1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tỷ lệ tiêm chủng vắc xin bạch hầu cho trẻ 1 5 tuổi và một số yếu tố ảnh hưởng tại các xã miền núi huyện vĩnh linh, tỉnh quảng trị năm 2022

102 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu tỷ lệ tiêm chủng vắc xin bạch hầu cho trẻ 1-5 tuổi và một số yếu tố ảnh hưởng tại các xã miền núi huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị năm 2022
Tác giả Nguyễn Thanh Nam
Người hướng dẫn TS. Đỗ Thị Hạnh Trang
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 2,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng tiêm chủng vắc xin bạch hầu của trẻ bao gồm: Yếu tố dân tộc, tình trạng sức khỏe tại thời điểm tiêm, nơi sinh của trẻ; Yếu tố về nhóm tuổi, trình độ h

Trang 1

NGUYỄN THANH NAM

NGHIÊN CỨU TỶ LỆ TIÊM CHỦNG VẮC XIN BẠCH HẦU CHO TRẺ 1-5 TUỔI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

TẠI CÁC XÃ MIỀN NÚI HUYỆN VĨNH LINH,

TỈNH QUẢNG TRỊ, NĂM 2022

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701

HÀ NỘI, 2022 HUPH

Trang 2

NGUYỄN THANH NAM

NGHIÊN CỨU TỶ LỆ TIÊM CHỦNG VẮC XIN BẠCH HẦU CHO TRẺ 1-5 TUỔI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

TẠI CÁC XÃ MIỀN NÚI HUYỆN VĨNH LINH,

Trang 3

Trong suố t qua ́ trình học tập và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của các thầy cô, các anh, chi ̣,

em va ̀ các bạn đồng nghiệp Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới:

Ban Gia ́ m hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học của trường Trường Đại học

Y tế Công cộng Hà Nội, quý thầy, cô đã tạo điều kiện, hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoa ̀ n thành luận văn này

Xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

Trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội, Quý thầy cô đã không chỉ dành rất nhiều tâm sư ́ c đào tạo, hướng dẫn, động viên và chỉ bảo tận tình tôi trong suố t qua ́ trình học tập tại trường, xây dựng đề cương, thu thập số liệu và hoàn tha ̀ nh luận văn này Quý thầy cô còn là người truyền cảm hứng để tôi tự tin trong công việc và cuộc sống

Xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới Lãnh đạo Sở Y tế Quảng Trị, Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật tỉnh, Khoa Phòng chống bệnh truyền nhiễm nơi tôi đang công tác, đã cho tôi được đi học nâng cao trình độ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn này

Xin cảm ơn tới các anh/ chị/ em và các bạn đồng nghiệp đã rất nhiệt tình

hỗ trợ tôi trong thời gian thu thập số liệu của đề tài, đã luôn giúp đỡ trong công việc và cuộc sống để tôi có nhiều thời gian hơn cho học tập, nghiên cứu Xin gửi lời cảm ơn đến Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Linh đã ủng hộ tôi thực hiện đề tài này, cung cấp cho tôi những số liệu cần thiết liên quan đến đề tài này

HUPH

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU iv

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Đặc điểm chung về bệnh bạch hầu 4

1.2 Đặc điểm tiêm chủng vắc xin phòng bệnh 5

1.3 Thực trạng tiêm chủng vắc xin bạch hầu trên thế giới và tại Việt Nam 10

1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tiêm vắc xin bạch hầu trên thế giới và tại Việt Nam 14

1.5 Khung lý thuyết 20

1.6 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu 23

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 24

2.3 Thiết kế nghiên cứu 24

2.4 Cỡ mẫu 25

2.5 Phương pháp chọn mẫu 25

2.6 Phương pháp thu thập số liệu 26

2.7 Các biến số/chủ đề nghiên cứu 28

2.8 Các khái niệm, tiêu chí đánh giá 28

2.9 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 29

2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 29

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31

3.1 Các đặc điểm của trẻ từ 1-5 tuổi được điều tra 31

3.2 Các đặc điểm của người chăm sóc trẻ chính và gia đình 31

HUPH

Trang 5

3.3 Mô tả thực trạng tiêm chủng vắc xin bạch hầu ở trẻ từ 1-5 tuổi tại các xã

miền núi huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị năm 2022 36

3.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tiêm chủng vắc xin bạch hầu cho trẻ 36

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 45

4.1 Tỷ lệ tiêm chủng vắc xin phòng bệnh bạch hầu ở trẻ từ 1-5 tuổi tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị năm 2022 45

4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tiêm chủng vắc xin bạch hầu cho trẻ 46

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 1 Tỷ lệ tiêm chủng vắc xin phòng bệnh bạch hầu ở trẻ từ 1-5 tuổi tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị năm 2022 58

2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng tiêm chủng vắc xin bạch hầu của cho trẻ 58

KHUYẾN NGHỊ 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Phụ lục 1: 67

Phụ lục 2: 75

Phụ lục 3: 80

Phụ lục 4: 82 Phụ lục 5: 83 HUPH

Trang 6

GVAP Kế hoạch hành động vắc xin toàn cầu (Global

Vaccine Action Plan)

UNICEFT Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc

WHO HUPHTổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ

Bảng 3.1: Các đặc điểm của trẻ từ 1-5 tuổi được điều tra 30 Bảng 3.2: Một số đặc điểm của người chăm sóc trẻ chính và gia đình 31 Bảng 3.3 Kiến thức về bệnh bạch hầu của người chăm sóc trẻ chính 32 Bảng 3.4: Kiến thức chung của người chăm sóc trẻ chính về bệnh bạch hầu 32 Bảng 3.5: Kiến thức về tiêm vắc xin bạch hầu của người chăm sóc 33 Bảng 3.6: Hiểu biết về phản ứng phụ sau tiêm vắc xin bạch hầu của người chăm sóc trẻ chính 33 Bảng 3.7: Kiến thức chung về tiêm vắc xin bạch hầu của người chăm sóc trẻ chính 34 Bảng 3.8: Thái độ về tiêm vắc xin bạch hầu người chăm sóc trẻ chính 34 Bảng 3.9: Tỷ lệ tiêm vắc xin bạch hầu của trẻ 1-5 tuổi 35 Bảng 3.10: Mối liên quan giữa các yếu tố từ phía trẻ đến tiêm vắc xin bạch hầu cho trẻ 35 Bảng 3.11: Mối liên quan giữa các yếu tố thuộc về người chăm sóc trẻ chính đến tiêm vắc xin bạch hầu cho trẻ 37 Bảng 3.12: Mối liên quan đến tiêm vắc xin bạch hầu của trẻ, theo kiến thức của người chăm sóc trẻ chính về tiêm vắc xin bạch hầu 39 Bảng 3.13: Mối liên quan đến tiêm vắc xin bạch hầu của trẻ, theo thái độ của người chăm sóc trẻ chính 40 Bảng 3.14: Mối liên quan giữa các yếu tố thuộc về gia đình trẻ đến tiêm vắc xin bạch hầu cho trẻ 41 Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ tiêm vắc xin DPT/DPT-VGB-Hib3, tỷ lệ mắc bạch hầu tại Việt Nam 13

HUPH

Trang 8

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tỷ lệ tiêm chủng vắc xin bạch hầu cho trẻ 1-5 tuổi và một số yếu tố ảnh hưởng tại các xã miền núi huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị năm 2022” Kết quả nghiên cứu giúp xác định tỷ lệ tiêm chủng vắc xin bạch hầu thực tế tại địa phương, biết được khó khăn, tồn tại, hạn chế trong công tác tiêm chủng vắc xin bạch hầu, từ đó đề xuất, khuyến nghị các giải pháp nâng cao tỷ lệ và đảm bảo công tác an toàn tiêm chủng tại các địa bàn nghiên cứu thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 12 năm 2021 đến tháng 6 năm

2022 tại 4 xã/thị trấn là xã Vĩnh Ô, Vĩnh Hà, Vĩnh Khê, Thị trấn Bến Quan thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị bằng nghiên cứu cắt ngang, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng (phỏng vấn 492 người chăm sóc trẻ chính của 492 trẻ từ 1 đến 5 tuổi) và nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu cán

bộ y tế và thảo luận nhóm người chăm sóc trẻ chính) để thu thập thông tin

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trẻ từ 1-5 tuổi được tiêm chủng đầy

đủ vắc xin phòng bệnh bạch hầu (≥3 liều) tại địa bàn nghiên cứu là 92,9%, tỷ

lệ trẻ chưa tiêm đủ liều vắc xin phòng bệnh bạch hầu chiếm (7,1%)

Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng tiêm chủng vắc xin bạch hầu của trẻ bao gồm: Yếu tố dân tộc, tình trạng sức khỏe tại thời điểm tiêm, nơi sinh của trẻ; Yếu tố về nhóm tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thái độ về tiêm vắc xin của người chăm sóc trẻ chính, khoảng cách từ gia đình đến trạm y tế/điểm tiêm chủng, sự ủng hộ/tham gia của gia đình; Yếu tố thuộc về cơ sở y

tế (sự sẵn có vắc xin, nhân lực, dịch vụ tiêm chủng); Yếu tố cộng đồng, xã hội (thông tin về các lợi ích, các phản ứng sau tiêm chủng, hưởng ứng của cộng đồng, xã hội và tác động của việc thực hiện giãn cách do COVID-19)

