PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Nhân viên y tế (điều dưỡng, nữ hộ sinh) trực tiếp tiêm truyền tại Trung tâm Y tế huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước trong thời gian nghiên cứu
- Chọn ĐD/NHS trực tiếp thực hiện các mũi tiêm, truyền tại các khoa tại thời điểm nghiên cứu
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
- Điều dưỡng đi học, điều dưỡng làm công tác hành chính, nghỉ ốm dài ngày, nghỉ hậu sản trong thời gian nghiên cứu
- Từ chối tham gia nghiên cứu.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Tiến hành nghiên cứu từ tháng 02 năm 2017 đến tháng 8 năm 2017 tại các khoa lâm sàng thuộc TTYT huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang kết hợp định tính và định lượng
Nghiên cứu định lượng bao gồm 2 phần:
Để đảm bảo tiêm an toàn, ĐTNC thực hiện quan sát theo bảng kiểm dựa trên các tiêu chí của Bộ Y tế Quá trình quan sát được chia thành 4 nhóm tiêu chí chính: chuẩn bị người bệnh, chuẩn bị dụng cụ và thuốc tiêm, kỹ thuật tiêm, và xử lý chất thải sau tiêm.
Bộ câu hỏi đánh giá kiến thức của ĐTNC được thiết kế dựa trên Hướng dẫn thực hành Tiêm an toàn của Bộ Y Tế, nhằm thu thập thông tin cá nhân và đánh giá kiến thức của ĐTNC.
Nghiên cứu định tính nhằm mục đích tìm hiểu các yếu tố liên quan đến thực hành TAT tại Trung tâm y tế và tìm ra giải pháp khắc phục.
Cỡ mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng: Đối với quan sát thực hành (tính cho số mũi tiêm cần quan sát)
Chọn toàn bộ ĐD,NHS trực tiếp thực hành tiêm cho bệnh nhân, qua danh sách tổng hợp số ĐD/NHS tại thời điểm nghiên cứu là 56
Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu sau để tính số mũi tiêm cần quan sát:
Trong đó: n 1 / 2 d 2 n = cỡ mẫu tối thiểu
Z = 1,96 là giá trị tương ứng với mức ý nghĩa thống kê α = 0,05
P = 0,175 (tỷ lệ mũi TAT theo nghiên cứu của Phạm Thị Mỹ Hằng tại BVĐK Đồng Tháp năm 2014[4]) d = 0,05 độ chính xác tuyệt đối mong muốn Thay vào công thức tính n = 1,96 2 x 0,175 x (1- 0,175) = 221
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã chọn toàn bộ 56 điều dưỡng và nữ hộ sinh trực tiếp thực hành tiêm tại các khoa lâm sàng, với tổng số 221 mũi tiêm được chia đều cho mỗi người, tương đương với 04 mũi tiêm cần quan sát Tại bệnh viện, các mũi tiêm chủ yếu là tiêm bắp và tiêm truyền tĩnh mạch, do đó, chúng tôi chỉ thực hiện quan sát các mũi tiêm này và các mũi tiêm được chọn ngẫu nhiên.
2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu định tính
Phỏng vấn sâu 07 cuộc có chủ đích:
- Phỏng vấn sâu 01 cán bộ làm công tác quản lý của bệnh viện
- Phỏng vấn sâu 03 cán bộ làm công tác quản lý tại khoa là 03 ĐDTK đại diện cho 3 khoa lâm sàng lấy số liệu
- Phỏng vấn sâu 03 ĐD/NHS trực tiếp thực hành tiêm
Thảo luận nhóm điều dưỡng, nữ hộ sinh trực tiếp thực hành tiêm để tìm hiểu các yếu tố liên quan đến thực hành tiêm.
Phương pháp chọn mẫu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn 56 điều dưỡng và nữ hộ sinh thực hành tiêm tại Trung tâm Y tế huyện Lộc Ninh từ tháng 2 đến tháng 8 năm 2017 để thu thập thông tin cá nhân và kiến thức về tiêm chủng Đối với phần quan sát thực hành tiêm, chúng tôi đã chọn ngẫu nhiên 4 mũi tiêm do mỗi đối tượng thực hiện, bao gồm cả tiêm bắp và tiêm tĩnh mạch, nhưng không quan sát các mũi tiêm đã lưu kim trước đó.
- Phỏng vấn sâu 01 cán bộ làm công tác quản lý là Phó phòng ĐD bệnh viện
Chúng tôi đã thực hiện phỏng vấn sâu với 03 cán bộ quản lý tại khoa, đại diện cho 3 khoa lâm sàng có số lượng bệnh nhân điều trị hàng ngày đông nhất, bao gồm khoa Nội, khoa Ngoại và khoa Sản.
- Phỏng vấn sâu 03 ĐD/NHS trực tiếp thực hành tiêm tại khoa Nội, khoa Ngoại và khoa Sản
Thảo luận nhóm tập trung vào việc chọn mẫu có chủ đích với 06 ĐD, NHS thực hành tiêm trực tiếp Mục tiêu của thảo luận là tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành TAT, bao gồm thông tin, phương tiện, dụng cụ tiêm và yếu tố quản lý.
Phương pháp thu thập số liệu
Xây dựng và hoàn thiện bộ công cụ nghiên cứu bao gồm phiếu quan sát thực hành tiêm và phiếu phát vấn kiến thức TAT dựa trên Hướng dẫn tiêm an toàn của Bộ Y tế Quá trình này tham khảo tài liệu đào tạo của Bộ Y tế về quy chế chuyên môn và kỹ thuật thực hành trong bệnh viện, cũng như quy trình kỹ thuật tiêm để xác định các biến số nghiên cứu.
Công cụ thu thập số liệu định lượng:
Bảng kiểm quan sát thực hành được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm 25 tiêu chí, tương ứng với các tiêu chí đánh giá thực hành TAT của Hà Thị Kim Phượng tại Hà Nội năm 2014 Các tiêu chí này được chia thành 4 nhóm thực hành chính: chuẩn bị người bệnh, chuẩn bị dụng cụ và thuốc tiêm, kỹ thuật tiêm thuốc, và xử lý chất thải sau tiêm.
Bảng khảo sát kiến thức TAT bao gồm 30 câu hỏi được chia thành 5 nhóm chính: Kiến thức chung về TAT, Kiến thức về chuẩn bị người bệnh và người điều dưỡng, Kiến thức về chuẩn bị dụng cụ và thuốc tiêm, Kiến thức về kỹ thuật tiêm thuốc, và Kiến thức về xử lý chất thải sau tiêm.
Công cụ thu thập số liệu định tính bao gồm phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, được thực hiện dựa trên các kết quả nghiên cứu định lượng Các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm diễn ra trong khoảng 30 – 40 phút, theo bộ câu hỏi hướng dẫn đã được thiết kế sẵn Nội dung từ các cuộc phỏng vấn và thảo luận được mã hóa theo các nhóm chủ đề chính như cường độ làm việc, yếu tố phương tiện, dụng cụ, yếu tố quản lý, kiểm tra, giám sát, và các yếu tố khác ảnh hưởng đến thực hành TAT của điều dưỡng và nữ hộ sinh.
