 64)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w