Từ kết quả nghiên cứu để nâng cao tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ vắc xin bạch hầu cần tăng cường truyền thông tư vấn cho người chăm sóc trẻ về kiến

HUPH

Trang 9

thức tiêm chủng, tăng cường công tác quản lý đối tượng, lập kế hoạch chi tiết, tăng nguồn lực hỗ trợ cho các vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời cần có sự phối hợp của chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể với ngành y tế Bên cạnh đó tiếp tục tập huấn về kiến thức, kĩ năng tư vấn, giải quyết các tình huống khi xảy ra tai biến sau tiêm chủng

HUPH

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh bạch hầu lưu hành rộng rãi ở mọi nơi trên thế giới và đã gây nên các vụ dịch nghiêm trọng, nhất là ở trẻ em trong thời kỳ chưa có vắc xin dự phòng Bệnh bạch hầu là bệnh nhiễm trùng cấp tính do các dòng tạo độc tố của vi khuẩn Corynebacterium diphtheriae gây nên Nhiễm trùng gây ra bệnh

ở đường hô hấp hoặc bệnh ở da Đây là một bệnh vừa nhiễm trùng vừa nhiễm độc và các tổn thương nghiêm trọng của bệnh chủ yếu do ngoại độc tố của vi khuẩn bạch hầu gây ra (1)

Mọi lứa tuổi đều có thể bị mắc bệnh nếu không có miễn dịch đặc hiệu hoặc nồng độ kháng thể ở dưới mức bảo vệ Kháng thể của mẹ truyền sang con có tác dụng bảo vệ và thường sẽ hết tác dụng trước 6 tháng tuổi, miễn dịch có được sau mắc bệnh thường bền vững Sau tiêm vắc xin liều cơ bản miễn dịch có thể kéo dài được vài năm song thường giảm dần theo thời gian nếu không được tiêm nhắc lại (1)

Số mắc bệnh bạch hầu trung bình hàng năm giai đoạn 2011-2017 giảm 44% so với giai đoạn 2004-2010, trong các năm 2004-2012 bệnh bạch hầu cơ bản được khống chế ở Việt Nam với số ca mắc trung bình hàng năm là 21 trường hợp Tuy nhiên, giai đoạn 2013-2020 đã ghi nhận các ổ dịch bạch hầu xảy ra rải rác ở một số địa phương Năm 2013, dịch bạch hầu xảy ra ở tỉnh Gia Lai với 07 trường hợp mắc và dịch tiếp tục xuất hiện trong năm 2014 với

10 trường hợp mắc, năm 2015 có 9 trường hợp mắc Năm 2016 ghi nhận dịch

bạch hầu tại tỉnh Bình Phước và Kon Tum Năm 2019 có 7 tỉnh báo cáo 53 trường hợp mắc bạch hầu, trong đó dịch xảy ra tại 4 tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Đắk Lắk và Kon Tum Năm 2020 ghi nhận 237 ca bạch hầu tại 10 tỉnh của 3 khu vực, trong đó có các ổ dịch tại 4 tỉnh khu vực Tây Nguyên (2)

Mặc dù số mắc bạch hầu năm 2021 đã giảm, ghi nhận 06 trường hợp tại

02 tỉnh là Nghệ An (05 ca) và Gia Lai (01 ca), song nguy cơ dịch bệnh quy trở lại là hiện hữu trong tình hình tỷ lệ tiêm chủng vắc xin DPT-VGB-Hib

HUPH

Trang 11

(Bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B, Hemophilus influenzae) đạt thấp do ảnh hưởng của dịch COVID-19, cụ thể tỷ lệ tiêm vắc xin DPT-VGB-Hib3 năm 2021 chỉ đạt 83,2% trên quy mô toàn quốc (3)

Tại Việt Nam, Chương trình Tiêm chủng mở rộng bắt đầu từ năm 1981, việc triển khai tiêm vắc xin chứa thành phần bạch hầu với 3 liều cơ bản cho trẻ dưới 1 tuổi, bên cạnh đó năm 2011 thực hiện khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Việt Nam cũng đã triển khai tiêm nhắc vắc xin DPT (Bạch hầu, ho gà, uốn ván) mũi 4 cho trẻ 18 tháng tuổi trên phạm vi toàn quốc Với thành quả của tiêm chủng mở rộng, tỷ lệ mắc bệnh bạch hầu liên tục giảm từ 84,4/100.000 dân vào năm 1984 xuống dưới 0,04/100.000 dân vào những năm 2005-2010 (4)

Tại Quảng Trị, sau nhiều năm không ghi nhận ca bệnh bạch hầu trên địa bàn tỉnh thì trong năm 2020 đã xuất hiện các ổ bệnh bạch hầu với 22 trường hợp mắc bệnh bạch hầu; Tại các xã/thị trấn miền núi của huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị (xã Vĩnh Ô, Vĩnh Hà, Vĩnh Khê, thị trấn Bến Quan) ghi nhận 07 trường hợp mắc bệnh bạch hầu Các xã ghi nhận ổ dịch đa số ở vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số, việc quản lý đối tượng, vận động tiêm chủng vắc xin gặp không ít khó khăn nên nguy cơ bệnh bạch hầu quay trở lại là rất lớn (5)

Để xác định tỷ lệ tiêm vắc xin bạch hầu và một số yếu tố ảnh hưởng đến tiêm vắc xin bạch hầu tại các xã miền núi thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh

Quảng Trị, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tỷ lệ tiêm chủng vắc xin bạch hầu cho trẻ 1-5 tuổi và một số yếu tố ảnh hưởng tại các xã miền núi huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị năm 2022”

Kết quả nghiên cứu giúp xác định tỷ lệ tiêm chủng vắc xin bạch hầu thực tế tại địa phương, biết được khó khăn, tồn tại, hạn chế trong công tác tiêm chủng vắc xin bạch hầu; Từ đó có đề xuất, khuyến nghị các giải pháp nâng cao tỷ lệ và đảm bảo công tác an toàn tiêm chủng tại các địa bàn nghiên cứu thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị

HUPH

Trang 12

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Xác định tỷ lệ tiêm chủng vắc xin bạch hầu cho trẻ 1-5 tuổi tại các xã miền núi thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị năm 2022

2 Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến tiêm chủng vắc xin bạch hầu

ở trẻ 1-5 tuổi tại các xã miền núi huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị năm 2022

HUPH

Trang 13

CHƯƠNG I:

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1 1 Đặc điểm chung về bệnh bạch hầu

Trước năm 1826, trên thế giới bệnh bạch hầu được gọi bằng nhiều tên khác nhau Năm 1826, Pierre Bretonneau đặt tên bệnh là diphthérite mô tả giả mạc trong họng Vào năm 1883, Edwin Klebs xác định được vi khuẩn gây bệnh bạch hầu và đặt tên là vi khuẩn Klebs-Loeffler Hình que của vi khuẩn

này giúp cho Edwin phân biệt nó với vi khuẩn khác (6)

Vào năm 1884, Loeffler là người đầu tiên nuôi cấy C diphtheriae và ông đã sử dụng nguyên tắc Koch để chứng minh mối liên hệ giữa C diphtheriae và bệnh bạch hầu, ông cũng chỉ ra rằng trực khuẩn sản sinh ra ngoại độc tố (6)

Bệnh bạch hầu lưu hành trên toàn thế giới, các ca bệnh tản phát hoặc các vụ dịch nhỏ là hay gặp, chủ yếu ở nhóm dưới 15 tuổi không được tiêm vắc xin Tuy nhiên hiện nay đã ghi nhận số mắc tăng ở nhóm trẻ lớn và người lớn tại những vùng không được tiêm chủng hoặc tỷ lệ tiêm chủng thấp (1)

Bệnh bạch hầu lây truyền từ người sang người qua đường hô hấp do tiếp xúc trực tiếp với người bệnh hoặc người lành mang trùng hoặc hít phải các chất tiết đường hô hấp của người bệnh bắn ra khi ho, hắt hơi Bệnh cũng

có thể lây qua tiếp xúc với đồ vật bị ô nhiễm với các chất tiết của người bị nhiễm vi khuẩn bạch hầu (7)

Triệu chứng ở bệnh nhân bạch hầu là họng đỏ, nuốt đau, da xanh, mệt mỏi, sốt, hạch cổ sưng và đau Có giả mạc ở tuyến hạnh nhân, hầu họng, thanh quản và mũi Giả mạc bạch hầu thường trắng ngà hoặc màu xám, dính chặt vào xung quanh tổ chức viêm Bạch hầu thanh quản là thể nặng ở trẻ em Bệnh nhân cũng có thể bị viêm cơ tim, nhiễm độc thần kinh dẫn đến tử vong

do ngoại độc tố của vi khuẩn Tỷ lệ tử vong khoảng 5-10% (7)

HUPH

Trang 14

Bệnh bạch hầu đã có vắc xin và kháng sinh đặc hiệu để phòng và điều trị, tuy nhiên vắc xin giải độc tố bạch hầu chỉ tạo ra miễn dịch kháng độc tố

có tác dụng bảo vệ cơ thể không bị mắc bệnh nhưng không ngăn ngừa được

sự nhiễm vi khuẩn tại chỗ ở hầu họng, do đó không làm giảm được tình trạng người lành mang trùng sau khi tiêm vắc xin (1)

Người bệnh và người lành mang trùng (người nhiễm vi khuẩn nhưng không có triệu chứng lâm sàng) vừa là ổ chứa, vừa là nguồn truyền bệnh, trong đó người lành mang trùng đóng vai trò duy trì nguồn truyền nhiễm ở cộng đồng, điều này giải thích bệnh bạch hầu có thể đột nhiên xảy ra ở những nơi mà trước đó không thấy có ca bệnh xuất hiện (1)

Biến chứng thường gặp nhất trong bệnh bạch hầu là viêm cơ tim và viêm dây thần kinh, các biến chứng của bệnh là hậu quả của độc tố bạch hầu Mức độ trầm trọng của bệnh và biến chứng thường tương quan với mức độ lan tỏa của tổn thương tại chỗ Độc tố tại vị trí tổn thương ban đầu này được hấp thu vào máu và gây nên biến chứng ở các cơ quan xa (8)

Ngoài ra còn gặp các biến chứng khác như: tắc nghẽn đường hô hấp, suy tim, hôn mê, liệt cơ hô hấp và tử vong (7)

1.2 Đặc điểm tiêm chủng vắc xin phòng bệnh

1.2.1 Một số khái niệm về vắc xin và tiêm chủng

Vắc xin là chế phẩm sinh học với thành phần là các kháng nguyên có nguồn gốc từ các vi sinh vật gây bệnh đã được bào chế để làm giảm hoặc mất khả năng gây bệnh Vắc xin được chủ động đưa vào trong cơ thể để kích thích

cơ thể sinh miễn dịch chủ động phòng bệnh (9)

Hiệu quả của vắc xin đem lại là rất to lớn trong việc làm giảm tỷ lệ mắc

và tử vong của các bệnh nhiễm trùng, nó còn có những tác động lâu dài cho

cá nhân và cộng đồng như tăng khả năng và năng suất lao động do không bị

ốm đau, giảm chi phí và gánh nặng y tế cho một cộng đồng, một quốc gia (10)

HUPH

Trang 15

Về bản chất việc tiêm chủng chính là sử dụng vắc xin nhằm kích thích

cơ thể sinh ra miễn dịch chủ động đặc hiệu để chống lại một bệnh truyền nhiễm nào đó Đến nay đã có gần 30 bệnh truyền nhiễm có vắc xin phòng bệnh và khoảng 190 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đưa văc xin vào sử dụng phổ cập cho người dân và tiêm chủng thực sự có vai trò rất lớn đối với toàn xã hội (11)

Tiêm chủng là hình thức gây miễn dịch chủ động nhờ vắc xin Mũi tiêm chủng đầu tiên cho người chưa bao giờ tiếp xúc với kháng nguyên thường tạo ra kháng thể loại IgM Tùy thuộc vào khả năng đáp ứng và thời gian tiêm, mũi thứ 2 sẽ kích thích đáp ứng miễn dịch nhanh hơn, cao hơn và thường là kháng thể loại IgG Sau tiêm đủ các mũi cơ bản, miễn dịch sẽ duy trì ở mức độ cao trong thời gian dài và cho dù lượng kháng thể giảm xuống nhưng do cơ chế trí nhớ miễn dịch nên đa số trường hợp vẫn có khả năng kích thích cơ thể đáp ứng nhanh khi tiếp xúc lại với mầm bệnh (12)

Trong quá trình tiêm chủng vắc xin thì có thể xảy ra các phản ứng sau tiêm chủng gồm các dấu hiệu tại chỗ tiêm chủng hoặc toàn thân và cũng không nhất thiết do việc sử dụng vắc xin; Bao gồm hai loại phản ứng là phản ứng thông thường và tai biến nặng sau tiêm chủng Phản ứng thông thường sau tiêm chủng là các biểu hiện nhẹ và có thể tự khỏi, thường xảy ra sau khi

sử dụng vắc xin, bao gồm các triệu chứng tại chỗ như ngứa, đau, sưng hoặc

đỏ hoặc vừa sưng vừa đỏ tại chỗ tiêm; triệu chứng toàn thân như sốt dưới 39°C và các triệu chứng khác (khó chịu, mệt mỏi, chán ăn) Tai biến nặng sau tiêm chủng là phản ứng bất thường sau tiêm chủng có thể đe dọa đến tính mạng người được tiêm chủng (bao gồm các triệu chứng như khó thở, sốc phản vệ hay sốc dạng phản vệ, hội chứng sốc nhiễm độc, sốt cao, co giật, trẻ khóc kéo dài, tím tái, ngừng thở) hoặc để lại di chứng hoặc làm người được tiêm chủng tử vong (13)

HUPH

Trang 16

1.2.2 Khái quát về chương trình tiêm chủng tại Việt Nam và tại Quảng Trị

Chương trình TCMR tại Việt Nam được bắt đầu từ năm 1981 do Bộ Y

tế khởi xướng dưới sự hỗ trợ của WHO và UNICEFT Ban đầu chương trình cung cấp vắc xin phòng 6 bệnh truyền nhiễm nguy hiểm (lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, sởi) Sau một thời gian chương trình TCMR đã bắt đầu mở rộng về địa bàn triển khai và đối tượng tiêm chủng Đến nay, đã có 12 vắc xin phòng bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đã được đưa vào chương trình TCMR bao gồm vắc xin phòng bệnh lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, sởi, viêm gan B, viêm não nhật bản B, tả, thương hàn, viêm phổi/viêm màng não mủ do Hib, rubella (3)

Chương trình TCMR đã được Bộ Y tế và các tổ chức quốc tế đánh giá

là một trong những chương trình y tế công cộng hiệu quả và thành công nhất tại Việt Nam, nhờ có chương trình TCMR mà hàng năm hàng triệu trẻ em được bảo vệ trước các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm

Về hình thức tiêm chủng áp dụng tại Việt Nam thì tùy điều kiện thực tế tại địa phương, hiện nay có 02 loại hình tiêm chủng được triển khai tại Việt Nam như sau:

Tiêm chủng thường xuyên (TCTX): Buổi tiêm chủng được tổ chức tại

bởi các Trạm Y tế (TYT) tuyến xã hàng tháng và mỗi tháng chỉ tổ chức từ

01-03 ngày cố định, các TYT xã có thể có một hoặc nhiều điểm tiêm chủng cố định (3)

Tiêm chủng định kì (TCĐK): Tại một số vùng việc tiếp cận đối tượng

tiêm chủng rất khó khăn do địa lý, giao thông, đặc điểm dân cư thưa thớt…nên mỗi năm chỉ tổ chức 03-06 đợt tiêm chủng Với hình thức tiêm chủng này, việc tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch là rất khó khăn nên các địa phương hiện nay đang cố gắng khắc phục khó khăn như trang cấp thêm dây chuyền lạnh bảo quản vắc xin, bổ sung thêm nhân lực, hoặc phối hợp với các

HUPH

Trang 17

lực lượng khác (quân y, bộ đội biên phòng…) để dần chuyển sang hình thức TCTX hàng tháng (3)

Trong năm 2021, do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 các địa phương phải thực hiện giãn cách theo Chỉ thị số 15, 16, 19/CT-TTg của Chính phủ, hoạt động tiêm chủng thường xuyên trên toàn quốc bị gián đoạn, đặc biệt

là tại các tỉnh khu vực miền Nam từ tháng 7 đến tháng 10 Ngay sau khi kết thúc giãn cách, công tác tiêm chủng đã được triển khai lại, bên cạnh việc duy trì công tác an toàn tiêm chủng, các cơ sở tiêm chủng đồng thời thực hiện các biện pháp phòng chống lây nhiễm SARS-CoV-2 trong tình hình mới Nhằm tăng tỷ lệ tiêm chủng đúng lịch, đủ mũi các vắc xin, đến nay hầu hết các xã tiếp tục duy trì triển khai tiêm chủng thường xuyên với 2 đợt/tháng Bên cạnh

đó còn có một số địa phương triển khai tiêm chủng hàng tuần Trên toàn quốc 100% số xã đã triển khai tiêm chủng thường xuyên Bên cạnh đó, việc tổ chức tiêm chủng định kỳ hàng quý được thực hiện tại một số thôn bản vùng sâu,

xa, đặc biệt khó khăn, hải đảo

Số điểm tiêm chủng trên toàn quốc giảm dần qua các năm Cả nước có tổng số 13.902 điểm tiêm chủng (giảm so với năm 2020 là 14.199 điểm, năm

2019 là 14.722 điểm), trung bình có 1,3 điểm tiêm chủng/xã Số này ở khu vực miền Bắc là 1,4, khu vực miền Trung là 1,1, khu vực miền Nam là 1,0 và riêng khu vực Tây Nguyên là 2,1 Số điểm tiêm chủng ngoài trạm năm 2021

là 3.307 điểm, giảm so với năm 2020 (3.425 điểm), năm 2019 (3.539 điểm), năm 2018 (4.454 điểm) và năm 2017 (4.703 điểm) Tại những vùng khó tiếp cận như khu vực miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và hải đảo việc triển khai điểm tiêm chủng ngoài trạm để đưa dịch vụ tiêm chủng đến với cộng đồng là cần thiết (3)

