1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng đào tạo liên tục của điều dưõng lâm sàng và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện quận thủ đức, thành phố hồ chí minh giai đoạn 2016 2019

129 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng đào tạo liên tục của điều dưỡng lâm sàng và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2016-2019
Tác giả Nguyễn Xuân Chi
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Đức Thành
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Quản lý Y tế
Thể loại Luận văn chuyên khoa
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 3,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU (14)
    • 1.1. Một số khái niệm (14)
      • 1.1.1. Nhân lực y tế (14)
      • 1.1.2. Đào tạo liên tục (15)
      • 1.1.3. Điều dưỡng (16)
        • 1.1.3.1. Tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp của điều dưỡng (16)
        • 1.1.3.2. Nhiệm vụ chuyên môn của điều dưỡng (17)
    • 1.2. Một số văn bản chính sách liên quan đến đào tạo liên tục (18)
      • 1.2.1. Trên thế giới (18)
      • 1.2.2. Tại Việt Nam (19)
    • 1.3. Một số nghiên cứu về công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng (22)
      • 1.3.1. Trên thế giới (22)
      • 1.3.2. Tại Việt Nam (23)
    • 1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục (26)
      • 1.4.1. Nhóm yếu tố thuộc về cá nhân (26)
      • 1.4.3. Các yếu tố thuộc về đơn vị chủ quản (27)
      • 1.4.1. Tổng quan bệnh viện Quận Thủ Đức (29)
      • 1.4.2. Công tác đào tạo liên tục cho điều dưỡng tại bệnh viện (30)
  • CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (32)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (32)
      • 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu định lượng (32)
      • 2.1.2. Đối tượng nghiên cứu định tính (32)
      • 2.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ (32)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (32)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (32)
    • 2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu (33)
      • 2.4.1. Nghiên cứu định lượng (33)
      • 2.4.2. Nghiên cứu định tính (33)
    • 2.5. Phương pháp thu thập số liệu (33)
      • 2.5.1. Phương pháp thu thập số liệu định lượng (33)
      • 2.5.2. Phương pháp thu thập số liệu định tính (34)
    • 2.6. Biến số nghiên cứu (Phụ Lục 7) (35)
      • 2.6.1. Các nhóm biến cơ bản dành cho mục tiêu 1 (35)
    • 2.7. Phân tích và xử lý số liệu (35)
    • 2.8. Hạn chế, sai số trong nghiên cứu và biện pháp khắc phục (36)
      • 2.8.1. Hạn chế (36)
      • 2.8.2. Sai số (36)
      • 2.8.3. Biện pháp khắc phục (36)
    • 2.9. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu (37)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (38)
    • 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (38)
    • 3.2. Thực trạng đào tạo liên tục của điều dưỡng lâm sàng tại Bệnh viện Quận Thủ Đức thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2016 – 2019 (40)
      • 3.2.1. Thực trạng về hình thức đào tạo liên tục (40)
      • 3.2.2. Thực trạng về nội dung đào tạo liên tục từ năm 2016 - 2019 (50)
      • 3.2.3. Thực trạng về giảng viên đào tạo liên tục từ năm 2016 – 2019 (51)
    • 3.3. Một số yếu tố ảnh hưởng tới ĐTLT đối với điều dưỡng lâm sàng tại bệnh viện Quận Thủ Đức (52)
      • 3.3.1. Nhóm yếu tố thuộc về cá nhân (52)
      • 3.3.2. Nhóm yếu tố về chính sách và văn bản pháp quy (58)
      • 3.3.3. Nhóm yếu tố về cơ quan chủ quản (bệnh viện quận Thủ Đức) (60)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (66)
    • 4.1. Thông tin chung về điều dưỡng các khoa lâm sàng tham gia nghiên cứu (66)
    • 4.2. Thực trạng ĐTLT của ĐD lâm sàng từ năm 2016 - 2019 (68)
      • 4.2.1. Thực trạng về hình thức ĐTLT tại bệnh viện từ năm 2016 – 2019 (69)
      • 4.2.2. Thực trạng về nội dung ĐTLT từ năm 2016 – 2019 (73)
      • 4.3.1. Nhóm yếu tố thuộc về cá nhân (76)
      • 4.3.2. Nhóm yếu tố về chính sách và văn bản pháp quy (80)
      • 4.3.3. Nhóm yếu tố về cơ quan chủ quản (bệnh viện quận Thủ Đức) (81)
    • 4.4. Hạn chế của nghiên cứu (85)
  • KẾT LUẬN (10)
    • 1. Thực trạng đào tạo liên tục của điều dưỡng lâm sàng tại Bệnh viện Quận Thủ Đức thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2016 – 2019 (86)
    • 2. Một số yếu tố ảnh hưởng tới ĐTLT đối với điều dưỡng lâm sàng tại bệnh viện Quận Thủ Đức (86)
  • PHỤ LỤC (96)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng

 Tất cả điều dưỡng hiện đang công tác tại 22 khoa lâm sàng của Bệnh viện Quận Thủ Đức ký hợp đồng chính thức trước ngày 01/01/2016

Nguồn số liệu được thu thập từ sổ sách và các báo cáo tổng kết của Bệnh viện, bao gồm báo cáo nhân lực từ phòng Tổ chức cán bộ để xác định số chứng chỉ cấp cho các Điều dưỡng sau đào tạo, cùng với báo cáo tổng kết hoạt động đào tạo của phòng Đào tạo và Chỉ đạo tuyến tại Bệnh viện Quận Thủ Đức trong giai đoạn 2016 - 2019.

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính

 Giám đốc bệnh viện, Trưởng phòng Điều dưỡng, Phó phòng Đào tạo và Chỉ đạo tuyến phụ trách đào tạo và điều dưỡng viên các khoa lâm sàng

 Đối tượng được cử đi học các lớp dài hạn

 Đối tượng nghỉ thai sản, hoặc đi học trong thời gian nghiên cứu.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4/2019 đến tháng 11/2019

 Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Quận Thủ Đức.

Thiết kế nghiên cứu

Sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Cỡ mẫu định lượng trong nghiên cứu này bao gồm 214 điều dưỡng lâm sàng Tổng số cán bộ điều dưỡng tại bệnh viện là 642, nhưng sau khi loại trừ các điều dưỡng làm việc ở các khoa cận lâm sàng, khối phòng ban, cũng như những điều dưỡng đang theo học dài hạn và nghỉ thai sản, số điều dưỡng thuộc 22 khoa lâm sàng đáp ứng điều kiện chỉ còn lại 214.

Phương pháp chọn mẫu được áp dụng là chọn mẫu toàn bộ, trong đó tất cả các cán bộ điều dưỡng đang làm việc tại các khoa lâm sàng của Bệnh viện sẽ được tham gia vào nghiên cứu.

Chọn mẫu có chủ đích đối với các đối tượng Phỏng vấn sâu (PVS)

Trong bài phỏng vấn sâu, chúng tôi đã thực hiện ba cuộc phỏng vấn với các vị trí quan trọng trong bệnh viện, bao gồm Giám đốc bệnh viện, Trưởng phòng Điều dưỡng, Phó trưởng phòng Đào tạo và Chỉ đạo tuyến phụ trách đào tạo, cùng với Trưởng khối lâm sàng của các khối Nội, Ngoại và hồi sức cấp cứu.

