1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh sâu răng ở học sinh lớp 7 và 8 tại trường trung học cơ sở tôn đức thắng, thành phố sóc trăng năm 2022

99 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh sâu răng ở học sinh lớp 7 và 8 tại trường trung học cơ sở Tôn Đức Thắng, thành phố Sóc Trăng năm 2022
Tác giả Đỗ Thanh Tùng
Người hướng dẫn TS Nguyễn Công Luật
Trường học Trường Đại Học Y Tế Công Cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ chuyên ngành YTCC
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 8,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (13)
    • 1.1. Một số nội dung liên quan đến bệnh sâu răng (13)
      • 1.1.1. Một số định nghĩa sâu răng (13)
      • 1.1.2. Giải phẫu răng (13)
      • 1.1.3. Sinh lý mọc răng (14)
      • 1.1.4. Phân loại bệnh sâu răng (15)
      • 1.1.5. Nguyên nhân sâu răng (16)
      • 1.1.6. Phòng bệnh (16)
    • 1.2. Tình hình bệnh sâu răng ở Việt Nam và trên thế giới (17)
      • 1.2.1. Trên thế giới (17)
      • 1.2.2. Tại Việt Nam (20)
    • 1.3. Khung lý thuyết (24)
    • 1.4. Giới thiệu địa bàn nghiên cứu (25)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (26)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (26)
      • 2.1.1. Cấu phần định lượng (26)
      • 2.1.2. Cấu phần định tính (26)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (26)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (26)
    • 2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu (26)
      • 2.4.1. Cỡ mẫu (26)
      • 2.4.2. Phương pháp chọn mẫu (27)
    • 2.5. Phương pháp thu thập số liệu (27)
      • 2.5.1. Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thành bộ công cụ nghiên cứu (28)
      • 2.5.2. Thu thập số liệu định lượng (28)
      • 2.5.3. Thu thập số liệu định tính (30)
    • 2.6. Biến số nghiên cứu (30)
      • 2.6.1. Các biến số nghiên cứu định lượng (30)
      • 2.6.2. Chủ đề nghiên cứu định tính (30)
    • 2.7. Phương pháp đánh giá (31)
      • 2.7.1. Chỉ số đánh giá (31)
      • 2.7.2. Cách tính điểm kiến thức và thực hành về chăm sóc răng miệng (31)
    • 2.8. Phương pháp quản lý và phân tích số liệu (31)
      • 2.8.1. Phân tích số liệu định lượng (32)
      • 2.8.2. Phân tích số liệu định tính (32)
    • 2.9. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu (32)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (33)
    • 3.1. Thông tin chung về đối tượng (33)
      • 3.1.1. Phân bố của học sinh trong nghiên cứu (33)
      • 3.1.2. Kiến thức, thực hành của học sinh về chăm sóc răng miệng (34)
    • 3.2. Tình hình bệnh sâu răng của học sinh (40)
    • 3.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh sâu răng của học sinh (41)
      • 3.3.1. Một số yếu tố liên quan giữa đặt điểm cá nhân và bệnh sâu răng (41)
      • 3.3.2. Yếu tố liên quan giữa vai trò của phụ huynh và bệnh sâu răng (44)
      • 3.3.3. Một số yếu tố ảnh hưởng từ nhà trường qua kết quả nghiên cứu định tính (45)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (49)
    • 4.1. Thực trạng bệnh sâu răng của học sinh lớp 7 và 8 (49)
    • 4.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh sâu răng của học sinh (50)
      • 4.2.1. Yếu tố cá nhân của học sinh liên quan đến bệnh sâu răng (50)
      • 4.2.2. Yếu tố vai trò phụ huynh liên quan đến bệnh sâu răng của học sinh (52)
      • 4.2.3. Yếu tố Nhà trường ảnh hưởng đến bệnh sâu răng của học sinh (53)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả học sinh của 2 khối lớp 7 và lớp 8 của trường Trung học cơ sở Tôn Đức Thắng, thành phố Sóc Trăng năm học 2022

+ Học sinh hai khối lớp 7 và 8

+ Phụ huynh/nhà trường đồng ý cho học sinh tham gia nghiên cứu

+ Các học sinh không có mặt tại thời điểm nghiên cứu

Cán bộ quản lý bao gồm Ban Giám hiệu, cán bộ phụ trách y tế trường học và cán bộ phụ trách Nha học đường thuộc Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Sóc Trăng.

+ Các đối tượng không có mặt tại thời điểm nghiên cứu.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01 đến tháng 12 năm 2022, với thời gian thu thập số liệu từ ngày 01 đến 30 tháng 05 năm 2022 Địa điểm nghiên cứu là Trường Trung học cơ sở Tôn Đức Thắng, thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang.

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu a) Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng:

Sử dụng công thức tính cỡ mẫu: 2

- n: cỡ mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu

- Z (1-α/2): hệ số tin cậy, với α = 0,05 ta có Z (1-α/2) = 1,96

- p = 55,6 % (tỷ lệ sâu răng của học sinh 12 và 15 tuổi) (25)

- d: độ chính xác mong muốn là 0,1

Cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu là 190 học sinh, được xác định bằng cách nhân cỡ mẫu ban đầu là 95 với hệ số thiết kế DE = 2, do áp dụng phương pháp chọn mẫu cụm và phân tầng.

Trên thực tế nghiên cứu đã lấy 204 học sinh vào tham gia nghiên cứu b) Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính:

Phỏng vấn sâu (PVS) 03 cuộc, bao gồm:

- 01 cán bộ phụ trách y tế của trường

- 01 cán bộ phụ trách Nha học đường của Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Sóc Trăng

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu a) Chọn mẫu định lượng

Trường Trung học cơ sở Tôn Đức Thắng có 10 lớp học cho mỗi khối lớp, với số lượng học sinh trung bình khoảng 40 ± 03 em mỗi lớp Để thực hiện nghiên cứu, phương pháp chọn mẫu cụm và phân tầng đã được áp dụng, trong đó mỗi khối lớp sẽ được bốc ngẫu nhiên.

3 lớp/khối để chọn ra 6 lớp với tổng số là 204 học sinh b) Chọn mẫu cho Phương pháp nghiên cứu định tính

Phỏng vấn sâu sẽ được thực hiện với ba đối tượng chính: một thành viên Ban Giám hiệu, một cán bộ phụ trách y tế của trường, và một cán bộ phụ trách nha học đường từ Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Sóc Trăng Mục tiêu là chọn lựa những người sẵn sàng chia sẻ thông tin quan trọng theo tiêu chí đã định.

Phương pháp thu thập số liệu

Nghiên cứu viên lập kế hoạch thu thập số liệu trình hiệu trưởng phê duyệt và xin giấy giới thiệu được phép thực hiện nghiên cứu tại trường

Nghiên cứu viên thực hiện điều tra và thu thập dữ liệu về kiến thức, thực hành của học sinh, đồng thời phỏng vấn sâu các cán bộ phụ trách, lãnh đạo nhà trường và cán bộ Nha học đường từ Phòng Giáo dục và Đào tạo.

Bác sỹ chuyên khoa Nha của Trung tâm y tê thành phố Sóc Trăng sẽ khám răng trực tiếp cho học sinh.

2.5.1 Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thành bộ công cụ nghiên cứu

2.5.1.1 Xây dựng bộ công cụ thu thập số liệu:

- Phiếu thu thập số liệu bằng phương pháp khám trực tiếp (phụ lục 2) được xây dựng vựa theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới (51);

Phiếu thu thập số liệu được thiết kế dựa trên phương pháp phát vấn trực tiếp và quan sát thực hành chải răng của học sinh, tham khảo từ các tài liệu hướng dẫn phòng chống sâu răng.

Phiếu thu hướng dẫn phỏng vấn sâu, được trình bày trong phụ lục 4 và phụ lục 5, được xây dựng dựa trên các Thông tư và báo cáo liên quan đến công tác Nha học đường và y tế trường học.

2.5.1.2 Thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu định lượng

Sau khi hoàn thành phiếu điều tra, nghiên cứu viên đã tiến hành thử nghiệm điều tra thông qua việc phỏng vấn trực tiếp và quan sát thực hành chải răng.

Sáu học sinh, bao gồm ba em từ khối lớp 7 và ba em từ khối lớp 8, đã được chọn để kiểm tra tính phù hợp và khả thi của bộ công cụ trước khi tiến hành điều tra chính thức.

Các bác sỹ khám nha đã tiến hành khám và điền thử phiếu điều tra (phụ lục 2)

06 học sinh và phối hợp cùng nghiên cứu viên chỉnh sửa phiếu điều tra

Sau thử nghiệm, chúng tôi đã chỉnh sửa nội dung của bộ công cụ cho phù hợp và in ra phục vụ điều tra

2.5.1.3 Thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu định tính

Sau khi thu thập số liệu định lượng, nghiên cứu viên đã thực hiện phỏng vấn sâu thử với cán bộ y tế trường học bằng phiếu hướng dẫn Sau đó, họ đã chỉnh sửa các phiếu hướng dẫn để đảm bảo tính phù hợp trước khi tiến hành phỏng vấn chính thức.

2.5.2 Thu thập số liệu định lượng

Các bác sĩ chuyên khoa răng hàm mặt tại Trung tâm y tế thành phố Sóc Trăng đã trực tiếp khám răng cho học sinh Đoàn khám gồm 3 người và việc khám được thực hiện trong 6 buổi, với trung bình mỗi buổi khám cho 1 lớp học Các học sinh được chọn vào mẫu để tham gia khám.

HUPH nghiên cứu được sự đồng ý của ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh sẽ được nghỉ học tiết học cuối cùng để khám răng

- Kết quả khám được điền vào phiếu khám răng miệng (phụ lục 2)

+ Bộ đồ khám (gương phẳng, thám trâm số 23, kẹp gắp);

+ Dung dịch khử khuẩn, dung dịch ngâm;

2.5.2.2 Phát vấn học sinh về kiến thức chăm sóc răng miệng

Bộ câu hỏi tự điền gồm 22 câu được thiết kế để thu thập thông tin về kiến thức và thực hành chăm sóc răng miệng của học sinh.

Sau khi nhận được sự đồng ý từ giáo viên, nghiên cứu viên đã tiến hành phát phiếu cho toàn bộ học sinh trong lớp học được chọn theo tiêu chí đã định, ngay sau giờ học tại lớp.

Trước khi tiến hành phát vấn, nghiên cứu viên đã giải thích rõ ràng mục đích, nội dung và cách thức thực hiện, đồng thời hướng dẫn học sinh điền vào phiếu phát vấn Chỉ những học sinh tự nguyện đồng ý và có sự cho phép của phụ huynh mới được tham gia nghiên cứu, và các em có quyền dừng tham gia bất cứ lúc nào.

Chúng tôi đã thực hiện trong 6 buổi, mỗi buổi điều tra được thực hiện cho 1 lớp học với thời gian là 30 phút

2.5.2.3 Quan sát thực hành chải răng

Sau khi thu thập kiến thức và thực hành chăm sóc răng miệng của 204 học sinh, chúng tôi đã lập danh sách theo thứ tự ABC cho từng lớp Mỗi buổi quan sát, 10 học sinh được chọn theo thứ tự từ trên xuống để theo dõi thực hành chải răng sau giờ học tại phòng y tế của trường.

Trước khi bắt đầu, các học sinh được nghiên cứu viên giải thích rõ ràng về mục đích của việc quan sát Chỉ những học sinh tự nguyện đồng ý và có sự cho phép của phụ huynh mới được tham gia nghiên cứu, và các em có quyền dừng tham gia bất cứ lúc nào.