Tại Quảng Trị, hiện nay chương trình TCMR đã triển khai trên phạm vi toàn tỉnh (10 huyện, thị xã, thành phố và 126 xã/phường/thị trấn), đạt được những kết quả đáng khích lệ như hàng năm duy trì tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ

HUPH

Trang 18

cho trẻ em <1 tuổi đạt trên 95% trên quy mô huyện, các chiến dịch tiêm bổ sung vắc xin vùng nguy cơ cao đạt, vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra; đảm bảo an toàn tiêm chủng Tính đến cuối năm 2021, toàn tỉnh có 126 điểm tiêm chủng

cố định tại Trạm Y tế và gần 30 điểm tiêm ngoài trạm tại các xã miền núi, vùng sâu, vùng xa Từ đầu năm 2020, do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 việc triển khai công tác tiêm chủng tại cộng đồng gặp một số khó khăn, tuy nhiên nhờ sự nỗ lực của cả hệ thống nên về cơ bản vẫn được duy trì tốt, đảm bảo an toàn và hiệu quả trong tiêm chủng (4)

1.2.3 Tiêm chủng vắc xin phòng bệnh bạch hầu

Vắc xin phòng bệnh bạch hầu đầu tiên được phát triển vào năm 1929 bởi Ramon, ông đã biến đổi độc tố bạch hầu thành dạng không gây độc nhưng vẫn có khả năng gây miễn dịch bằng cách xử lý với formaldehyde Sản phẩm này được gọi là giải độc tố (toxoid) Đây là một trong những loại vắc xin bạch hầu an toàn nhất mọi thời đại (6)

Để phòng bệnh bạch hầu, tại Việt Nam đã sử dụng các loại vắc xin như sau: Vắc xin 5 trong 1 (ComBE Five, SII) trong chương trình tiêm chủng mở rộng giúp phòng bệnh bạch hầu cùng 4 bệnh khác là viêm gan siêu vi B, ho

gà, uốn ván và viêm phổi do vi khuẩn Hib gây ra; Vắc xin 6 trong 1 trong tiêm chủng dịch vụ (Hexaxim và Infanrix hexa) giúp phòng bệnh bạch hầu cùng 5 bệnh truyền nhiễm nguy hiểm thường gặp khác là: bại liệt, uốn ván, ho

gà, viêm gan siêu vi B và viêm phổi do vi khuẩn Hib gây ra; Vắc xin 5 trong 1 trong tiêm chủng dịch vụ (Pentaxim) giúp phòng bệnh bạch hầu cùng 4 bệnh truyền nhiễm nguy hiểm thường gặp khác là: bại liệt, uốn ván, ho gà và viêm phổi do vi khuẩn Hib gây ra; Vắc xin 4 trong 1 (Tetraxim) giúp phòng bệnh bạch hầu cùng 3 bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác là uốn ván, ho gà, bại liệt; Vắc xin 3 trong 1 (DPT, Adacel, Boostrix) giúp phòng bạch hầu và 2 bệnh truyền nhiễm là uốn ván, ho gà cho trẻ em và vắc xin 2 trong 1 (Td) dành cho người từ 7 tuổi trở lên phòng bạch hầu và uốn ván (7)

HUPH

Trang 19

Để thực hiện mục tiêu kiểm soát bệnh bạch hầu thông qua TCMR theo quy định tại Thông tư số 38/2018/TT-BYT ngày 17/10/2018 của Bộ Y tế về việc ban hành danh mục bệnh truyền nhiễm, phạm vi và đối tượng phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế bắt buộc Trong đó: đối tượng tiêm là trẻ dưới 2 tuổi, lịch tiêm chủng cụ thể như sau: Lần 1 khi trẻ đủ 02 tháng tháng tuổi, lần

2 ít nhất 01 tháng sau lần 1, lần 3 ít nhất 01 tháng sau lần 2; tiêm nhắc lại khi

trẻ đủ 18 tháng tuổi và vắc xin được sử dụng là vắc xin phối hợp có chứa

thành phần bạch hầu đã được Bộ Y tế cho phép lưu hành (14)

Thực hiện tư vấn, kiểm tra sức khỏe, chỉ định, tiêm và theo dõi sau

tiêm, hướng dẫn người nhà của trẻ theo dõi phản ứng sau tiêm theo Thông tư

số 34/2018/TT-BYT ngày 16/11/2018 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn chi tiết một số điều của Nghị định 104/2016/NĐ-CP và các văn bản liên quan đến tiêm chủng có hiệu lực Công tác tư vấn, khám sàng lọc trước tiêm chủng theo Quyết định 2470/QĐ-BYT ngày 14/6/2019 của Bộ Y tế về việc ban hành hướng dẫn khám sàng lọc trước tiêm chủng đối với trẻ em (15)

Các trường hợp chống chỉ định: có tiền sử sốc hoặc phản ứng nặng sau tiêm chủng vắc xin lần trước (có cùng thành phần): sốt cao trên 390C kèm co giật hoặc dấu hiệu não/màng não, tím tái, khó thở và các trường hợp chống chỉ định khác theo hướng dẫn của nhà sản xuất đối với từng loại vắc xin (15)

Các phản ứng phụ có thể gặp khi tiêm vắc xin bạch hầu gồm 02 nhóm phản ứng: Phản ứng thông thường: sốt, đau, đỏ hoặc sưng nhẹ tại chố tiêm, những biểu hiện này tự khỏi sau 1-3 ngày và phản ứng nặng hiếm gặp bao gồm sốc phản vệ, khóc thét, co giật, giảm trương lực cơ (15)

1.3 Thực trạng tiêm chủng vắc xin bạch hầu trên thế giới và tại Việt Nam

1.3.1 Trên thế giới

Bạch hầu từng là một trong những căn bệnh có gánh nặng bệnh tật và

số tử vong cao ở trẻ em tại nhiều nước trên thế giới Từ những năm 1920 thì

HUPH

Trang 20

vắc xin phòng bệnh bạch hầu được bắt đầu được phát triển cùng với sự việc

sử dụng rộng rãi vắc xin ở nhiều nước đã làm giảm nhanh chóng tỷ lệ mắc bệnh bạch hầu Tuy vậy, hiện nay một số quốc gia trên thế giới vẫn ghi nhận bệnh bạch hầu (16)

Theo thống kê của WHO, trong năm 2014 số ca bệnh bạch hầu được báo cáo là 7.321 ca bệnh Trong 50 năm qua thì tỷ lệ tử vong trên số ca mắc bệnh bạch hầu không thay đổi Trung bình tỷ lệ tử vong trên số ca mắc bệnh bạch hầu từ 5% - 10%, tuy nhiên đối với hai nhóm tuổi là trẻ em dưới 5 tuổi

và người trên 40 tuổi thì tỷ lệ tử vong trên số ca mắc lên đến là 20% (16)

Tỷ lệ trẻ em được tiêm chủng vắc xin bạch hầu, uốn ván và ho gà (DTP) thường được sử dụng như một chỉ số để đánh giá việc cung cấp dịch

vụ tiêm chủng ở các quốc gia Vào năm 2018, tỷ lệ bao phủ toàn cầu đối với liều thứ ba của vắc xin bạch hầu, uốn ván và ho gà (DTP3) đạt 86%, tăng từ 72% vào năm 2000 và 20% vào năm 1980 Tuy nhiên, vẫn còn 83 quốc gia vẫn chưa đạt được mục tiêu Kế hoạch hành động về vắc xin toàn cầu (GVAP)

là 90% hoặc mức độ bao phủ cao hơn của DTP3 Như vậy có khoảng 19,4 triệu trẻ em dưới 1 tuổi trên toàn thế giới đã không nhận được ba liều DTP được khuyến nghị trong năm 2018 và ước tính 13,5 triệu trẻ em trong cùng độ tuổi không được hưởng lợi từ việc tiêm phòng (17)

Tỷ lệ bao phủ toàn cầu đối với liều thứ ba của vắc xin bạch hầu, uốn ván và ho gà (DTP3) năm 2021 là 81%, mức thấp nhất kể từ năm 2008 Ước tính mới nhất của WHO về tỷ lệ bao phủ tiêm chủng quốc gia (WUENIC) cũng cho thấy 112 quốc gia đã trải qua tình trạng trì trệ hoặc giảm mức độ bao phủ DTP3 kể từ năm 2019, có khoảng 25 triệu trẻ em chưa hoặc chưa được tiêm chủng vào năm 2021, trong đó hơn 60% sống ở 10 quốc gia là Ấn

Độ, Nigeria, Indonesia, Ethiopia, Brazil, Angola, Philippines, Cộng hòa Dân chủ Congo, Pakistan, Myanmar (17)

HUPH

Trang 21

Kết quả của một số nghiên cứu về tình hình tiêm chủng vắc xin bạch hầu trên thế giới như sau:

Nghiên cứu của Donna Strobino và cộng sự tiến hành trên một cộng đồng ở Mỹ cho thấy có 71% số trẻ được điều tra có tiêm 1 mũi vắc xin DPT (bạch hầu, ho gà, uốn ván) và 35% có tiêm đủ 3 mũi DPT (18)

Năm 2003, Omotara và cộng sự tiến hành tại Nigeria, cho thấy tỷ lệ tiêm 3 mũi DPT vào là 57%, đây là một trong những quốc gia có tỷ lệ được cho là thấp nhất trên thế giới (<13%) (19)

Theo nghiên cứu của Bhola Nath và cộng sự tiến hành ở Ấn Độ vào năm 2005 cho thấy trẻ được điều tra tiêm đủ 3 mũi vắc xin DPT là 53,3% và tiêm từ 1-2 mũi DPT chiếm 22,1% (20)

Một nghiên cứu khác của Hughes và cộng sự tiến hành tại hai quận ở thành phố East Java, Indonesia vào năm 2012 cho kết quả tại quận nhiều bệnh nhân mắc bệnh bạch hầu thì có tỷ lệ tiêm chủng 3 mũi vắc xin DPT thấp (57%) (21)

1.3.2 Tại Việt Nam

Giai đoạn 2012-2021, tỷ lệ mắc bệnh bạch hầu chủ yếu là <0,05 trường hợp/100.000 dân, tuy nhiên trong năm 2020 thì có 237 ca mắc, 05 ca tử vong,

Trang 22

Tỷ lệ tiêm vắc xin phòng bệnh bạch hầu (DPT3) hầu hết các năm đều đạt chỉ tiêu đề ra (90%), tuy nhiên năm 2013 tỷ lệ tiêm chủng DPT3 chỉ đạt 83%, năm 2018 đạt 74,7% và năm 2021 do ảnh hưởng của đại dịch COVID-

19 các địa phương phải thực hiện giãn cách theo chỉ thị 15, 16,19/CT-TTg của Chính phủ, hoạt động tiêm chủng thường xuyên trên toàn quốc bị gián đoạn cũng ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ tiêm chủng vắc xin phòng bệnh bạch hầu (DPT3) chỉ đạt 83,2% (3)

Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ tiêm vắc xin DPT/DPT-VGB-Hib3 và tỷ lệ mắc bạch hầu

tại Việt Nam, 1984-2021

Ở Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu tìm hiểu về tình hình tiêm chủng vắc xin phòng bệnh bạch hầu như:

Nghiên cứu tại các tỉnh phía Bắc như của Lê Hoàng Nam ở Ninh Bình, năm 2012 cho kết quả số tỷ lệ trẻ được tiêm đầy đủ vắc xin phòng bệnh bạch hầu là 94,67% (22); Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hải và cộng sự tiến hành vào năm 2015 tại thành phố Hải Phòng cho kết quả tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ vắc xin phòng bệnh bạch hầu là 84,8% (23)

Các nghiên cứu khác tại các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên như nghiên cứu của Phạm Văn Doanh và cộng sự tiến hành tại huyện K’bang, tỉnh

HUPH

Trang 23

Gia Lai vào năm 2015 cho kết quả 79% trẻ điều tra được tiêm đủ 3 mũi vắc xin DPT (24); Năm 2016, Phạm Thọ Dược và cộng sự tiến hành nghiên cứu tại huyện Konplong, tỉnh Kon Tum cho kết quả 89,8% trẻ điều tra được tiêm

đủ ít nhất 3 mũi vắc xin phòng bệnh bạch hầu (25)

1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tiêm vắc xin bạch hầu trên thế giới và tại Việt Nam

1.4.1 Yếu tố thuộc về bản thân trẻ

Một trong số yếu tố ảnh hưởng đến việc trẻ có được tiêm vắc xin hay không là các yếu tố thuộc về bản thân trẻ như sức khỏe tại thời điểm tiêm chủng, dân tộc, giới tính, nơi sinh của trẻ, cũng như tình trạng chăm sóc của trẻ đã quy định theo hướng dẫn của Bộ Y tế hoặc đã chỉ ra trong các nghiên cứu trước đây

Tình trạng sức khỏe

Bộ Y tế đã ban hành hướng dẫn khám sàng lọc trước tiêm chủng và đã quy định hoãn tiêm với các trường hợp trẻ bị ốm, sốt, đang mắc các bệnh nhiễm khuẩn cấp tính và chống chỉ định đối với các trường hợp có phản ứng nặng với những lần tiêm trước (15) Như vậy, tình trạng sức khỏe của trẻ là một trong những yếu tố quyết định trẻ được tiêm chủng

Nghiên cứu của Hồ Thị Ly Lan (2020) cho thấy 49,2% trẻ bị ốm đúng thời gian tiêm chủng là lý do trẻ không tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch (26); Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hòa và cộng sự tiến hành năm 2014 tại tỉnh Thừa Thiên Huế cho kết quả một trong hai nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ tiêm vắc xin DPT-VGB-Hib thấp là do trẻ bị ốm (52,4%) (27)

Cũng theo nghiên cứu của Lê Hoàng Nam tiến hành vào năm 2012 tại tỉnh Ninh Bình, qua phỏng vấn sâu các bà mẹ có con không được tiêm chủng đầy đủ vắc xin bạch hầu do vấn đề sức khỏe của trẻ trong thời điểm tiêm (22)

Dân tộc

HUPH

Trang 24

Một số nghiên cứu trước đây cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa dân tộc với tỷ lệ tiêm chủng đủ liều vắc xin, người chăm sóc trẻ

là người Kinh thì tỷ lệ tiêm chủng cao hơn so với dân tộc thiểu số

Nghiên cứu của Trịnh Quang Trí và cộng sự tiến hành vào năm 2013 tại tỉnh Đăk Lăk chỉ ra rằng trẻ em người Kinh có tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ (87,5%) gấp 1,21 lần so với trẻ em người dân tộc thiểu số (71,8%) (28)

Theo nghiên cứu của Phạm Thọ Dược và cộng sự tiến hành tại huyện Konplong, tỉnh Kon Tum vào năm 2016 cho kết quả trẻ dân tộc thiểu số có tỷ

lệ tiêm đầy đủ (≥3 liều) thấp hơn so với trẻ người Kinh 7,2 lần (25)

Một nghiên cứu khác của Phạm Văn Doanh và cộng sự tiến hành tại huyện K’bang, tỉnh Gia Lai vào năm 2015 cho kết quả trẻ dân tộc thiểu số có

tỷ lệ tiêm đầy đủ (≥3 liều) thấp hơn so với trẻ người Kinh (24)

Nơi sinh

Một yếu tố ảnh hưởng đến tiêm chủng đầy đủ của trẻ là nơi sinh của trẻ như nghiên cứu của Trịnh Quang Trí và cộng sự tiến hành năm 2013 tại tỉnh Đăk Lăk cho kết quả trẻ sinh ra tại cơ sở y tế hoặc sinh tại nhà có cán bộ y tế

đỡ đẻ thì có tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ gấp 1,4 lần so với những trẻ sinh tại nhà không do cán bộ y tế đỡ đẻ (28)

Giới tính

Một số nơi còn phong tục tập quán lạc hậu, vấn đề giới tính của trẻ cũng có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêm chủng, đặc biệt ở những địa phương vẫn

còn mang nặng tư tưởng trọng nam kinh nữ

1.4.2 Yếu tố thuộc về người chăm sóc trẻ chính và gia đình

Theo kết quả của một số nghiên cứu, các đặc điểm của người chăm sóc trẻ bao gồm: tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, kiến thức, thái độ của người chăm sóc trẻ chính về bệnh bạch hầu, tiêm chủng vắc xin bạch hầu và đặc điểm về gia đình (khoảng cách từ gia đình đến Trạm Y tế/điểm tiêm chủng, sự

HUPH

Trang 25

ủng hộ/tham gia của người nhà đưa trẻ đi tiêm chủng) là những yếu tố ảnh

hưởng đến việc trẻ có hay không được tiêm vắc xin

1 tuổi Phân tích đơn biến cho thấy tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cao hơn ở nhóm

mẹ dưới 30 tuổi, sự khác biệt có ý ngĩa thống kê với p=0,043, OR= 3,00 (29)

Còn theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Huyền Trang, Nguyễn Thị Nguyệt Ánh, Hồ Thị Minh Lý nghiên cứu với đối tượng nghiên cứu là 240 trẻ

từ 12 – 23 tháng tuổi đang sinh sống trên địa bàn khu vực quận Thanh Xuân

và bà mẹ/người chăm sóc tương ứng với 240 trẻ năm 2017 cho thấy yếu tố liên quan đến tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ của trẻ là tuổi mẹ trên 30 (OR: 0,23; CI: 0,04 - 0,98) (30)

Nghề nghiệp

Kết quả của một số nghiên cứu trước đó đã chỉ ra mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nghề nghiệp với tỷ lệ tiêm chủng đủ liều vắc xin như trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tuấn trên 600 bà mẹ có trẻ từ 12-23 tháng tuổi và 120 nhân viên làm công tác tiêm chủng tại các trạm y tế xã ở Hà Tĩnh năm 2013 chỉ ra rằng nghề nghiệp của bà mẹ có ảnh hưởng đến việc tiêm chủng đầy đủ của trẻ (31)

Nghề nghiệp của bà mẹ cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ TCĐĐ như nghiên cứu của Trương Văn Dũng tại huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh, năm 2010 cho thấy trẻ TCĐĐ đúng lịch ở nhóm bà mẹ có nghề nghiệp nông dân thấp hơn các bà mẹ có nghề nghiệp khác (32) Nghiên cứu của Phạm Minh Khuê tại huyện Tiên Lãng, Hải Phòng năm 2010 cũng cho kết quả tương tự (33)

HUPH

Trang 26

Trình độ học vấn

Trình độ học vấn của bà mẹ cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ TCĐĐ như nghiên cứu năm 2017 của nhóm tác giả ở 480 trẻ em 12-23 tháng tuổi tại Đồng bằng Kwahu Afram, khu vực phía Đông, Ghana cho thấy trình độ học vấn của các bà mẹ có liên quan (p<0.05) với tình trạng tiêm chủng ở trẻ em (34); Theo tác giả Nguyễn Thị Huyền Trang, Nguyễn Thị Nguyệt Ánh, Hồ Thị Minh Lý nghiên cứu trên địa bàn khu vực quận Thanh Xuân năm 2017 cho thấy yếu tố liên quan đến tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ của trẻ là trình độ học vấn của mẹ trên trung học phổ thông (OR: 4,03; CI: 1,10 - 13,28) (30)

Còn theo nghiên cứu năm 2013 của Trịnh Quang Trí và cộng sự tiến hành nghiên cứu tại tỉnh Đăk Lăk cho kết quả trình độ học vấn của người mẹ càng cao thì tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ của con họ cũng cao (28) và nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương năm 2015 tại Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh cho thấy bà mẹ có trình độ học vấn từ THPT trở lên được TCĐĐ cao gấp 3,2 lần so với trẻ có bà mẹ có trình độ học vấn thấp hơn (35)

Kiến thức, thái độ của người chăm sóc trẻ chính về bệnh và tiêm chủng vắc xin

Một số nghiên cứu đã cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức, thái độ của người chăm sóc trẻ với khả năng tiêm chủng đầy

HUPH

Trang 27

Còn theo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hải và cộng sự tiến hành vào năm 2015 tại thành phố Hải Phòng cho thấy yếu tố liên quan đến tình trạng không tiêm chủng đầy đủ vắc xin bạch hầu của trẻ là do sự lo lắng của bà mẹ

về tính an toàn của vắc xin (23)

Yếu tố gia đình

Một số nghiên cứu đã cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng tiêm chủng với đặc điểm gia đình của trẻ (Khoảng cách từ nhà đến Trạm Y tế/điểm tiêm chủng, sự ủng hộ/tham gia của người nhà đưa trẻ đi tiêm chủng)

Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tiêm chủng đầy đủ của trẻ là sự ửng hộ, hỗ trợ của gia đình Sự ủng hộ, tham gia của người nhà đưa trẻ đi tiêm chủng, giúp đỡ, chăm sóc làm tăng tỷ lệ tiêm chủng; Nghiên cứu năm

2013 về các yếu tố hạn chế tỷ lệ tiêm chủng ở đô thị Dili, Timor-Leste ở đối tượng người chăm sóc trẻ từ 6 tháng đến 23 tháng tuổi đã cho thấy một trong những lý do chính cho tỷ lệ tiêm chủng thấp là yếu tố về gia đình: thiếu sự hỗ trợ của chồng, ông bà (36), nghiên cứu của Đỗ Thị Thắm (2017) nhận định rằng thiếu sự hỗ trợ của gia đình là một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ

lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ thấp (37)

Bên cạnh đó là khoảng cách từ nhà đến Trạm Y tế/điểm tiêm chủng ảnh hưởng đến tiêm chủng như theo nghiên cứu của Nanthavong và cộng sự vào năm 2013 tại Lào cho kết quả những yếu tố liên quan đến tình trạng không tiêm vắc xin bạch hầu là do khoảng cách từ nhà đến điểm tiêm chủng xa (các trẻ ở gần trạm y tế có tỷ lệ tiêm phòng đầy đủ cao hơn các trẻ ở xa (38); Nghiên cứu của Phạm Thọ Dược và cộng sự tiến hành năm 2016 tại huyện Konplong, tỉnh Kon Tum cho kết quả trẻ ở những gia đình cách xa trạm y tế

≥3 km có tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ thấp hơn so với những trẻ ở gần trạm y tế hơn (25)

HUPH

Trang 28

1.4.3 Yếu tố cộng đồng, xã hội

Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tiêm chủng đầy đủ của trẻ là sự hưởng ứng của cộng đồng và xã hội; Nghiên cứu định tính của Omotara và cộng sự tiến hành tại Nigeria cho thấy lý do giải thích cho việc tiêm chủng không đầy đủ đó là thiếu lịch tiêm chủng, thiếu sự tham gia của lãnh đạo tôn giáo, người đứng đầu cộng đồng (19); Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Tân năm

2016 về thực trạng tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch cho trẻ dưới 1 tuổi và một số yếu tố liên quan tại huyện Phú Mỹ, tỉnh Bình Định năm 2016 cho thấy sự thiếu quan tâm, phối hợp của các ban ngành địa phương là một trong các yếu

tố chính ảnh hưởng đến tình trạng tiêm chủng đầy đủ (39)

Thứ hai là thông tin về lợi ích, các phản ứng xảy ra sau tiêm chủng cũng ảnh hưởng đến tiêm chủng như đánh giá của Dương Thị Hồng năm 2010 thì tại Việt Nam, việc tuyên truyền về chương trình TCMR chưa nhiều, chưa sâu nên cộng đồng chưa hiểu biết một cách đầy đủ (40); Một nghiên cứu khác của Phạm Văn Doanh và cộng sự tiến hành tại huyện K’bang, tỉnh Gia Lai vào năm 2015 cho thấy sự thiếu hiểu biết của cha, mẹ/người chăm sóc trẻ về lợi ích của việc phòng bệnh bằng vắc xin dẫn đến tình trạng không tiêm đầy

đủ 3 liều vắc xin DPT (24)

Thứ ba là đại dịch COVID-19 ảnh hưởng đến tiến độ tiêm chủng các loại vắc xin trong năm 2020, 2021 theo đánh giá tổng kết chương trình TCMR của Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương Với làn sóng lây nhiễm thứ tư, thực hiện chỉ đạo của Bộ Y tế về thực hiện giãn cách xã hội, công tác tiêm chủng tạm dừng trên qui mô khu vực, tỉnh, huyện từ tháng 5/2021 tại nhiều địa phương có dịch Các tuyến tập trung toàn bộ nhân lực y tế cho công tác chống dịch và tổ chức tiêm chủng vắc xin COVID-19 Đồng thời ghi nhận tình trạng một số bậc cha mẹ không đưa con đi tiêm chủng trong thời gian dịch do lo ngại lây nhiễm vi rút SARS-CoV-2 khiến trẻ tiêm chủng muộn, tiêm thiếu mũi vắc xin Tỷ lệ tiêm chủng đủ mũi, đúng lịch thấp ở nhiều vắc xin, nhu cầu

HUPH

Trang 29

sử dụng vắc xin trong năm 2020, 2021 giảm rõ rệt do hoàn cảnh khách quan đại dịch COVID 19 làm gia tăng nguy cơ dịch bệnh trong các năm tới đây (3)

1.4.4 Yếu tố thuộc về cơ sở y tế

Các yếu tố thuộc về cơ sở y tế bao gồm yếu tố về vắc xin (tính sẵn có của vắc xin ), nhân lực (số lượng, trình độ cán bộ trong chương trình TCMR ), dịch vụ y tế (tính sẵn có và chất lượng tiêm chủng ) là các yếu tố ảnh hưởng đến tiêm vắc xin

Việc lập kế hoạch tiêm chủng, dự trù, cung cấp vắc xin đầy đủ thì tỷ lệ TCĐĐ càng cao như nghiên cứu của Nguyễn Văn Hòa và cộng sự tiến hành vào năm 2014 tại tỉnh Thừa Thiên Huế cho thấy tỷ lệ tiêm chủng vắc xin DPT-VGB-Hib thấp do nguyên nhân thiếu vắc xin (57,3%) (27); Nghiên cứu của Trương Văn Dũng tại huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh cho thấy tỷ lệ TCĐĐ đúng lịch đạt thâp do hết vắc xin (32)

Nhân lực tham gia công tác TCMR là yếu tố quan trọng; Theo nghiên cứu năm 2016 của Nguyễn Ngọc Tân tại huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định cho thấy yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêm chủng là do nhân lực làm công tác TCMR không ổn định và kiêm nhiệm nhiều chương trình (39); Kết quả của nghiên cứu Nguyễn Đức Hiền thì yếu tố liên quan đến TCĐĐ đó là nhân sự làm công tác tiêm chủng không ổn định, kiêm nhiệm nhiều việc (41)

Yếu tố dịch vụ tiêm chủng như tính sẵn có, chất lượng dịch vụ là yếu tố góp phần tạo nên sự thành công của chương trình TCMR như một nghiên cứu khác năm 2013 tại đô thị Dili, Timor-Leste ở đối tượng người chăm sóc trẻ từ

6 tháng đến 23 tháng tuổi đã chỉ ra những lý do chính ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêm chủng như tiếp cận với các dịch vụ, thông tin tiêm chủng hạn chế, yếu tố thái độ và thực hành của nhân viên y tế trong lĩnh vực tiêm chủng (36)

Trang 30

điểm tình hình thực tế tại địa phương và cũng như kết quả của một số nghiên cứu về thực trạng tiêm vắc xin bạch hầu, nghiên cứu về kiến thức thái độ của

bà mẹ về tiêm vắc xin bạch hầu trong tổng quan tài liệu

HUPH

Trang 31

Trẻ 1-5 tuổi được tiêm

đủ mũi vắc xin bạch hầu

Yếu tố thuộc về người chăm sóc trẻ chính và

gia đình:

Thông tin nhân khẩu học của người chăm sóc

trẻ chính: Tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn

Kiến thức của người chăm sóc trẻ chính:

- Về bệnh bạch hầu: biết bệnh bạch hầu, khả năng

lây, khả năng điều trị, biến chứng của bệnh, dự

phòng bệnh bằng vắc xin

- Về tiêm vắc xin bạch hầu: biết đến vắc xin bạch

hầu, đối tượng tiêm, số liều tiêm, thời gian tiêm,

các trường hợp hoãn tiêm, phản ứng có thể gặp

sau tiêm

Thái độ của người chăm sóc trẻ chính:

Đánh giá về mức độ cần thiết của tiêm, mức độ an

toàn của tiêm, mức độ tin tưởng vào trình độ của

cán bộ, chất lượng vắc xin bạch hầu

Yếu tố gia đình:

Khoảng cách từ nhà đến Trạm Y tế/điểm tiêm

chủng, sự ủng hộ/tham gia của người nhà đưa trẻ

đi tiêm chủng

Yếu tố thuộc về trẻ:

Tình trạng sức khỏe, dân tộc, nơi sinh, giới tính, tình trạng chăm sóc

Yếu tố cộng đồng, xã hội:

- Thông tin về các lợi ích của tiêm chủng

- Thông tin về các phản ứng sau tiêm chủng

- Hưởng ứng của cộng đồng, xã hội

- Tác động của việc thực hiện giãn cách

Yếu tố thuộc về cơ sở y tế:

Trang 32

1.6 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu

Huyện Vĩnh Linh nằm ở phía Bắc tỉnh Quảng Trị Phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp huyện Hướng Hóa, phía Nam giáp huyện Gio Linh và phía Bắc giáp huyện Lệ Thủy (tỉnh Quảng Bình) Huyện có nhiều đường giao thông trọng yếu đi qua: Quốc lộ 1A, đường sắt Bắc - Nam và đường Hồ Chí Minh Đơn vị hành chính gồm 15 xã, 3 thị trấn, diện tích tự nhiên là 620 km2.Dân số 93.939 người, 25.151 hộ, 149 thôn, bản, khu phố Huyện Vĩnh Linh là huyện thuần nông, cơ cấu kinh tế của huyện: nông nghiệp (51%), công nghiệp

- tiểu thủ công nghiệp (28%), thương mại - dịch vụ (21%) (43)

Trên địa bàn huyện Vĩnh Linh có các đơn vị y tế là Phòng Y tế, Trung tâm Y tế và 18 trạm y tế xã, thị trấn

Nghiên cứu được thực hiện tại các xã Vĩnh Ô, Vĩnh Hà, Vĩnh Khê, Thị trấn Bến Quan Địa bàn của 04 xã, thị trấn nghiên cứu nằm ở phía Tây của huyện Vĩnh Linh, dọc theo tuyến đường Hồ Chí Minh, với tổng dân số 8.303 (người), số hộ có trẻ từ 01-05 tuổi là 1.101 (hộ) Đặc thù các xã, thị trấn này cách xa trung tâm huyện, giao thông đi lại khó khăn, việc triển khai công tác TCMR còn gặp không ít khó khăn, trình độ kiến thức của người dân về tiêm chủng phòng bệnh còn hạn chế Trong tháng 7 và tháng 8 năm 2020, ghi nhận

07 trường hợp mắc bệnh bạch hầu do đó nguy cơ dịch bệnh quay trở lại là hiện hữu, đe dọa sức khỏe của người dân trên địa bàn (44) HUPH

Trang 33

CHƯƠNG 2:

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu định lượng:

Người chăm sóc trẻ chính (người dành nhiều thời gian/sức lực chăm sóc trẻ nhất trong gia đình): Tiêu chuẩn chọn vào điều tra là người ≥18 tuổi, không có vấn đề về sức khỏe tâm thần, thiểu năng trí tuệ, không bị câm hay khiếm thính, đồng ý tự nguyện tham gia vào nghiên cứu và mỗi hộ gia đình chỉ điều tra 01 đối tượng cùng người chăm sóc trẻ chính

Tiêu chuẩn loại trừ trẻ và người chăm sóc trẻ chính: Người chăm sóc

trẻ chính có thiểu năng về nghe, nói và vấn đề sức khỏe tâm thần; Người chăm sóc trẻ chính vắng nhà hoặc từ chối phỏng vấn hoặc trẻ được tiêm chủng từ nơi khác chuyển đến

Nghiên cứu định tính: Lãnh đạo, chuyên trách tiêm chủng TTYT huyện

Vĩnh Linh, Trưởng trạm Y tế/Chuyên trách tiêm chủng các xã Vĩnh Ô, Vĩnh

Hà, Vĩnh Khê, thị trấn Bến Quan thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị,

người chăm sóc trẻ chính Các đối tượng đồng ý tham gia vào nghiên cứu

2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12/2021 - tháng 06/2022

- Địa điểm nghiên cứu: Tại xã Vĩnh Ô, Vĩnh Hà, Vĩnh Khê, thị trấn Bến Quan thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Sử dụng thiết kế cắt ngang kết hợp nghiên cứu định tính với nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu định lượng thu thập thông tin từ người chăm sóc trẻ chính

về thực trạng tiêm vắc xin bạch hầu, tìm hiểu các yếu tố từ phía trẻ và người chăm sóc trẻ chính liên quan tới tiêm vắc xin bạch hầu

HUPH

Trang 34

Nghiên cứu định tính thu thập thông tin từ cán bộ y tế tuyến huyện, xã

và người chăm sóc trẻ chính để tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng tới tiêm vắc xin bạch hầu

- n là số trẻ em từ 1-5 tuổi cần điều tra

- Chọn p = 0,5

- e là độ chính xác mong muốn, chọn e = 0,05

Thay số vào công thức ta tính được cỡ mẫu: n = 384 Dự kiến đối tượng không tham gia nghiên cứu là 20% Như vậy, cỡ mẫu tối thiểu cần thu thập n= 460 Thực tế số đối tượng tiến hành thu thập thông tin là 492 trẻ và 492 người chăm sóc trẻ

2.4.2 Định tính:

06 cuộc phỏng vấn sâu (01 Lãnh đạo TTYT huyện Vĩnh Linh phụ trách

y tế xã, 01 chuyên trách tiêm chủng TTYT huyện, 04 Trưởng trạm Y tế/Chuyên trách tiêm chủng các xã Vĩnh Ô, Vĩnh Hà,Vĩnh Khê, Thị trấn Bến Quan thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị) và 01 buổi thảo luận nhóm với

Trang 35

- Lập danh sách tổng số hộ gia đình có trẻ 1-5 tuổi trên địa bàn 4 xã/thị trấn (xã Vĩnh Ô, Vĩnh Hà,Vĩnh Khê, Thị trấn Bến Quan) Tổng số hộ gia đình

có trẻ 1-5 tuổi là: 1.101 (hộ)

- Tính khoảng cách mẫu k = 1.101/492 = 2

- Bốc thăm ngẫu nhiên chọn hộ gia đình đầu tiên trong danh sách (x)

- Chọn hộ gia đình tiếp theo có số thứ tự trong danh sách là x + k, x+2k,…, x+(n-1)k, chọn tiếp theo cho đến cỡ mẫu là 492

Lưu ý: Mỗi hộ chỉ điều tra 01 đối tượng cùng người chăm sóc trẻ chính Nếu trong hộ gia đình có nhiều hơn 1 trẻ (từ 1 - 5 tuổi), thì chọn ngẫu nhiên trẻ trong hộ gia đình đó

2.5.2 Định tính:

Chọn có chủ đích 06 cán bộ:

- Lãnh đạo TTYT huyện phụ trách y tế xã, 01 chuyên trách tiêm chủng TTYT huyện, 04 Trưởng trạm Y tế/Chuyên trách tiêm chủng các xã Vĩnh Ô, Vĩnh Hà, Vĩnh Khê, Thị trấn Bến Quan thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị

- Chọn chủ đích 2 nhóm: người chăm sóc của trẻ tiêm đủ và nhóm người chăm sóc của trẻ không tiêm đủ số mũi vắc xin, mỗi nhóm 10 người