Lựa chọn 04 điều tra viên từ phòng Điều dưỡng và phòng Kế hoạch nghiệp vụ, những người có kinh nghiệm trong kiểm tra và giám sát Nghiên cứu viên cần nêu rõ mục đích và kế hoạch cho cuộc điều tra.
Nghiên cứu viên đã thực hiện quan sát trước một số mũi tiêm để rút ra kinh nghiệm và tổ chức tập huấn cho điều tra viên về kỹ năng quan sát thực hành tiêm Đồng thời, họ cũng thống nhất cách đánh giá từng tiêu chí trong bảng kiểm quan sát thực hành.
Nghiên cứu viên trực tiếp giám sát và hỗ trợ các điều tra viên trong quan sát thực hành
Phần phát vấn, phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm do nghiên cứu viên trực tiếp thực hiện
Tiến hành thu thập số liệu:
Quan sát mũi tiêm là một quy trình quan trọng, trong đó sử dụng bảng kiểm để theo dõi thực hành tiêm của Điều dưỡng (ĐD) và Nhân viên y tế (NHS) Cần điền đầy đủ thông tin theo 25 tiêu chí đánh giá trong bảng kiểm Mỗi bảng kiểm chỉ áp dụng cho một mũi tiêm của một ĐD hoặc NHS Điều tra viên cần quan sát kỹ lưỡng để đảm bảo không bỏ sót bất kỳ bước nào trong quy trình.
Nghiên cứu viên giám sát và hỗ trợ điều tra viên trong quá trình quan sát, đồng thời kiểm tra tính chính xác của thông tin Khi phát hiện thông tin không phù hợp, nghiên cứu viên sẽ kiểm tra lại từng bước với điều tra viên Thời gian quan sát diễn ra trong khung giờ hành chính của bệnh viện.
Các điều tra viên được sắp xếp quay vòng tại tất cả các khoa theo lịch quan sát
HUPH dựa trên lịch làm việc của các khoa lâm sàng
Tiến hành cho đến khi thu thập đủ số mũi tiêm cần quan sát trong nghiên cứu
Phát vấn kiến thức TAT:
Nghiên cứu viên sẽ tiến hành phỏng vấn kiến thức TAT của từng ĐTNC sau khi họ đã hoàn thành đủ 4 mũi tiêm Việc phỏng vấn được thực hiện bằng bảng hỏi đã được thiết kế sẵn vào đầu giờ buổi chiều, mỗi khoa sẽ có khoảng 30 phút để thực hiện Phiếu phỏng vấn được chia thành 3 phần dựa trên nội dung Hướng dẫn TAT của Bộ Y tế Nghiên cứu viên sẽ thông báo mục đích của nghiên cứu và hướng dẫn cách trả lời phiếu, đồng thời yêu cầu người tham gia không trao đổi thông tin trong quá trình điền phiếu.
Phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm:
Phỏng vấn sâu 07 cuộc: 01 cán bộ Phó phòng Điều dưỡng, 03 ĐD trưởng khoa và 03 ĐD, NHS chăm sóc tại các khoa lâm sàng
Sau khi nhận được kết quả định lượng, nhóm điều dưỡng và nữ hộ sinh sẽ chọn 06 ĐD/NHS để thảo luận, bao gồm 03 ĐD/NHS có kết quả thực hành cao nhất và 03 ĐD/NHS có kết quả thực hành thấp nhất.
2.7 Các biến số nghiên cứu ( Phụ lục biến số nghiên cứu )
Trong quá trình chuẩn bị cho người bệnh, điều dưỡng cần thực hiện 5 bước đối chiếu và giải thích rõ ràng các thủ tục sắp thực hiện Họ cũng cần hướng dẫn người bệnh về tư thế thích hợp Việc sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân đúng cách là rất quan trọng, và điều dưỡng/nữ hộ sinh phải đảm bảo rửa tay thường quy hoặc sát khuẩn tay nhanh để duy trì vệ sinh.
Chuẩn bị dụng cụ tiêm an toàn bao gồm việc chuẩn bị hộp chống sốc theo quy định, thùng đựng chất thải sinh hoạt và thùng đựng chất thải sau tiêm Việc này đảm bảo tuân thủ 4 tiêu chí từ B5-B8, giúp quy trình tiêm diễn ra an toàn và hiệu quả.
Quan sát quy trình chuẩn bị thuốc tiêm bao gồm năm tiêu chí từ B9 đến B13 Điều này bao gồm việc kiểm tra đối chiếu thuốc với NHS, sát khuẩn ống thuốc, bẻ ống thuốc, xé bao bì bơm kim tiêm, thực hiện kỹ thuật pha thuốc, và rút thuốc vào bơm tiêm.
Quan sát mũi tiêm được thực hiện dựa trên 9 tiêu chí từ B14-B22, nhằm đánh giá thực hành tiêm của điều dưỡng hoặc nữ hộ sinh cho người bệnh tại buồng bệnh Mỗi điều dưỡng/nữ hộ sinh sẽ được quan sát khi thực hiện 4 quy trình tiêm Do các quy trình tiêm bắp và tiêm tĩnh mạch có tiêu chí quan sát giống nhau, nên quan sát viên có thể áp dụng các tiêu chí này một cách nhất quán.
HUPH thực hiện quan sát ngẫu nhiên các mũi tiêm do ĐD và NHS thực hiện, với thông báo trước về việc quan sát nhưng không tiết lộ thời điểm và mũi tiêm cụ thể Quá trình quan sát bao gồm việc xác định vị trí tiêm, sát khuẩn vị trí tiêm, đảm bảo góc kim đâm qua da đúng quy định, kỹ thuật bơm thuốc, và sát khuẩn lại vị trí tiêm Lưu ý rằng không quan sát các mũi tiêm đã lưu kim trước đó.
Quan sát xử lý chất thải sau tiêm (gồm 3 tiêu chí từ B23-B25): Phân loại chất thải ngay tại nguồn, xử lý bơm kim tiêm sau khi tiêm
Phần I: Thông tin cá nhân (Từ A1 – A4)
Phần II: Thực trạng cung cấp kiến thức về TAT (Từ B1 – B4)
Phần III: Kiến thức về TAT: gồm 30 câu hỏi, cụ thể như sau:
Kiến thức chung về TAT (6 câu hỏi: C1 – C6)
Kiến thức về chuẩn bị người bệnh, người điều dưỡng (8 câu hỏi: C7 – C14) Kiến thức về dụng cụ tiêm (4 câu hỏi: C15 – C18)
Kiến thức về chuẩn bị thuốc tiêm (4 câu hỏi: C19 – C22)
Kiến thức về kỹ thuật tiêm thuốc (5 câu hỏi: C23 – C27)
Kiến thức về xử lý chất thải sau tiêm (3 câu hỏi: C28 – C30)
Tiêu chuẩn đánh giá
Tiêu chuẩn đánh giá thực hành TAT của ĐD, NHS bao gồm tổng điểm 25 cho bảng kiểm đánh giá quy trình TAT, tương ứng với 25 bước được chia thành 4 nhóm Mỗi bước thực hiện đúng sẽ được 1 điểm, trong khi không thực hiện hoặc thực hiện sai sẽ nhận 0 điểm.
Thực hành chuẩn bị người bệnh, người điều dưỡng với số điểm đạt tối đa là 4 điểm
Thực hành chuẩn bị dụng cụ, thuốc tiêm số điểm đạt tối đa là 9 điểm
Thực hành kỹ thuật tiêm thuốc với số điểm đạt tối đa là 9 điểm
Thực hành xử lý chất thải sau tiêm với số điểm đạt tối đa là 3 điểm
Mũi tiêm an toàn đạt đủ 25 tiêu chí về TAT Trong nghiên cứu, thực hành của điều dưỡng và nữ hộ sinh được đánh giá qua 4 mũi tiêm Để được coi là thực hành đúng TAT, điều dưỡng và nữ hộ sinh cần có cả 4 mũi tiêm được quan sát đạt tiêu chuẩn an toàn, với tổng số điểm đạt 100 cho cả 4 mũi tiêm.
ĐD và NHS thực hành TAT được đánh giá theo các tiêu chí cụ thể Đối với việc chuẩn bị người bệnh, tổng số điểm đạt được là 16 điểm khi quan sát 4 mũi tiêm Trong khi đó, việc chuẩn bị dụng cụ và thuốc tiêm đạt 36 điểm cho 4 mũi tiêm được quan sát Kỹ thuật tiêm thuốc cũng đạt 36 điểm khi thực hiện 4 mũi tiêm Cuối cùng, việc xử lý chất thải sau tiêm đạt 12 điểm khi quan sát cả 4 mũi tiêm.
(Chi tiết về cách cho điểm thực hành TAT trong phụ lục 7)
Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức TAT của điều dưỡng (ĐD) và nữ hộ sinh (NHS) được thực hiện thông qua phiếu phát vấn, nhằm tìm hiểu kiến thức của họ về TAT Bộ câu hỏi khảo sát gồm 30 câu, chia thành 5 nhóm, được xây dựng dựa trên Hướng dẫn TAT của Bộ Y tế Phương pháp đánh giá kiến thức là cho điểm, trong đó mỗi câu hỏi một lựa chọn đúng được 1 điểm, câu trả lời sai không được điểm Đối với câu hỏi nhiều lựa chọn, mỗi đáp án đúng cũng được 1 điểm Điểm tối đa cho bộ câu hỏi là 40 điểm, và ĐD, NHS được coi là có kiến thức TAT đạt yêu cầu khi đạt từ 80% tổng điểm trở lên, tức là 32 điểm Nếu số điểm dưới 80%, tức từ 31 điểm trở xuống, sẽ được đánh giá là chưa đạt.
Bộ câu hỏi phát vấn kiến thức được chia thành 5 nhóm với số điểm và cách đánh giá như sau:
TAT có tổng điểm tối đa là 12, trong đó điều dưỡng và nữ hộ sinh được coi là đạt yêu cầu khi có điểm số từ 10 trở lên trong phần kiến thức chung về TAT.
Kiến thức về việc chuẩn bị người bệnh và người điều dưỡng được đánh giá với điểm tối đa là 8 Để được công nhận có kiến thức đầy đủ trong việc chuẩn bị người bệnh, điều dưỡng và nhân viên y tế cần đạt từ 7 điểm trở lên.
Kiến thức về dụng cụ tiêm và thuốc tiêm có tổng điểm tối đa là 11 điểm Đối với nhân viên y tế (NHS), kiến thức đạt yêu cầu về chuẩn bị thuốc và dụng cụ tiêm khi có điểm số từ 9 trở lên.
Kỹ thuật tiêm thuốc là một lĩnh vực quan trọng, với điểm tối đa là 6 Để được đánh giá là có kiến thức đạt yêu cầu về kỹ thuật tiêm thuốc, ĐD và NHS cần đạt từ 5 điểm trở lên.
Kiến thức về xử lý chất thải sau tiêm có tổng điểm tối đa là 3 điểm Đối với Điều dưỡng (ĐD) và Nhân viên y tế (NHS), việc đánh giá kiến thức này được xác định khi họ đạt 3 điểm trong phần kiến thức liên quan.
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
2.9.1 Với số liệu định lượng:
Sau khi thu thập số liệu, các phiếu điều tra được kiểm tra lại để bảo đảm tính đầu đủ của các thông tin
Mã hóa, nhập số liệu bằng phần mềm Epi.data 3.1
Xử lý và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0
Tỷ lệ phần trăm được dùng để mô tả các biến số
Sử dụng các thuật toán thống kê như Pearson Chi-Square và Fisher's Exact Test với mức ý nghĩa p < 0,05 để xác định mối liên quan đến thực hành tiêm an toàn của đối tượng nghiên cứu.
2.9.2 Với số liệu định tính
Số liệu định tính sau khi thu thập ở dưới dạng những ghi chép trong sổ sách và băng ghi âm, gỡ băng
Các dữ liệu được xử lý bằng tay, phân tích và trích dẫn theo nhóm chủ đề nghiên cứu
Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu này đã được Hội đồng đạo đức nghiên cứu Y sinh học của Đại học Y tế Công Cộng phê duyệt với mã số 17 Đối tượng nghiên cứu đã được thông tin rõ ràng về mục đích và nội dung nghiên cứu để họ đồng ý tham gia và hợp tác.
Thông tin thu thập được từ đối tượng được ghi nhận một cách chính xác và trung thực Tất cả dữ liệu đều được bảo mật và chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu.
Hạn chế của đề tài nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục
Hạn chế: Do cỡ mẫu nghiên cứu nhỏ nên hạn chế về độ tin cậy và kết quả của đề tài
Sai số: Sai số chọn: Xảy ra khi đối tượng đưa vào nghiên cứu, đủ tiêu chuẩn nhưng không đồng ý tham gia nghiên cứu
Sai số đo lường xảy ra trong quá trình thu thập thông tin, và sự hiện diện của Điều tra viên có thể ảnh hưởng đến quy trình kỹ thuật Thông tin thu thập từ bộ câu hỏi có thể không chính xác do đối tượng trả lời không hiểu hoặc không trả lời đúng ý Tại bệnh viện, địa điểm thảo luận nhóm có thể bị ảnh hưởng bởi yếu tố tâm lý, dẫn đến hạn chế trong việc thảo luận Ngoài ra, có thể xảy ra sai số hệ thống trong quá trình nhập và phân tích dữ liệu.
Để khắc phục vấn đề, cần soạn thảo bộ câu hỏi một cách kỹ lưỡng với các thuật ngữ ngắn gọn, dễ hiểu và phù hợp với đối tượng nghiên cứu Ngoài ra, việc thử nghiệm bộ câu hỏi trước khi tiến hành thu thập thông tin chính thức là rất quan trọng.
Tập huấn cho điều tra viên nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng quan sát thực hành tiêm an toàn Điều tra viên sẽ được theo dõi quá trình thực hành tiêm của điều dưỡng và nữ hộ sinh trước khi tiến hành quan sát chính thức.
Khi quan sát thực hành tiêm của điều dưỡng và nữ hộ sinh, điều tra viên đảm bảo không làm ảnh hưởng đến kỹ thuật tiêm Số liệu thu thập và mục tiêu nghiên cứu đã được thông báo trước, nhưng đối tượng nghiên cứu không biết thời điểm và mũi tiêm nào sẽ được chọn để quan sát.
Trước khi bắt đầu phỏng vấn và thảo luận nhóm, nghiên cứu viên cần giải thích rõ ràng mục tiêu của nghiên cứu và khuyến khích ĐTNC tham gia trả lời câu hỏi.
Giám sát viên giám sát, hỗ trợ và củng cố kịp thời cho điều tra viên nhằm hạn chế sai số
Làm sạch số liệu sau mỗi buổi điều tra, kiểm tra tính chính xác trước khi phân tích số liệu
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung
3.1.1 Một số đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Một số đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu
Trình độ học vấn Trung cấp 49 87,5
Kết quả ở bảng 3.1 cho thấy:
Nghiên cứu có tổng cộng 56 đối tượng tham gia, trong đó nữ chiếm ưu thế với tỷ lệ 85,7% (48/56) Đối tượng nghiên cứu được phân bố tương đối đồng đều theo nhóm tuổi, với 42,9% trên 30 tuổi và 57,1% từ 30 tuổi trở xuống.
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu có trình độ học vấn trung cấp, chiếm 87,5%, trong khi trình độ cao đẳng và đại học chỉ chiếm 12,5% Về kinh nghiệm thực hành tiêm, 44,6% có dưới 5 năm kinh nghiệm, trong khi 55,4% có trên 5 năm kinh nghiệm.
3.1.2 Thực trạng cung cấp kiến thức về Tiêm an toàn
Bảng 3.2 Thực trạng được cung cấp kiến thức về Tiêm an toàn
Cung cấp kiến thức TAT Tần số Tỷ lệ %
Số lần được đào tạo/ tập huấn về TAT trong 1 năm qua (n = 56)
3 lần 2 3,6 Đơn vị đào tạo tập huấn
Tài liệu TAT có sẵn tại khoa/phòng (n = 56)
Kết quả khảo sát cho thấy 87,5% (49/56) đối tượng nghiên cứu đã được đào tạo về tiêm an toàn trong năm qua, trong khi 12,5% (7 đối tượng) chưa được đào tạo Trong số những người đã được tập huấn, 75% chỉ tham gia một lần, 8,9% được tập huấn hai lần trong năm, và tỷ lệ thấp nhất là nhóm được tập huấn ba lần trong năm.
02 đối tượng nghiên cứu chiếm tỷ lệ 3,6%.
Kiến thức, thực hành Tiêm an toàn của đối tượng nghiên cứu
3.2.1 Kiến thức Tiêm an toàn của đối tượng nghiên cứu
3.2.1.1 Kiến thức về mục đích và định nghĩa của tiêm an toàn
Kết quả nghiên cứu cho thấy 100% đối tượng hiểu rõ mục đích của tiêm, bao gồm điều trị, chẩn đoán, tiêm chủng và kế hoạch hóa gia đình (56/56) Tất cả 56 đối tượng (đạt 100%) đều xác định đúng định nghĩa TAT, cho rằng TAT là mũi tiêm an toàn, không gây hại cho người nhận, không làm phơi nhiễm cho người thực hiện tiêm và không tạo ra chất thải nguy hại cho cộng đồng.
3.2.1.2 Kiến thức về tai biến Tiêm an toàn của đối tượng nghiên cứu:
Biểu đồ 3.1 Số lượng và tỷ lệ ĐTNC nêu được từng tai biến của Tiêm không an toàn (nV)
Biểu đồ 3.1 cho thấy 100% đối tượng nghiên cứu cho rằng tiêm không an toàn có thể gây ra sốc phản vệ, trong khi 98,2% cho rằng có nguy cơ nhiễm khuẩn chéo giữa các bệnh nhân Đối với xơ hóa cơ, tỷ lệ này chỉ đạt 64,3%.
Biểu đồ 3.2 Kiến thức về biện pháp phòng tránh xơ hóa cơ cho người bệnh (nV)
Biểu đồ 3.2 cho thấy tỷ lệ đối tượng nghiên cứu trả lời đúng các biện pháp phòng tránh xơ hóa cơ, bao gồm xác định đúng vị trí tiêm (85,7%), tiêm đúng góc độ (76,8%) và độ sâu kim (96,4%), cũng như không tiêm nhiều lần vào cùng một vị trí.
Bảng 3.3 Kiến thức về phòng chống sốc phản vệ khi tiêm
Tần số Tỷ lệ % Phòng chống sốc phản vệ cần thực hiện
Hỏi tiền sử dị ứng 54 96,4
Luôn có hộp chống sốc khi tiêm 55 98,2
Vừa bơm thuốc chậm, quan sát NB khi tiêm 47 83,9
Theo kết quả từ bảng 3.3, 96,4% đối tượng nghiên cứu cho rằng việc hỏi tiền sử dị ứng trước khi tiêm là cần thiết, và 98,2% đồng ý rằng cần có hộp chống sốc sẵn sàng trong quá trình tiêm Tuy nhiên, chỉ có 83,9% cho rằng việc bơm thuốc chậm và quan sát bệnh nhân trong khi tiêm là biện pháp quan trọng để phòng tránh sốc phản vệ và xử lý kịp thời.
Bảng 3.4 Kiến thức về việc cần làm đầu tiên khi bệnh nhân sốc
Tần số Tỷ lệ % Việc làm đầu tiên khi bệnh nhân sốc
Theo Bảng 3.4, 87,5% đối tượng nghiên cứu đã chọn đúng đáp án về việc ngừng tiêm truyền ngay khi bệnh nhân gặp sốc phản vệ Tuy nhiên, vẫn có 12,5% cho rằng việc đầu tiên cần làm là báo bác sĩ khi có người bệnh bị sốc phản vệ.
3.2.1.3 Kiến thức chuẩn bị người bệnh, người điều dưỡng
Bảng 3.5 Kiến thức chuẩn bị người bệnh, người điều dưỡng
Số lần cần VST theo 5 thời điểm 56 100
Rửa tay với nước, xà phòng
Sau mỗi lần tiêm cho 1 NB 42 75,0 Chỉ khi trên tay có vết bẩn nhìn thấy được 14 25,0
Trước khi chuẩn bị dụng cụ tiêm truyền, cần thực hiện
Chỉ cần vệ sinh tay 41 73,2
Cả VST, đội mũ và đeo khẩu trang 13 23,1
Để đảm bảo an toàn và hiệu quả trong việc sử dụng thuốc, cần thực hiện 5 đúng: Đúng người bệnh, đúng thuốc, đúng liều, đúng thời điểm và đúng đường tiêm Việc tuân thủ các nguyên tắc này giúp giảm thiểu rủi ro và nâng cao chất lượng điều trị.
