1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng tuân thủ quy trình kỹ thuật trước xét nghiệm máu và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện quận 4, thành phố hồ chí minh năm 2022

119 49 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá thực trạng tuân thủ quy trình kỹ thuật trước xét nghiệm máu và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện quận 4, thành phố Hồ Chí Minh năm 2022
Tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo
Người hướng dẫn PGS.TS. Bùi Thị Tú Quyên
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Y học
Thể loại Luận văn chuyên khoa
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 5,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỉ lệ tuân thủ quy trình kỹ thuật trước xét nghiệm máu tại bệnh viện gồm 52,8% tuân thủ lượt thực hiện các bước trong quy trình lấy mẫu, 53,3% tuân thủ lượt

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TUÂN THỦ QUY TRÌNH KỸ THUẬT TRƯỚC XÉT NGHIỆM MÁU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI BỆNH VIỆN QUẬN 4,

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2022

LUẬN VĂN CHUYÊN KHOA II TỔ CHỨC QUẢN LÝ Y TẾ

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 62.72.76.05

HÀ NỘI, 2022 HUPH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TUÂN THỦ QUY TRÌNH KỸ THUẬT TRƯỚC XÉT NGHIỆM MÁU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI BỆNH VIỆN QUẬN 4,

Trang 3

Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô giáo Trường Đại học Y tế Công cộng đã giúp đỡ tôi nhiệt tình trong thời gian tôi học tập và thực hiện nghiên cứu

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Lãnh đạo, đồng nghiệp tại Khoa Xét nghiệm, Phòng Quản lý chất lượng Bệnh viện Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện

để tôi an tâm học tập và thực hiện luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến đồng nghiệp các khoa Nội, Ngoại, Sản, Nhi đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được thu thập số liệu để thực hiện Luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến gia đình và bạn bè, cùng tập thể anh chị em học viên lớp Chuyên khoa II Tổ chức Quản lý Y tế đã động viên khuyến khích tôi rất

nhiều để hoàn thành Luận văn

Học viên

HUPH

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC HÌNH ẢNH iv

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU v

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Một số khái niệm, nội dung liên quan đến chuyên ngành xét nghiệm 5

1.2 Giới thiệu về các quy trình lựa xét nghiệm tại Bệnh viện Quận 4 10

1.3 Một số nghiên cứu về tuân thủ quy trình trước xét nghiệm máu 13

1.4 Một số yếu tố thuận lợi, khó khăn trong tuân thủ quy trình xét nghiệm máu 16

1.5 Thông tin về Bệnh viện Quận 4 và Khoa xét nghiệm của bệnh viện 23

1.6 Khung lý thuyết 25

CHƯƠNG 2 26

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Đối tượng nghiên cứu 26

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 26

2.3 Thiết kế nghiên cứu 26

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 27

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 28

2.6 Các biến số trong nghiên cứu 30

2.7 Xử lý và phân tích số liệu 30

2.9 Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu 31

CHƯƠNG 3 32

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32

3.1 Mô tả thực trạng tuân thủ quy trình kỹ thuật trước xét nghiệm máu tại bệnh viện quận 4 32

3.2 Một số yếu tố khó khăn/thuận lợi đến tuân thủ quy trình kỹ thuật trước xét nghiệm Bệnh viện Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh 38

Chương 4: BÀN LUẬN 51

HUPH

Trang 5

4.1 Thực trạng tuân thủ quy trình trước xét nghiệm máu tại Bệnh viện Quận 4,

thành phố Hồ Chí Minh năm 2022 51

4.2 Một số thuận lợi, khó khăn trong tuân thủ quy trình kỹ thuật trước xét nghiệm máu tại Bệnh viện Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2022 57

4.3 Hạn chế của nghiên cứu 66

KẾT LUẬN 68

KHUYẾN NGHỊ 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

PHỤ LỤC 8

PHỤ LỤC 1: BẢNG KIỂM ĐÁNH GIÁ TUÂN THỦ QUY TRÌNH KỸ THUẬT TRƯỚC XÉT NGHIỆM MÁU TẠI BỆNH VIỆN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2020 8

PHỤ LỤC 2: TIÊU CHUẨN CHO ĐIỂM ĐÁNH GIÁ 12

PHỤ LỤC 3 HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU 15

PHỤ LỤC 4: HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM 18

PHỤ LỤC 5: QUY TRÌNH LẤY MÁU 20

PHỤ LỤC 6: QUY TRÌNH BẢO QUẢN MẪU MÁU 21

PHỤ LỤC 7: QUY TRÌNH VẬN CHUYỂN MẪU MÁU 22

PHỤ LỤC 8: BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG 23

HUPH

Trang 6

HPLC: Hệ thống sắc ký lỏng hiệu năng cao

ISO: Tổ chức tiêu chuẩn hóa Quốc tế

HUPH

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 3 1 Tình hình nhân lực tham gia nghiên cứu 32

Bảng 3 2 Tuân thủ quy trình lấy mẫu của nhân viên y tế tại các khoa (n=180) 33

Bảng 3 3 Tuân thủ quy trình kỹ thuật bảo quản bệnh phẩm của nhân viên y tế tại các khoa (n=180) 35

Bảng 3 4 Thực trạng tuân thủ quy trình kỹ thuật vận chuyển bệnh phẩm của nhân viên tại các khoa (n=180) 36

Bảng 3 6 Nhân lực các khoa lâm sàng tại thời điểm nghiên cứu 40

Bảng 3 5 Cơ sở vật chất phục vụ công tác xét nghiệm 41

Bảng 3 7 Trang thiết bị phục vụ cho công tác xét nghiệm 43

DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 1 1 Sơ đồ quá trình xét nghiệm tại khoa Xét nghiệm Bệnh viện Quận 4 Error! Bookmark not defined Hình 1 2 Khung lý thuyết nghiên cứu Error! Bookmark not defined Biểu đồ 3 1 Tỉ lệ tuân thủ lượt thực hiện các quy trình 37

Biểu đồ 3 2 Thực trạng tuân thủ lượt thực hiện quy trình kỹ thuật trước xét nghiệm máu theo các khoa trong nghiên cứu 38

HUPH

Trang 8

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Nhằm cung cấp bằng chứng thực tế cho việc đề xuất các giải pháp can thiệp, hạn chế sai sót trong giai đoạn trước xét nghiệm, từ đó nâng cao mức chất lượng kỹ thuật xét nghiệm tại đơn vị, cải tiến chất lượng khám chữa bệnh Chúng tôi tiến

hành nghiên cứu “Đánh giá thực trạng tuân thủ quy trình kỹ thuật trước xét nghiệm máu và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Quận 4, thành phố Hồ Chí Minh năm 2022” Với 2 mục tiêu (1) Mô tả thực trạng và (2) Phân tích một số

thuận lợi, khó khăn trong tuân thủ quy trình kỹ thuật trước xét nghiệm máu tại Bệnh viện Quận 4, thành phố Hồ Chí Minh năm 2022

Nghiên cứu cắt ngang, định lượng kết hợp với định tính Định lượng thực hiện qua quan sát trực tiếp sử dụng bảng kiểm với 180 lần thực hiện các quy trình lấy mẫu, bảo quản và vận chuyển mẫu của bán bộ y tế Nghiên cứu định tính thực hiện

08 cuộc PVS và 01 cuộc TLN với Lãnh đạo, nhân viên trong bệnh viện thực hiện tại phòng riêng, thời gian thực hiện từ 25-35 phút

Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỉ lệ tuân thủ quy trình kỹ thuật trước xét nghiệm máu tại bệnh viện gồm 52,8% tuân thủ lượt thực hiện các bước trong quy trình lấy mẫu, 53,3% tuân thủ lượt thực hiện các bước quy trình bảo quản mẫu và 60,0% tuân thủ lượt thực hiện các bước quy trình vận chuyển mẫu Yếu tố thuận lợi cho tuân thủ qui trình là: Số lượng, chất lượng nhân lực khoa xét nghiệm đảm bảo khối lượng công việc Cơ sở vật chất đảm bảo, trang thiết bị đầy đủ, môi trường làm việc thân thiện giúp nâng cao động lực làm việc Quy trình, quy định được chuẩn hóa, hoạt động ổn định, hàng năm tổ chức đào tạo về quy trình cho nhân viên và công tác kiểm tra giám sát giúp nâng cao ý thức tuân thủ Bệnh viện có chế tài khen thưởng, kỉ luật mang lại động lực tuân thủ quy trình

Yếu tố khó khăn: Nhân lực tại một số khoa đang thiếu hụt, cùng với áp lực công việc và một số trang thiết bị đã quá cũ, đang trong tình trạng hỏng Công tác kiểm tra, giám sát còn hạn chế và chế độ lương thưởng ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của nhân viên dẫn đến tình trạng làm cho xong việc gia tăng tình trạng không tuân thủ quy trình

Khuyến nghị: Sửa chữa hệ thống vận chuyển xét nghiệm tự động

HUPH

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hiện nay, công tác khám chữa bệnh không chỉ đơn thuần dựa vào các triệu chứng lâm sàng mà các xét nghiệm y học cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện, chẩn đoán, điều trị và tiên lượng bệnh, nó ảnh hưởng đến 60 -70 % những quyết định quan trọng như nhập viện, xuất viện, điều trị (1) Tuân thủ quy trình kỹ thuật xét nghiệm máu là một trong những yếu tố góp phần hạn chế những sai số có thể xảy ra, tạo ra các kết quả xét nghiệm tin cậy, chất lượng, từ đó giúp cho việc chẩn đoán, điều trị, theo dõi và dự phòng bệnh của bác sĩ lâm sàng được hiệu quả

Tại Việt Nam, các chương trình, thông tư do Bộ y tế ban hành về việc hướng dẫn quản lý chất lượng phòng xét nghiệm, các tiêu chí đánh giá phòng xét nghiệm đạt chuẩn, các quy trình thực hành chuẩn trong quản lý chất lượng xét nghiệm tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh… Điều này không chỉ giúp cho các cơ sở y tế nâng cao và kiểm soát tốt chất lượng xét nghiệm mà còn góp phần nâng cao sức khỏe, tạo niềm tin cho người dân trong công tác khám chữa bệnh (2-4)

Tuy nhiên trên thực tế vẫn còn các cơ sở y tế thực hiện chưa đầy đủ, đồng bộ và hiệu quả chưa cao, nhiều phòng xét nghiệm thiếu quy trình thực hành chuẩn Một trong những nguyên nhân là do cán bộ, nhân viên quản lý và người làm xét nghiệm chưa nắm rõ vai trò và tầm quan trọng của việc tuân thủ theo quy trình thực hành chuẩn quản lý chất lượng xét nghiệm (5) Nghiên cứu của Dương Hồng Thắng đã chỉ có 8,23% điều dưỡng, kỹ thuật viên thực hiện đúng quy trình, những sai sót chủ yếu xảy

ra ở giai đoạn trước xét nghiệm (6) Các yếu tố như tuổi, thâm niên công tác của nhân viên y tế có liên quan đến việc tuân thủ quy trình xét nghiệm (7)

Bên cạnh đó các chương trình cải thiện chất lượng trong phòng xét nghiệm chủ yếu tập trung vào giai đoạn trong xét nghiệm, ít chú ý tới giai đoạn trước và sau xét nghiệm Tuy nhiên sai sót lớn nhất lại trong giai đoạn trước và sau xét nghiệm (8, 9) Giai đoạn trước xét nghiệm có nguy cơ gây ra sai số cho kết quả xét nghiệm cao nhất

HUPH

Trang 10

với tỉ lệ 49-73% do các nguyên nhân như yêu cầu xét nghiệm không rõ, lấy bệnh phẩm sai quy cách, sử dụng ống đựng nghiệm phẩm không đúng quy định…(1) và chất lượng cải thiện đáng kể nếu tập trung vào giai đoạn này (10-13)

Khoa Xét nghiệm Bệnh viện quận 4 là một khoa lớn trong Khối cận lâm sàng Số lượng mẫu thực hiện hàng ngày 500 mẫu, trong đó mẫu máu chiếm đa số với khoảng 80% Dù khoa xét nghiệm được đánh giá cao trong công tác quản lý chất lượng, hàng năm cũng có thực hiện đánh giá việc tuân thủ quy trình của nhân viên trong khoa để làm cơ sở chấm mức chất lượng theo Quyết định số 2424/QĐ-BYT Tuy nhiên, việc đánh giá tuân thủ quy trình thực hiện thông qua việc đánh giá tay nghề hàng năm với phương cách mỗi nhân viên được quan sát một lần qua việc thực hiện một kỹ thuật xét nghiệm được chọn lựa trước và chủ yếu chỉ đánh giá quy trình trong xét nghiệm, chưa quan tâm đến việc tuân thủ các quy trình trước xét nghiệm Tại đơn vị cũng chưa có nghiên cứu nào đánh giá việc tuân thủ các quy trình kỹ thuật trước xét nghiệm máu của nhân viên y tế (14)

Nhằm cung cấp bằng chứng thực tế cho việc đề xuất các giải pháp can thiệp, hạn chế sai sót trong giai đoạn trước xét nghiệm, từ đó nâng cao mức chất lượng kỹ thuật xét nghiệm tại đơn vị, cải tiến chất lượng khám chữa bệnh Chúng tôi tiến hành nghiên

cứu “Đánh giá thực trạng tuân thủ quy trình kỹ thuật trước xét nghiệm máu và một

số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Quận 4, thành phố Hồ Chí Minh năm 2022” HUPH

Trang 11

HUPH

Trang 12

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng tuân thủ quy trình trước xét nghiệm máu tại Bệnh viện Quận

4, thành phố Hồ Chí Minh năm 2022

2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng trong tuân thủ quy trình kỹ thuật trước xét nghiệm máu tại Bệnh viện Quận 4, thành phố Hồ Chí Minh năm 2022

HUPH

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm, nội dung liên quan đến chuyên ngành xét nghiệm

1.1.1 Một số khái niệm

Xét nghiệm: Là tập hợp các thao tác nhằm xác định giá trị hoặc đặc trưng của một thuộc tính Trong xét nghiệm y khoa, các xét nghiệm đo lường giá trị của các thành phần hiện diện trong mẫu thử gọi là các xét nghiệm định lượng, các xét nghiệm xác định sự hiện diện hay vắng mặt của một chất hoặc đánh giá đặc tính của tế bào gọi là xét nghiệm định tính, các xét nghiệm mà kết quả thu được biểu thị bằng sự ước lượng hoặc bằng một trị số nhưng khi trả cho khách hàng sẽ biểu thị trạng thái gọi là xét nghiệm bàn định lượng

Nghiệm phẩm là một phần của dịch cơ thể, khí thở, tóc hoặc mô được lấy để xét nghiệm, nghiên cứu hoặc phân tích một hoặc nhiều đại lượng hoặc tính chất của giả định áp dụng cho toàn bộ cơ thể (15)

Quá trình xét nghiệm là một tập hợp chuỗi hoạt động liên quan lẫn hoặc tương tác nhau bao gồm tiếp nhận, lấy mẫu nghiệm phẩm, bảo quản nghiệm phẩm, vận chuyển nghiệm phẩm đến nơi xét nghiệm, thực hiện xét nghiệm, phê duyệt và trả kết quả xét nghiệm Các hoạt động để biến đổi đầu vào thành các kết quả Một quá trình xét nghiệm sinh hóa máu gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn trước xét nghiệm, giai đoạn xét nghiệm và giai đoạn sau xét nghiệm (3)

1.1.2 Các giai đoạn của quá trình xét nghiệm và tỉ lệ sai số

1.1.2.1 Các giai đoạn của quá trình xét nghiệm

Quá trình xét nghiệm được chia thành ba giai đoạn:

- Giai đoạn trước xét nghiệm: Là các bước bắt đầu của quá trình xét nghiệm và kết thúc khi giai đoạn xét nghiệm bắt đầu, bao gồm: Yêu cầu xét nghiệm, lấy và bảo quản bệnh phẩm, vận chuyển nghiệm phẩm đến phòng thực hiện xét nghiệm, nhận bệnh phẩm, xử lý nghiệm phẩm trước xét nghiệm (16)

HUPH

Trang 14

- Giai đoạn xét nghiệm: Là tập hợp các thao tác nhằm mục đích xác định trị số của các thành phần hiện diện trong nghiệm phẩm (đối với nhóm xét nghiệm định lượng), đánh giá đặc tính của nghiệm phẩm (đối với nhóm xét nghiệm định tính) hoặc ước lượng các thành phần hiện diện trong nghiệm phẩm (đối với nhóm xét nghiệm bán định lượng) theo yêu cầu xét nghiệm của bác sĩ lâm sàng (bao gồm: phân tích mẫu, xem xét kết quả, kiểm tra chất lượng, thẩm định kết quả xét nghiệm) (16)

- Giai đoạn sau xét nghiệm: Là các bước tiếp theo giai đoạn xét nghiệm đến khi quá trình xét nghiệm kết thúc (bao gồm: xuất kết quả xét nghiệm, xem xét và biện luận/hoặc diễn giải kết quả xét nghiệm, phê duyệt và trả kết quả xét nghiệm, lưu kết quả xét nghiệm, lưu trữ nghiệm phẩm đã được xét nghiệm, xử lý nghiệm phẩm sau xét nghiệm (16)

1.1.2.2 Tỉ lệ sai số trong các giai đoạn của quá trình xét nghiệm

Theo thống kê của các nhà khoa học công bố trên tạp chí khoa học Ann Clin

Biochem (2010), tỉ lệ sai số trong các giai đoạn của quá trình xét nghiệm tương ứng là

(16)

- Giai đoạn trước xét nghiệm: 49-73%, do các nguyên nhân như: Yêu cầu xét nghiệm không rõ ràng, đọc/nhập sai yêu cầu xét nghiệm, nhận dạng sai bệnh nhân/nghiệm phẩm, lấy nghiệm phẩm sai quy cách, lấy nghiệm phẩm không đủ lượng/bị tán huyết/huyết khối, sử dụng ống đựng nghiệm phẩm không đúng quy định, thao tác sai trong sử dụng pipette, ly tâm…

- Giai đoạn xét nghiệm: 7-13%, do các nguyên nhân như: Sự cố của thiết bị, thao tác sai do nhân viên thực hiện xét nghiệm không nắm rõ kỹ thuật, môi trường thực hiện xét nghiệm bị nhiễm bẩn (không khí, nhiễm bẩn gây ra nhiễm chéo, nước dùng cho xét nghiệm không đạt tiêu chuẩn ), các lỗi chưa xác định trong kiểm tra chất lượng…

- Giai đoạn sau xét nghiệm: 38-66% do các nguyên nhân như: Báo cáo/trích lọc sai kết quả xét nghiệm, biện luận/diễn giải sai kết quả xét nghiệm, nhầm số liệu, ghi

HUPH

Trang 15

chép sai kết quả, sai đơn vị, lỗi số học, trả kết quả không đúng bệnh nhân, không trả kết quả đúng thời hạn yêu cầu (nhất là các kết quả quan trọng ảnh hưởng đến sự sống còn của bệnh nhân), không bảo mật thông tin kết quả xét nghiệm của bệnh nhân (ví dụ: xét nghiệm HIV, ung thư ), xử lý các chất thải không đúng quy định (15)

1.1.3 Quy trình và sự tuân thủ quy trình

Quy trình là văn bản hướng dẫn cụ thể, chỉ rõ cách tiến hành một công việc cụ thể trong công tác quản lý và chuyên môn kỹ thuật nhằm bảo đảm các hoạt động diễn

ra một cách thống nhất theo đúng quy định (17)

Trong một tổ chức, quá trình biến đổi đầu vào thành đầu ra, hay nói cách khác là việc tạo ra sản phẩm (sản phẩm có thể là hàng hóa như ống nghiệm, bơm kim tiêm, pippette…hay dịch vụ như khám chữa bệnh, xét nghiệm, chăm sóc người bệnh tại nhà…) được thực hiện thông qua một chuỗi các hoạt động Các hoạt động này được cụ thể hóa thành một chuỗi các quy trình tiếp nối nhau quy định các bước thực hiện và xác định trách nhiệm của các cá nhân có liên quan Như vậy, quá trình bao gồm nhiều quy trình mô tả diễn biến các hành động biến đổi đầu vào thành đầu ra Quy trình là cách thức cụ thể để tiến hành một hoạt động hay một quá trình (17)

Chuẩn hóa các quy trình xét nghiệm: Tất cả các hoạt động đảm bảo chất lượng đều cần phải có quy trình Do đó, phải cụ thể hóa các hoạt động xét nghiệm bằng những quy trình thao tác chuẩn nhằm giúp hệ thống hóa việc mô tả các quá trình hay công việc, giúp việc hiểu và vận hành các quá trình trở nên dễ dàng hơn và dễ cải tiến Tất cả các công việc từ quản lý đến kỹ thuật đều nhất thiết phải có quy trình rõ ràng, giúp mọi thành viên trong phòng xét nghiệm thực hiện công việc một cách thống nhất theo những cách thức và trình tự như nhau, từ đó cho những kết quả xét nghiệm có chất lượng tương đương như nhau và tin cậy Một quy trình tốt được thực hiện nghiêm túc

sẽ giảm thiểu và hạn chế sai số có thể xảy ra (17)

HUPH

Trang 16

Phân loại quy trình theo nhóm công việc trong một tổ chức có các loại quy trình sau: Quy trình hành chính, quy trình kỹ thuật, quy trình xử lý số liệu, quy trình đảm bảo chất lượng hoặc kiểm tra chất lượng Trong đó quy trình kỹ thuật là các quy trình

mô tả các thao tác, trình tự thực hiện hay các bước tiền hành các công việc (quy trình lấy máu, quy trình bảo nghiệm phẩm, quy trình nuôi cấy vi sinh vật )

Sự cần thiết của quy trình

Một hoạt động nào diễn ra cũng đứng trước nhiều phương pháp tiến hành, có phương pháp được thống nhất cao, tuy nhiên cũng có những phương pháp chưa nhận được sự đồng thuận của các thành viên liên quan đến kiến thức, kinh nghiệm, thói quen, sở trường, thậm chí là tính cách Điều này thật bất lợi đối với trường hợp làm việc theo nhóm, theo dây chuyền, bởi vì quá trình thực hiện sẽ gặp rất nhiều bất đồng, rắc rối, có thể sẽ không tạo nên kết quả đầu ra, hoặc nếu có thì có thể sẽ không như mong đợi Như vậy, các quy trình luôn được thiết lập trong các cơ quan đơn vị, được thể hiện và ban hành bằng văn bản nhằm thực hiện và kiểm soát các quá trình của công việc, để công việc mang lại nhiều hiệu quả hơn, ít xảy ra sai sót cũng như hạn chế các

sự cố ngoài ý muốn Nội dung của quy trình không còn phù hợp với yêu cầu ngày càng cao trong giai đoạn mới, nhiều kiến thức mới, nhiều quan điểm mới, nhiều kỹ thuật mới, nhiều phương tiện mới, nhiều bộ phận mới, cơ sở mới và nhiều chính sách mới

Do đó, quy trình phải thường xuyên được cập nhật, bổ sung cho phù hợp

Việc tuân thủ các quy trình y khoa trở nên vô cùng cần thiết và cấp bách nhằm hạn chế sai sót hay các sự cố y khoa, từ đó nâng cao chất lượng chuyên môn, hướng đến sự hài lòng của người bệnh Bên cạnh đó, quy trình còn thể hiện thước đo đánh giá chất lượng của cơ sở y tế, là cơ sở để kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện công việc cũng như là bằng chứng để bảo vệ người thầy thuốc tránh bị “oan” khi xảy ra các sự cố ngoài ý muốn

HUPH

Trang 17

Nói tóm lại, “Quy trình” là khái niệm được dùng để chỉ các cách thức cụ thể để thực hiện một công việc Nói đến “quy trình” là nói đến trình tự của các hoạt động, phương pháp, trách nhiệm, quyền hạn, năng lực, thời gian, cơ sở hạ tầng, trang thiết bị cần thiết, tiêu chuẩn vận hành, hoạt động kiểm soát và ghi chép báo cáo Quy trình phải được tuân thủ một cách đầy đủ với tinh thần trách nhiệm cao và phải thường xuyên phản hồi để có sự cải tiến và điều chỉnh cho phù hợp với từng thời điểm

Trong quá trình xét nghiệm, mỗi giai đoạn sẽ có nhiều quy trình kỹ thuật, tương ứng với mỗi giai đoạn sẽ có nhóm quy trình kỹ thuật có tương ứng (nhóm quy trình kỹ thuật trước xét nghiệm nghiệm, nhóm quy trình kỹ thuật xét nghiệm và nhóm quy trình

kỹ thuật sau xét nghiệm) nhưng đối với nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tập trung vào quy trình kỹ thuật trước xét nghiệm, là giai đoạn được đánh giá có tỉ lệ sai số cho kết quả nhiều nhất

HUPH

Trang 18

1.2 Giới thiệu về các quy trình lựa xét nghiệm tại Bệnh viện Quận 4

1.1.4 Phân nhóm hoạt động trong quá trình xét nghiệm tại Khoa xét nghiệm

Hình 1 1 Sơ đồ quá trình xét nghiệm tại khoa Xét nghiệm Bệnh viện Quận 4

Theo phân nhóm các hoạt động kỹ thuật trong các giai đoạn của quá trình trình xét nghiệm thì giai đoạn trước xét nghiệm sẽ bao gồm: thu thập mẫu bệnh phẩm, bảo quản mẫu bệnh phẩm (trước khi tiến hành phân tích mẫu và vận chuyển mẫu bệnh phẩm đến nơi phân tích)

LÂM SÀNG Yêu cầu/chỉ định xét nghiệm

Thu thập mẫu Bảo quản mẫu Vận chuyển nghiệm phẩm

Phân tích mẫu Xem xét kết quả Kiểm tra/thẩm định KQXN

Xuất/in KQXN Xem xét KQXN Biện luận/Phê duyệt KQXN Lưu trữ KQXN/Bệnh phẩm

HUPH

Trang 19

Nghiên cứu này, chọn lựa ghi nhận việc tuân thủ thực hiện các quy trình kỹ thuật trước xét nghiệm có nghĩa là sẽ tiến hành đánh giá sự tuân thủ việc thực hiện các quy trình kỹ thuật trong giai đoạn trước xét nghiệm của quá trình xét nghiệm, bao gồm:

- Quy trình lấy mẫu

- Quy trình bảo quản mẫu bệnh phẩm

- Quy trình vận chuyển mẫu bệnh phẩm

1.1.5 Tóm tắt các bước chính của quy trình

1.1.5.1 Quy trình lấy máu (sơ đồ tại phụ lục 5)

- Kiểm tra đối chiếu thông tin bệnh nhân, mã số LIS trên phiếu xét nghiệm và trên tube chứa mẫu

- Chuẩn bị bệnh nhận: hỏi bệnh nhân ăn/uống gì chưa? Hướng dẫn tư thế thoải mái lấy máu phù hợp, duỗi ngửa tay trên bàn, tình trạng ổn định Nếu bệnh nhân

đã ăn/uống ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm hoặc tình trạng bệnh nhân bất ổn sẽ không thực hiện lấy máu, báo cho bác sĩ chỉ định để giá tiếp

- Chọn tĩnh mạch thích hợp, thường lấy ở nếp gấp khuỷu tay

- Chuẩn bị dụng cụ (kim tiêm, gòn, băng dán )

- Tháo bao kim tiêm, kiểm tra bơm tiêm

- Buộc dây garô phía trên nơi tiêm 5-10cm, cho bệnh nhân nắm bàn tay lại (tránh cột quá chặt hay quá lỏng và không quá 2 phút trước khi lấy máu)

- Dùng gòn thấm cồn 70o sát khuẩn rộng vùng tiêm, để khô tự nhiên

- Dùng ngón trỏ của bàn tay trái căng da nơi tĩnh mạch được chọn lấy máu Tay phải cầm ống tiêm nghiêng 30o so với cánh tay duỗi thẳng Đầu ngón trỏ phải giữ đốc kim và ống tiêm Ngửa mặt vát, đâm kim qua da vào tĩnh mạch góc 30o Hạ góc độ tiêm xuống, luồng kim vào tĩnh mạch

- Kéo lùi nòng có máu, rút đủ thể tích máu cần thiết (tránh tạo bọt khí)

- Tháo dây garô ngay khi máu vào ống tiêm

HUPH

Trang 20

- Rút kim ra khi đủ lượng máu cần thiết vào bơm tiêm, ấn nhẹ bông gòn khô nơi tiêm, nhờ bệnh nhân giữ 3-5 phút, đồng thời mở nắm tay ra

- Tháo kim cho vào hộp chứa dụng cụ sắc nhọn Đặt bơm tiêm chếch vào thành ống nghiệm góc 45o (phù hợp với loại xét nghiệm cần thực hiện) Bơm máu từ từ vào thành tube chứa mẫu, tránh vỡ hồng cầu và đậy nắp ống nghiệm lại

- Huỷ bơm tiêm vào hộp chứa chất thải y tế

- Rửa tay nhanh

- Hẹn thời gian trả kết quả

1.1.5.2 Quy trình bảo quản mẫu bệnh phẩm, sau khi lấy mẫu (Phụ lục 6)

- Mẫu máu lấy xong được để vào giá ống nghiệm ở tư thế đứng, nhiệt độ phòng, chuyển đến vị trí lưu mẫu kèm theo phiếu chỉ định (đã được nhập thông tin qua chương trình eLIS)

- Đối với ống nghiệm có chứa chất chống đông phải thực hiện thao tác lắc trộn đều nhẹ nhàng từ 5-10 lần để tránh máu bị đông Nếu phát hiện máu bị đông hoặc tán huyết thì phải báo bộ phận lấy mẫu

- Đối với ống nghiệm không chứa chất chống đông cũng phải lắc nhẹ nhàng 2-3 lần để hòa trộn máu với các hạt silica-micronised có trong tube Nếu máu bị tán huyết thì phải báo bộ phận lấy mẫu

- Kiểm đếm phiếu chỉ định tương thích với các mẫu máu

- Mẫu bệnh phẩm được để trong giá thẳng đứng và đặt ở nơi thoáng gió, không côn trùng

- Mẫu máu cần chuyển đến phòng kỹ thuật trong vòng 60 phút nếu nơi bảo quản có nhiệt độ 20 - 27oC (phòng có máy điều hòa) hoặc trong vòng 30 phút nếu nơi bảo quản có nhiệt độ 28 - 35oC (phòng không có máy điều hòa)

1.1.5.3 Quy trình vận chuyển mẫu bệnh phẩm

HUPH

Trang 21

- Chuẩn bị Sổ (danh sách) bàn giao mẫu xét nghiệm: điền đầy đủ số lượng và các thông tin phù hợp với mẫu bệnh phẩm cần vận chuyển

- Mang dụng cụ bảo hộ phù hợp (găng tay, khẩu trang)

- Kiểm tra hộp chứa mẫu (nguyên vẹn, không nứt vỡ, sạch, có nhãn cảnh báo

an toàn sinh học)

- Kiểm tra nắp đậy của các ống chứa mẫu được đây/vặn chặt

- Đặt giá chứa mẫu bệnh phẩm vào hộp nhựa cứng, có lót đủ vật liệu thấm hút (giấy thấm), đậy nắp thùng đựng mẫu và khóa chốt

- Gọi đện thoại báo trước cho phòng kỹ thuật xét nghiệm biết thời gian bệnh phẩm sẽ tới để chuẩn bị tiếp nhận

- Vận chuyển mẫu đến phòng kỹ thuật ngay sau khi chuẩn bị

- Bàn giao mẫu và chỉ định xét nghiệm cho bộ phận kỹ thuật xét nghiệm

1.3 Một số nghiên cứu về tuân thủ quy trình trước xét nghiệm máu

1.3.1 Nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu của Rachna vào năm 2014 chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến việc cải thiện chất lượng phòng xét nghiệm Việc thực hiện đúng các bước trong quy trình

kỹ thuật trước xét nghiệm ảnh hưởng rất lớn đến cải tiến chất lượng xét nghiệm, ví dụ mỗi nhân viên làm việc trong phòng xét nghiệm nên rửa tay sạch trước khi lấy máu và xác định đúng bệnh nhân sẽ cải thiện chất lượng phòng xét nghiệm và an toàn cho người bệnh hơn Bên cạnh đó, viêc cải thiện hệ thống thông tin trong xét nghiệm tích hợp với các hệ thống thông tin của các khoa lâm sàng khác sẽ khai thác các nguồn lực

từ các lĩnh vực khác có liên quan cũng giúp giảm thiểu các nguy cơ không an toàn có thể xảy ra Tất cả các phòng xét nghiệm nên cung cấp một bản hướng dẫn chuẩn để nhân viên y tế thực hiện theo nhằm giảm thiểu các sai sót và rủi ro có thể gặp phải trong tương lai (18)

Theo nghiên cứu của M Zaminotto về giám sát chất lượng xét nghiệm qua quá trình vận chuyển mẫu, thì chất lượng mẫu có thể bị ảnh hưởng do quá trình bảo quản

HUPH

Trang 22

trong điều kiện nhiệt độ không phù hợp, kéo dài thời gian vận chuyển mẫu đến nơi thực hiện Dữ liệu đưa ra từ báo cáo nghiên cứu này xác nhận tính hữu ích của sự tích hợp việc giám sát thời gian lưu mẫu trong quá trình vận chuyển mẫu trước khi thực hiện xét nghiệm và nhiệt độ bảo quản mẫu từ nơi thu gom đến nơi thực hiện phân tích Theo kết quả nghiên cứu, nhiệt độ phù hợp để vận chuyển mẫu dao động từ 20 đến

250C và thời gian cần chuyển mẫu là dưới 3 giờ (19)

Theo nghiên cứu của Lippi G, sự thiếu hụt các thủ tục vận hành chuẩn cho việc thực hiện các kỹ thuật trong giai đoạn trước xét nghiệm bao gồm quá trình lấy mẫu, bảo quản và vận chuyển mẫu đến phòng xét nghiệm chiếm tới 93% các lỗi hiện đang gặp phải trong toàn bộ quá trình chẩn đoán Sự quan tâm ngày nhiều trong việc cải tiến các quy trình thao tác chuẩn trong giai đoạn trước xét nghiệm cho các cơ sở y tế sẽ nâng cao được chất lượng xét nghiệm (20)

1.3.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

Tại Việt Nam, các phòng xét nghiệm tuyến huyện thường chỉ đáp ứng được nhu cầu về các xét nghiệm thường quy Phần lớn còn yếu về quản lý chất lượng xét nghiệm

và thiếu nguồn lực để đáp ứng những nhu cầu về chất lượng dẫn tới trì hoãn việc ra quyết định điều trị thích hợp Bất kể phòng xét nghiệm ở tuyến nào thì đảm bảo chất lượng xét nghiệm luôn được đặt lên hàng đầu Việc yếu kém về chất lượng xét nghiệm

sẽ gây hậu quả vô cùng nghiêm trọng trong công tác khám chữa bệnh Vì vậy tăng cường công tác quản lý chất lượng phòng xét nghiệm, tuân thủ đúng quy trình xét nghiệm là một bước quan trọng để giúp cho Việt Nam có các quy chuẩn, tiêu chuẩn tốt

về thực hành phòng xét nghiệm Các phòng xét nghiệm xây dựng quy trình chuyên môn để bảo đảm chất lượng của mình Các bệnh viện có quy trình nhưng tỷ lệ không tuân thủ khá cao Việc quản lý chất lượng và các vấn đề liên quan hoạt động xét nghiệm còn nhiều điều cần quan tâm

Trong giai đoạn hiện nay, hoạt động các phòng xét nghiệm tại các cơ sở y tế còn khá phức tạp, chưa đồng đều, tổ chức chưa thống nhất Tại các tỉnh vùng sâu, vùng xa,

HUPH

Trang 23

trang thiết bị, cơ sở vật chất chưa đáp ứng được nhu cầu xét nghiệm, thậm chí còn có hiện tượng xuống cấp về hoạt động và không đáp ứng được yêu cầu của lâm sàng Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác quản lý chất lượng phòng xét nghiệm y học cũng như kiểm soát chất lượng xét nghiệm trong việc hoàn thành nhiệm vụ chung của ngành Y tế trong giai đoạn hiện nay, Bộ Y tế đã ban hành các Thông tư số: 01/2013/TT-BYT, 11/01/2013 Hướng dẫn thực hiện quản lí chất lượng xét nghiệm tại

cơ sở khám chữa bệnh; Thông tư số 19/2013/TT-BYT, 12/07/2013 Hướng dẫn thực hiện quản lí chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện; Quyết định số: 5530/QĐ-BYT, 25/12/2015 – Quyết định Ban hành hướng dẫn xây dựng quy trình thực hành chuẩn trong quản lý chất lượng xét nghiệm; đặc biệt, ngày 27/02/2016, Thủ tướng Chính phủ đã kí Quyết định số: 316/QĐ-TTg Quyết định Phê duyệt Đề án Tăng cường năng lực hệ thống quản lý chất lượng xét nghiệm y học giai đoạn 2016 –

2025 với mục tiêu đến năm 2025 liên thông kết quả xét nghiệm đối với các phòng xét nghiệm trên phạm vi toàn quốc Các văn bản pháp trên nhằm mục đích chuẩn hóa các phòng xét nghiệm, trong đó bao gồm nhiều nội dung trong ISO 15189 (3, 15, 17, 21, 22)

Trong một nghiên cứu của tác giá Dương Hồng Thắng năm 2014 tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Bắc Giang, có 76,9% kỹ thuật viên thực hiện đúng quy trình xét nghiệm sinh hóa máu, 67,7% kỹ thuật viên thực hiện đúng quy trình xét nghiệm công thức máu (đây là các quy trình kỹ thuật thường quy trong giai đoạn xét nghiệm) Trong khi đó, đối với quy trình lấy máu (đại diện cho quy trình kỹ thuật trước xét nghiệm) chỉ có 66,33% điều dưỡng, hộ sinh và kỹ thuật viên thực hiện đúng quy trình Nghiên cứu cũng cho thấy, những sai sót xảy ra chủ yếu ở giai đoạn trước xét nghiệm (6)

Theo tác giả Thái Vân Lâm, khi nghiên cứu về thực trạng tuân thủ quy trình xét nghiệm sinh hóa, huyết học và một số yếu liên quan tại Bệnh viện đa khoa Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp năm 2014, thì nhân viên khoa xét nghiệm không tuân thủ đủ các bước của quy trình trước xét nghiệm là 35,5%, không làm theo đúng quy trình trong xét nghiệm 7,1%, không làm đúng quy trình sau xét nghệm là 28,8%(7)

HUPH

Trang 24

Khi nghiên cứu về thực trạng hoạt động xét nghiệm và sự hài lòng của các bác sĩ lâm sàng về kết quả xét nghiệm tại Bệnh viện 198 Bộ công an vào năm 2014, tác giả Nguyễn Văn Nam ghi nhân có 94,9% nhân viên tiếp nhận mẫu bệnh phẩm cho rằng mẫu tiếp nhận không đúng thể tích theo quy định, 100% nhân viên nhận mẫu được khảo sát nhận định chưa nhận đủ thông tin bệnh nhân/ hoặc mẫu bệnh phẩm theo quy định (23)

Theo tác giá Nguyễn Thị Minh Hạnh khi mô tả thực trạng hoạt động xét nghiệm tại Bệnh viện châm cứu Trung ương năm 2011, khi quan sát kỹ thuật viên/điều dưỡng thuộc bộ phận lấy mẫu có đến 75% không tuân thủ theo quy trình lấy mẫu Nhân viên y

tế tại phòng nhận bệnh xét nghiệm không rửa tay thường quy chiếm 55,7% , không tuân thủ việc sát khuẩn bàn tay trước và sau khi lấy máu chiếm 42,46%, không thực hiện lắc trộn đều các ống máu có kháng đông chiếm 10% (24)

1.4 Một số yếu tố thuận lợi, khó khăn trong tuân thủ quy trình xét nghiệm máu

1.4.1 Yếu tố cá nhân

Trình độ chuyên môn

Yếu tố trình độ chuyên môn được chứng minh là có ảnh hưởng tích cực đến kiến thức, thực hành, trình độ chuyên môn càng cao thì mức độ tuân thủ quy trình càng cao Cụ thể, trong nghiên cứu của Lã Thị Thanh Lâm (2018) tại bệnh viện Quân Y 354 cũng chỉ ra rằng có mối liên quan giữa trình độ học vấn của ĐD đối với thực hành, cụ thể điều dưỡng có trình độ trung cấp thực hành tiêm không đạt gấp 2,8 lần so với nhóm điều dưỡng có trình độ đại học/ cao đẳng (OR = 2,8 (1,3-6,2), p<0,05) (25) Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nhóm điều dưỡng có trình độ cao đẳng, đại học có thời gian thực hành trong trường nhiều hơn so với trung cấp do vậy có thể ảnh hưởng đến việc thực hành cao hơn Nghiên cứu của Shaheen S trên 50 nhân viên y tế tại Pakistan năm

2014, những người được hỏi có trình độ từ đại học trở lên có biết sắp xếp công việc hơn, thực hiện công việc tốt hơn so với những người có trình độ học vấn thấp hơn (OR

= 1,17, p <0,001; OR = 1,33, p <0,001) (26) Nghiên cứu của Nguyễn Trần Ngọc Trân (2017) tại Bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ cho biết trình độ năng lực làm việc

HUPH

Trang 25

của các ĐD chưa đồng đều điều đó ảnh hưởng đến việc thực hiện các quy trình chăm sóc NB, gia tăng thời gian làm việc của ĐD (27)

Thâm niên công tác

Một số nghiên cứu cũng đã cho biết thâm niên công tác có ảnh hưởng đến thực hành của điều dưỡng, trong đó nhóm điều dưỡng vừa ra trường thì có xu hướng tuân thủ cao hơn Điều này đã được chứng minh trong nghiên cứu của Trần Minh Phượng (2012) tại bệnh viện đa khoa Hà Đông, Hà Nội Cụ thể, nhóm điều dưỡng có thâm niên công tác từ 10 năm trở lên có xu hướng không thực hành đúng cao gấp 2,8 lần so với nhóm điều dưỡng có thâm niên dưới 10 năm (OR = 2,8; p <0,05)(28) Bên cạnh đó nghiên cứu của Quách Văn Phương (2015) tại bệnh viện đa khoa U Minh tỉnh Cà Mau cũng cho rằng công tác lâu năm (>5 năm) thì việc thực hiện một số bước như rửa tay hoặc sát khuẩn tay nhanh trước khi tiêm, không lưu kim sau khi rút thuốc trong lọ, quan sát người bệnh khi tiêm, tư thế người bệnh sau khi tiêm càng tốt Thâm niên dưới

5 năm thì việc giao tiếp khi tiêm và thực hiện kỹ thuật sát khuẩn hoàn chỉnh hơn (29) Điều này do kinh nghiệm làm việc lâu năm giúp các điều dưỡng nắm bắt được những tình huống nguy cơ xảy ra với người bệnh, vì vậy khi thực hiện điều dưỡng sẽ lưu tâm hơn (29)

Hệ thống chất lượng xét nghiệm muốn đạt được thành công chỉ khi có một đội ngũ NVYT thực sự đồng lòng thực hiện theo tiêu chỉ của Quản lý chất lượng Một hệ thống QLCL mà chỉ có giấy tờ số sách nhưng không đạt được kết quả thành tựu thực tế thì hệ thống đỏ không nào thành công được Chính vì vậy mà chính bản thân các nhà lãnh đạo, ban quản lý phải tập trung đào tạo nguồn nhân lực, để chính NVYT hiểu và biết rõ về mục đích mà BV đang muốn theo đuổi để đạt được thành công trong công cuộc chữa bệnh cho BN một cách tốt nhất (30) Hầu hết các phòng xét nghiệm đều không có cán bộ chuyên về QLCL phòng xét nghiệm Cán bộ trưởng PXN hầu hết không được đào tạo bài bản về QLCL phòng xét nghiệm, đa số là bác sĩ đa khoa, dược

sĩ, công nghệ sinh học kiêm nhiệm Trưởng phòng xét nghiệm (31)

HUPH

Trang 26

Theo nghiên cứu của Trần Anh Toàn (2016), thực trạng tuân thủ quy trình xét Nghiệm hoá sinh, huyết học và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện đa khoa Bưu Điện TP Hồ Chí Minh, nhân viên đạt trình độ đại học chiếm tỷ lệ 33,3%, trình độ Trung cấp chiếm tỷ lệ 66,7%, hầu hết các KTV đều được đi học nâng cao trình độ, là nguồn nhân lực chính để khoa phát triển hoạt động, nhưng nhân lực của khoa vẫn còn hạn chế (32)

Theo tác giả Thái Vân Lâm (2014) tại Bệnh viện đa khoa Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp.Nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan giữa nhóm tuổi với tỉ lệ tuân thủ quy trình xét nghiệm, nhóm tuổi dưới 30 tuổi tuân thủ quy trình kỹ thuật cao gấp 2,8 lần so với nhóm nhân viên trên 30 tuổi Ngoài ra, nghiên cứu còn nhận định rằng, việc tuân thủ các quy trình trước xét nghiệm của các cán bộ y tế còn kém, đặc biệt những nhưng viên

y tế có kinh nghiệm nhiều hơn lại tuân thủ thực hiện quy trình kém hơn (7)

Theo nghiên cứu của tác giả Phan Thị Khuê, nghiên cứu về thực trạng hoạt động

và sự đáp ứng nhu cầu xét nghiệm của khoa Xét nghiệm Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương năm 2011, các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ quy trình xét nghiệm ở nhiều khâu trong đó có khâu đào tạo nhân lực, hoạt động quản lý chất lượng xét nghiệm chưa thường xuyên và bài bản (33)

Về kiểm tra chất lượng xét nghiệm, chỉ có một số phòng xét nghiệm là thực hiện IQC, EQA, chưa có quy định chung nào về quản lý chất lượng xét nghiệm, không có

hệ thống giám sát chất lượng xét nghiệm Ngành Y tế cũng frang tiến hành công tác Quản lý chất lượng phòng xét nghiệm, bao gồm các trung tâm kiểm chuẩn chất lượng xét nghiệm, các phòng xét nghiệm tham chiếu, phòng xét nghiệm đạt chuẩn quốc tế, quy định hệ thống quy trình xét nghiệm đạt chuẩn về chất lượng xét nghiệm

1.4.2 Môi trường làm việc

Cơ sở vật chất, trang thiết bị

Yếu tố cơ sở vật chất, trang thiết bị có ảnh hưởng đến thực hành lấy mẫu xét nghiệm máu, việc thiếu các trang thiết bị cũng ảnh hưởng đến quá trình thực hiện quy trình lấy mẫu, bảo quản mẫu và vận chuyển mẫu Đã được chứng minh trong nghiên

HUPH

Trang 27

cứu của Đỗ Thị Lê Hằng (2014) hầu hết điều dưỡng (80,6%) nhất trí rằng bệnh viện không có đủ trang thiết bị, dụng cụ để thực hiện quy trình như chưa cung cấp đủ nước

xà phòng khăn lau tay sạch cho mỗi lần rửa tay (l00%), thiếu phương tiện đựng chất thải sắc nhọn (93,5% hộp đựng chất thải sắc nhọn chưa đạt tiêu chuẩn, 22,6% để bơm kim tiêm đầy quá 3/4 hộp kháng thủng) (34) Nghiên cứu của Phạm Thị Liên (2015) tại

4 khoa lâm sàng hệ Nhi Bệnh viện Sản - Nhi Hưng Yên cũng cho thấy phương tiện dụng cụ: thiếu và không đồng bộ, nhất là các trang thiết bị phòng hộ, dụng cụ phục vụ tiêm như dung dịch sát khuẩn tay nhanh, thùng đựng VSN, thùng đựng chất thải (35) Thực hành quy trình kỹ thuật trước xét nghiệm máu khi không có đầy đủ các trang thiết

bị, dụng cụ hay phòng tiêm quá chật chội sẽ dẫn đến việc điều dưỡng bỏ bước khi thực hiện quy trình

Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị rất quan trọng trong việc giảm tải khối lượng công việc cho NVYT Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Tâm (2014) tại Khánh Hòa cho thấy việc thiếu các trang thiết bị, máy móc phục vụ cho công việc gây áp lực đối với khối lượng công việc của ĐD (36) Ngoài ra, nghiên cứu của Dương Thị Bình Minh (2013) tại Bệnh viện Hữu Nghị cho thấy việc các trang thiết bị cũ chưa được thay thế làm mất nhiều thời gian của ĐD, gia tăng khối lượng công việc của ĐD (37) Ngoài ra, nghiên cứu của Mohsen Mohammadi và cộng sự (2016) thì dụng cụ, thiết bị (thiết bị điều hòa kém, chờ sử dụng thiết bị do người khác sử dụng, mất nhiều thời gian tìm kiếm vật tư y tế); vật liệu và nguồn cung cấp (vật liệu y tế kém chất lượng, thời gian chờ đợi trong việc lấy thuốc từ nhà thuốc trong bệnh viện) là yếu tố gây trở ngại cho khối lượng công việc của ĐD (38)

Yếu tố công việc (quả tải trong công việc)

Sự quá tải trong công việc do quá đông người bệnh, không đủ điều dưỡng để thực hiện công việc sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hành quy trình thực hiện lấy máu của điều dưỡng Điều này đã được chứng minh trong nghiên cứu của Trần Minh Phượng (2012) tại bệnh viện Hà Đông cho biết có 51,4% nguyên nhân không tuân thủ

HUPH

Trang 28

quy trình là do cường độ làm việc quá cao Nguyên nhân của sự quá tải là do thiếu nhân lực điều dưỡng để chăm sóc người bệnh (28)

Ngoài ra, nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Lê Hằng (2014) tại bệnh viện trường đại học y dược Thái Nguyên cũng đã chỉ ra rằng 100% điều dưỡng cho rằng hạn chế lớn nhất trong việc thực hành không đúng do quá đông người bệnh Việc quá đông người bệnh sẽ ảnh hưởng đến tâm lý, thể chất của điều dưỡng dẫn đến tình trạng mệt mỏi và vội vàng do lo lắng sẽ không hoàn thành công việc Thực hành kỹ thuật lấy máu cho quá nhiều người bệnh trên một điều dưỡng có thể là do nhân lực điều dưỡng thiếu hoặc do tổ chức chăm sóc chưa hợp lý (34)

Một nghiên cứu, cho thấy quá tải công việc là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến thái độ tiêu cực của ĐD đối với tinh thần tổ chức của họ (39) Khối lượng công việc cao có xu hướng làm tăng cảm giác mệt mỏi, và trầm trọng hơn do ngủ không đủ giấc, dẫn đến hiệu quả tiêu cực của tổ chức và cá nhân (40) Quá tải công việc sẽ dẫn đến trầm cảm công việc, mệt mỏi và thiếu năng lượng (41) Bên cạnh đó, kết quả này cũng tìm thấy ở tác giả Razak AL và cộng sự năm 2018 tại Thụy Điển trên

210 ĐD cho mức độ nặng nhọc công việc là yếu tố chính ảnh hưởng đến mức độ hài của NVYT với công việc gồm (40)

Bên cạnh đó kết quả này cũng tìm thấy ở tác giả Razak AL và cộng sự (2018) tại Thụy Điển trên 210 ĐD làm viện mức độ nặng nhọc công việc là yếu tố chính ảnh hưởng đến động lực khi thực hiện khối lượng công việc: tự chủ công việc, lịch làm việc, đặc điểm công việc, phương tiện làm việc, cơ hội phát triển nghề nghiệp, cách thức quản lý (40)

1.4.3 Tổ chức, quản lý, chế độ, chính sách

Quy trình, quy định

Tại Mỹ, tất cả các phòng Xét nghiệm thì khu vực lấy bệnh phẩm từ người bệnh đều phải tuân thủ các điều khoản của CLIA nhằm tăng tính chình xác và chất lượng kết quả xét nghiệm, cũng như hạn chế nguyên nhân gây sai sót trong xét nghiệm Các quy

HUPH

Trang 29

định về chất lượng cho phòng xét nghiệm y học được đưa vào các văn bản luật của Mỹ vào năm 1966

Theo nghiên cứu của Mario Plebani về phát hiện và phòng ngừa các sai sót trong phòng xét nghiệm y học, tần suất sai số xảy ra ở giai đoạn trước xét nghiệm giảm đáng

kể từ năm 1996 đến năm 2006 (từ 68,2% xuống 61,9%) nhờ thực hiện quy trình chuẩn trong giai đoạn trước xét nghiệm (42)

Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã thành lập Ban tư vấn an toàn sinh học gồm các thành viên từ Bộ Y tế và các Bộ liên quan theo quyết định số 2912/QĐ-BYT ngày 4/8/2006 nhằm từng bước đảm bảo an toàn sinh học phòng xét nghiệm, trong đó có việc lập sổ tay cho quy trình xét nghiệm Các văn bản pháp luật cũng được xây dựng để đưa vào thực hiện Theo thông tư 01/2013/TT-BYT thì tất cả các phòng xét nghiệm đều phải có

sổ tay hướng dẫn các bước thực hiện quy trình trong phòng xét nghiệm Theo nghiên cứu của tác giả Phan Thị Khuê, nghiên cứu về thực trạng hoạt động và sự đáp ứng nhu cầu xét nghiệm của khoa Xét nghiệm Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương năm 2011, các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ quy trình xét nghiệm ở nhiều khâu trong đó có khâu xây dựng quy trình chuẩn

Đào tạo, tập huấn

Công tác đào tạo, tập huấn có ảnh hưởng tích cực đến kiến thức, thực hành quy trình kỹ thuật Điều này đã được các nghiên cứu khác trong nước đề cập đến là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ quy trình kỹ thuật (43), (44), (42) Việc tập huấn, đào tạo giúp các NVYT có kiến thức, cập nhật thông tin và thực hiện đầy đủ các bước trong quy trình Tuy nhiên các nghiên cứu cũng cho biết hạn chế trong vấn đề đào tạo, tập huấn là về số lượng, ý thức tham gia của các NVYT, do công việc nhiều NVYT tham gia chỉ để điểm danh cho có tên; Bên cạnh đó là chất lượng nội dung đào tạo còn chưa thu hút do các giảng viên còn hạn chế về phương pháp giảng dạy và chưa có phần lượng giá đánh giá kết quả sau khi tập huấn, đào tạo(43), (44), (42)

Kiểm tra, giám sát

HUPH

Trang 30

Công tác kiểm tra, giám sát có ảnh hưởng tích cực đến thực hành quy trình kỹ thuật trước xét nghiệm máu, công tác kiểm tra, giám sát càng chặt chẽ, nghiêm túc thì việc tuân thủ đúng càng cao Điều đó đã được chỉ ra trong nghiên cứu của tác giả Trần Minh Phượng (2012) tại bệnh viện Hà Đông cho biết có 21,1% nguyên nhân không tuân thủ kỹ thuật là do thiếu kiểm tra giám sát, 7,3% do không có phong trào thi đua(28) Cùng quan điểm nghiên cứu của tác giả Dương Văn Chỉ (2017) và Phạm Thị Liên (2015) đều cho thấy công tác kiểm tra, giám sát còn lỏng lẻo, cần tổ chức kiểm tra giám sát chặt chẽ hơn (35),(45) Nghiên cứu của Trần Huy Ngõ (2014) tại bệnh viện Quân Y 6 cũng cho thấy cần chú trọng đến việc tổ chức thực hiện kiểm tra, giám sát dề

ra các chế tài khen thưởng của các nhà quản lý(46) Điều này là do không có động lực, điều dưỡng viên cho rằng thực hành như nào cũng được miễn là hoàn thành nhiệm vụ

và thực hành đúng hay sai cũng không ai nhận thấy vì vậy cần có chế độ giám sát và chế tài khen thưởng xử phạt

Quan hệ giữa các khoa

Xét nghiệm giữ vai trò vô cùng quan trọng trong nền y học, nếu thiếu XN, bác sĩ

sẽ không thể cỏ căn cứ đề đưa ra chẩn đoán chính xác bệnh lý cũng như phương hướng

và giai đoạn điều trị bệnh thích hợp Bỏ qua cơ hội quan trọng cứu chữa bệnh Bác sĩ lâm sàng giỏi sẽ biết chính xác XN nào là cần thiết cho BN, hạn chế quá nhiều XN tạo nên gánh nặng kinh tế cho bệnh nhân Kết quả XN được bác sĩ lâm sàng sử dụng đúng mục đích sẽ giúp cho phòng XN ngày càng thể hiện được vai trò quan trọng của mình Quan hệ giữa PXN và khoa lâm sàng càng tốt thì sẽ đem lại sự chuyên nghiệp trong công tác khám chữa bệnh(32) Mối liên hệ giữa KXN và các khoa lâm sàng thể hiện ở công tác chỉ định XN, lấy mẫu XN, vận chuyển và giao mẫu XN cho KXN, theo nghiên cứu của Trần Anh Toàn (2016), thực trạng tuân thủ quy trình xét nghiệm hóa sinh, huyết học và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện đa khoa Bưu Điện TP Hồ Chí Minh, sự liên hệ Hai chiều của lâm sảng và KXN về thông tin khi cần thiết, trả KQXN,

sự liên kết này là vô cùng quan trọng, mối liên hệ này cũng hỗ trợ cho bác sĩ xem xét kiểm tra lại chẩn đoán của mình cho phù hợp với XN thực hiện (32)

HUPH

Trang 31

Chế tài khen thưởng, xử phạt

Trong nghiên cứu của Rachna vào năm 2014 ngoài việc chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến việc cải thiện chất lượng phòng xét nghiệm, mà còn cần đưa ra các quy trình và nhân viên phải được khen thưởng, xác định lỗi và thực hành ngăn chặn các sự kiện bất lợi trong tương lai để khuyến khích nhân viên làm việc tích cực hơn (18)

1.5 Thông tin về Bệnh viện Quận 4 và Khoa xét nghiệm của bệnh viện

Bệnh viện Quận 4 là bệnh viện hạng II trực thuộc UBND Quận 4, với 120 giường bệnh (Khoa Nội: 60 giường, Khoa Ngoại: 20 giường, Khoa Sản: 20 giường, Khoa Nhi:

20 giường), số lượt khám bệnh ngoại trú trung bình từ 800 đến 1.000 lượt khám/ngày Bệnh viện có 14 khoa và 4 phòng chức năng (47)

Khoa xét nghiệm Bệnh viện Quận 4 được thành lập vào năm 2007, là một trong bốn khoa thuộc khối cận lâm sàng của bệnh viện Về cơ sở hạ tầng, khoa Xét nghiệm được bố trí thành 2 khu vực là Khu nhận bệnh được bố trí tại tầng trệt khu B và khu kỹ thuật tại tầng 1 khu C, việc vận chuyển mẫu bệnh phẩm từ khu nhận bệnh đến khu kỹ thuật được thực hiện bằng hệ thống ống hút khí nén kín nhằm giảm thiểu các nguy cơ phát tán các yếu tố lây nhiễm ra ngoài theo cách vận chuyển mẫu do nhân viên y tế thực hiện (48) Hiện nay khoa có 16 nhân sự, được phân công phụ trách 03 lĩnh vực chuyên môn gồm tổ Sinh hóa – Miễn dịch, Huyết học – Nhận bệnh, Vi sinh – Ký sinh;

về công tác quản lý chất lượng được phân thành 05 bộ phận là quản lý hàng hóa, quản

lý trang thiết bị, An toàn lao động, Chăm sóc khách hàng, quản lý tài liệu hồ sơ Với các trang thiết bị hiện đại: máy sinh hóa tự động, máy huyết học tự động, máy đo HbA1C bằng phương pháp HPLC tự động, máy đo điện giải đồ bằng điện cực tự động…đã thực hiện được hơn 200 kỹ thuật xét nghiệm, phục vụ khoảng 300 lượt bệnh nhân/ngày, trong có số lượt bệnh nhân nội trú chiếm khoảng 25% tổng số lượt bệnh nhân xét nghiệm, mẫu bệnh phẩm của các bệnh nhân nội trú sẽ do các điều dưỡng tại các khoa lâm sàng có giường bệnh thực hiện và sau đó chuyển gửi đến khoa Xét nghiệm tiếp nhận mẫu(48)

HUPH

Trang 32

Nhiều năm qua, lãnh đạo bệnh viện và tổ quản lý chất lượng bệnh, cũng như quản

lý khoa Xét nghiệm rất quan tâm đến chất lượng xét nghiệm, vì điều này góp phần quyết định chất lượng khám bệnh, chữa bệnh tại đơn vị Trong 3 giai đoạn của quá trình xét nghiệm, qua đánh giá thực tế và từ các bài học kinh nghiệm, thì giai đoạn trước xét nghiệm được quan tâm trước tiên và nhiều nhất hiện nay để kiểm soát các sai

số có thể xảy ra cho kết quả xét nghiệm

Việc lấy mẫu, bảo quản và vận chuyển mẫu tại bệnh viện được thực hiện tại hai nơi: các khoa lâm sàng có bệnh nhân nội trú, khoa Cấp cứu và khoa Xét nghiệm, việc ban hành và triển khai thực hiện các quy trình kỹ thuật trước xét nghiệm cũng có xem xét đến đặc điểm này, các hướng dẫn kỹ thuật, thông tin liên lạc, thông tin về hoạt động xét nghiệm, phạm vi và trách nhiệm trong việc phối hợp thực hiện giưa các khoa, phòng liên quan được cụ thể hóa trong Sổ tay xét nghiệm để gửi đến tất các khoa lâm sàng Từ đặc điểm về hoạt động lấy mẫu, bảo quản và vận chuyển mẫu tại Bệnh viện Quận 4, thì để đánh giá việc tuân thủ thực hiện quy trình kỹ thuật trước xét nghiệm sẽ phải được thực hiện không chỉ tại khoa Xét nghiệm mà còn phải tiến hành ghi nhận thực trạng việc tuân thủ các quy trình kỹ thuật trên tại các khoa lâm sàng có liên quan

HUPH

Trang 33

1.6 Khung lý thuyết

Dựa vào phần tổng quan tài liệu và mục tiêu nghiên cứu, chúng tôi xây dựng khung

lý thuyết nghiên cứu, như sau:

Hình 1 2 Khung lý thuyết nghiên cứu

Quy trình kỹ thuật trước xét

nghiệm máu

Môi trường làm việc

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị

- Yếu tố công việc

Yếu tố nhân lực

- Trình độ chuyên môn

- Chuyên ngành đào tạo

- Thâm niên công tác

- Số lượng, chất lượng

Tổ chức, quản lý, chế độ, chính

sách

- Quy trình, quy định

- Đào tạo, tập huấn

- Kiểm tra, giám sát

- Quan hệ công tác

- Khen thưởng, kỷ luật

Quy trình bảo quản mẫu

Quy trình lấy mẫu

Quy trình vận chuyển mẫu

Một số yếu tố ảnh hưởng

HUPH

Trang 34

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Nghiên cứu định lượng

- Điều dưỡng viên, hộ sinh đang công tác tại các khoa lâm sàng: Nội, Ngoại, Sản, Nhi; có thời gian làm việc tại bệnh viên từ 1 năm trở lên kể từ thời điểm nghiên cứu

- Kỹ thuật viên đang công tác tại Khoa xét nghiệm; có thời gian làm việc tại bệnh viện từ 1 năm trở lên kể từ thời điểm nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Đối tượng không đồng ý tham gia vào nghiên cứu

- Đối tượng đang nghỉ thai sản, nghỉ ốm, đang theo học các khóa đào tạo (không

có mặt tại khoa) trong thời gian tiến hành nghiên cứu

2.1.2 Nghiên cứu định tính

- Lãnh đạo bệnh viện

- Trưởng/ Phó Khoa xét nghiệm

- Kỹ thuật viên Khoa xét nghiệm

- Điều dưỡng, hộ sinh tại các khoa lâm sàng: Nội, Ngoại, Sản, Nhi

Tiêu chuẩn lựa chọn: Đồng ý tham gia vào nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 5/2022 – tháng 7/2022

- Địa điểm nghiên cứu: Khoa xét nghiệm, các khoa lâm sàng (Nội, Ngoại, Sản, Nhi) Bệnh viên Quận 4, thành phố Hồ Chí Minh

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính

Nghiên cứu định lượng thực hiện trước nhằm trả lời cho mục tiêu 1 về thực trạng tuân thủ quy trình kỹ thuật trước xét nghiệm máu Nghiên cứu định tính thực hiện sau

HUPH

Trang 35

nhằm bổ sung làm rõ thực trạng tuân thủ quy trình và tìm hiểu những khó khăn, thuận lợi

về tuân thủ quy trình kỹ thuật trước xét nghiệm máu của nhân viên y tế (mục tiêu 2)

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Nghiên cứu định lượng

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng tỷ lệ của quần thể để tính cỡ mẫu cho quan sát việc thực hiện quy trình trước xét nghiệm máu:

Trong đó:

n: là số lượt quan sát quy trình trước xét nghiệm tối thiểu cho từng bước

Z: là hệ số tin cậy với Z(1-α/2): = 1,96 với mức ý nghĩa α=0,05

d: là sai số chấp nhận được, chọn d= 0,1

p: là tỷ lệ cần ước lượng số lần quan sát không tuân thủ quy trình trước xét nghiệm Chọn p = 0,355 (Theo nghiên cứu của Thái Văn Lâm về thực trạng tuân thủ quy trình xét nghiệm sinh hóa, huyết học và một số yếu liên quan tại Bệnh viện đa khoa Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp năm 2014 cho kết quả tỉ lệ không tuân thủ quy trình trước xét nghiệm là 35,5%) (7)

Áp dụng công thức trên ta tính đươc số lần quan sát nhân viên thực hiện quy trình xét nghiệm là 180 Khi đó ta có:

+ 180 lần quan sát thực hiện quy trình lấy mẫu

+ 180 lần quan sát thực hiện quy trình bảo quản mẫu

+ 180 lần quan sát thực hiên quy trình vận chuyển mẫu

Tổng tất cả các quy trình trước xét nghiệm là 540 lượt

- Phương pháp chọn mẫu:

+ Chọn mẫu quan sát trực tiếp việc thực hiện các quy trình trước xét nghiệm theo phương pháp thuận tiện

HUPH

Trang 36

+ Quan sát viên phụ trách giám sát việc thực hiện các quy trình được áp dụng trong nghiên cứu tại các khoa có thực hiện kỹ thuật trước xét nghiệm Thực hiện cho đến khi đủ số lượng cần thiết thì dừng lại

+ 01 Lãnh đạo Khoa xét nghiệm

+ 01 cán bộ phụ trách quản lý chất lượng, Khoa xét nghiệm

+ 01 Kỹ thuật viên làm việc tại Khoa xét nghiệm

+ 04 Điều dưỡng làm việc tại các khoa Ngoại, Nhi, Nội, Sản

- Thảo luận nhóm: Tổ chức 01 cuộc thảo luận nhóm gồm các kỹ thuật viên/điều dưỡng tại Khoa xét nghiệm và các khoa lâm sàng (10 người trong đó mỗi khoa Ngoại, Nhi, Nội, Sản, Xét nghiệm có 02 người tham gia)

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Công cụ thu thập số liệu

- Thu thập số liệu định lượng: Sử dụng bảng kiểm đánh giá việc thực hiện quy trình trước xét nghiệm: lấy mẫu, bảo quản, vận chuyển (phụ lục 2)

- Thu thập số liệu định tính: Phỏng vấn sâu Lãnh đạo bệnh viện, Lãnh đạo khoa Xét nghiệm, cán bộ phụ trách quản lý chất lượng khoa Xét nghiệm, đối với các kỹ thuật viên/ điều dưỡng (phụ lục 2) và thảo luận nhóm theo nội dung hướng dẫn (phụ lục 4)

2.5.2 Quy trình thu thập số liệu

- Thu thập số liệu định lượng:

+ Thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu: Bảng kiểm đánh giá việc thực hiện quy trình trước xét nghiệm được soạn dựa theo quy trình thực hiện xét nghiệm của

HUPH

Trang 37

Bộ Y tế ban hành, sau đó tiến hành điều tra thử nghiệm trên 30 lượt quan sát chia đều cho 3 quy trình, có nghĩa là mỗi quy trình lấy mẫu, bảo quản sẽ được quan sát 30 lượt tại địa bàn nghiên cứu và sau khi quan sát bộ công cụ hoàn toàn phù hợp đối với nghiên cứu Bộ công cụ được sử dụng để tập huấn và điều tra thu thập số liệu

+ Tập huấn điều tra viên: Điều tra viên được chọn là các Kỹ thuật viên có trình

độ chuyên môn từ đại học trở lên và đã tham gia làm xét nghiệm trên 6 tháng (dự kiến

6 điều tra viên đạt tiêu chuẩn trên) Nội dung tập huấn: hướng dẫn cách đánh giá theo bảng kiểm, ghi chép và giải thích từng câu hỏi cho phiếu điều tra

+ Điều tra viên thu thập số liệu bằng phương pháp quan sát các nhân viên thực hiện quy trình trước xét nghiệm máu (lấy mẫu, bảo quản, vận chuyển) Nhóm điều tra viên phân chia để quan sát tại khoa xét nghiệm và các khoa lâm sàng (tại phòng tiêm) thuận tiện theo bố trí lịch làm việc của từng cá nhân, chọn vị trí quan sát phù hợp để không gây sự chú ý của đối tượng được quan sát, không để đối tượng biết mình đang bị quan sát, nhưng vẫn đảm bảo quan sát và đánh giá được đầy đủ các hoạt động mà đối tượng thực hiện

+ Quá trình thu thập đã tiến hành trong 3 tuần (15 ngày làm việc), mỗi ngày các điều tra viên quan sát được mỗi quy trình 12 mẫu (tương đương 36 mẫu cho 3 quy trình) Thời gian thu thập đã được chia làm 3 ca (sáng từ 8 giờ 00 đến 10 giờ 00; đầu giờ chiều từ 13 giờ 00 đến 14 giờ 00; chiều từ 15 giờ 30 đến 16 giờ 30) Quá trình thu thập mẫu kết thúc cho đến khi đủ số lượng mẫu cần thu thập

- Thu thập số liệu định tính: Nghiên cứu viên trực tiếp thực hiện 05 cuộc phỏng vấn sâu và 01 cuộc thảo luận nhóm Trong quá trình phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm

có sử dụng máy ghi âm (được sự đồng ý của đối tượng nghiên cứu) kết hợp ghi chép nội dung cuộc phỏng vấn, thảo luận nhóm Thời gian cho một cuộc phỏng vấn sâu khoảng 30 – 45 phút, thảo luận nhóm khoảng 45 – 60 phút

HUPH

Trang 38

2.6 Các biến số trong nghiên cứu

2.6.1 Nghiên cứu định lượng-Mục tiêu 1 (chi tiết tại phụ lục 5)

- Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu: tuổi, giới, trình độ học vấn, thâm niên công tác,

- Quy trình lấy mẫu gồm 17 biến số

- Quy trình bảo quản gồm 6 biến số

- Quy trình vận chuyển gồm 8 biến số

2.6.2 Các chủ đề trong nghiên cứu định tính- Mục tiêu 2

Chủ đề nghiên cứu định tính về thực trạng và một số khó khăn, thuận lợi thực hiện quy trình kỹ thuật:

- Nhóm yếu tố về cá nhân: tuổi, giới tính (nam, nữ), trình độ chuyên môn (trung cấp, cao đẳng, đại học),…

- Nhóm yếu tố môi trường làm việc

+ Môi trường làm việc: Cơ sở vật chất (phòng tiêm, buồng bệnh), trang thiết

bị (xe tiêm, dụng cụ tiêm, thùng đựng rác,…), công việc như là hiện trạng thiếu nhân lực, quá tải trong công việc …

+ Yếu tố công việc

- Nhóm yếu tố tổ chức, quản lý, chế độ, chính sách

+ Quy trình, quy định

+ Công tác đào tạo, tập huấn

+ Công tác kiểm tra, giám sát, khen thưởng, xử phạt

+ Quan hệ công tác

2.7 Xử lý và phân tích số liệu

- Số liệu định lượng được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1, sau đó được tổng hợp, làm sạch và phân tích bằng phần mềm Excel 20.0 Sử dụng thống kê mô tả bao gồm: số lượng, tỉ lệ (%)

HUPH

Trang 39

- Số liệu định tính: Ghi chép thông tin bằng văn bản Word từ bang ghi âm một cách trung thực Trích dẫn thông tin theo mục tiêu, chủ đề phù hợp nhằm phân tích một

số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện quy trình trước xét nghiệm

2.8 Tiêu chuẩn đánh giá

- Quy trình lấy mẫu gồm 17 câu hỏi với mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm và thực hành 100% đủ 17 bước-> đủ 17 điểm thì được tính là tuân thủ quy trình lấy mẫu

- Quy trình bảo quản gồm 6 câu hỏi với mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm và thực hành 100% đủ 6 bước -> đủ 6 điểm thì được tính là tuân thủ quy trình bảo quản mẫu

- Quy trình vận chuyển gồm 8 câu hỏi với mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm và thực hành 100% đủ 8 bước -> đủ 8 điểm thì được tính là tuân thủ quy trình vận chuyển mẫu

2.9 Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu

Đây là nghiên cứu mô tả, không có hoạt động can thiệp vào đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu viên quan sát đối tượng thực hiện quy trình trước xét nghiệm và điền bảng kiểm quan sát Hội đồng Đạo đức – Trường Đại học Y tế công cộng thông qua số 019-340/DD-YTCC

Nghiên cứu được lãnh đạo bệnh viện chấp nhận cho thực hiện Đối tượng được quan sát được thông báo trước Mọi thông tin thu thập được từ bảng kiểm được bảo mật

Kết quả nghiên cứu được báo cáo về cho ban lãnh đạo bệnh viện, ban phụ trách khoa Kết quả nghiên cứu được dùng làm cơ sở cho công tác quản lý chất lượng xét nghiệm của khoa xét nghiệm Bệnh viện Quận 4

HUPH

Trang 40

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Mô tả thực trạng tuân thủ quy trình kỹ thuật trước xét nghiệm máu tại bệnh viện Quận 4

Bảng 3 1 Tình hình nhân lực tham gia nghiên cứu

Đại học/sau Đại học 16 43,3

Chuyên ngành đào tạo

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w