Thảo luận nhóm tiến hành với nhóm trưởng khoa hoặc phó khoa, điều dưỡng trưởng của 22 khoa lâm sàng tại bệnh viện (2 cuộc thảo luận nhóm).

Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu định lượng

Xây dựng bộ câu hỏi phát vấn nhằm thu thập thông tin từ toàn bộ điều dưỡng 22 khoa lâm sàng dựa trên các văn bản pháp lý như thông tư 07/2011/TT-BYT, thông tư 26/2015/TTLT-BYT-BNV, và chuẩn năng lực cơ bản của điều dưỡng Việt Nam theo Quyết định số 1352/QĐ-BYT ngày 24/4/2012 Ngoài ra, cần tham khảo Thông tư 22/2013/TT-BYT ngày 9/8/2013 về đào tạo liên tục cho cán bộ y tế, cùng với các quy trình kỹ thuật điều dưỡng cơ bản, kỹ thuật chuyên khoa, và phương pháp chăm sóc, theo dõi các bệnh chuyên khoa trong bệnh viện.

Bộ câu hỏi này áp dụng cho tất cả điều dưỡng tại 22 khoa lâm sàng và đã được thử nghiệm với 20 điều dưỡng để đánh giá tính phù hợp và khả thi trước khi triển khai.

HUPH khi tiến hành nghiên cứu

Thu thập thông tin từ các báo cáo tổng kết kế hoạch năm, chương trình ĐTLT, danh sách học viên, và chứng chỉ đào tạo của phòng Đào tạo và Chỉ đạo tuyến trong giai đoạn 2016 - 2019 theo mẫu đã thiết kế (Phụ lục 5).

 Phương pháp thu thập số liệu định lượng

Nghiên cứu viên chính đã tổ chức buổi tập huấn cho các điều tra viên, nhằm hướng dẫn phương pháp thu thập số liệu và lập danh sách điều dưỡng viên của các khoa tham gia vào nghiên cứu.

Nghiên cứu viên liên hệ với Điều dưỡng trưởng của các khoa để sắp xếp thời gian phát phiếu lấy thông tin

Nghiên cứu viên sẽ thông báo mục đích và hướng dẫn chi tiết cách trả lời bộ câu hỏi phỏng vấn Người tham gia cần lưu ý không trao đổi thông tin khi điền phiếu Nếu có thắc mắc, hãy hỏi trực tiếp nghiên cứu viên để được giải đáp Sau khi hoàn thành, nghiên cứu viên sẽ thu phiếu và kiểm tra lại để đảm bảo thông tin được điền đầy đủ và hợp lệ.

2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu định tính

Bộ câu hỏi phỏng vấn sâu được thiết kế riêng cho từng đối tượng phỏng vấn viên, bao gồm Giám đốc bệnh viện (PVS1 - phụ lục 2), Phó trưởng phòng Đào tạo - Chỉ đạo tuyến và Phó trưởng phòng Điều dưỡng (PVS2 - phụ lục 3), cùng với Trưởng khối lâm sàng của bệnh viện (PVS3 - phụ lục 4) Các câu hỏi này có thể được điều chỉnh và bổ sung trong quá trình nghiên cứu.

Các cuộc phỏng vấn được thực hiện tại phòng làm việc của đối tượng nghiên cứu sau khi có lịch hẹn, và được ghi biên bản cũng như ghi âm nếu có sự đồng ý Sau khi có kết quả định lượng sơ bộ, các cuộc phỏng vấn sâu được tiến hành để tìm hiểu thực trạng công tác quản lý, tổ chức và triển khai đào tạo lý thuyết, cùng với các yếu tố thuận lợi và khó khăn trong quá trình này.

Bộ công cụ thảo luận nhóm với nhóm trưởng khoa hoặc phó khoa và 22 điều dưỡng trưởng khoa lâm sàng (TLN – Phụ lục 6)

Biến số nghiên cứu (Phụ Lục 7)

2.6.1 Các nhóm biến cơ bản dành cho mục tiêu 1:

 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu : Tuổi, giới, vị trí công tác, trình độ học vấn, thâm niên công tác, khối lâm sàng, nhu cầu đào tạo

Trong giai đoạn 2016 - 2019, thực trạng đào tạo liên tục (ĐTLT) của cán bộ y tế được đánh giá qua nhiều biến số quan trọng Tỷ lệ cán bộ y tế tham gia đào tạo liên tục theo Thông tư 22 đạt được những con số đáng chú ý, với tỷ lệ cán bộ được đào tạo đủ 48 giờ trong 2 năm liên tiếp cũng như số lượng khóa ĐTLT tổ chức Hình thức, thời gian, phương pháp và địa điểm đào tạo cũng được ghi nhận, cùng với số chứng chỉ/chứng nhận được cấp Các chủ đề khóa ĐTLT và nhận xét về chất lượng khóa học phản ánh kiến thức của cán bộ y tế về Thông tư 22/2013/TT-BYT.

2.6.2 Các biến về yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục – Mục tiêu 2:

 Nhóm yếu tố thuộc về cá nhân: Tuổi, giới, vị trí công tác, trình độ học vấn, thâm niên công tác, khối lâm sàng, nhu cầu đào tạo;

 Nhóm yếu tố thuộc về chính sách và văn bản pháp quy:

 Luật khám bệnh, chữa bệnh và các văn bản pháp quy liên quan;

 Thông tư quy định về Đào tạo liên tục;

 Nhóm yếu tố thuộc về cơ quan chủ quản:

 Quy định, chính sách của BV;

 Nhân lực, Khối lượng công việc tại bệnh viện;

 Cơ sở vật chất tại bệnh viện;

 Công tác tổ chức quản lý ĐTLT.

Phân tích và xử lý số liệu

Tất cả số liệu thứ cấp được thu thập sẽ được rà soát, chọn lọc và thống kê bằng phần mềm Excel, trình bày dưới dạng các bảng biểu theo từng nội dung và chủ đề nghiên cứu.

+ Thu thập thông tin bằng bộ câu hỏi hướng dẫn phỏng vấn sâu Gõ băng và

HUPH đã tiến hành xem xét toàn bộ nội dung các cuộc phỏng vấn, tổng hợp và phân loại các câu trả lời theo từng chủ đề nghiên cứu Nội dung phỏng vấn được trích dẫn cho từng chủ đề, bao gồm thực trạng công tác đào tạo liên tục và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác này.

Nội dung các cuộc thảo luận nhóm đã được phân tích và tổng hợp, liệt kê các câu trả lời theo từng chủ đề nghiên cứu Bài viết trích dẫn nội dung thảo luận cho từng chủ đề, đặc biệt là thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo liên tục cán bộ y tế.

Các kết quả được trình bày dưới dạng các bảng và biểu đồ phù hợp.

Hạn chế, sai số trong nghiên cứu và biện pháp khắc phục

Nghiên cứu mô tả cắt ngang nên chỉ có kết quả tại thời điểm nghiên cứu Nghiên cứu này chỉ áp dụng được tại bệnh viện quận Thủ Đức

Việc thu thập thông tin qua bộ câu hỏi phát vấn có thể bị sai số do thái độ không hợp tác hoặc do người tham gia chưa hiểu rõ nội dung câu hỏi.

Khi hỏi về thực trạng đào tạo liên tục trong giai đoạn 2016 - 2019 có thể gặp sai số nhớ lại

Bộ câu hỏi được xây dựng, thử nghiệm và chỉnh sửa kỹ lưỡng trước khi tiến hành nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào việc thu thập thông tin không nhằm mục đích thi đua hay đánh giá đội ngũ, mà chỉ để hiểu rõ thực trạng đào tạo liên tục tại bệnh viện Mục tiêu là xây dựng kế hoạch đào tạo phù hợp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo liên tục Các nghiên cứu viên sẽ có mặt tại địa điểm nghiên cứu để giám sát và hỗ trợ các điều tra viên cũng như đối tượng nghiên cứu trong quá trình thu thập dữ liệu.

Trong giai đoạn 2016 - 2019, thông tin về các khóa ĐTLT đã được tổ chức thành các chủ đề cụ thể, kèm theo gợi ý về tên khóa đào tạo, thời gian và địa điểm, giúp đối tượng nghiên cứu dễ dàng nhớ lại.

Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu này mang tính mô tả và không can thiệp trực tiếp vào đối tượng Đối tượng nghiên cứu đã được thông tin rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu, và việc tiến hành nghiên cứu chỉ diễn ra sau khi nhận được sự đồng ý tham gia từ họ.

Tất cả thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu sẽ được bảo mật Dữ liệu và thông tin thu thập chỉ được sử dụng cho mục đích học tập và nghiên cứu khoa học, không phục vụ cho bất kỳ mục đích nào khác.

Nghiên cứu này tuân thủ quy trình xét duyệt của Hội đồng đạo đức Trường Đại học Y tế công cộng và Hội đồng Khoa học Bệnh viện Quận Thủ Đức theo Quyết định số

454/2019/YTCC-HD3 ngày 01 tháng 10 năm 2019 về việc chấp thuận các vấn đề đạo đức NCYSH)

Nghiên cứu đã nhận được sự ủng hộ và chấp thuận từ Ban lãnh đạo Bệnh viện cùng các khoa, phòng liên quan Sau khi hoàn thành nghiên cứu, chúng tôi sẽ gửi báo cáo phản hồi kết quả cho Bệnh viện để nhận ý kiến đóng góp.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3 1 Đặc điểm chung Đặc điểm Số lượng n = 214

Sau đại học 9 4,2 Đại học 88 41,1

Trực tiếp chăm sóc NB 196 91,6

Trong nghiên cứu với 214 ĐD lâm sàng, tỷ lệ ĐD có tuổi đời dưới 40 tuổi rất cao, đạt 99,5% Trong số đó, ĐD nữ chiếm 170 người, tương đương 79,4%.

Tại HUPH, tỷ lệ điều dưỡng (ĐD) có trình độ đại học cao nhất đạt 41,1%, tiếp theo là cao đẳng 34,6%, trung cấp 20,1%, và thấp nhất là ĐD có trình độ thạc sĩ, chuyên khoa I với 4,2% Điều này nhờ vào kế hoạch đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2016 - 2020, tập trung nâng cao trình độ chuyên môn cho ĐD, đặc biệt là khuyến khích ĐD trung cấp học liên thông lên đại học Đơn vị đã tổ chức tập huấn và phổ biến quy định tại Thông tư liên tịch Số 26/2015/TTLT-BYT-BNV, nhằm chuẩn hóa trình độ chuyên môn cho viên chức Nhóm ĐD có thời gian công tác dưới 5 năm chiếm 44,9%, trong khi nhóm có trên 10 năm chỉ chiếm 14,5% ĐD làm công tác trực tiếp chăm sóc bệnh nhân chiếm 91,6%, trong đó ĐD khối ngoại chiếm 58%, khối nội 29,4%, và khối hồi sức 12,6%.

Thực trạng đào tạo liên tục của điều dưỡng lâm sàng tại Bệnh viện Quận Thủ Đức thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2016 – 2019

3.2.1 Thực trạng về hình thức đào tạo liên tục

Bảng 3 2 Thực trạng về phương pháp giảng dậy

Căn cứ vào bảng 3.2 cho thấy, các khóa ĐTLT mà ĐD lâm sàng đã tham gia

HUPH giảng dạy thông qua hai hình thức: lý thuyết và lý thuyết kết hợp với thực hành Các khóa ĐTLT tại bệnh viện và ngoài bệnh viện chủ yếu áp dụng phương pháp giảng dạy lý thuyết kết hợp thực hành Trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến nay, hình thức này đã được triển khai hiệu quả.

Năm 2019, nghiên cứu đã ghi nhận 98 khóa đào tạo lý thuyết kết hợp thực hành, với tổng cộng 1584 lượt người tham gia Trong số đó, 75 khóa giảng dạy theo hình thức này chiếm 76,5%, thu hút 1401 lượt người tham gia, tương đương 88,4% tổng số lượt.

Công việc của đạo diễn (ĐD) chủ yếu tập trung vào thực hành, do đó, các khóa đào tạo lý thuyết và thực hành (ĐTLT) thường được thiết kế để kết hợp cả hai yếu tố này.

“…Công việc của các bạn ĐD chủ yếu là trực tiếp chăm sóc, thực hiện các kỹ thuật trên người bệnh là chính…” (TLN)

Năm 2019 ghi nhận số lượng khóa ĐTLT cao nhất với 34 khóa, trong khi năm 2017 có số lượng khóa thấp nhất chỉ với 18 khóa Tuy nhiên, năm 2017 lại là năm có số lượt ĐD tham gia nhiều nhất, đạt 476 lượt.

Từ khi thành lập, công tác đào tạo liên tục tại bệnh viện đã được triển khai theo quy định, nhưng chưa đồng bộ ở tất cả các khoa phòng Kể từ năm 2016, bệnh viện đã tích cực tổ chức các lớp đào tạo ngắn ngày, chủ yếu mang tính chất tập huấn tại chỗ Nội dung đào tạo chủ yếu là lý thuyết, và các điều dưỡng tham gia thường bị động theo kế hoạch của bệnh viện, thay vì theo nhu cầu chuyên môn thực tế.

Bảng 3 3 Thực trạng về hình thức cấp chứng chỉ/chứng nhận

Theo bảng 3.3, trong số 54 khóa đào tạo liên tục (ĐTLT) tại bệnh viện với 1467 lượt điều dưỡng (ĐD) tham dự, có 36 khóa với 1028 lượt ĐD không được cấp chứng chỉ hoặc chứng nhận Tỷ lệ ĐD nhận chứng chỉ sau khóa học chỉ đạt 10,0%, trong khi tỷ lệ nhận chứng nhận là 17,7% và không nhận gì chiếm 64,9% Ngược lại, các ĐD tham gia khóa học ngoài bệnh viện hầu hết đều nhận được chứng chỉ và một số nhận chứng nhận Phỏng vấn lãnh đạo phòng Đào tạo và Chỉ đạo tuyến bệnh viện cũng xác nhận kết quả này.

“…việc cấp chứng nhận thì đã thực hiện được với những khóa có chương trình đào tạo dài hạn…” (PVS 2)

Mặt khác các khóa đào tạo tại chỗ có kế hoạch và danh sách học viên để chứng nhận việc tham gia này:

Chúng tôi đã xây dựng kế hoạch chi tiết cho từng năm và từng khóa đào tạo liên tục, đồng thời có danh sách các điều dưỡng tham gia.

Với những khóa ĐTLT có sự tham gia của học viên từ các đơn vị khác thì việc này đã thực hiện đầy đủ:

Bệnh viện đã tổ chức các lớp đào tạo điều dưỡng chuyên khoa và các khóa tập huấn với sự giảng dạy của chuyên gia nước ngoài Học viên từ bệnh viện cũng như từ các địa phương khác có nhu cầu đều được cấp chứng chỉ theo quy định.

Bảng 3 4 Thực trạng về hình thức đánh giá các khóa ĐTLT mà ĐD đã tham gia Đánh giá trước sau ĐT

Trong các khóa ĐTLT mà ĐD đã tham gia vào năm 2016 và 2019, 100% các khóa học đều được đánh giá trước và sau khi tổ chức Đối với khóa học năm 2017, tỷ lệ đánh giá trước và sau là 50,0%, trong khi không có đánh giá cũng chiếm 50% Năm 2018, tỷ lệ đánh giá đạt 88,5%, còn không đánh giá chỉ chiếm 11,5%.

Bảng 3 5 Thực trạng về thời gian tổ chức các khóa ĐTLT mà ĐD đã tham gia theo quý

Quý 2 và quý 3 trong năm là thời gian tổ chức nhiều khóa học nhất, với số lượt người tham gia cao nhất Trong khi đó, hai quý còn lại có ít khóa đào tạo và số lượng người tham gia cũng không đáng kể.

Trong quý 3 năm 2016, tỷ lệ ĐD tham gia học đạt 88,3% Năm 2017, tỷ lệ này tăng lên 89,9% ở quý 2 Đặc biệt, trong các năm 2018 và 2019, tỷ lệ ĐD tham dự ở quý 3 đều vượt 55%.

Bảng 3 6 Thời gian trung bình điều dưỡng tham gia đào tạo/năm

TB số tiết/ĐD/năm 10,6 15,9 9,1 11,1 11,7

TB số tiết/ĐD/năm 108,2 90,2 54,5 70,5 71,4

TB số tiết/ĐD/năm 19,2 20,9 21,3 24,3 21,4

Trong giai đoạn 2016 – 2019, mỗi năm, một diễn viên (ĐD) tham gia trung bình 21,4 tiết ĐTLT, với năm 2019 ghi nhận số tiết cao nhất là 24,3 tiết và năm 2016 là thấp nhất với 19,2 tiết Tuy nhiên, số tiết trung bình mỗi ĐD/năm được ĐTLT tại bệnh viện chỉ đạt 11,7 tiết Lãnh đạo cũng đã chia sẻ về vấn đề này.

Trong những năm gần đây, Bệnh viện đã chú trọng đến công tác đào tạo liên tục (ĐTLT), đặc biệt từ năm 2018, khi triển khai đăng ký nhu cầu ĐTLT cho từng khoa phòng Điều này giúp xây dựng kế hoạch ĐTLT cụ thể theo nhu cầu, tập trung nhiều hơn vào nội dung đào tạo thay vì chỉ chú trọng thời gian Tuy nhiên, thực tế vẫn chưa đảm bảo đủ 24 tiết/năm cho tất cả các điều dưỡng Để đảm bảo thời gian học tập đầy đủ, cần tính cả thời gian học tại khoa, không chỉ giới hạn trong thời gian đào tạo tập trung.

Những buổi học tại khoa, bao gồm chia sẻ kinh nghiệm, sinh hoạt chuyên môn và thảo luận về các sự cố hay sai sót, đều được xem là một phần của quá trình đào tạo Thời gian đào tạo tại khoa chiếm 30%, trong khi phần còn lại là thời gian học trên lớp.

Có những khó khăn ảnh hưởng đến việc tham gia ĐTLT của ĐD như:

Công việc quá tải đã ảnh hưởng đến việc học, khiến cho nhiều người không thể tham gia đầy đủ Họ thường đến lớp muộn và không thể tập trung do lo lắng về khối lượng công việc tại khoa Trong những thời điểm bệnh nhân đông, việc chia nhau đi học trở nên rất khó khăn.

Một số ĐD chưa ý thức được tầm quan trọng của việc học tập liên tục:

“…ý thức của người tham gia đào tạo chưa được tốt, chưa chủ động đăng ký nhu cầu học của bản thân…” (TLN)

Lãnh đạo khoa chưa thực sự quan tâm nhiều đến công tác này:

Một số yếu tố ảnh hưởng tới ĐTLT đối với điều dưỡng lâm sàng tại bệnh viện Quận Thủ Đức

3.3.1 Nhóm yếu tố thuộc về cá nhân

3.3.1.1 Tuổi, Thâm niên công tác

Bảng 3 11 Mối liên quan giữa nhóm tuổi với thời gian đào tạo theo quy định

*Kiểm định Chi bình phương

Theo quy định của Bộ Y tế, tỷ lệ điều dưỡng đạt ≥48 tiết đào tạo liên tục trong

2 năm liên tiếp theo nhóm tuổi trong năm 2016 – 2017 chỉ khoảng 14,5% – 15,4%, trong khi đó trong năm 2018 – 2019 là 26,0% - 27,3% Tỷ lệ này là chưa có khác biệt có ý nghĩa thống kê

Kết quả nghiên cứu định tính cho kết quả:

Người lớn tuổi thường ít có nhu cầu thay đổi công việc và cần nhiều thời gian nghỉ ngơi, dẫn đến việc họ không tích cực tham gia các khóa đào tạo Ngược lại, các điều dưỡng mới ra trường có độ tuổi trẻ hơn, do đó họ tham gia đào tạo nhiều hơn Khi có kiến thức vững vàng, họ sẽ có cơ hội lựa chọn nơi làm việc tốt hơn.

“…Tuổi trẻ họ thường năng động, thích tham gia học tập nhiều để tăng kiến thức và cơ hội cho bản thân…” (PVS3)

Bảng 3 12 Mối liên quan giữa giới tính với thời gian đào tạo theo quy định

*Kiểm định Chi bình phương

Theo quy định của Bộ Y tế, tỷ lệ điều dưỡng đạt ≥48 tiết đào tạo liên tục trong

Từ năm 2016 đến 2017, tỷ lệ đạt của nam giới là 15,9% và nữ giới là 14,7% Trong giai đoạn 2018 đến 2019, tỷ lệ này tăng lên với nam đạt 31,8% và nữ đạt 25,3% Tuy nhiên, sự khác biệt về tỷ lệ này giữa hai giới tính chưa đạt mức ý nghĩa thống kê.

Tại bệnh viện điều dưỡng là nữ chiếm đa số Nhu cầu đào tạo của nữ và nam là khác nhau

Nam giới thường có xu hướng chọn các lĩnh vực kỹ thuật như XQ và Bột, trong khi nữ giới lại không mặn mà với những lĩnh vực này Họ mong muốn được đào tạo và cập nhật kiến thức liên quan đến công việc của mình.

Bảng 3 13 Mối liên quan giữa vị trí công tác với thời gian đào tạo theo quy định

Quản lý và Hành chính 2 (11,1) 16 (88,9) 1,4

(0,3 – 13,6) 0,999** Trực tiếp chăm sóc NB 30 (15,3) 166 (84,7)

Quản lý và Hành chính 13 (72,2) 5 (27,8) 0,1

Trực tiếp chăm sóc NB 44 (22,4) 152 (77,6)

*Kiểm định Chi bình phương

Theo quy định của Bộ Y tế, từ năm 2016 – 2017, tỷ lệ điều dưỡng đạt ≥48 tiết đào tạo liên tục trong 2 năm là 11,1% đối với công tác quản lý và hành chính, và 15,3% đối với công tác chăm sóc trực tiếp người bệnh, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Tuy nhiên, từ năm 2018 – 2019, tỷ lệ điều dưỡng ở vị trí quản lý và hành chính đạt ≥48 giờ tăng lên 72,2%, gấp 3,2 lần so với nhóm còn lại, cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.

Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy các điều dưỡng ở những vị trí công tác khác nhau có sự tham gia đào tạo khác nhau về cả nội dung lẫn hình thức.

Các điều dưỡng đảm nhận vai trò quản lý thường có thái độ tích cực khi tham gia đào tạo Nội dung các khóa đào tạo mà họ tham gia chủ yếu liên quan đến các lĩnh vực quản lý, như quản lý điều dưỡng và sư phạm y học.

Các điều dưỡng làm công tác hành chính tại khoa thường tham gia các khóa đào tạo liên quan để nâng cao kỹ năng và hiệu quả công việc.

HUPH có trình độ cao đẳng, trung cấp thường làm công tác trực tiếp chăm sóc người bệnh là chính…”

Bảng 3 14 Mối liên quan giữa thâm niên công tác với thời gian đào tạo theo quy định

Thâm niên công tác Thời gian đào tạo

*Kiểm định Chi bình phương

Theo quy định của Bộ Y tế, tỷ lệ điều dưỡng đạt yêu cầu về đào tạo liên tục trong 2 năm từ 2016 – 2017 là 15,6% cho những người có thâm niên dưới 5 năm và 14,4% cho những người có thâm niên từ 5 năm trở lên Trong giai đoạn 2018 – 2019, tỷ lệ này tăng lên 24,0% cho điều dưỡng dưới 5 năm và 28,8% cho điều dưỡng từ 5 năm trở lên Đáng lưu ý, tỷ lệ này không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo giới tính.

Bảng 3 15 Mối liên quan giữa trình độ chuyên môn và thời gian đào tạo theo quy định

Trình độ chuyên môn Thời gian đào tạo

*Kiểm định Chi bình phương

Theo quy định của Bộ Y tế, từ năm 2016 – 2017, tỷ lệ điều dưỡng đạt ≥48 tiết đào tạo liên tục trong 2 năm liên tiếp là 20,6% ở nhóm có trình độ Đại học trở lên, gấp 2,27 lần so với nhóm điều dưỡng có trình độ học vấn dưới Đại học, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê.

Từ năm 2018 đến 2019, tỷ lệ điều dưỡng đạt ≥48 giờ ở nhóm có trình độ Đại học trở lên là 41,2%, cao gấp 4,13 lần so với nhóm điều dưỡng có trình độ dưới Đại học, cho thấy sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê.

Trong nghiên cứu định tính về các điều dưỡng có trình độ chuyên môn khác nhau, các cơ quan và đơn vị đã định hướng họ vào những vị trí khác nhau Do đó, nhu cầu tham gia đào tạo và nội dung đào tạo cũng khác biệt giữa các đối tượng.

Các điều dưỡng tốt nghiệp sau đại học thường đảm nhận vai trò quản lý, do đó họ có vị trí quan trọng trong cơ quan Thái độ tích cực của họ khi tham gia đào tạo là điều dễ hiểu, và nội dung các khóa đào tạo thường tập trung vào các khía cạnh quản lý.

Đội ngũ này thường xây dựng các chương trình đào tạo liên tục (ĐTLT) cho bệnh viện, đặc biệt liên quan đến lĩnh vực điều dưỡng, và họ cũng tham gia tích cực vào công tác giảng dạy.

Bảng 3 16 Mối liên quan giữa khối lâm sàng với thời gian đào tạo theo quy định

*Kiểm định Chi bình phương

Theo quy định của Bộ Y tế, từ năm 2016 – 2017, tỷ lệ điều dưỡng đạt ≥48 tiết đào tạo liên tục trong 2 năm liên tiếp theo khối lâm sàng là 15,9% đối với nhóm điều dưỡng khối Nội, 15,3% cho nhóm khối Ngoại và 11,1% cho nhóm khối Hồi sức Tỷ lệ này không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.

Trong giai đoạn 2018 – 2019, nhóm điều dưỡng khối Hồi sức đạt tỷ lệ thành công 51,9%, gấp hơn 2 lần so với các nhóm khác, cho thấy sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê.

BÀN LUẬN

Thông tin chung về điều dưỡng các khoa lâm sàng tham gia nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào thực trạng đào tạo liên tục của điều dưỡng lâm sàng tại bệnh viện Quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình này trong giai đoạn hiện tại.

Nghiên cứu từ năm 2016 đến 2019 dựa trên dữ liệu sơ cấp và thứ cấp thu thập từ sổ sách và báo cáo của Bệnh viện quận Thủ Đức, cùng với bộ câu hỏi phỏng vấn 214 điều dưỡng tại 22 khoa lâm sàng Đối tượng tham gia nghiên cứu chủ yếu là điều dưỡng trẻ, với 48,6% dưới 30 tuổi và 50,9% trong độ tuổi 30-40, trong khi chỉ có 0,5% trên 40 tuổi Điều này cho thấy phần lớn điều dưỡng tại bệnh viện có sức khỏe tốt và thời gian công tác lâu dài Nghiên cứu của Nguyễn Đức Trường năm 2016 cũng chỉ ra rằng nhóm tuổi 30-40 chiếm tỷ lệ cao nhất với 30,3%.

Nhóm tuổi 30-50 chiếm tỷ lệ cao nhất, đạt 66,1% trong năm 2010 Theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Trường (2016) về thực trạng thực hiện nhiệm vụ và nhu cầu đào tạo liên tục của cán bộ trạm y tế xã tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang trong giai đoạn 2016 - 2020, cho thấy sự cần thiết trong việc nâng cao năng lực cho đội ngũ y tế.

Tỉ lệ điều dưỡng tham gia nghiên cứu chủ yếu là nữ giới, chiếm 79,4%, phản ánh đặc điểm công việc chăm sóc người bệnh, phù hợp hơn với nữ giới Theo thống kê từ các trường khối ngành sức khỏe, mã ngành điều dưỡng luôn có số lượng nữ giới tham gia học cao hơn nam giới Kết quả nghiên cứu này tương đồng với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Như Bình tại các bệnh viện hạng II tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2016-2017, với tỷ lệ nữ giới chiếm 79,9%, và nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Thu tại Bệnh viện Phổi Trung ương cũng cho thấy 78,1% là nữ giới.

Trình độ học vấn của điều dưỡng (ĐD) tham gia nghiên cứu chủ yếu là ĐDĐH với 41,1%, tiếp theo là ĐDCĐ 34,6%, ĐDTC 20,1% và thấp nhất là ĐD sau đại học 4,2% Điều này cho thấy đa số ĐD tại các khoa lâm sàng của bệnh viện có trình độ cao đẳng và đại học, phù hợp với xu thế yêu cầu tối thiểu để hành nghề trong khu vực ASEAN và toàn cầu Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Thu cho thấy tỉ lệ ĐDTC là 56,2% và ĐDĐH là 20,5%, trong khi Nguyễn Thị Thu Hằng ghi nhận ĐDTC 47,5% và ĐDĐH 12,5% Bệnh viện đã chú trọng phát triển trình độ chuyên môn của ĐD từ khi thành lập, với kế hoạch đào tạo dài hạn và ngắn hạn cụ thể hàng năm Việc nâng cao trình độ và bằng cấp là nhiệm vụ bắt buộc, bao gồm cả việc liên kết với các trường đại học để tổ chức lớp học từ trung cấp lên đại học từ năm 2017 Theo Thông tư số 26/2015/TTLT-BYT-BNV, đến 01/01/2025, tất cả nhân viên y tế tuyến huyện phải có trình độ chuyên môn tối thiểu là cao đẳng, tạo điều kiện thuận lợi cho ĐD trong việc học tập.

Nhóm điều dưỡng (ĐD) tham gia nghiên cứu chủ yếu có thâm niên công tác dưới 10 năm, với 44,9% có dưới 5 năm và 40,7% có từ 5 – 10 năm Chỉ 14,5% ĐD có thâm niên trên 10 năm, cho thấy đa số nhân sự trẻ, phù hợp với độ tuổi và thời gian hoạt động của bệnh viện được thành lập năm 2007 Mặc dù đội ngũ trẻ mang lại sự nhiệt huyết và năng động, nhưng cũng gặp khó khăn do thiếu kinh nghiệm và kỹ năng Họ có nhiều cơ hội việc làm và khả năng thay đổi nơi làm việc cao.

Thiếu điều dưỡng đang trở thành vấn đề nghiêm trọng tại nhiều quốc gia, đặc biệt là ở các nước phát triển, do nhu cầu chăm sóc tăng cao từ dân số già Nguyên nhân chính bao gồm điều dưỡng viên bỏ nghề sớm vì áp lực công việc, sự hấp dẫn từ các nghề khác, và mong muốn làm việc bán thời gian để chăm sóc gia đình Nhiều quốc gia như Mỹ, Canada, Anh và Nhật Bản đang gặp khó khăn trong việc tuyển dụng điều dưỡng viên, dẫn đến việc họ phải áp dụng chính sách thu hút nhân lực từ các nước đang phát triển thông qua lương cao và gia hạn thị thực Di cư điều dưỡng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu, với dòng chảy từ các nước kém phát triển sang các nước đang phát triển và từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển.

Vị trí công tác của điều dưỡng trực tiếp chăm sóc người bệnh chiếm 91,6%, trong khi điều dưỡng làm công tác quản lý và hành chính chỉ chiếm 8,4% Điều này phản ánh thực tế nhân sự tại các khoa lâm sàng, nơi mà phần lớn điều dưỡng tập trung vào chăm sóc người bệnh, còn công việc hành chính chỉ có 1-2 điều dưỡng đảm nhiệm mỗi khoa, với một điều dưỡng trưởng khoa phụ trách quản lý Đặc biệt, điều dưỡng làm việc tại các khoa thuộc khối Ngoại tham gia vào nghiên cứu chiếm 58,0%, cao hơn so với khối Nội và khối HCCC Tỷ lệ này xuất phát từ việc điều dưỡng ở khối Nội và HCCC chủ yếu có trình độ Trung cấp, hiện đang tham gia các khóa đào tạo dài hạn từ Trung cấp lên Đại học, do đó không thể tham gia vào nghiên cứu.

Thực trạng ĐTLT của ĐD lâm sàng từ năm 2016 - 2019

Theo quy định của Bộ Y tế, tham gia đào tạo liên tục là nhiệm vụ và quyền lợi của cán bộ y tế, đặc biệt là điều dưỡng Đào tạo liên tục giúp điều dưỡng cập nhật kiến thức mới, nâng cao năng lực và phẩm chất, đồng thời tạo ra thái độ tích cực hơn trong giao tiếp.

Bệnh viện Quận Thủ Đức đã nghiêm túc thực hiện ĐTLT cho ĐD theo hướng dẫn của thông tư 22/2013/BYT từ năm 2016 đến 209, nhằm duy trì chứng chỉ hành nghề Tuy nhiên, vẫn còn một số bất cập trong công tác tổ chức ĐTLT, và bệnh viện đang nỗ lực khắc phục hàng năm để nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn.

4.2.1 Thực trạng về hình thức ĐTLT tại bệnh viện từ năm 2016 – 2019

4.2.1.1 Thực trạng về phương pháp giảng dậy các khóa ĐTLT

Trong 4 năm từ năm 2016 - 2019 bệnh viện đã tổ chức 98 khóa ĐTLT với tổng số 1584 lượt ĐD lâm sàng tham gia Trong đó có tới 75 khóa giảng dậy bằng hình thức lý thuyết kết hợp với thực hành chiếm 76,5% với số lượt ĐD tham gia là

Trong năm 1401, tỷ lệ tham gia đạt 88,4% Trước đây, bệnh viện đã tổ chức các khóa đào tạo lý thuyết, chủ yếu tập trung vào việc phổ biến quy định Tuy nhiên, với đối tượng là điều dưỡng viên, việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành sẽ hiệu quả hơn Giảng dạy cần chú trọng vào thực hành và chia sẻ kinh nghiệm thực tế, đồng thời tạo ra sự tương tác hai chiều giữa giảng viên và học viên, nhằm khuyến khích tính chủ động và học tập tích cực.

Bệnh viện đã đạt được kết quả tích cực nhờ vào việc tổ chức các khóa đào tạo kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, đặc biệt là trong kỹ năng giao tiếp lãnh đạo Yêu cầu từ lãnh đạo bệnh viện là xây dựng bài giảng với các tình huống thực tế để người học có thể áp dụng, thay vì chỉ giảng lý thuyết Điều này trái ngược với nghiên cứu của Lê Thị Hồng về đào tạo liên tục tại trạm y tế xã, huyện Mê Linh, Hà Nội, giai đoạn 2016-2017, cho thấy 89,9% khóa đào tạo chủ yếu tập trung vào lý thuyết.

Năm 2019 ghi nhận số khóa ĐTLT cao nhất với 34 khóa, trong khi năm 2017 có số khóa ĐTLT thấp nhất chỉ với 18 khóa Tuy nhiên, năm 2017 lại có số lượt ĐD tham gia nhiều nhất, đạt 476 lượt.

4.2.1.2 Thực trạng về hình thức cấp chứng chỉ/chứng nhận sau ĐTLT

Theo bảng 3.3, trong số 54 khóa đào tạo liên tục (ĐTLT) tại bệnh viện với 1467 lượt điều dưỡng (ĐD) tham dự, có 36 khóa với 1028 lượt ĐD không được cấp chứng chỉ hoặc chứng nhận Tỷ lệ ĐD nhận chứng chỉ chỉ chiếm 10,0%, trong khi nhận chứng nhận là 17,7% và không nhận gì là 64,9% Ngược lại, các khóa học ngoài bệnh viện hầu hết đều cấp chứng chỉ và chứng nhận Nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với tác giả Lưu Thị Nguyệt Minh (2017) Một số lớp tại bệnh viện không cấp chứng chỉ nhằm giảm chi phí và do quy định tập huấn bắt buộc, chỉ cần ký tên trong danh sách Các khóa có sự tham gia bên ngoài theo thông tư 22/2013/BYT phải được đánh giá và cấp giấy chứng nhận ĐTLT Chứng nhận này xác nhận thời gian tham gia và đảm bảo ĐD học tối thiểu 12 tiết/năm Lãnh đạo bệnh viện cho biết đã thực hiện điều này với một số khóa đào tạo dài hạn Bệnh viện cũng lưu trữ danh sách và kế hoạch đào tạo làm bằng chứng cho ĐTLT, trong khi các lớp thu hút học viên từ nơi khác đều cấp chứng chỉ/chứng nhận đầy đủ.

4.2.1.3 Thực trạng về hình thức đánh giá các khóa ĐTLT Đánh giá là một hoạt động bắt buộc đối với mọi khóa ĐTLT, kế hoạch đánh giá kết quả học tập của học viên đã được xác định cụ thể trong chương trình khóa

Mục đích của việc đánh giá trong chương trình ĐTLT là xác định mức độ học tập và thực hành của người học, cũng như thái độ và hành vi của họ đối với nhiệm vụ được giao Đánh giá kiến thức và kỹ năng điều dưỡng đạt được trong quá trình tham gia khóa đào tạo được thực hiện ngay trong hoặc sau khóa học Quá trình này bao gồm các bài kiểm tra trước và sau khóa học, bảng kiểm, thang điểm đánh giá kỹ năng và thái độ, câu hỏi trả lời miệng, câu hỏi tự luận, bài kiểm tra trắc nghiệm khách quan, và các bài tập tình huống.

Trong các khóa đào tạo liên tục (ĐTLT) mà điều dưỡng (ĐD) đã tham gia vào năm 2016 và 2019, 100% các khóa học đều được đánh giá trước và sau khi tổ chức Tuy nhiên, trong năm 2017, tỷ lệ đánh giá trước và sau khóa học chỉ đạt 50%, trong khi năm 2018, tỷ lệ này tăng lên 88,5% Điều này cho thấy việc kiểm tra đánh giá cuối khóa và cấp chứng nhận vẫn chưa đầy đủ Ngoài ra, một số lớp đào tạo, đặc biệt là các khóa ĐTLT theo hình thức hội nghị, hội thảo, hoặc phổ biến thông tư quy định, không yêu cầu kiểm tra đánh giá do thời gian tổ chức ngắn.

4.2.1.4 Thực trạng về thời gian tổ chức các khóa ĐTLT

Trong năm, quý 2 và quý 3 là thời gian tổ chức nhiều khóa học nhất, với số lượt điều dưỡng tham gia học cao nhất Cụ thể, năm 2016, quý 3 có 88,3% điều dưỡng tham gia, năm 2017, quý 2 đạt 89,9%, và trong các năm 2018 và 2019, quý 3 cũng ghi nhận trên 55% lượt tham gia Do đặc thù công việc tại bệnh viện, quý 1 thường là thời gian bận rộn với các hoạt động đầu năm, trong khi quý 4 tập trung vào hoàn tất báo cáo và đánh giá chất lượng Vì vậy, nhu cầu tham gia đào tạo liên tục của điều dưỡng trong quý 1 và quý 4 không cao, dẫn đến số khóa đào tạo tổ chức trong hai quý này thường ít hơn.

HUPH tình hình hoạt động thực tế tại BV

Theo bảng 3.6, từ năm 2016 đến 2019, mỗi năm một điều dưỡng (ĐD) tham gia trung bình 21,4 tiết đào tạo liên tục (ĐTLT), với năm 2019 đạt cao nhất 24,3 tiết và năm 2016 thấp nhất 19,2 tiết Số tiết ĐTLT trung bình mỗi ĐD/năm tại bệnh viện chỉ là 11,7 tiết, chưa đạt yêu cầu tối thiểu 12 tiết/năm theo thông tư 22 của Bộ Y tế Tình trạng này cũng phản ánh thực tế tại nhiều bệnh viện trên toàn quốc Nghiên cứu của Trần Thanh Sơn tại Hậu Giang cho thấy 61,5% cán bộ y tế có thời gian đào tạo trung bình dưới quy định Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu của Lưu Thị Minh Nguyệt (14,6 tiết) và Nguyễn Thị Thu Hằng.

Mức độ tham gia đào tạo liên tục của điều dưỡng từ năm 2016 đến 2019 được chia thành hai giai đoạn: 2016 – 2017 và 2018 – 2019 Tỷ lệ điều dưỡng đạt ≥48 giờ đào tạo liên tục trong giai đoạn 2018 – 2019 cao hơn 1,8 lần so với giai đoạn 2016 – 2017, cho thấy sự quan tâm ngày càng tăng đối với công tác đào tạo liên tục tại bệnh viện Tỷ lệ điều dưỡng tham gia đủ thời gian đào tạo liên tục năm sau luôn cao hơn năm trước, tuy nhiên, tỷ lệ điều dưỡng đạt yêu cầu về thời gian đào tạo trong hai năm liên tiếp vẫn còn thấp.

4.2.1.5 Thực trạng số lượng ĐD tham gia theo địa điểm tổ chức

Theo bảng 3.8, các khóa đào tạo liên tục (ĐTLT) tại bệnh viện (BV) thu hút số lượng đông đảo người tham gia, với trung bình khoảng 27,2 người mỗi khóa Ngược lại, các khóa ĐTLT bên ngoài BV chỉ có từ 2-3 người tham gia, cho thấy sự chênh lệch rõ rệt về mức độ quan tâm và tham gia giữa hai loại hình đào tạo này.

Khóa ĐTLT tại BV ĐD giúp ĐD tiết kiệm thời gian di chuyển, với lịch học được sắp xếp linh hoạt theo nhu cầu của ĐD Trong khi đó, việc tham gia các khóa ĐTLT ngoài BV sẽ tốn thời gian đi lại và lịch học không linh hoạt.

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bệnh viện quận Thủ Đức (2017), Báo cáo đại hội cán bộ công chức năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đại hội cán bộ công chức năm 2017
Tác giả: Bệnh viện quận Thủ Đức
Năm: 2017
4. Bệnh viện quận Thủ Đức (2019), Báo cáo đại hội cán bộ công chức năm 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đại hội cán bộ công chức năm 2019
Tác giả: Bệnh viện quận Thủ Đức
Năm: 2019
7. Nguyễn Như Bình (2018), Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng khoa lâm sàng tại một số Bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2016- 2017, Luận văn Thạc sỹ Trường Đại học y tế công cộng Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng khoa lâm sàng tại một số Bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2016- 2017
Tác giả: Nguyễn Như Bình
Nhà XB: Trường Đại học y tế công cộng Hà Nội
Năm: 2018
10. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23 tháng 02 năm 2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23 tháng 02 năm 2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
11. Bộ Y tế (2013), Thông tư số 22/2013/TT-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế ngày 09 tháng 8 năm 2013 về hướng dẫn ĐTLT trong lĩnh vực y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 22/2013/TT-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế ngày 09 tháng 8 năm 2013 về hướng dẫn ĐTLT trong lĩnh vực y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
12. Bộ Y tế, Bộ Nội Vụ (2015), Thông tư liên tịch Số: 26/2015/TTLT-BYT- BNV ngày 07 tháng 10 năm 2015 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ về quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y.HUPH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch Số: 26/2015/TTLT-BYT- BNV
Tác giả: Bộ Y tế, Bộ Nội Vụ
Nhà XB: HUPH
Năm: 2015
1. Bệnh viện Quận Thủ Đức (2018), Báo cáo hành trình 10 năm thành lập và phát triển bệnh viện Quận Thủ Đức 2007-2018 Khác
3. Bệnh viện Quận Thủ Đức (2018), Báo cáo tổng kết công tác đào tạo và chỉ đạo tuyến của phòng Đào tạo và Chỉ đạo tuyến bệnh viện quận Thủ Đức năm 2018 Khác
5. Bệnh viện Quận Thủ Đức (2019), Báo cáo tổng kết công tác đào tạo và chỉ đạo tuyến của phòng Đào tạo và Chỉ đạo tuyến bệnh viện quận Thủ Đức năm 2019 Khác
9. Bộ Y tế (2011), Thông tư 07/2011/TT-BYT ngày 26 tháng 11 năm 2011 về hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3. 1. Đặc điểm chung - Thực trạng đào tạo liên tục của điều dưõng lâm sàng và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện quận thủ đức, thành phố hồ chí minh giai đoạn 2016 2019
Bảng 3. 1. Đặc điểm chung (Trang 38)
Bảng 3. 2. Thực trạng về phương pháp giảng dậy - Thực trạng đào tạo liên tục của điều dưõng lâm sàng và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện quận thủ đức, thành phố hồ chí minh giai đoạn 2016 2019
Bảng 3. 2. Thực trạng về phương pháp giảng dậy (Trang 40)
Bảng 3. 3. Thực trạng về hình thức cấp chứng chỉ/chứng nhận - Thực trạng đào tạo liên tục của điều dưõng lâm sàng và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện quận thủ đức, thành phố hồ chí minh giai đoạn 2016 2019
Bảng 3. 3. Thực trạng về hình thức cấp chứng chỉ/chứng nhận (Trang 42)
Bảng 3. 4. Thực trạng về hình thức đánh giá các khóa ĐTLT mà ĐD đã tham gia. - Thực trạng đào tạo liên tục của điều dưõng lâm sàng và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện quận thủ đức, thành phố hồ chí minh giai đoạn 2016 2019
Bảng 3. 4. Thực trạng về hình thức đánh giá các khóa ĐTLT mà ĐD đã tham gia (Trang 44)
Bảng 3. 9. Tỷ lệ các khóa học mà ĐD lâm sàng tham gia theo nội dung đào tạo - Thực trạng đào tạo liên tục của điều dưõng lâm sàng và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện quận thủ đức, thành phố hồ chí minh giai đoạn 2016 2019
Bảng 3. 9. Tỷ lệ các khóa học mà ĐD lâm sàng tham gia theo nội dung đào tạo (Trang 50)
Bảng 3. 10. Thực trạng về giảng viên đào tạo liên tục từ năm 2016 – 2019 - Thực trạng đào tạo liên tục của điều dưõng lâm sàng và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện quận thủ đức, thành phố hồ chí minh giai đoạn 2016 2019
Bảng 3. 10. Thực trạng về giảng viên đào tạo liên tục từ năm 2016 – 2019 (Trang 51)
Bảng 3. 11. Mối liên quan giữa nhóm tuổi với thời gian đào tạo theo quy định - Thực trạng đào tạo liên tục của điều dưõng lâm sàng và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện quận thủ đức, thành phố hồ chí minh giai đoạn 2016 2019
Bảng 3. 11. Mối liên quan giữa nhóm tuổi với thời gian đào tạo theo quy định (Trang 52)
Bảng 3. 13. Mối liên quan giữa vị trí công tác với thời gian đào tạo theo quy định - Thực trạng đào tạo liên tục của điều dưõng lâm sàng và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện quận thủ đức, thành phố hồ chí minh giai đoạn 2016 2019
Bảng 3. 13. Mối liên quan giữa vị trí công tác với thời gian đào tạo theo quy định (Trang 54)
Bảng 3. 14. Mối liên quan giữa thâm niên công tác với thời gian đào tạo theo quy  định - Thực trạng đào tạo liên tục của điều dưõng lâm sàng và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện quận thủ đức, thành phố hồ chí minh giai đoạn 2016 2019
Bảng 3. 14. Mối liên quan giữa thâm niên công tác với thời gian đào tạo theo quy định (Trang 55)
Bảng 3. 15. Mối liên quan giữa trình độ chuyên môn và thời gian đào tạo theo quy  định - Thực trạng đào tạo liên tục của điều dưõng lâm sàng và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện quận thủ đức, thành phố hồ chí minh giai đoạn 2016 2019
Bảng 3. 15. Mối liên quan giữa trình độ chuyên môn và thời gian đào tạo theo quy định (Trang 55)
Bảng 3. 16. Mối liên quan giữa khối lâm sàng với thời gian đào tạo theo quy định - Thực trạng đào tạo liên tục của điều dưõng lâm sàng và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện quận thủ đức, thành phố hồ chí minh giai đoạn 2016 2019
Bảng 3. 16. Mối liên quan giữa khối lâm sàng với thời gian đào tạo theo quy định (Trang 57)
Bảng 3. 17. Thực trạng theo nhu cầu về nội dung ĐTLT của điều dưỡng - Thực trạng đào tạo liên tục của điều dưõng lâm sàng và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện quận thủ đức, thành phố hồ chí minh giai đoạn 2016 2019
Bảng 3. 17. Thực trạng theo nhu cầu về nội dung ĐTLT của điều dưỡng (Trang 58)
Bảng 3. 18. Thực trạng về kinh phí ĐTLT trong năm - Thực trạng đào tạo liên tục của điều dưõng lâm sàng và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện quận thủ đức, thành phố hồ chí minh giai đoạn 2016 2019
Bảng 3. 18. Thực trạng về kinh phí ĐTLT trong năm (Trang 63)
Bảng 3.12. ảnh hưởng của công tác tổ chức quản lý đào tạo tại bệnh viện - Thực trạng đào tạo liên tục của điều dưõng lâm sàng và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện quận thủ đức, thành phố hồ chí minh giai đoạn 2016 2019
Bảng 3.12. ảnh hưởng của công tác tổ chức quản lý đào tạo tại bệnh viện (Trang 64)
Hình  thức - Thực trạng đào tạo liên tục của điều dưõng lâm sàng và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện quận thủ đức, thành phố hồ chí minh giai đoạn 2016 2019
nh thức (Trang 105)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm