ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng: các phẫu thuật viên, bác sĩ gây mê, phụ mổ, điều dưỡng dụng cụ, điều dưỡng gây mê có tham gia vào ca phẫu thuật
- Đối tượng đích: phẫu thuật viên, bác sĩ gây mê, phụ mổ, điều dưỡng dụng cụ, điều dưỡng gây mê
- Đối tượng liên quan: Giám đốc, trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp, trưởng phòng Quản lý chất lượng, trưởng khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn
Bác sĩ và điều dưỡng có trình độ trung cấp trở lên là nhân viên chính thức tại bệnh viện Tai Mũi Họng, làm việc tại khoa Phẫu thuật và các khoa lâm sàng khác Ngoài ra, giảng viên, nghiên cứu sinh, bác sĩ nội trú, chuyên khoa I, chuyên khoa II và cao học cũng tham gia làm việc và thực tập tại bệnh viện, được phép tham gia vào các ca phẫu thuật.
Đối tượng tham gia nghiên cứu sẽ được mời sau khi quan sát thực hành xong Quá trình này bao gồm việc phát phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu, cũng như tiến hành phỏng vấn để thu thập thông tin về kiến thức và thái độ của họ, đồng thời thực hiện nghiên cứu định tính.
Bác sĩ, điều dưỡng dụng cụ, điều dưỡng gây mê vắng mặt tại thời gian nghiên cứu hoặc không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: tháng 5 - 10/2019 tại khoa Phẫu thuật bệnh viện Tai Mũi Họng thành phố Hồ Chí Minh
2.3 Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích Nghiên cứu kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng với nghiên cứu định tính
2.4.1 Mẫu cho nghiên cứu định lượng
Mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 60 người tham gia vào ca phẫu thuật tại khoa Phẫu thuật, bao gồm phẫu thuật viên, phụ mổ, điều dưỡng dụng cụ, bác sĩ gây mê và điều dưỡng gây mê Mỗi người được chọn dựa trên ca mổ đầu tiên trong một buổi (sáng hoặc chiều) và đã được quan sát 4 lần trong 4 buổi khác nhau để đảm bảo độ chính xác cao.
Bảng 2.1 Số lượng nhân viên y tế ở các khoa tham gia vào nghiên cứu Đối tượng Khoa Số lượng
1 PTV chính, phụ Tai thần kinh 9
Nhóm bác sĩ đi học, giảng viên 7
2 Bác sĩ gây mê Phẫu thuật 4
2.4.2 Mẫu cho nghiên cứu định tính
Trong bài thảo luận nhóm, có hai nhóm đối tượng tham gia: Nhóm 1 bao gồm phẫu thuật viên chính và bác sĩ gây mê với 6 thành viên, trong khi Nhóm 2 gồm phụ mổ, bao gồm phẫu thuật viên phụ và điều dưỡng dụng cụ, đại diện cho các khoa trong bệnh viện Các nhóm này sẽ thảo luận theo nội dung hướng dẫn đã được đề ra.
Bài viết này trình bày kết quả của 4 cuộc phỏng vấn sâu với các chuyên gia trong lĩnh vực y tế, bao gồm Giám đốc bệnh viện, trưởng phòng Quản lý chất lượng, trưởng khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn và trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp Những cuộc phỏng vấn này nhằm thu thập thông tin quý giá về quy trình quản lý chất lượng và kiểm soát nhiễm khuẩn trong bệnh viện, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động và chất lượng dịch vụ y tế.
2.5.1 Đối với nghiên cứu định lượng :
Nghiên cứu đã chọn mẫu toàn bộ 60 phẫu thuật viên, bác sĩ gây mê, phụ mổ, điều dưỡng dụng cụ và điều dưỡng gây mê Tất cả thông tin của các chuyên gia y tế này được mã hóa trên máy tính lưu dữ liệu và trên bảng kiểm đánh giá tuân thủ rửa tay.
2.5.2 Đối với nghiên cứu định tính:
Chọn mẫu thuận tiện cho nghiên cứu bao gồm các phẫu thuật viên, bác sĩ gây mê, phụ mổ và điều dưỡng, được mời đại diện cho từng khoa Những người tham gia được chọn ngẫu nhiên và chia thành hai nhóm: nhóm phẫu thuật viên chính - bác sĩ gây mê và nhóm phụ mổ.
2.6 Phương pháp thu nhập số liệu
2.6.1 Quan sát thực hành RTNK
Nhóm nghiên cứu đã quan sát nhân viên y tế thực hiện rửa tay bằng dung dịch xà phòng khử khuẩn trước ca phẫu thuật đầu tiên trong ngày, bao gồm cả buổi sáng và chiều Họ đã điền vào bảng kiểm để đảm bảo rằng phẫu thuật viên thực hiện đầy đủ các bước của quy trình rửa tay theo hướng dẫn 3916/QĐ-BYT.
Nhóm nghiên cứu đã áp dụng bộ công cụ đánh giá sự tuân thủ rửa tay theo hướng dẫn RTNK trong quyết định 3916/QĐ-BYT, tập trung quan sát tại khu vực rửa tay của khoa Phẫu thuật Để không gây sự chú ý cho nhân viên y tế, thời gian rửa tay được quy định cho mỗi người là 4 - 5 phút Mỗi đối tượng sẽ được quan sát 4 lần trong suốt thời gian nghiên cứu, và mỗi lần quan sát sẽ được ghi chép vào một bảng kiểm riêng.
2.6.2 Phát vấn điều tra kiến thức và thái độ về quy trình RTNK mới
Sau khi quan sát đủ 4 lần, người tham gia nghiên cứu sẽ được mời điền vào bảng thăm dò kiến thức và thái độ về RTNK, với thời gian phát vấn và thu thập khoảng 15 phút Bảng câu hỏi được thiết kế dựa trên kiến thức về NKBV và quy định RTNK theo hướng dẫn 3916/QĐ-BYT, cho phép bác sĩ và điều dưỡng tự trả lời (phụ lục 3).
2.7 Các biến số nghiên cứu Đối với nghiên cứu định lượng
- Thông tin chung: tuổi, giới, khoa, nghề nghiệp, trình độ học vấn
- Kiến thức của nhân viên y tế về RTNK
- Thái độ của nhân viên y tế về RTNK
- Mô tả thực hành RTNK của nhân viên y tế
Các chủ đề nghiên cứu định tính
Nội dung nghiên cứu trong phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm nhằm đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ VST ngoại khoa như sau:
Tiếp nhận thông tin về RTNK:
- Vấn đề đào tạo, tập huấn về RTNK tại bệnh viện cho nhân viên y tế: hình thức, nội dung và thời gian đào tạo
- Hiệu quả của đào tạo đến thái độ và tuân thủ thực hành RTNK
Yếu tố tổ chức, quản lý
- Các văn bản, thông tư, quy định về RTNK
- Việc triển khai các văn bản tại bệnh viện như thế nào
Việc giám sát và kiểm tra sự tuân thủ thực hành RTNK đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng và hiệu quả Cần phân công nhân lực có trách nhiệm chính trong công tác giám sát, đồng thời đặt ra yêu cầu rõ ràng đối với nhân viên thực hiện nhiệm vụ này.
- Ảnh hưởng của kiểm soát nhiễm khuẩn đến thái độ và thực hành RTNK của nhân viên y tế
- Các giải pháp để nâng cao kiến thức, kỹ năng thực hành tuân thủ quy trình RTNK theo hướng dẫn mới của Bộ Y tế
Hiệu quả của các hình thức thưởng phạt, chế tài, động viên và khuyến khích đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi thái độ và nâng cao sự tuân thủ thực hành RTNK của nhân viên y tế Bên cạnh đó, trang thiết bị, cơ sở vật chất và hóa chất cũng ảnh hưởng đáng kể đến việc tuân thủ quy trình RTNK, góp phần tạo ra môi trường làm việc an toàn và hiệu quả cho nhân viên y tế.
- Tính sẵn có của trang thiết bị phục vụ RTNK
- Khả năng tiếp cận phương tiện RTNK của nhân viên y tế
Mong muốn của nhân viên y tế như thế nào để thực hiện tốt RTNK
2.8 Tiêu chuẩn đánh giá Đánh giá tuân thủ rửa tay vô khuẩn ngoại khoa (Biến số chính)
Quy trình rửa tay vô khuẩn ngoại khoa bao gồm [10]:
Không đạt (0 điểm) Bước 1 Đánh kẽ móng tay bằng bàn chải (30 giây) 4đ
1b Lấy 3-5ml dung dịch xà phòng vào bàn chải 1đ
1c Cọ sạch kẽ móng tay bằng bàn chải 1đ
1d Rửa sạch tay dưới vòi nước, bàn tay thấp hơn khuỷu 1đ
Bước 2 Rửa tay lần 1 (1 phút 30 giây) 10đ
2a Làm ướt bàn tay tới khuỷu 1đ
2b Lấy 3-5ml dung dịch khử khuẩn vào lòng bàn tay 1đ
2c Chà tay như RTTQ (chà lòng bàn tay, mu bàn tay, kẽ ngón, mu ngón, ngón cái, đầu ngón tay) 6đ
2d Chà cổ tay tới cẳng tay, khuỷu tay 1đ
2e Tráng tay dưới vòi nước theo trình tự đầu ngón tay tới khuỷu, loại bỏ hoàn toàn xà phòng trên tay 1đ
Bước 3 Rửa tay lần 2 (tương tự lần 1 - 1 phút 30 giây) 10đ
3a Làm ướt bàn tay tới khuỷu tay 1đ
3b Lấy 3-5ml dung dịch khử khuẩn vào lòng bàn tay 1đ
3c Chà tay như RTTQ (chà lòng bàn tay, mu bàn tay, kẽ ngón, mu ngón, ngón cái, đầu ngón tay) 6đ
3d Chà cổ tay tới cẳng tay, khuỷu tay 1đ
3e Tráng tay dưới vòi nước theo trình tự đầu ngón tay tới khuỷu, loại bỏ hoàn toàn xà phòng trên tay 1đ
4a Chỉ lau khô bàn tay 2đ
4b Lau khô toàn bộ bàn tay, cổ tay, cẳng, khuỷu tay 6đ
Đánh giá thực hành RTNK của nhân viên y tế tại HUPH được thực hiện thông qua phương pháp quan sát Điểm số đạt được khi nhân viên y tế thực hiện các bước trong bảng kiểm.
Khi đạt 30 điểm (100%), nhân viên y tế sẽ được đánh giá là “đạt yêu cầu” Mỗi nhân viên sẽ trải qua 4 lần quan sát trong nghiên cứu, và tất cả các lần quan sát này sẽ được đánh giá.
Tỉ lệ tuân thủ RTNK được tính toán dựa trên công thức tham khảo từ tài liệu đánh giá tuân thủ rửa tay của WHO [53].
Cỡ mẫu
2.4.1 Mẫu cho nghiên cứu định lượng
Mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 60 người tham gia vào ca phẫu thuật tại khoa Phẫu thuật, bao gồm phẫu thuật viên, phụ mổ, điều dưỡng dụng cụ, bác sĩ gây mê và điều dưỡng gây mê Mỗi người được chọn dựa trên ca mổ đầu tiên trong một buổi (sáng hoặc chiều) và đã được quan sát 4 lần trong 4 buổi khác nhau để đảm bảo độ chính xác cao.
Bảng 2.1 Số lượng nhân viên y tế ở các khoa tham gia vào nghiên cứu Đối tượng Khoa Số lượng
1 PTV chính, phụ Tai thần kinh 9
Nhóm bác sĩ đi học, giảng viên 7
2 Bác sĩ gây mê Phẫu thuật 4
2.4.2 Mẫu cho nghiên cứu định tính
Trong bài thảo luận nhóm, có hai nhóm đối tượng tham gia: Nhóm 1 bao gồm phẫu thuật viên chính và bác sĩ gây mê với tổng cộng 6 người, trong khi Nhóm 2 là phụ mổ, gồm phẫu thuật viên phụ và điều dưỡng dụng cụ, đại diện cho các khoa trong bệnh viện Các nhóm này sẽ thảo luận theo nội dung hướng dẫn đã được đề ra.
Bài viết này trình bày kết quả của 4 cuộc phỏng vấn sâu với các chuyên gia trong lĩnh vực y tế, bao gồm Giám đốc bệnh viện, trưởng phòng Quản lý chất lượng, trưởng khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn và trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp Những cuộc phỏng vấn này nhằm thu thập thông tin quý giá về quy trình quản lý chất lượng và kiểm soát nhiễm khuẩn trong bệnh viện, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động và chất lượng dịch vụ y tế.
Phương pháp chọn mẫu
2.5.1 Đối với nghiên cứu định lượng :
Nghiên cứu đã chọn mẫu toàn bộ 60 phẫu thuật viên, bác sĩ gây mê, phụ mổ, điều dưỡng dụng cụ và điều dưỡng gây mê Tất cả thông tin của các chuyên gia y tế này được mã hóa trên máy tính lưu dữ liệu và trên bảng kiểm đánh giá tuân thủ rửa tay.
2.5.2 Đối với nghiên cứu định tính:
Chọn mẫu thuận tiện cho nghiên cứu bao gồm các phẫu thuật viên, bác sĩ gây mê, phụ mổ, điều dưỡng dụng cụ và điều dưỡng gây mê Những người này được mời đại diện cho từng khoa và tham gia một cách ngẫu nhiên, sau đó được chia thành hai nhóm: nhóm phẫu thuật viên chính - bác sĩ gây mê và nhóm phụ mổ.
Phương pháp thu nhập số liệu
2.6.1 Quan sát thực hành RTNK
Nhóm nghiên cứu đã quan sát nhân viên y tế thực hiện rửa tay bằng dung dịch xà phòng khử khuẩn trước ca phẫu thuật đầu tiên trong ngày, bao gồm cả buổi sáng và chiều Họ đã điền vào bảng kiểm để đảm bảo rằng phẫu thuật viên thực hiện đầy đủ các bước của quy trình rửa tay theo hướng dẫn 3916/QĐ-BYT.
Nhóm nghiên cứu đã áp dụng bộ công cụ đánh giá sự tuân thủ rửa tay theo hướng dẫn RTNK trong quyết định 3916/QĐ-BYT, tập trung quan sát tại khu vực rửa tay của khoa Phẫu thuật Để hạn chế sự chú ý từ nhân viên y tế, thời gian rửa tay được quy định cho mỗi người là 4 - 5 phút Mỗi đối tượng sẽ được quan sát 4 lần trong suốt thời gian nghiên cứu, và mỗi lần quan sát sẽ được ghi chép vào một bảng kiểm riêng.
2.6.2 Phát vấn điều tra kiến thức và thái độ về quy trình RTNK mới
Sau khi quan sát đủ 4 lần, người tham gia nghiên cứu sẽ được mời điền vào bảng thăm dò kiến thức và thái độ về RTNK, với thời gian phát vấn và thu thập khoảng 15 phút Bảng câu hỏi được thiết kế dựa trên kiến thức về NKBV và quy định RTNK theo hướng dẫn 3916/QĐ-BYT, cho phép bác sĩ và điều dưỡng tự trả lời (phụ lục 3).
2.7 Các biến số nghiên cứu Đối với nghiên cứu định lượng
- Thông tin chung: tuổi, giới, khoa, nghề nghiệp, trình độ học vấn
- Kiến thức của nhân viên y tế về RTNK
- Thái độ của nhân viên y tế về RTNK
- Mô tả thực hành RTNK của nhân viên y tế
Các chủ đề nghiên cứu định tính
Nội dung nghiên cứu trong phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm nhằm đánh giá một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ VST ngoại khoa như sau:
Tiếp nhận thông tin về RTNK:
- Vấn đề đào tạo, tập huấn về RTNK tại bệnh viện cho nhân viên y tế: hình thức, nội dung và thời gian đào tạo
- Hiệu quả của đào tạo đến thái độ và tuân thủ thực hành RTNK
Yếu tố tổ chức, quản lý
- Các văn bản, thông tư, quy định về RTNK
- Việc triển khai các văn bản tại bệnh viện như thế nào
Việc giám sát và kiểm tra sự tuân thủ thực hành RTNK đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng và hiệu quả Cần phân công nhân lực có trách nhiệm chính trong công tác giám sát, đồng thời đặt ra yêu cầu rõ ràng đối với nhân viên thực hiện nhiệm vụ này.
- Ảnh hưởng của kiểm soát nhiễm khuẩn đến thái độ và thực hành RTNK của nhân viên y tế
- Các giải pháp để nâng cao kiến thức, kỹ năng thực hành tuân thủ quy trình RTNK theo hướng dẫn mới của Bộ Y tế
Hiệu quả của các hình thức thưởng phạt, chế tài, động viên và khuyến khích đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi thái độ và nâng cao sự tuân thủ thực hành RTNK của nhân viên y tế Bên cạnh đó, trang thiết bị, cơ sở vật chất và hóa chất cũng có ảnh hưởng đáng kể đến việc tuân thủ quy trình RTNK, góp phần tạo ra môi trường làm việc an toàn và hiệu quả cho nhân viên y tế.
- Tính sẵn có của trang thiết bị phục vụ RTNK
- Khả năng tiếp cận phương tiện RTNK của nhân viên y tế
Mong muốn của nhân viên y tế như thế nào để thực hiện tốt RTNK
2.8 Tiêu chuẩn đánh giá Đánh giá tuân thủ rửa tay vô khuẩn ngoại khoa (Biến số chính)
Quy trình rửa tay vô khuẩn ngoại khoa bao gồm [10]:
Không đạt (0 điểm) Bước 1 Đánh kẽ móng tay bằng bàn chải (30 giây) 4đ
1b Lấy 3-5ml dung dịch xà phòng vào bàn chải 1đ
1c Cọ sạch kẽ móng tay bằng bàn chải 1đ
1d Rửa sạch tay dưới vòi nước, bàn tay thấp hơn khuỷu 1đ
Bước 2 Rửa tay lần 1 (1 phút 30 giây) 10đ
2a Làm ướt bàn tay tới khuỷu 1đ
2b Lấy 3-5ml dung dịch khử khuẩn vào lòng bàn tay 1đ
2c Chà tay như RTTQ (chà lòng bàn tay, mu bàn tay, kẽ ngón, mu ngón, ngón cái, đầu ngón tay) 6đ
2d Chà cổ tay tới cẳng tay, khuỷu tay 1đ
2e Tráng tay dưới vòi nước theo trình tự đầu ngón tay tới khuỷu, loại bỏ hoàn toàn xà phòng trên tay 1đ
Bước 3 Rửa tay lần 2 (tương tự lần 1 - 1 phút 30 giây) 10đ
3a Làm ướt bàn tay tới khuỷu tay 1đ
3b Lấy 3-5ml dung dịch khử khuẩn vào lòng bàn tay 1đ
3c Chà tay như RTTQ (chà lòng bàn tay, mu bàn tay, kẽ ngón, mu ngón, ngón cái, đầu ngón tay) 6đ
3d Chà cổ tay tới cẳng tay, khuỷu tay 1đ
3e Tráng tay dưới vòi nước theo trình tự đầu ngón tay tới khuỷu, loại bỏ hoàn toàn xà phòng trên tay 1đ
4a Chỉ lau khô bàn tay 2đ
4b Lau khô toàn bộ bàn tay, cổ tay, cẳng, khuỷu tay 6đ
Đánh giá thực hành RTNK của nhân viên y tế tại HUPH được thực hiện thông qua phương pháp quan sát Điểm số đạt được khi nhân viên y tế thực hiện các bước trong bảng kiểm.
Khi đạt 30 điểm (100%), nhân viên y tế sẽ được đánh giá là “đạt yêu cầu” Mỗi nhân viên sẽ trải qua 4 lần quan sát trong quá trình nghiên cứu, và tất cả các lần quan sát này sẽ được đánh giá.
Tỉ lệ tuân thủ RTNK được tính toán dựa trên công thức tham khảo từ tài liệu đánh giá tuân thủ rửa tay của WHO [53].
Tỉ lệ tuân thủ được tính bằng công thức: Số lần tuân thủ RTNK nhân với 100, chia cho tổng số cơ hội quan sát được Đánh giá kiến thức về RTNK của nhân viên y tế được thực hiện qua 20 câu hỏi, trong đó mỗi câu trả lời đúng sẽ được 1 điểm, với tổng điểm tối đa là 20 Nhân viên y tế được coi là có kiến thức đạt yêu cầu khi đạt từ 13 điểm trở lên, tương đương với việc trả lời đúng ít nhất 13/20 câu hỏi.
Đánh giá thái độ về vệ sinh tay của nhân viên y tế được thực hiện qua 8 câu hỏi, với tổng điểm tối đa là 8 Câu trả lời được phân loại theo thang đo Likert 3 mức: không đồng ý, không có ý kiến, và đồng ý Nhân viên y tế được xem là có thái độ tích cực nếu đạt từ 6 điểm trở lên, trong khi điểm dưới 6 được coi là thái độ không tích cực.
2.9 Phương pháp phân tích số liệu
Sau khi thu thập, các số liệu sẽ được kiểm tra và làm sạch lỗi, mã hóa, cũng như ghép cặp phiếu phát vấn về kiến thức và thái độ với bảng kiểm quan sát thực hành.
Tất cả thông tin được nhập vào máy tính thông qua phần mềm Epi Data 3.1 và được xử lý bằng SPSS 18.0, áp dụng các phương pháp thống kê thông thường để phân tích Kiểm định χ² được sử dụng để khảo sát mối liên quan giữa việc tuân thủ rửa tay và các yếu tố khác, với p < 0,05 cho thấy ý nghĩa thống kê (khoảng tin cậy 95%).
Bản ghi âm nội dung thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu được gỡ băng, mã hóa theo chủ đề và trích dẫn theo mục tiêu nghiên cứu
2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện với sự đồng ý của Ban Giám đốc bệnh viện và các phòng chức năng, sau khi được Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế công cộng phê duyệt Đối tượng nghiên cứu được thông báo rõ ràng về mục đích và nội dung nghiên cứu, và tham gia hoàn toàn tự nguyện Dữ liệu thu thập chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, với thông tin cá nhân được mã hóa và bảo mật Trong quá trình phỏng vấn, đối tượng có quyền từ chối câu hỏi và có thể dừng phỏng vấn bất cứ lúc nào mà không bị áp lực Kết quả nghiên cứu sẽ được phản hồi đến Ban Giám đốc bệnh viện và lãnh đạo các khoa để cải thiện tình hình RTNK của nhân viên y tế.
Tiêu chuẩn đánh giá
Đánh giá tuân thủ rửa tay vô khuẩn ngoại khoa (Biến số chính)
Quy trình rửa tay vô khuẩn ngoại khoa bao gồm [10]:
Không đạt (0 điểm) Bước 1 Đánh kẽ móng tay bằng bàn chải (30 giây) 4đ
1b Lấy 3-5ml dung dịch xà phòng vào bàn chải 1đ
1c Cọ sạch kẽ móng tay bằng bàn chải 1đ
1d Rửa sạch tay dưới vòi nước, bàn tay thấp hơn khuỷu 1đ
Bước 2 Rửa tay lần 1 (1 phút 30 giây) 10đ
2a Làm ướt bàn tay tới khuỷu 1đ
2b Lấy 3-5ml dung dịch khử khuẩn vào lòng bàn tay 1đ
2c Chà tay như RTTQ (chà lòng bàn tay, mu bàn tay, kẽ ngón, mu ngón, ngón cái, đầu ngón tay) 6đ
2d Chà cổ tay tới cẳng tay, khuỷu tay 1đ
2e Tráng tay dưới vòi nước theo trình tự đầu ngón tay tới khuỷu, loại bỏ hoàn toàn xà phòng trên tay 1đ
Bước 3 Rửa tay lần 2 (tương tự lần 1 - 1 phút 30 giây) 10đ
3a Làm ướt bàn tay tới khuỷu tay 1đ
3b Lấy 3-5ml dung dịch khử khuẩn vào lòng bàn tay 1đ
3c Chà tay như RTTQ (chà lòng bàn tay, mu bàn tay, kẽ ngón, mu ngón, ngón cái, đầu ngón tay) 6đ
3d Chà cổ tay tới cẳng tay, khuỷu tay 1đ
3e Tráng tay dưới vòi nước theo trình tự đầu ngón tay tới khuỷu, loại bỏ hoàn toàn xà phòng trên tay 1đ
4a Chỉ lau khô bàn tay 2đ
4b Lau khô toàn bộ bàn tay, cổ tay, cẳng, khuỷu tay 6đ
Đánh giá thực hành RTNK của nhân viên y tế tại HUPH được thực hiện thông qua phương pháp quan sát Điểm số đạt được khi nhân viên y tế thực hiện các bước trong bảng kiểm.
Khi đạt 30 điểm (100%), nhân viên y tế sẽ được đánh giá là “đạt yêu cầu” Mỗi nhân viên sẽ trải qua 4 lần quan sát và tất cả các lần này sẽ được đánh giá.
Tỉ lệ tuân thủ RTNK được tính toán dựa trên công thức tham khảo từ tài liệu đánh giá tuân thủ rửa tay của WHO [53].
Tỉ lệ tuân thủ được tính bằng công thức: Số lần tuân thủ RTNK nhân với 100, chia cho tổng số cơ hội quan sát được Để đánh giá kiến thức về RTNK của nhân viên y tế, có 20 câu hỏi được đưa ra, trong đó mỗi câu trả lời đúng sẽ được 1 điểm, với tổng điểm tối đa là 20 Nhân viên y tế được coi là có kiến thức đạt yêu cầu khi đạt từ 13 điểm trở lên, tương đương với việc trả lời đúng ít nhất 13/20 câu hỏi.
Đánh giá thái độ về vệ sinh tay của nhân viên y tế được thực hiện qua 8 câu hỏi, với tổng điểm tối đa là 8 Câu trả lời được phân loại theo thang đo Likert 3 mức: không đồng ý, không có ý kiến, và đồng ý Nhân viên y tế được xem là có thái độ tích cực nếu đạt từ 6 điểm trở lên, trong khi thái độ không tích cực được xác định khi điểm số dưới 6.
Phương pháp phân tích số liệu
Sau khi thu thập, các số liệu sẽ được kiểm tra và làm sạch lỗi, mã hóa, cũng như ghép cặp phiếu phát vấn về kiến thức và thái độ, cùng với bảng kiểm quan sát thực hành.
Tất cả thông tin được nhập vào máy tính thông qua phần mềm Epi Data 3.1 và được xử lý bằng SPSS 18.0, áp dụng các phương pháp thống kê thông thường để phân tích Kiểm định χ² được sử dụng để khảo sát mối liên quan giữa việc tuân thủ rửa tay và các yếu tố khác, với p < 0,05 cho thấy ý nghĩa thống kê (khoảng tin cậy 95%).
Bản ghi âm nội dung thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu được gỡ băng, mã hóa theo chủ đề và trích dẫn theo mục tiêu nghiên cứu.
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện với sự đồng ý của Ban Giám đốc bệnh viện và các phòng chức năng, sau khi được Hội đồng đạo đức phê duyệt Đối tượng nghiên cứu được thông báo rõ ràng về mục đích và nội dung nghiên cứu, và tham gia hoàn toàn tự nguyện Dữ liệu thu thập chỉ phục vụ cho nghiên cứu, với thông tin cá nhân được mã hóa và bảo mật Trong quá trình phỏng vấn, đối tượng có quyền từ chối câu hỏi và có thể dừng phỏng vấn bất cứ lúc nào Kết quả nghiên cứu sẽ được phản hồi đến Ban Giám đốc bệnh viện và lãnh đạo các khoa để cải thiện tình hình RTNK của nhân viên y tế.
KẾT QUẢ
Tỉ lệ thực hành RTNK của nhân viên y tế
Biểu đồ 3.1: Tỉ lệ tuân thủ thực hành RTNK theo hướng dẫn 3916/QĐ BYT
Theo quy định tại hướng dẫn 3916/QĐ-BYT, để đạt yêu cầu RTNK, thí sinh phải đạt 30/30 điểm Tỷ lệ đạt yêu cầu RTNK trong 240 cơ hội quan sát chỉ đạt 23,8%.
Bảng 3.1 Tỉ lệ tuân thủ từng bước quy trình RTNK theo 3916/QĐ-BYT
TT Kỹ thuật Số cơ hội quan sát
Số cơ hội tuân thủ (b)
Trong 4 bước RTNK theo hướng dẫn 3916/QĐ-BYT, bước 2 được tuân thủ nhiều nhất (69,6%), trong khi đó bước 3 thường bị bỏ qua, chỉ có 25% cơ hội thực hiện bước này, bước 4 và bước 1 được thực hiện trong khoảng 50% các cơ hội
Tuân thủ Không tuân thủ
Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ áp dụng các hình thức RTNK của bệnh viện Tai Mũi Họng
Trong 240 cơ hội quan sát, chỉ có 57 cơ hội rửa tay đạt theo hướng dẫn 3916/QĐ-BYT, chiếm 23,8% Trong khi đó, 71 cơ hội rửa tay nhiễm khuẩn (RTNK) đạt theo kiểu cũ, tương đương 29,6% Số còn lại không thực hiện đủ các bước theo quy định của hướng dẫn rửa tay mới Các bước RTNK theo kiểu cũ bao gồm: rửa sạch tay dưới vòi nước, dùng bàn chải cọ từ móng, kẽ ngón tay, bàn tay, cẳng tay và trên khuỷu 2cm, rửa sạch tay dưới vòi nước với bàn tay hướng lên, và lau khô tay.
Bảng 3.2 Tỉ lệ NVYT đạt yêu cầu RTNK theo 3916/QĐ-BYT ở từng khoa
Khoa Số cơ hội quan sát Số cơ hội đạt yêu cầu Tỉ lệ (%)
Nhóm bác sĩ đi học, giảng viên
RTNK theo hướng dẫn mới - Đạt RTNK theo hướng dẫn mới - Không đạt
Trong 240 cơ hội quan sát, khoa Mũi xoang đạt tỉ lệ tuân thủ cao nhất theo hướng dẫn 3916/QĐ-BYT với 53,1% Tiếp theo là nhóm bác sĩ đi học và giảng viên với tỉ lệ 42,9% Trong khi đó, khoa Đầu cổ và khoa Thẩm mỹ có tỉ lệ tuân thủ thấp nhất, lần lượt là 3,6% và 8,3%.
3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng tới RTNK
Kết quả từ các phiếu điều tra kiến thức và thái độ, cùng với hai buổi thảo luận nhóm tập trung với 12 nhân viên y tế được chọn có chủ đích và bốn cuộc phỏng vấn sâu với giám đốc, trưởng khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, và trưởng phòng đã cung cấp những thông tin quan trọng.
Kế hoạch tổng hợp, trưởng phòng Nghiên cứu chất lượng), kết quả phân tích theo chủ đề và cho kết quả như sau:
Bảng 3.3 Một số đặc điểm về thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Thông tin chung Nam Nữ Tổng
Nhóm bác sĩ đi học, giảng viên
4 10,0 3 15,0 7 11,7 Điều dưỡng dụng cụ 5 12,5 3 15,0 8 13,3 Điều dưỡng gây mê 4 10,0 3 15,0 7 11,7
Sau đại học 29 72,5 11 55,0 40 66,7 Đại học 10 25,0 4 20,0 14 23,3
Tham gia tập huấn RTNK (QĐ 3916/QĐ-BYT) Đã từng tham gia 35 87,5 18 90,0 53 88,3
Dị ứng sản phẩm rửa tay
Nghiên cứu trên 60 nhân viên y tế tham gia phẫu thuật cho thấy tỷ lệ nam giới gấp đôi nữ giới (66,7% nam và 33,3% nữ) Trong nhóm nam, ba nhóm tuổi phân bố tương đối đồng đều, trong khi nhóm nữ có 45% dưới 35 tuổi và chỉ 20% trên 45 tuổi Bác sĩ chiếm 75% trong tổng số, với tỷ lệ bác sĩ nam là 68,9% và nữ là 31,1% Về trình độ chuyên môn, 66,7% nhân viên có trình độ sau đại học, 23,3% đại học và 10% trung cấp Thời gian công tác trên 5 năm chiếm 73,3%, trong khi dưới 5 năm là 26,6% Đáng chú ý, 83,3% nhân viên đã tham gia tập huấn RTNK theo quyết định 3916/QĐ-BYT, và chỉ 5% nhân viên dị ứng với sản phẩm rửa tay hiện tại.
Bảng 3.4 Mối liên quan giữa tuân thủ RTNK với giới tính
Giới Tuân thủ rửa tay OR
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có mối liên quan thống kê đáng kể giữa tuân thủ RTNK và giới tính với giá trị p = 0,024 Cụ thể, tỷ lệ tuân thủ RTNK ở nữ nhân viên y tế cao hơn so với nam, với tỷ lệ odds (OR) là 1,55 và khoảng tin cậy (KTC) từ 1,08 đến 2,22.
Bảng 3.5 Mối liên quan giữa tuân thủ RTNK với nhóm tuổi
Tuân thủ rửa tay OR
Theo nghiên cứu, có sự liên quan giữa việc tuân thủ RTNK và độ tuổi, trong đó tỷ lệ tuân thủ RTNK ở nhóm trên 45 tuổi thấp hơn so với nhóm dưới 35 tuổi, với tỷ lệ odds (OR) là 0,49 và khoảng tin cậy (KTC) từ 0,24 đến 0,98.
Bảng 3.6 Mối liên quan giữa tuân thủ RTNK với nghề nghiệp
Tuân thủ rửa tay OR
Tuân thủ (n, %) Bác sĩ tại bệnh viện 121 (79,6) 31 (20,4) 1
Nhóm bác sĩ đi học, giảng viên
Nghiên cứu chỉ ra rằng có sự liên quan giữa tuân thủ RTNK và nghề nghiệp, với tỉ lệ tuân thủ cao hơn ở nhóm bác sĩ đi học/giảng viên so với nhóm bác sĩ tại bệnh viện, với p= 0,011 (OR= 1,97; KTC: 1,17 - 3,33).
Chúng tôi đã được tập huấn về quy trình rửa tay mới tại bệnh viện Chợ Rẫy Theo đánh giá của nhóm phụ mổ, phương pháp rửa tay mới không chỉ tiết kiệm thời gian hơn so với cách cũ mà còn giúp giảm thiểu tổn thương cho da tay.
Bảng 3.7 Mối liên quan giữa tuân thủ RTNK với trình độ chuyên môn
Tuân thủ (n, %) Sau đại học 123 (76,9) 37 (23,1) Đại học 38 (67,9) 18 (32,1) 1,39
Nhóm có trình độ đại học thể hiện tỉ lệ tuân thủ cao hơn, đạt 32,1%, trong khi nhóm trình độ cao đẳng có tỉ lệ tuân thủ thấp nhất, chỉ 8,3% Tuy nhiên, không có mối liên quan nào được phát hiện giữa trình độ chuyên môn và tuân thủ RTNK với giá trị p lớn hơn 0,05.
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa tuân thủ RTNK với thâm niên
Thâm niên Tuân thủ rửa tay OR
Tỉ lệ tuân thủ RTNK theo hướng dẫn mới ở nhóm thâm niên trên 5 năm đạt 29,7%, cao hơn so với nhóm thâm niên dưới 5 năm với 21,6% Tuy nhiên, không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thâm niên và việc tuân thủ RTNK theo hướng dẫn mới (p > 0,05).
Bảng 3.9 Mối liên quan giữa tuân thủ RTNK với Khoa
Khoa Tuân thủ rửa tay OR
BS đi học, giảng viên
Nghiên cứu chỉ ra rằng có mối liên quan thống kê đáng kể giữa RTNK và các khoa, trong đó nhân viên y tế tại khoa Mũi Xoang có tỷ lệ tuân thủ RTNK cao hơn so với nhân viên y tế tại khoa Phẫu Thuật, với p < 0,001 (OR= 3,27; KTC: 1,80 - 5,93).
Bác sĩ trưởng khoa đã nhắc nhở và tổ chức công việc trong khoa để tất cả mọi người có thể tham gia buổi tập huấn về rửa tay tại bệnh viện.
3.2.1.2 Kiến thức của nhân viên y tế về RTNK
Biểu đồ 3.3 Kiến thức chung về RTNK
Rửa tay ngoại khoa là yếu tố quan trọng trong kiểm soát nhiễm khuẩn tại bệnh viện Kiến thức được coi là đạt khi tổng điểm từ 13 trở lên Kết quả đánh giá cho thấy 83,3% nhân viên y tế có kiến thức đạt về rửa tay ngoại khoa, trong khi 16,7% không đạt.
Một số yếu tố ảnh hưởng tới RTNK
4.1 Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành tuân thủ RTNK của nhân viên y tế tại bệnh viện Tai Mũi Họng
4.1.1 Thực trạng về kiến thức
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ nhân viên y tế đạt yêu cầu về kiến thức RTNK là 83,3%, tương đương với 86% của nghiên cứu Lê Thị Thùy Dung năm 2017 tại bệnh viện đa khoa Lâm Đồng, nhưng cao hơn so với 65,8% của Phùng Văn Thủy năm 2014 tại bệnh viện đa khoa Vĩnh Phúc So với các nghiên cứu quốc tế, tỉ lệ này cũng tương đồng với kết quả của Elpreda M.Victor tại bệnh viện New Delhi, Ấn Độ.
Năm 2015, 106 nhân viên y tế (85,8%) có kiến thức về quy trình rửa tay, cao hơn so với nghiên cứu của Mehrdad Askarian tại đại học y khoa Shiraz năm 2007, với điểm kiến thức từ 6 - 7/9 (67 - 78%) Tuy nhiên, nhiều câu trả lời sai về quy trình rửa tay vẫn tồn tại, như việc bàn tay luôn hướng lên trên (18,3%) và chỉ 38,3% nhân viên sắp xếp đúng 4 bước rửa tay theo quy trình RTNK Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Phùng Văn Thủy tại bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2014 Thời gian tiếp xúc với hóa chất cũng chỉ đạt 43,3%, thấp hơn so với kết quả sau can thiệp của Hoàng Thị Xuân Hương năm 2011 Mặc dù có poster hướng dẫn quy trình RTNK 4 bước tại khu vực rửa tay, nhiều nhân viên y tế vẫn không chú ý Điều này cho thấy sự thiếu chú ý trong việc tuân thủ quy định mới và hạn chế trong nội dung tập huấn về RTNK Cần có thêm biện pháp để thúc đẩy và nhắc nhở nhân viên y tế thực hiện đúng quy trình rửa tay.