HUPH cứu Chúng tôi đã thực hiện với thời gian mỗi buổi là 30 phút, quan sát lần lượt hết

2.5.3 Thu thập số liệu định tính

Nghiên cứu viên đã trực tiếp tiến hành Phỏng vấn sâu 03 đối tượng có chủ đích, cung cấp thông tin chính theo hướng dẫn (Phụ lục 4, phụ lục 5)

Sau khi thu thập số liệu định lượng, nghiên cứu viên đã xin ý kiến chấp thuận từ các đối tượng tham gia nghiên cứu theo tiêu chí đã định Để đảm bảo không bỏ sót thông tin và thu thập dữ liệu hiệu quả, điều tra viên đã được phép ghi âm và ghi chép trong suốt quá trình phỏng vấn Thời gian phỏng vấn sâu kéo dài khoảng 30 phút.

45 phút Mỗi cuộc phỏng vấn sâu có một biên bản phỏng vấn riêng và được lưu giữ lại làm tài liệu thu thập được.

Biến số nghiên cứu

2.6.1 Các biến số nghiên cứu định lượng

Nhóm biến số đánh giá tỷ lệ sâu răng và SMT của học sinh bằng thu thập phương pháp khám trực tiếp (phụ lục 2);

Nhóm nghiên cứu đã xác định các đặc điểm cá nhân, kiến thức và thực hành phòng chống sâu răng của học sinh thông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp.

2.6.2 Chủ đề nghiên cứu định tính

Mục đích của phỏng vấn sâu là để thu thập thông tin chi tiết nhằm nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố nhà trường đến tình trạng sâu răng của học sinh lớp 7 và 8 Bên cạnh đó, vai trò của phụ huynh trong việc cung cấp bàn chải đánh răng và nhắc nhở vệ sinh răng miệng cho học sinh cũng rất quan trọng.

- Quan tâm lãnh đạo (ban giám hiệu nhà trường, phòng giáo dục đào tạo);

- Công tác giáo dục truyền thông, cập nhật kiến thức và thực hành về chăm sóc sức khoẻ răng miệng;

- Nguồn lực: nhân sự, cơ sở vật chất, kinh phí,…

- Vai trò của phụ huynh trong việc cung cấp bàn chải chải răng và nhắc nhở vệ sinh răng miệng cho học sinh

Phương pháp đánh giá

- Sâu răng là trường hợp răng có lỗ sâu, chấm đen, có lỗ mắc thám châm khi khám ở bất kỳ vị trí nào trên răng (51)

- Mã số quy định khi khám răng (51):

+ 3: Hàn và không sâu răng

+ 4: Mất răng do sâu răng

+ 5: Mất răng do lý do khác

- Tỷ lệ sâu răng (%) = (Tổng số học sinh bị sâu răng x 100)/ Tổng số học sinh được khám (51)

- Chỉ số SMT (Sâu - Mất - Trám răng vĩnh viễn) = Tổng số răng (Sâu + Mất

+ Trám)/Tổng số học sinh được khám (51)

2.7.2 Cách tính điểm kiến thức và thực hành về chăm sóc răng miệng

Trong nghiên cứu này, việc đánh giá kiến thức và thực hành chăm sóc răng miệng của học sinh được thực hiện thông qua việc chấm điểm các câu trả lời trong bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn.

Quy ước chấm điểm nếu học sinh đúng trên 50% tổng số điểm thì đánh giá là có kiến thức hoặc thực hành đạt yêu cầu (18)

- Đối với kiến thức: Tổng số câu hỏi là 08 câu, có 16 ý, mỗi ý trả lời đúng được

1 điểm, tổng điểm là 16 điểm Nếu số điểm từ 9 điểm trở lên thì có kiến thức đạt, từ

8 điểm trở xuống thì kiến thức không đạt

- Đối với thực hành phát vấn: Tổng số câu hỏi 07 câu, có 09 ý, mỗi ý đúng được

1 điểm, tổng điểm là 09 điểm Nếu số điểm từ 5 điểm trở lên thì có thực hành đạt, từ

4 điểm trở xuống thì thực hành không đạt

Phương pháp quản lý và phân tích số liệu

2.8.1 Phân tích số liệu định lượng

Số liệu được làm sạch, nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng phần mềm SPSS 21.0

Phương pháp phân tích mô tả được sử dụng tính tần số, tỷ lệ phần trăm cho các chỉ số của nghiên cứu

Sử dụng kiểm định χ2 để phân tích mối liên quan giữa các tỷ lệ, cùng với các giá trị p, tỷ lệ odds (OR) và khoảng tin cậy 95% Mọi khác biệt được coi là có ý nghĩa thống kê khi giá trị p nhỏ hơn mức ý nghĩa đã định.

2.8.2 Phân tích số liệu định tính

Các cuộc phỏng vấn sâu được ghi âm và sau đó được chuyển đổi thành văn bản Word bởi điều tra viên Nội dung của các cuộc phỏng vấn này sẽ được phân tích và trích dẫn phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.

Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành sau khi được Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế công cộng thông qua tại quyết định số 087/2022/YTCC-HD3 ngày 05 tháng

Tất cả các đối tượng nghiên cứu đều được thông báo rõ ràng về mục đích của nghiên cứu Họ ký vào bảng thỏa thuận đồng ý tham gia, và có sự đồng ý từ người bảo hộ, như phụ huynh học sinh.

Nghiên cứu được thực hiện với sự đồng ý hoàn toàn của các đối tượng và phụ huynh, cho phép họ từ chối tham gia bất kỳ lúc nào Điều này đảm bảo rằng nghiên cứu không gây ảnh hưởng đến sức khỏe, kinh tế hay uy tín của những người tham gia.

Các học sinh được phát hiện sâu răng được tư vấn sau khi khám, hỏi và được cung cấp các thông tin liên quan đến phòng chống sâu răng

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thông tin chung về đối tượng

3.1.1 Phân bố của học sinh trong nghiên cứu

Biểu đồ 3.1 minh họa sự phân bố của 204 học sinh tham gia khảo sát, trong đó có 100 học sinh lớp 7, chiếm 49,0%, và 104 học sinh lớp 8, chiếm 51,0%.

Biểu đồ 3.2 cho thấy tỷ lệ học sinh nữ tham gia nghiên cứu ở khối lớp 8 chiếm ưu thế với 50,9%, trong khi tỷ lệ nam là 49,1% Ngược lại, ở khối lớp 7, tỷ lệ nữ chỉ đạt 48,0%, so với 52,0% của nam Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy lớp 8 được giảng dạy về chăm sóc sức khỏe răng miệng.

3.1.2 Kiến thức, thực hành của học sinh về chăm sóc răng miệng

Bảng 3.1 Mức độ kiến thức chung của học sinh về bệnh sâu răng theo khối

Khối Đạt Chưa đạt Chung n % n % n

Kết quả bảng 3.1 cho thấy có 34,3% học sinh đạt kiến thức về phòng chống sâu răng Tỷ lệ này của khối lớp 7 cao hơn khối lớp 8 với 37,0% so với 31,7%

Bảng 3.2 Mức độ kiến thức chung của học sinh về bệnh sâu răng theo giới

Giới tính Đạt Chưa đạt Chung n % n % n

Kết quả bảng 3.2 cho thấy có 45,6% đạt kiến thức về phòng chống sâu răng

Tỷ lệ này ở nam là 47,4% cao hơn 44,8% ở nữ

Bảng 3.3 Kiến thức của học sinh về nguyên nhân gây sâu răng

Không chải răng sau khi ăn 67 67,0 72 69,2 139 68,1

Do ăn bánh kẹo, nước ngọt 74 74,0 76 73,1 150 73,5 Không súc miệng sau khi ăn 71 71,0 74 71,2 145 71,1

Kết quả từ bảng 3.3 cho thấy kiến thức về nguyên nhân gây sâu răng giữa hai khối lớp 7 và 8 khá tương đồng, với tỷ lệ đạt kiến thức từ 67,0% đến 74,0% Tỷ lệ học sinh không biết nguyên nhân sâu răng là 7,4%, trong đó khối 8 có tỷ lệ cao hơn khối 7, lần lượt là 10,6% và 4,0%.

Bảng 3.4 Kiến thức của học sinh về phòng bệnh sâu răng

Chải răng đúng cách với kem chải răng có fluor

Chải răng ngày 3 lần sau khi ăn 68 68,0 71 68,3 139 68,1

Thay bàn chải sau 3 tháng 54 54,0 62 59,6 116 56,9

Hạn chế ăn đồ ngọt 67 67,0 72 69,2 139 68,1

Kết quả từ bảng 3.4 cho thấy kiến thức về phòng bệnh sâu răng giữa hai khối lớp khá tương đồng, với tỷ lệ đạt kiến thức ở các tiêu chí dao động từ 54,0% đến 71,2% Tuy nhiên, tỷ lệ chung học sinh đạt kiến thức về việc thay bàn chải sau 3 tháng là thấp nhất, chỉ đạt 56,9%.

8 là 59,6% cao hơn khối 7 chỉ đạt 54,0%

Bảng 3.5 Kiến thức của học sinh về thực hành chăm sóc răng miệng theo khối

Số mặt răng được chải

Số lần chải răng trong ngày

Kết quả từ bảng 3.5 cho thấy học sinh lớp 8 có tỷ lệ chải 3 mặt răng cao hơn, đạt 54,8%, so với 34,0% của học sinh lớp 7 Đối với việc chải 2 mặt, 50,0% học sinh lớp 7 thực hiện, trong khi chỉ có 28,8% học sinh lớp 8 làm điều này Ngoài ra, có 12,0% học sinh lớp 7 không biết chải mấy mặt của răng, trong khi tỷ lệ này ở lớp 8 là 10,6% Học sinh lớp 8 cũng có nhận thức tốt hơn về số lần chải răng trong ngày.

3 lần trên ngày chiếm 52,9%; trong khi đó học sinh lớp 7 chải 3 lần có 62,0%; chải 2 lần trên ngày học sinh lớp 7 chiếm 27,0% còn lớp 8 là 37,5% Chải 1 lần học sinh lớp

Học sinh lớp 7 có 3,0% cho rằng thời điểm chải răng là sau khi ăn, trong khi lớp 8 chỉ có 1,9% Cụ thể, 63,0% học sinh lớp 7 chải răng sau ăn, 79,0% trước khi đi ngủ và 79,0% ngay sau khi thức dậy.

Theo khảo sát, 60,6% học sinh cho rằng thời điểm chải răng hợp lý là sau khi ăn, trong khi 82,7% cho rằng nên chải trước khi đi ngủ và 82,7% khác cho rằng nên chải khi thức dậy Về thời gian chải răng, 7,0% học sinh lớp 7 chải trong 1 phút, 31,0% chải 2 phút, 54,0% chải 3 phút, và 4,0% không biết Đối với học sinh lớp 8, 4,8% cho rằng chải răng 1 phút, 35,6% chải 2 phút và 32,7% chải 3 phút.

Bảng 3.6 Kiến thức của học sinh về thời gian đi khám răng định kỳ theo khối

Kiến thức Thời gian đi khám răng Đạt

Kết quả từ bảng 3.6 cho thấy 44,0% học sinh lớp 7 nhận thức được rằng cần đi khám răng mỗi 6 tháng, trong khi tỷ lệ này ở học sinh lớp 8 là 50% Tuy nhiên, có 13,0% học sinh lớp 7 và 20,2% học sinh lớp 8 không biết về tầm quan trọng của việc khám răng định kỳ, và một số học sinh khác không nắm rõ thời gian cụ thể cho các lần khám này.

Bảng 3.7 Thực hành cụ thể chải răng phòng bệnh sâu răng của học sinh

Số lần chải răng trong ngày

Thời điểm chải răng trong ngày

Sau ngủ dậy buổi sớm 87 87,0 92 88,5 179 87,7

Buổi tối trước khi đi ngủ 82 82,0 81 77,9 163 79,9

Kết quả từ bảng 3.7 cho thấy thực hành chải răng tốt có tác dụng phòng bệnh răng miệng cao, với khuyến nghị chải răng 3 lần mỗi ngày Tuy nhiên, tỷ lệ học sinh chải răng 3 lần mỗi ngày còn thấp, chỉ đạt 48,0% ở lớp 7 và 29,8% ở lớp 8 Đáng chú ý, có 5,0% học sinh lớp 7 và 6,7% học sinh lớp 8 không chải răng Thời điểm chải răng phổ biến nhất là vào buổi sáng và buổi tối, với 88,5% học sinh lớp 8 và 87,0% học sinh lớp 7 chải răng vào buổi sáng Về buổi tối, tỷ lệ chải răng trước khi đi ngủ là 82,0% ở lớp 7 và 77,9% ở lớp 8 Ngoài ra, 52,0% học sinh lớp 7 chải răng ngay sau khi ăn, trong khi tỷ lệ này ở lớp 8 chỉ là 36,5%.

Bảng 3.8 Thực hành thói quen ăn vặt của học sinh theo khối

Thực hành Thói quen ăn bánh kẹo, uống đồ ngọt ngoài 3 bữa chính Đạt

Kết quả từ bảng 3.8 cho thấy 15% học sinh lớp 7 có thói quen thường xuyên tiêu thụ đồ ngọt ngoài 3 bữa chính, trong khi tỷ lệ này ở lớp 8 là 12,5% Chỉ có 9% học sinh lớp 7 và 17,3% học sinh lớp 8 không bao giờ ăn đồ ngọt ngoài 3 bữa chính trong ngày.

Bảng 3.9 Thực hành chăm sóc phòng bệnh sâu răng

Súc miệng sau khi ăn đồ ngọt

Số lần đi khám răng trong năm

Chải răng bằng kem chải răng

Chải răng ở vị trí nào

Thời gian chải răng trung bình mỗi lần

Kết quả từ bảng 3.9 cho thấy 89,0% học sinh lớp 7 súc miệng sau khi ăn uống đồ ngọt, trong khi tỷ lệ này ở lớp 8 chỉ đạt 67,3% Bên cạnh đó, có 29,0% học sinh lớp 7 không đi khám răng, so với 51,9% ở lớp 8.

Hầu hết học sinh lớp 7 và 8 đều chải răng, với tỷ lệ lần lượt là 92,0% và 89,4% Hơn 70% học sinh ở cả hai khối chải răng cả 3 mặt của răng Thời gian chải răng trung bình dao động từ 2 đến 3 phút, chiếm 47,0% ở khối 7 và 40,4% ở khối 8 Chỉ một tỷ lệ rất nhỏ học sinh chải răng dưới 1 phút, với 1,0% ở khối 7 và 4,8% ở khối 8.

Tình hình bệnh sâu răng của học sinh

Biểu đồ 3.3 Phân bố tỷ lệ bệnh sâu răng theo khối

Biểu đồ 3.3 cho thấy tỷ lệ sâu răng ở khối lớp 7 là 75,0%, trong khi khối lớp 8 là 61,5%, dẫn đến tỷ lệ sâu răng chung là 68,1% Tỷ lệ sâu răng sữa đạt 60,3%, với khối lớp 7 cao hơn khối lớp 8 (67,0% so với 53,8%) Đối với sâu răng vĩnh viễn, tỷ lệ là 23,0%, trong đó khối lớp 7 cũng cao hơn khối lớp 8 (25,0% so với 21,2%).

Sâu răng Sâu răng sữa Sâu răng vĩnh viễn

Bảng 3.10 Chỉ số SMT (n 4) Đặc điểm Răng sâu Răng mất Răng hàn SMT

Bảng 3.10 chỉ ra rằng chỉ số SMT chung của nhóm học sinh tham gia nghiên cứu là 1,15, cho thấy mỗi học sinh trung bình có 1,15 răng bị sâu.

7 là 0,96 cao hơn ở khối lớp 8 là 0,19

Trong chương trình học của khối lớp 8 tại THCS, môn Sinh học bao gồm nội dung giảng dạy về chăm sóc sức khỏe răng miệng với thời lượng 02 tiết.

Một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh sâu răng của học sinh

3.3.1 Một số yếu tố liên quan giữa đặt điểm cá nhân và bệnh sâu răng của học sinh

Bảng 3.11 Nguồn cung cấp kiến thức về phòng bệnh sâu răng cho học sinh (n 4)

Nguồn cung cấp kiến thức

Có được nghe nói về bệnh sâu răng

Kết quả từ bảng 3.11 cho thấy có mối liên quan giữa nguồn cung cấp thông tin và bệnh sâu răng Cụ thể, tỷ lệ sâu răng ở nhóm có nghe nói về bệnh sâu răng cao hơn 2,5 lần so với nhóm không nghe nói (OR = 2,5 (1,16 - 5,41)) Kết quả này đạt ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Trong cuộc trao đổi với cán bộ phụ trách y tế học đường, được biết rằng nhà trường đã lồng ghép nội dung phòng chống sâu răng vào các buổi truyền thông giáo dục sức khỏe cho học sinh Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có kế hoạch xây dựng chương trình cụ thể cho vấn đề này.

HUPH theo chủ đề riêng về sâu răng mà thường kết hợp truyền thông với các loại bệnh khác nên học sinh cũng bị phân tán

Chương trình giáo dục phòng chống bệnh sâu răng thường không được triển khai độc lập mà thường được kết hợp với các hoạt động khác do hạn chế về kinh phí Việc thiếu nguồn tài chính riêng để chi trả cho các hoạt động này là một thách thức lớn.

Bảng 3.12.Mối liên quan giữa bệnh sâu răng với lớp (n 4)

Kết quả từ bảng 3.12 cho thấy tỷ lệ sâu răng ở khối lớp 7 cao hơn 1,8 lần so với khối lớp 8, với tỷ lệ odds ratio (OR) là 1,8 (1,02 – 3,41) Kết quả này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.

Bảng 3.13 Mối liên quan giữa bệnh sâu răng với giới tính của học sinh (n 4)

Kết quả từ bảng 3.13 cho thấy tỷ lệ sâu răng ở học sinh nam cao hơn 1,4 lần so với học sinh nữ, với tỷ lệ odds ratio (OR) là 1,5 (0,78 – 2,55) Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Bảng 3.14 Mối liên quan giữa kiến thức chăm sóc răng miệng của học sinh với bệnh sâu răng (n 4)

Kết quả từ bảng 3.14 cho thấy mối liên quan giữa kiến thức của học sinh và bệnh sâu răng, với tỷ lệ sâu răng ở hai nhóm có kiến thức đạt và không đạt gần như tương đương (OR = 1,1 (0,61 – 2,13)) Tuy nhiên, kết quả này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Bảng 3.15 Mối liên quan giữa thực hành phòng chống sâu răng của học sinh với bệnh sâu răng (n 4)

Kết quả từ bảng 3.15 cho thấy mối liên quan giữa thực hành của học sinh và bệnh sâu răng, với nhóm học sinh có thực hành đạt có tỷ lệ sâu răng thấp hơn nhóm không đạt (OR = 0,4 (0,31 – 0,85)) Tuy nhiên, kết quả này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).

Bảng 3.16 Liên quan giữa thói quen ăn vặt của học sinh và bệnh sâu răng (n 4)

Kết quả từ bảng 3.16 cho thấy mối liên quan giữa thói quen ăn vặt của học sinh và tỷ lệ bệnh sâu răng ở cả 3 nhóm là gần như tương đương Tuy nhiên, kết quả này không đạt ý nghĩa thống kê với giá trị tin cậy (p>0,05).

3.3.2 Yếu tố liên quan giữa vai trò của phụ huynh và bệnh sâu răng của học sinh

Bảng 3.17 Phụ huynh cung cấp bàn chải chải răng và nhắc nhở học sinh chải răng

Dùng loại bàn chải chải răng

Bố mẹ nhắc nhở chải răng

Kết quả từ bảng 3.17 cho thấy kiến thức về việc sử dụng bàn chải đánh răng ở hai khối lớp có tỷ lệ đạt chung từ 17,6% đến 59,8% Khối lớp 7 có tỷ lệ sử dụng bàn chải người lớn cao hơn khối lớp 8, với 65,0% so với 54,8% Ngược lại, tỷ lệ sử dụng bàn chải trẻ em ở khối lớp 7 thấp hơn, chỉ đạt 16,0% so với 21,2% của khối lớp 8 Đặc biệt, tỷ lệ học sinh không biết ở khối lớp 7 là 19,0%, cao hơn so với 16,3% của khối lớp 8.

Nhà trường chưa có chương trình tiếp xúc với phụ huynh về chăm sóc sức khỏe răng miệng, và trong các buổi họp phụ huynh cũng không nhấn mạnh việc khuyến khích cha mẹ mua bàn chải răng đúng chuẩn cho trẻ Đối với học sinh lớp 7, có 76% phụ huynh thường xuyên nhắc nhở về việc chải răng, trong khi tỷ lệ này ở lớp 8 chỉ đạt 64,4%.

Tất cả học sinh sống trong nội ô thành phố, nên họ dễ dàng tiếp xúc với các kênh truyền thông và có khả năng hiểu biết cao về vệ sinh răng miệng Do đó, việc nhắc nhở học sinh chải răng là rất hợp lý Tuy nhiên, cần chú ý đến loại bàn chải mà các em sử dụng.

HUPH cho biết rằng trên các kênh truyền thông, không có hướng dẫn nào dành cho lứa tuổi học sinh, dẫn đến khả năng cha mẹ tự phát mua bàn chải đánh răng cho con em mình mà không theo độ tuổi là rất cao.

3.3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng từ nhà trường qua kết quả nghiên cứu định tính

Quan tâm ban giám hiệu nhà trường

Ban Giám hiệu, đặc biệt là hiệu trưởng, nhận thức rõ tầm quan trọng của việc chăm sóc sức khoẻ răng miệng cho học sinh và coi đây là một nhiệm vụ cần thiết Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành Y tế và ngành Giáo dục và Đào tạo để thực hiện hiệu quả công tác này thông qua chương trình y tế học đường.

Sức khỏe răng miệng của học sinh đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa các bệnh về đường hô hấp như viêm họng và viêm phổi Tuy nhiên, hiện tại nhà trường chưa tổ chức các buổi cung cấp thông tin về sức khỏe răng miệng do thiếu nhân sự có trình độ chuyên môn.

"Nhà trường có phối hợp với TTYT thành phố có tổ chức khám sức khỏe cho các em nhưng chưa được khám chuyên sâu về răng miệng." (PVS_BGH)

Chúng tôi đã chỉ đạo Đoàn Thanh niên nhà trường tổ chức các cuộc thi và mời cán bộ y tế đến tuyên truyền về phòng ngừa sức khỏe răng miệng Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian, các hoạt động này thường được lồng ghép với nhiều nội dung chăm sóc sức khỏe khác.

BÀN LUẬN

Thực trạng bệnh sâu răng của học sinh lớp 7 và 8

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) có 2 tiêu chí được sử dụng để đánh giá tình trạng sâu răng đó là:

- Tỷ lệ % học sinh hiện mắc sâu răng (có ít nhất 1 răng bị sâu trên toàn bộ hàm răng) để nói lên mức độ lưu hành sâu răng

- Chỉ số răng sâu - mất - trám (tổng số răng bị sâu, răng bị mất và răng sâu được trám) để nói lên nguy cơ sâu răng

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ sâu răng tại trường THCS Tôn Đức Thắng là 68,1%, cao hơn so với nghiên cứu của Bùi Quang Tuấn (2012) tại Ninh Thuận với tỷ lệ 48,1% và Nguyễn Anh Sơn (2010) tại Vĩnh Phúc với 63,6% Tuy nhiên, tỷ lệ này tương đồng với nghiên cứu của Trần Văn Trường năm 2002, dao động từ 64,1% đến 68,6% Điều này cho thấy tỷ lệ sâu răng tại trường THCS Tôn Đức Thắng vẫn còn cao, gần giống với kết quả điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc năm 2002.

Trong 20 năm qua, điều kiện chăm sóc sức khoẻ răng miệng tại địa phương vẫn còn hạn chế, chủ yếu do học sinh chưa thực hiện tốt các biện pháp phòng chống sâu răng Ngoài ra, nguồn nước ở đây có nồng độ fluor thấp, vì phần lớn người dân sử dụng nước từ cây và sông Do đó, cần thiết phải có giải pháp hiệu quả để kiểm soát tỷ lệ sâu răng trong trường học.

Kết quả từ Bảng 3.1 cho thấy học sinh trung bình có 1,15 răng bị sâu, với chỉ số SMT ở khối lớp 7 là 0,96, cao hơn khối lớp 8 là 0,19 Ban Giám hiệu cho biết học sinh khối lớp 8 được giảng dạy 2 tiết về chăm sóc sức khoẻ răng miệng Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Bùi Quang Tuấn (2012) tại 4 trường THCS ở Ninh Thuận, cho thấy chỉ số DMFT cũng là 1,15.

(2013) nghiên cứu thực trạng bệnh sâu răng trên học sinh trường THCS Bát Tràng,

Chỉ số SMT của Hà Nội là 1,28, trong khi Hàn Quốc và Nhật Bản có chỉ số SMTR là 1,2 theo thống kê năm 2010 Tuy nhiên, chỉ số SMT này vẫn thấp so với kết quả điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc lần thứ 2 vào năm 2002.

Theo nghiên cứu của Đỗ Quốc Tiệp (2014), chỉ số sức khỏe răng miệng (SMT) của học sinh dao động từ 1,87 đến 2,16, với giá trị trung bình là 1,9 và có xu hướng tăng theo độ tuổi Nông Tuấn Anh (2014) ghi nhận chỉ số SMT là 2,45 Điều này cho thấy học sinh tại trường có kiến thức chăm sóc răng miệng khá tốt Tuy nhiên, khối lớp 7 cần được lồng ghép tuyên truyền về chăm sóc sức khỏe răng miệng do không có giờ giảng dạy chính thức về vấn đề này.

Một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh sâu răng của học sinh

4.2.1 Yếu tố cá nhân của học sinh liên quan đến bệnh sâu răng

Nguồn cung cấp thông tin

Nghiên cứu cho thấy nhóm không nghe nói về bệnh sâu răng có tỷ lệ sâu răng thấp hơn 2,5 lần so với nhóm có thông tin về bệnh này (p0,05; OR = 1,1 (0,61 - 2,13)) Tuy nhiên, nhóm học sinh có thực hành đạt có tỷ lệ sâu răng thấp hơn so với nhóm không đạt (p0,05) Mặc dù vậy, nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã chỉ ra rằng thói quen ăn quà vặt có liên quan chặt chẽ đến bệnh sâu răng Cụ thể, nghiên cứu của Al Ghanin (1998) tại Riyadh, Saudi Arabia cho thấy ăn quà vặt có mối liên hệ với bệnh sâu răng Ngoài ra, nghiên cứu của Trần Văn Trường cũng cho thấy tỷ lệ học sinh bị sâu răng có sử dụng đồ uống có ga, nước hoa quả, và các loại đồ ăn ngọt là khá phổ biến.

Nghiên cứu hiện tại chưa xác định được mối liên quan giữa thói quen ăn vặt và bệnh sâu răng ở học sinh Để làm rõ yếu tố này, cần tiến hành một nghiên cứu sâu hơn và mở rộng trên nhiều đối tượng khác nhau.

4.2.2 Yếu tố vai trò phụ huynh liên quan đến bệnh sâu răng của học sinh

Vai trò của phụ huynh trong việc phòng chống sâu răng cho học sinh, đặc biệt là học sinh THCS, là rất quan trọng Phụ huynh cần thực hiện các hành động như mua bàn chải, hướng dẫn kỹ năng và thời điểm chải răng, cũng như nhắc nhở học sinh chải răng sau khi ăn đồ ngọt Việc đưa học sinh đi khám răng miệng định kỳ cũng là cần thiết Tuy nhiên, chỉ có 70,1% trẻ được bố mẹ nhắc nhở chải răng, cho thấy sự quan tâm của phụ huynh vẫn chưa đủ Điều này dẫn đến nguy cơ sâu răng cao ở 29,9% học sinh chưa được nhắc nhở Theo đánh giá của Ban Giám Hiệu và cán bộ y tế trường học, khả năng phụ huynh thiếu kiến thức hoặc thời gian để nhắc nhở học sinh là rất cao.

Việc mua bàn chải răng trẻ em là rất quan trọng để hỗ trợ các em học sinh thực hành vệ sinh răng miệng (VSRM) hiệu quả Sử dụng bàn chải phù hợp với lứa tuổi giúp các em chải răng dễ dàng mà không gây tổn thương cho răng và lợi Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy 17,6% học sinh không biết chọn loại bàn chải phù hợp, trong khi 59,8% sử dụng bàn chải người lớn Tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Anh Sơn (2010) tại Vĩnh Phúc (51,1%) và chỉ ra mối liên quan thống kê giữa việc cha mẹ không mua bàn chải trẻ em và nguy cơ mắc sâu răng, viêm lợi ở học sinh.

Kết quả nghiên cứu cho thấy phụ huynh chưa hiểu đúng về vai trò của bàn chải trẻ em trong việc làm sạch và bảo vệ răng miệng, dẫn đến việc cho rằng trẻ em có thể sử dụng bàn chải của người lớn Mặc dù 100% học sinh tại trường sống ở thành phố Sóc Trăng có điều kiện tiếp xúc với thông tin hiện đại, nhưng vẫn cần có giải pháp truyền thông hiệu quả để nâng cao nhận thức của phụ huynh về việc chọn mua bàn chải phù hợp cho trẻ.

4.2.3 Yếu tố nhà trường ảnh hưởng đến bệnh sâu răng của học sinh

Chương trình chăm sóc sức khoẻ răng miệng cho học sinh tại trường học bao gồm giáo dục về chăm sóc răng miệng, súc miệng bằng dung dịch NaF 0,2% hàng tuần, khám răng miệng định kỳ để phát hiện sớm bệnh, và điều trị dự phòng biến chứng Tuy nhiên, chương trình này chỉ được triển khai ở cấp tiểu học, dẫn đến việc chăm sóc sức khoẻ răng miệng cho học sinh tại trường THCS Tôn Đức Thắng gặp nhiều khó khăn và thiếu hiệu quả do nguồn lực hạn chế.

Chăm sóc sức khoẻ răng miệng cho học sinh tại trường học là rất quan trọng để giảm tỷ lệ sâu răng Việc xây dựng kế hoạch hoặc lồng ghép hoạt động này vào chương trình y tế học đường là cần thiết Kết quả phỏng vấn cho thấy, khi có kế hoạch, nhà trường sẽ chủ động phối hợp với trung tâm y tế, quản lý thời gian và sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có.

HUPH chăm sóc sức khoẻ răng miệng được tốt hơn góp phần kiểm soát tỷ lệ sâu răng ở học sinh

Quan tâm của Ban Giám hiệu nhà trường

Ban Giám hiệu, đặc biệt là hiệu trưởng, nhận thức rõ tầm quan trọng của việc chăm sóc sức khoẻ răng miệng cho học sinh và coi đây là một nhiệm vụ cần thiết Tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa ngành Y tế và ngành Giáo dục và Đào tạo để thực hiện hiệu quả công tác này thông qua chương trình y tế học đường.

Về nguồn lực cho công tác chăm sóc sức khoẻ răng miệng cho học sinh

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2. Mức độ kiến thức chung của học sinh về bệnh sâu răng theo giới - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh sâu răng ở học sinh lớp 7 và 8 tại trường trung học cơ sở tôn đức thắng, thành phố sóc trăng năm 2022
Bảng 3.2. Mức độ kiến thức chung của học sinh về bệnh sâu răng theo giới (Trang 34)
Bảng 3.1. Mức độ kiến thức chung của học sinh về bệnh sâu răng theo khối - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh sâu răng ở học sinh lớp 7 và 8 tại trường trung học cơ sở tôn đức thắng, thành phố sóc trăng năm 2022
Bảng 3.1. Mức độ kiến thức chung của học sinh về bệnh sâu răng theo khối (Trang 34)
Bảng 3.4. Kiến thức của học sinh về phòng bệnh sâu răng - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh sâu răng ở học sinh lớp 7 và 8 tại trường trung học cơ sở tôn đức thắng, thành phố sóc trăng năm 2022
Bảng 3.4. Kiến thức của học sinh về phòng bệnh sâu răng (Trang 35)
Bảng 3.5. Kiến thức của học sinh về thực hành chăm sóc răng miệng theo khối - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh sâu răng ở học sinh lớp 7 và 8 tại trường trung học cơ sở tôn đức thắng, thành phố sóc trăng năm 2022
Bảng 3.5. Kiến thức của học sinh về thực hành chăm sóc răng miệng theo khối (Trang 35)
Bảng 3.6. Kiến thức của học sinh  về thời gian đi khám răng định kỳ theo khối - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh sâu răng ở học sinh lớp 7 và 8 tại trường trung học cơ sở tôn đức thắng, thành phố sóc trăng năm 2022
Bảng 3.6. Kiến thức của học sinh về thời gian đi khám răng định kỳ theo khối (Trang 37)
Bảng 3.8. Thực hành thói quen ăn vặt của học sinh theo khối - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh sâu răng ở học sinh lớp 7 và 8 tại trường trung học cơ sở tôn đức thắng, thành phố sóc trăng năm 2022
Bảng 3.8. Thực hành thói quen ăn vặt của học sinh theo khối (Trang 38)
Bảng 3.9 .  Thực hành chăm sóc phòng bệnh sâu răng - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh sâu răng ở học sinh lớp 7 và 8 tại trường trung học cơ sở tôn đức thắng, thành phố sóc trăng năm 2022
Bảng 3.9 Thực hành chăm sóc phòng bệnh sâu răng (Trang 39)
Bảng 3.13. Mối liên quan giữa bệnh sâu răng với giới tính của học sinh (n=204) - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh sâu răng ở học sinh lớp 7 và 8 tại trường trung học cơ sở tôn đức thắng, thành phố sóc trăng năm 2022
Bảng 3.13. Mối liên quan giữa bệnh sâu răng với giới tính của học sinh (n=204) (Trang 42)
Bảng 3.14. Mối liên quan giữa kiến thức chăm sóc răng miệng của học sinh với - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh sâu răng ở học sinh lớp 7 và 8 tại trường trung học cơ sở tôn đức thắng, thành phố sóc trăng năm 2022
Bảng 3.14. Mối liên quan giữa kiến thức chăm sóc răng miệng của học sinh với (Trang 43)
Bảng 3.16. Liên quan giữa thói quen ăn vặt của học sinh và bệnh sâu răng (n=204) - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh sâu răng ở học sinh lớp 7 và 8 tại trường trung học cơ sở tôn đức thắng, thành phố sóc trăng năm 2022
Bảng 3.16. Liên quan giữa thói quen ăn vặt của học sinh và bệnh sâu răng (n=204) (Trang 43)
Bảng 3.17. Phụ huynh cung cấp bàn chải chải răng và nhắc nhở học sinh chải răng - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh sâu răng ở học sinh lớp 7 và 8 tại trường trung học cơ sở tôn đức thắng, thành phố sóc trăng năm 2022
Bảng 3.17. Phụ huynh cung cấp bàn chải chải răng và nhắc nhở học sinh chải răng (Trang 44)
Phụ lục 8: BẢNG BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh sâu răng ở học sinh lớp 7 và 8 tại trường trung học cơ sở tôn đức thắng, thành phố sóc trăng năm 2022
h ụ lục 8: BẢNG BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU (Trang 73)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w