Khi tiêm kháng sinh cần phải
Hỏi tiền sử dị ứng trước khi tiêm 43 76,8
Luôn mang hộp chống sốc khi tiêm 2 3,6
Bảo đảm đúng kỹ thuật vô khuẩn khi tiêm 11 19,6
Chỉ định mang găng tay sạch
Chỉ khi tiêm tĩnh mạch 4 7,1
Chỉ khi tiếp xúc máu, dịch, da tay NVYT tổn thương 50 89,3
Thay găng tay sau khi Tiêm cho 1 NB 55 98,2
Chỉ định mang khẩu trang
Tiêm bắp, tiêm dưới da 3 5,4
NB mắc bệnh lây qua đường 36 64,3
Kết quả từ bảng 3.5 cho thấy 100% đối tượng nghiên cứu đã xác định đúng 5 thời điểm vệ sinh tay (VST) Tuy nhiên, tỷ lệ chọn đúng đáp án rửa tay bằng nước và xà phòng khi tay có vết bẩn chỉ đạt 25,0% Đối với việc thực hiện VST trước khi chuẩn bị dụng cụ tiêm, tỷ lệ trả lời đúng cao hơn nhưng vẫn chỉ đạt 73,2%.
Thực hiện 5 đúng khi tiêm thuốc cho NB bao gồm: đúng người bệnh, đúng thuốc, đúng liều, đúng thời điểm, đúng đường tiêm chiếm tỷ lệ 80,3%
Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu biết về tiền sử dị ứng thuốc và thức ăn trước khi tiêm kháng sinh đầu tiên chỉ đạt 76,8% Trong khi đó, 89,3% biết cần mang găng tay sạch và 98,2% nhận thức được thời điểm thay găng tay Tuy nhiên, chỉ có 64,3% đối tượng biết rằng cần mang khẩu trang khi tiếp xúc với bệnh nhân mắc các bệnh lây truyền qua đường hô hấp.
3.2.1.4 Kiến thức chuẩn bị dụng cụ, thuốc chống sốc
Bảng 3.6 Kiến thức chuẩn bị dụng cụ, thuốc chống sốc
Cơ số thuốc trong hộp chống sốc gồm
Adrenalin 1mg x 1 ống, solumedron 40mg hoặc depersolon 30mg x 1 ống
Adrenalin 1mg x 2 ống, solumedron 40mg hoặc depersolon 30mg x 2 ống
Tiêu chuẩn thùng đựng VSN chuẩn
Màu xanh và có vạch giới hạn cùng ghi chú “KHÔNG ĐỰNG QUÁ VẠCH NÀY” (3)
Cùng kích cỡ duy nhất (4) 3 5,4
Có nắp đóng mở dễ (5) 53 94,6
HUPH Đúng cả 3 đáp án 1, 2 và 5 44 78,6
Cồn SK da Cồn trắng 70 0 40 71,4
Cồn trắng 70 0 hoặc cồn iot 16 28,6
Bảng 3.6 trình bày kết quả:
Theo hướng dẫn về tiêm an toàn cơ số thuốc trong hộp chống sốc là Adrenalin 1mg x 2 ống, solumedron 40mg hoặc depersolon 30mg x 2 ống Kết quả cho thấy có
54 người (chiếm 96,4%) trả lời đúng nội dung này
Các tiêu chuẩn bắt buộc cho thùng đựng vật sắc nhọn bao gồm: thùng và đáy cứng, tính chống thấm, và nắp dễ mở Kết quả khảo sát cho thấy chỉ có 78,6% người trả lời đúng cả ba tiêu chuẩn này, trong khi tỷ lệ trả lời đúng về loại cồn sử dụng cho sát khuẩn da vùng tiêm chỉ đạt 71,4% Đặc biệt, tỷ lệ trả lời đúng về thời điểm thực hiện niêm phong thùng đựng vật sắc nhọn khi đầy 3/4 rất thấp, chỉ đạt 14,3%.
3.2.1.5 Kiến thức về chuẩn bị thuốc tiêm đạt theo từng tiêu chí
Bảng 3.7 Kiến thức về chuẩn bị thuốc tiêm đạt theo từng tiêu chí
Lấy thuốc vào BT cần chú ý
Không pha 2 hay nhiều loại thuốc vào 1 BT (1) 54 96,4
Không lưu kim lấy thuốc (2) 53 94,6
Dùng chung kim lấy thuốc (3) 2 3,6 Đúng cả 2 đáp án 1 và 2 50 89,3
Cách bẻ ống thuốc Sát khuẩn, dùng gạc bẻ thuốc 56 100,0
Các bước cần thực hiện khi trì hoãn mũi tiêm
Để thực hiện quy trình, sử dụng một tay để đậy nắp KT và cho vào bao đựng BKT 1 1,8 Tiếp theo, dùng một tay để đậy kim tiêm và cho vào bao đựng BKT 54 96,4 Cuối cùng, đậy KT bằng một tay và đặt vào khay vô khuẩn 1 1,8.
Lưu kim lấy thuốc Lấy thuốc cho cùng 1 NB 1 1,8
HUPH khi Không được lưu kim 55 98,2
Kết quả thống kê cho thấy tỷ lệ đối tượng nghiên cứu chọn đúng đáp án khi bẻ ống thuốc sát khuẩn và sử dụng gạc bẻ thuốc đạt 100% Tỷ lệ đối tượng trả lời không được phép lưu kim lấy thuốc và cách đậy kim tiêm bằng kỹ thuật múc một tay, đưa vào bao đựng bơm kim tiêm lần lượt đạt 98,2% và 96,4% Ngoài ra, 96,4% đối tượng cũng cho biết không được pha trộn hai hay nhiều loại thuốc vào một bơm tiêm.
3.2.1.6 Kiến thức kỹ thuật tiêm thuốc
Bảng 3.8 Kiến thức về kỹ thuật tiêm thuốc đạt theo từng tiêu chí
Phương thức SK da vùng tiêm
Kỹ thuật SK da trước tiêm TM
SK cồn iot, sau SK cồn 70 độ 4 7,1
Sát khuẩn da vùng tiêm theo hình xoáy ốc từ trong ra ngoài với đường kính khoảng 10 cm cho đến khi sạch
Góc độ kim trong tiêm dưới da là
Góc độ kim trong tiêm bắp
Kết quả từ bảng 3.8 cho thấy phương thức sát khuẩn da vùng tiêm trước khi tiêm cho bệnh nhân, với 100% đối tượng nghiên cứu chọn sử dụng tay sau khi đã vệ sinh tay (VST) để cầm bông cồn sát khuẩn Tuy nhiên, tỷ lệ trả lời đúng cho
Phương pháp sát khuẩn vùng da bằng tăm bông chỉ đạt tỷ lệ 37,5%, trong khi đó, tỷ lệ người tham gia nghiên cứu chọn phương pháp sử dụng kẹp để gắp bông cồn sát khuẩn lại cao hơn, đạt 71,4%.
Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu thực hiện đúng kỹ thuật sát khuẩn da vùng tiêm theo hình xoáy ốc từ trong ra ngoài với đường kính khoảng 10 cm đạt 92,9% Đối với góc độ tiêm dưới da, tỷ lệ đúng là 92,8% khi thực hiện ở góc 30 đến 45 độ, trong khi góc độ kim tiêm bắp ở mức 60 – 90 độ có tỷ lệ đúng là 85,7% Ngoài ra, tỷ lệ trả lời đúng về tốc độ tiêm bắp 1ml/10 giây cũng đạt mức cao là 92,8%.
3.2.1.7 Kiến thức xử trí chất thải sau tiêm
Bảng 3.9 Kiến thức về xử trí chất thải sau tiêm đạt theo từng tiêu chí
Xử lý BKT sau tiêm bằng cách
Dùng kẹp tách kim, bỏ vào thùng sắc nhọn 4 7,1
Bỏ cả BKT vào thùng sắc nhọn 52 92,9
Ngay sau khi rút kim ra khỏi vị trí tiêm 55 98,2 Để BKT vào khay tiêm, phân loại sau khi kết thúc mũi tiêm 1 1,8
Túi đựng BKT cho vào
Túi ni lông màu xanh 54 96,4
Túi ni lông màu vàng 1 1,8
Bảng 3.9 cho thấy các phương án xử lý BKT sau tiêm, bao gồm việc bỏ BKT vào thùng sắc nhọn ngay sau khi rút kim ra khỏi vị trí tiêm và cô lập BKT vào thùng sắc nhọn Ngoài ra, túi đựng BKT được cho vào túi ni lông màu xanh, với tỷ lệ đối tượng nghiên cứu chọn đúng cao đạt 92,9%, 98,2% và 96,4%.
Biểu đồ 3.3 Phân loại kiến thức về TAT
Một số yếu tố liên quan đến thực hành của đối tượng nghiên cứu
3.3.1 Liên quan giữa thực hành với đặc diểm của đối tượng nghiên cứu
Trong số 56 điều dưỡng thực hành tiêm, chỉ có 19 người đạt tiêu chuẩn TAT với cả 4 mũi tiêm được quan sát Số còn lại không đáp ứng yêu cầu này.
Trong nghiên cứu, 37 người thực hành TAT chưa đạt Chúng tôi đã sử dụng phương pháp kiểm định hai tỷ lệ để đánh giá các yếu tố liên quan đến việc thực hành tiêm an toàn của đối tượng nghiên cứu.
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa thực hành và đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Giá trị kiểm định Đạt Chưa đạt n % N %
Cao đẳng - Đại học 4 57,1 3 42,9 OR= 0,33 p >0,05 *
4 Thời gian thực hành tiêm cho NB
Nhóm tuổi dưới 30 thực hành tiêm an toàn cao hơn nhóm trên 30 tuổi (37,5% so với 29,2%) Phụ nữ có tỷ lệ thực hành tiêm an toàn cao hơn nam giới (37,5% so với 12,5%) Những người có trình độ học vấn cao đẳng – đại học thực hành tiêm an toàn tốt hơn nhóm trung cấp (57,1% so với 30,6%) Nhóm có thời gian thực hành dưới 5 năm cũng thực hành tiêm an toàn cao hơn nhóm có thâm niên trên 5 năm (44,0% so với 25,8%) Đáng chú ý, nhóm được đào tạo/tập huấn có tỷ lệ thực hành tiêm an toàn thấp hơn nhóm chưa được đào tạo (30,6% so với 57,1%) Tuy nhiên, không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tuổi, giới tính và trình độ học vấn.
HUPH học vấn, thời gian thực hành tiêm và được đào tạo/ tập huấn với thực hành về tiêm an toàn của đối tượng nghiên cứu
3.3.2 Liên quan giữa kiến thức với thực hành tiêm an toàn
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành tiêm an toàn
Giá trị kiểm định Đạt Chưa đạt n % N %
Trong nghiên cứu, mỗi ĐTNC được đánh giá về kiến thức một lần và về thực hành qua 4 lần tiêm Kết quả cho thấy tỷ lệ thực hành đạt ở nhóm có kiến thức tốt (27,3%) thấp hơn so với nhóm có kiến thức chưa tốt (58,3%) Nghiên cứu của chúng tôi đã phát hiện mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức và thực hành TAT với p < 0,05.
Yếu tố thông tin
Chương trình “Đào tạo, tập huấn về TAT” đã trang bị cho điều dưỡng và nữ hộ sinh kiến thức về định nghĩa mũi TAT, nhấn mạnh rằng "Tiêm an toàn là mũi tiêm không gây hại cho người được tiêm, người tiêm và cộng đồng" Nhiều hình thức đào tạo đã được các đối tượng nghiên cứu đề cập đến.
Đào tạo trong trường học có ảnh hưởng lớn đến thực hành của điều dưỡng và nữ hộ sinh tại bệnh viện Giáo trình đào tạo thường thay đổi theo từng thời kỳ và theo quy định của Bộ Y tế, nhưng nhiều trường vẫn chưa cập nhật, dẫn đến việc áp dụng quy trình tiêm cũ Quy trình tiêm mới của Bộ Y tế nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo vô khuẩn trong thực hành.
Trường đào tạo hiện nay đã chuyển từ quy trình cũ sang quy trình mới, điều này gây khó khăn cho việc ghi nhớ Một ví dụ cụ thể là sau khi rút thuốc, cần thay kim và bỏ vào bao đựng bơm tiêm.
Bên cạnh đó, khi đi học họ có thể tiếp cận đươc những kiến thức rất hữu ích
HUPH được hướng dẫn bởi đội ngũ điều dưỡng tại các bệnh viện thực tập, nhưng không phải bệnh viện nào cũng có đủ trang thiết bị chuẩn cho giảng dạy lâm sàng Điều này ảnh hưởng đến việc thực hành TAT của sinh viên điều dưỡng, như đã được phản ánh trong ý kiến của họ.
Trong thời gian thực tập tại bệnh viện, chúng tôi đã được giao nhiệm vụ tiêm thuốc dưới sự giám sát của ĐDTK Tuy nhiên, do thiếu thốn trang thiết bị và dụng cụ, chúng tôi đã phải bỏ qua một số bước trong quy trình Điều này đã ảnh hưởng đến thói quen làm việc của chúng tôi khi ra trường.
Đào tạo thực hành TAT với thông tin cập nhật cho sinh viên ngay từ trường giúp điều dưỡng và nữ hộ sinh thực hành đúng, hình thành thói quen tốt Điều này ảnh hưởng lớn đến việc thực hành tiêm của họ tại các cơ sở y tế sau này.
Giáo trình TAT cần được cập nhật liên tục và thống nhất tại các trường để học sinh có thể thực hành đúng ngay từ đầu Việc học đúng ngay từ đầu là rất quan trọng, nhằm tránh hình thành những thói quen xấu khó sửa đổi sau này.
Tại bệnh viện, việc "Đào tạo, tập huấn về TAT" đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo quy trình tiêm an toàn cho bệnh nhân và nhân viên y tế Hiện nay, nhiều điều dưỡng và nữ hộ sinh vẫn thực hiện tiêm chưa đúng theo Hướng dẫn của BYT do các trường chưa cập nhật nội dung thay đổi trong quy trình Tài liệu “Hướng dẫn tiêm an toàn” và “Phòng ngừa chuẩn” đã được triển khai để cung cấp chỉ dẫn cần thiết Trung tâm Y tế huyện Lộc Ninh đã tổ chức tập huấn về công tác TAT, giúp điều dưỡng và nữ hộ sinh nâng cao kiến thức và thực hành đúng quy trình tiêm an toàn.
Trung tâm Y tế huyện Lộc Ninh đã thực hiện quyết định 3671 của Bộ Y tế bằng cách tổ chức tập huấn về TAT và cung cấp tài liệu cho tất cả các khoa.
Hình thức tập huấn có mối liên quan chặt chẽ đến việc tiếp thu kiến thức và thực hành TAT của điều dưỡng và nữ hộ sinh.
HUPH đối tượng là điều dưỡng và nữ hộ sinh đang làm việc tại các khoa lâm sàng, do đó, hình thức tập huấn cần phải đa dạng và linh hoạt để phù hợp Tập huấn theo nhóm nhỏ và thực hành lâm sàng được đánh giá cao bởi các điều dưỡng và nữ hộ sinh.
“ Tập huấn cả lý thuyết và thực hành nhưng thực hành cần nhiều thời lượng hơn” (thảo luận nhóm)
Học trên thực tế mang lại hiệu quả cao hơn so với lý thuyết, vì việc thực hành trong nhóm nhỏ giúp kiểm tra và rút kinh nghiệm Điều dưỡng và nữ hộ sinh thường làm việc trực tiếp tại các khoa lâm sàng, nơi họ có cơ hội học hỏi và hỗ trợ lẫn nhau Việc học hỏi từ những sai sót của đồng nghiệp đã cải thiện đáng kể thực hành TAT của họ.
Nhắc nhở và rút kinh nghiệm từ những sai lầm của nhau sẽ nâng cao chất lượng thực hành điều dưỡng Để hình thành thói quen tốt, việc luyện tập thường xuyên là cần thiết Trong thực hành TAT, việc nhắc lại và tập huấn thường xuyên là rất quan trọng, theo quan điểm của ĐTNC.
Nên tổ chức tập huấn cho đội ngũ điều dưỡng viên (ĐDV) hai lần mỗi năm để củng cố kiến thức và thực hành tiêm an toàn đúng cách.
Việc phân loại đào tạo theo đối tượng là cần thiết để nâng cao chất lượng đào tạo Đối với điều dưỡng và nữ hộ sinh mới vào làm việc, họ thường thiếu kinh nghiệm thực tế Do đó, bên cạnh việc tập huấn theo quy định, việc phân công người có kinh nghiệm thực hành tiêm kèm cặp và hướng dẫn sẽ giúp họ thực hành đúng cách hơn.
Yếu tố phương tiện, dụng cụ tiêm
Cán bộ quản lý mô tả thực trạng tiêm an toàn tại bệnh viện cho biết rằng hiện chưa đủ phương tiện vệ sinh tay như xà phòng và khăn lau tay, đồng thời dung dịch sát khuẩn tay nhanh cũng chưa được cung cấp đầy đủ Ngoài ra, số lượng lavabo tại phòng bệnh cũng chưa đáp ứng yêu cầu Nhân viên y tế chưa tuân thủ quy trình kỹ thuật vô khuẩn, không rửa tay trước khi chuẩn bị dụng cụ tiêm, và việc sát khuẩn da nơi tiêm cũng chưa thực hiện đúng cách.
Trong thực hành tiêm an toàn, việc sử dụng mâm tiêm sạch sẽ và gọn gàng là rất quan trọng Cần tránh tình trạng lẫn lộn giữa các dụng cụ tiêm sạch và bẩn Ngoài ra, việc sử dụng kiềm để sát khuẩn da cũng là một bước cần thiết để hạn chế rủi ro trong quá trình tiêm.
Hầu hết điều dưỡng và nữ hộ sinh tham gia thảo luận đều nhận định rằng việc cung cấp đầy đủ và phù hợp trang thiết bị, dụng cụ tiêm có ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện tiêm chủng an toàn tại bệnh viện Thiếu thùng đựng chất thải y tế sẽ gia tăng nguy cơ không an toàn cho nhân viên y tế và những người thu gom chất thải, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ tiêm an toàn của điều dưỡng và nữ hộ sinh.
Năm trước, bệnh viện đã trang bị cho mỗi khoa một máy hủy kim, nhưng việc sử dụng gặp nhiều bất tiện do cần phải cắm điện và di chuyển theo xe tiêm Hơn nữa, máy hủy kim cũng đã bị hư hỏng.
Theo quy định, xe tiêm cần chuẩn bị đầy đủ phương tiện, dụng cụ, thuốc chống sốc, thuốc tiêm và dịch truyền Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng kích thước của xe tiêm tại các khoa hiện nay quá nhỏ, không đủ chỗ để sắp xếp các trang thiết bị cần thiết.
Một số phương tiện và dụng cụ tiêm tại bệnh viện hiện chưa đầy đủ và phù hợp, ảnh hưởng đến việc thực hiện TAT Hộp kháng thủng chưa được trang bị đầy đủ, thường sử dụng vỏ chai dịch truyền để chứa vật sắc nhọn Ngoài ra, xe tiêm quá nhỏ không đủ chỗ để sắp xếp các dụng cụ cần thiết, và khoa nhi không có bàn tiêm cho trẻ.
Bệnh viện cần trang bị xe tiêm 3 tầng với kích thước lớn để sắp xếp đầy đủ dụng cụ và thuốc men phục vụ cho việc tiêm chủng.
Trong quá trình tiêm, ĐD/NHS cần thực hiện vệ sinh tay bằng dung dịch sát khuẩn nhiều lần Nếu dung dịch sát khuẩn không đạt chất lượng và thiếu chất làm mềm, da tay sẽ bị khô ráp, dẫn đến việc không tuân thủ quy trình vệ sinh Điều này có thể làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn cho bệnh nhân và ảnh hưởng đến chất lượng mũi tiêm Do đó, chất lượng dung dịch sát khuẩn tay nhanh được coi là yếu tố quan trọng trong quy trình tiêm, theo ý kiến của nhóm thảo luận.
Bệnh viện cung cấp dung dịch rửa tay và sát khuẩn tay nhanh, nhưng chất lượng của sản phẩm này có mùi khó chịu và độ ẩm không đủ, dẫn đến tình trạng khô da Điều này có thể gây dị ứng cho những người có làn da nhạy cảm, khiến điều dưỡng ngại sử dụng.
Việc cung cấp phương tiện phòng hộ cá nhân mà không có sự kiểm soát và hướng dẫn sử dụng đúng theo Hướng dẫn TAT là nguyên nhân chính dẫn đến mũi tiêm không an toàn Thói quen thực hành theo quy trình tiêm cũ và việc sử dụng phương tiện phòng hộ không đúng cách cũng góp phần làm tăng nguy cơ không an toàn cho mũi tiêm.
Tại các khoa, việc sử dụng khẩu trang khi tiêm bắp và tiêm tĩnh mạch vẫn còn phổ biến, cùng với tình trạng lạm dụng găng tay trong quá trình tiêm tĩnh mạch và truyền dịch Điều này xảy ra do quy trình tiêm cũ vẫn đang được áp dụng.
Yếu tố quản lý
Việc tổ chức triển khai Hướng dẫn TAT có tác động lớn đến thực hành TAT của điều dưỡng và nữ hộ sinh, bởi vì Hướng dẫn này chứa nhiều nội dung mới so với các quy trình TAT trước đây mà họ đã được đào tạo Tại Trung tâm, sự thay đổi này sẽ giúp nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Y tế Lộc Ninh đã phối hợp chặt chẽ giữa Sở Y tế và Trung tâm Y tế để triển khai thực hiện TAT Trung tâm Y tế cũng đã ban hành văn bản chỉ đạo các khoa nghiêm túc thực hiện Hướng dẫn TAT Phòng Điều dưỡng có trách nhiệm tổ chức lớp tập huấn TAT cho đội ngũ Điều dưỡng và Nhân viên Y tế.
“Phòng ĐD tổ chức tập huấn về TAT cho ĐD, NHS toàn Trung tâm mỗi năm
Trong buổi học, đầu tiên, chúng tôi đã tiếp cận lý thuyết qua các slide, sau đó tiến hành thảo luận và hỏi đáp để trao đổi ý kiến Phòng Điều dưỡng đã cung cấp đầy đủ tài liệu hướng dẫn liên quan đến TAT cho các khoa.
Sau khi hoàn thành khóa tập huấn, phòng Điều dưỡng tiến hành giám sát hàng ngày và nhắc nhở từng cá nhân về việc thực hiện đúng quy trình Trung tâm Y tế có kế hoạch tổ chức thi tay nghề cho đội ngũ Điều dưỡng và Nhân viên Y tế nhằm đánh giá kiến thức và kỹ năng chuyên môn, sau đó sẽ tiến hành đào tạo lại nếu cần thiết.
Trung tâm Y tế Lộc Ninh tổ chức thi tay nghề cho Điều dưỡng viên (ĐD) và Nhân viên y tế (NHS) nhằm đánh giá khả năng thực hiện các quy trình chuyên môn Sau khi thi, những người có kết quả kém sẽ được lên kế hoạch đào tạo lại để nâng cao kỹ năng.
Việc phân công công việc hợp lý cho điều dưỡng và nhân viên y tế là yếu tố quan trọng trong việc thực hiện TAT Cần bố trí đủ nhân lực và giảm thiểu thủ tục hành chính cũng như các công việc không chuyên môn, giúp họ tập trung vào chuyên môn và nâng cao hiệu quả thực hành TAT Tại các khoa điều dưỡng, nhân viên thường phải đảm nhận nhiều nhiệm vụ từ chăm sóc bệnh nhân đến các thủ tục hành chính do thiếu nhân lực, dẫn đến khó khăn trong việc sắp xếp cán bộ theo yêu cầu công việc.
Do sự thiếu hụt nhân lực điều dưỡng tại khoa, các điều dưỡng phải đảm nhận nhiều nhiệm vụ trong ca trực Với số lượng bệnh nhân đông, có ngày lên tới hơn 60 người, công việc của điều dưỡng trở nên rất vất vả.
(Phỏng vấn ĐD Trưởng khoa)
Do áp lực công việc lớn, việc điều trị nhanh chóng là cần thiết để tất cả bệnh nhân được chăm sóc đúng thời gian theo chỉ định của bác sĩ, dẫn đến việc có thể bỏ bớt một số quy trình.
Điều dưỡng thường phải đối mặt với áp lực công việc cao, đặc biệt khi lưu lượng bệnh nhân lớn Để đảm bảo an toàn 100% cho mũi tiêm, việc tuân thủ đầy đủ quy trình là rất quan trọng, nhưng thời gian hạn chế khiến điều này trở nên khó khăn Do đó, trong một số trường hợp, điều dưỡng buộc phải bỏ qua một số bước trong quy trình.
Mỗi điều dưỡng phụ trách từ 10 đến 20 bệnh nhân, và nếu thực hiện đúng quy trình, họ có thể gặp khó khăn về thời gian Ngoài ra, điều dưỡng còn phải đảm nhận nhiều công việc khác ngoài chuyên môn, dẫn đến việc không đủ thời gian để thực hiện đầy đủ quy trình, từ đó có thể dẫn đến việc rút ngắn thao tác.
Với lượng bệnh nhân đông, việc thực hiện đầy đủ quy trình theo chuẩn của Bộ Y Tế gặp khó khăn Tuy nhiên, chúng tôi nỗ lực đảm bảo các bước an toàn cho bệnh nhân và tuân thủ nguyên tắc vô khuẩn Mặc dù không thể thực hiện tất cả các bước trong quy trình, những bước quan trọng vẫn được chúng tôi thực hiện nghiêm túc.
HUPH Để đảm bảo thực hiện tốt công việc thì TTYT cần bổ sung thêm nhân lực điều dưỡng cho các khoa, theo như ý kiến phản ánh
Với khối lượng công việc hiện tại, điều dưỡng không thể thực hiện tốt các quy trình, do đó cần tăng cường nhân lực cho khoa để đáp ứng nhu cầu công việc Đặc thù công việc tại các khoa cũng ảnh hưởng đến việc thực hiện TAT, như đã được nêu trong thảo luận nhóm.
Trong trường hợp tiêm cho trẻ em, việc thực hiện kỹ thuật bơm thuốc hai nhanh một chậm là rất khó khăn do trẻ thường giãy giụa Do đó, cần tiêm nhanh và giữ chắc để tránh bị chệch.
Các ĐTNC đều nhất trí rằng kiểm tra và giám sát đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện TAT của điều dưỡng và nữ hộ sinh Các biện pháp này được áp dụng từ phòng Điều dưỡng đến các khoa nhằm quản lý hiệu quả công tác chăm sóc bệnh nhân toàn diện Tại các khoa, Điều dưỡng Trưởng khoa thực hiện giám sát hàng ngày và kịp thời uốn nắn các sai sót nếu có.
Hàng ngày, điều dưỡng và nữ hộ sinh thực hành tại khoa dưới sự giám sát của Điều dưỡng Trưởng khoa, đồng thời nhận sự kiểm tra và nhắc nhở từ Phòng Điều dưỡng.