2.6 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu

2.6.1 Công cụ và phương pháp thu thập thông tin định lượng

Công cụ thu thập thông tin: Sử dụng bộ câu hỏi bán cấu trúc đã thiết kế

HUPH

Trang 36

Đối chiếu danh sách trẻ từ 1-5 tuổi đã được điều tra tại hộ gia đình với

sổ quản lý tiêm chủng tại trạm y tế Dựa vào thông tin về số lần trẻ đã tiêm chủng trong sổ tiêm chủng tại trạm y tế thì điều tra viên kết luận tình trạng tiêm chủng vắc xin bạch hầu của trẻ Trong trường hợp có sự sai lệch giữa các nguồn thông tin thì nguồn thông tin có giá trị từ cao đến thấp lần lượt là phiếu tiêm chủng cá nhân, sổ tiêm chủng cá nhân, sổ tiêm chủng trẻ em tại TYT xã, phần mềm tiêm chủng

Điều tra viên là cán bộ Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Quảng Trị; TTYT tuyến huyện Vĩnh Linh và TYT xã phối hợp (gồm 08 cán bộ) , giám sát viên là chủ nhiệm đề tài Các điều tra viên được tập huấn về kỹ năng phỏng vấn sau đó được nhận bộ câu hỏi phỏng vấn, kế hoạch thu thập số liệu, danh sách các đối tượng được chọn cho nghiên cứu Sau khi điều tra viên nộp phiếu điều tra là bộ câu hỏi phỏng vấn đã được đối tượng trả lời cho giám sát viên, giám sát viên kiểm tra phiếu về số lượng, chất lượng và kiểm tra xác suất 10% số phiếu đã điều tra, nếu không đạt yêu cầu điều tra viên đó làm lại

2.6.2 Công cụ và phương pháp thu thập thông tin định tính

Công cụ thu thập thông tin: Bản hướng dẫn phỏng vấn sâu và bản thảo

HUPH

Trang 37

2.7 Các biến số/chủ đề nghiên cứu

Nghiên cứu định lượng:

Chi tiết biến định lượng (chi tiết phụ lục 1)

Chủ đề nghiên cứu định tính:

Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng tiêm vắc xin bạch hầu (các yếu tố thuộc về trẻ, các yếu tố thuộc về người chăm sóc chính và gia đình, các yếu tố

về phía cơ sở y tế, các yếu tố cộng đồng, xã hội)

2.8 Các khái niệm, tiêu chí đánh giá

Trẻ từ 1- 5 tuổi tiêm chủng đầy đủ vắc xin bạch hầu là trẻ được tiêm đầy đủ ít nhất 03 liều vắc xin chứa thành phần bạch hầu (14)

2.8.2 Đánh giá kiến thức của người chăm sóc trẻ chính về bệnh bạch hầu

và tiêm vắc xin bạch hầu

Phần kiến thức về bệnh bạch hầu: các lựa chọn đúng được tính 1 điểm

và cộng điểm phần kiến thức về bệnh viêm bạch hầu là 6 điểm; Từ 3 điểm trở xuống đánh giá không đạt, trên 3 điểm điểm trở lên là đa ̣t (chi tiết phụ lục 3) (45)

Phần kiến thức về tiêm vắc xin bạch hầu: các lựa chọn đúng được tính

1 điểm và cộng điểm phần kiến thức về tiêm vắc xin bạch hầu là 11 điểm

Dưới 6 điểm đánh giá không đạt, từ 6 điểm trở lên là đạt (chi tiết phụ lục 3) (45)

HUPH

Trang 38

2.8.3 Đánh giá thái độ của người chăm sóc trẻ chính về tiêm vắc xin bạch hầu

Phần thái độ của người chăm sóc trẻ chính đối với tiêm vắc xin bạch hầu cho trẻ được đánh giá là tích cực khi đánh giá việc tiêm vắc xin bạch hầu

là cần thiết, tiêm vắc xin bạch hầu là an toàn, tin tưởng vào trình độ chuyên

môn của cán bộ y tế, tin tưởng vào chất lượng vắc xin (45)

2.9 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

+ Thông tin định lượng: Số liệu được nhập bằng phần mềm Excel (02 cán bộ nhập độc lập với nhau), làm sạch và sau đó được phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0 Các phân tích được chia làm 2 phần:

- Phần mô tả: Sử dụng tần số, tỷ lệ % để mô tả các biến số nghiên cứu

- Phần phân tích: Kiểm định χ2 , OR, 95% CI, mức ý nghĩa p<0.5 được

sử dụng để xác định sự khác biệt có nghĩa thống kê

2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

- Bộ câu hỏi không có các vấn đề nhạy cảm, riêng tư nên không liên quan đến tâm lý và sức khoẻ của đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ về mục đích nghiên cứu Điều tra viên chỉ thu thập thông tin khi đối tượng nghiên cứu đồng ý tham gia nghiên cứu

- Tên, tuổi đối tượng nghiên cứu được mã hóa, trích dẫn phù hợp, đảm bảo không bộc lộ danh tính của đối tượng, liên quan đến công việc và cuộc sống của đối tượng tham gia nghiên cứu

HUPH

Trang 39

- Nghiên cứu có sự phê duyệt của hội đồng đạo đức của trường Đại học

Y tế công cộng (số 8/2022/YTCC-HD3 ngày 14/01/2022)

- Nghiên cứu được chấp thuận của TTYT huyện Vĩnh Linh; Đối tượng nghiên cứu được giải thích, thông báo về mục đích, cách thức và đồng ý tham gia nghiên cứu

HUPH

Trang 40

CHƯƠNG 3:

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Các đặc điểm của trẻ từ 1-5 tuổi được điều tra

Bảng 3.1: Các đặc điểm của trẻ từ 1-5 tuổi được điều tra

3.2 Các đặc điểm của người chăm sóc trẻ chính và gia đình

3.2.1 Các đặc điểm của người chăm sóc trẻ chính và gia đình

HUPH

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y tế, Quyết định số 3593/QĐ-BYT về việc ban hành hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh bạch hầu, 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 3593/QĐ-BYT về việc ban hành hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh bạch hầu
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2020
2. Quyết định số 1031/QĐ-BYT nga ̀y 29/4/2022 của Bộ Y tế về việc phê duyệt Kế hoạch tiêm bổ sung vắc xin Uốn ván-Bạch hầu giảm liều (Td) năm 2022 tại 32 tỉnh/thành phố Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch tiêm bổ sung vắc xin Uốn ván-Bạch hầu giảm liều (Td) năm 2022 tại 32 tỉnh/thành phố
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2022
3. Bộ Y tế, Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương (2022), Báo cáo tổng kết Tiêm chủng mở rộng năm 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết Tiêm chủng mở rộng năm 2021
Tác giả: Bộ Y tế, Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương
Năm: 2022
5. Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Quảng Trị (2021), Báo cáo công tác phòng chống dịch bệnh giai đoạn 2016-2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo công tác phòng chống dịch bệnh giai đoạn 2016-2020
Tác giả: Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Quảng Trị
Năm: 2021
6. Wikipedia. Bệnh Bạch Hầu, [tham khảo ngày 19/3/2021], tại địa chỉ: https://vi.wikipedia.org/wiki/bạch_hầu Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh Bạch Hầu
Tác giả: Wikipedia
Năm: 2021
7. Hội Y học dự phòng Việt Nam (2020), Khuyến cáo lịch tiêm chủng vắc xin cho mọi lứa tuổi ở Việt Nam, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyến cáo lịch tiêm chủng vắc xin cho mọi lứa tuổi ở Việt Nam
Tác giả: Hội Y học dự phòng Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2020
8. Hansmeier, N., et al., A comprehensive proteome map of the lipid- requiring nosocomial pathogen Corynebacterium jeikeium K411 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A comprehensive proteome map of the lipid- requiring nosocomial pathogen Corynebacterium jeikeium K411
Tác giả: Hansmeier, N., et al
9. Quốc hội khóa 12 (2007), Luật phòng chống bệnh truyền nhiễm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật phòng chống bệnh truyền nhiễm
Tác giả: Quốc hội khóa 12
Năm: 2007
10. Thái Bình, Cảnh báo: Nhiễm cúm mùa cũng có thể tử vong, 2018 [cited 07/07/2018; Available from: http://suckhoedoisong.vn/canh-bao-nhiem-cum-mua-cung-co-the-tu-vong-n145751.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảnh báo: Nhiễm cúm mùa cũng có thể tử vong
Tác giả: Thái Bình
Nhà XB: Sức khỏe và Đời sống
Năm: 2018
11. Trần Như Dương, Vai trò của vắc xin và tiêm chủng, Available from: http://nihe.org.vn/vn/tin-tuc-su-kien/chuong-trinh-va-du-an-quoc-gia/chuong-trinh-tiem-chung-mo-rong-quoc-gia/vai-tro-cua-vac-xin-va-tiem-chung-c12335i15229.htm.HUPH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của vắc xin và tiêm chủng
Tác giả: Trần Như Dương
4. Dự án tiêm chủng mở rộng (2012), Thành quả 25 năm tiêm chủng mở rộng ở Việt Nam, Nhà xuất bản Y học Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm