Nguyễn Trung Kiên Khoa Khoa học cơ bản, Trường ĐHYTCC * Tóm tắt tiếng Việt Dưới sự tài trợ của quỹ Rockefeller trong 4 năm 2011-2015, trường đại học YTCC đã xây dựng và triển khai chươ
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP CỦA CHƯƠNG TRÌNH CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG ĐỊNH HƯỚNG QUẢN LÝ THÔNG TIN Y TẾ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG VỚI CÔNG VIỆC THỰC TẾ
Chủ nhiệm đề tài: Ths Trần Khánh Long
Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Y tế công cộng
Mã số đề tài (nếu có): YTCC – CS70
Năm 2016
HUPH
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
Đánh giá sự phù hợp của chương trình Cử nhân Y tế công cộng định hướng Quản lý thông tin y tế tại trường Đại học Y tế công cộng
với công việc thực tế
Chủ nhiệm đề tài: Ths Trần Khánh Long
Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Y tế công cộng
Cấp quản lý: cơ sở
Mã số đề tài (nếu có): YTCC – CS70
Thời gian thực hiện: từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 8 năm 2016 Tổng kinh phí thực hiện đề tài 60 triệu đồng
Trong đó: kinh phí SNKH 60 triệu đồng
Nguồn khác (nếu có) ……… triệu đồng
Năm 2016
HUPH
Trang 3Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp cơ sở
1 Tên đề tài: Đánh giá sự phù hợp của chương trình Cử nhân Y tế công cộng định hướng Quản lý thông tin y tế tại trường Đại học Y tế công cộng với công việc thực tế
2 Chủ nhiệm đề tài: Ths Trần Khánh Long
3 Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Y tế công cộng
4 Cơ quan quản lý đề tài: Trường Đại học Y tế công cộng
5 Thư ký đề tài:
6 Phó chủ nhiệm đề tài hoặc ban chủ nhiệm đề tài (nếu có):
7 Danh sách những người thực hiện chính:
- Ths Phùng Văn Thùy – Phòng Đào tạo Đại học – Trường Đại học Y tế công cộng
- Ths Nguyễn Trung Kiên – Khoa Khoa học xã hội - Trường Đại học Y tế công cộng
- Ths Nguyễn Trung Kiên – Khoa Khoa học cơ bản - Trường Đại học Y tế công cộng
8 Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 12 năm 2016 HUPH
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNTT/TT Công nghệ thông tin/ Truyền thông
NGO Non-governmental Organization
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 10
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 12
1 Hệ thống thông tin y tế 12
2 Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo 20
3 Đánh giá chương trình đào tạo 23
4 Đào tạo nhân lực cho hệ thống y tế tại Việt Nam 28
5 Chương trình đào tạo cử nhân y tế công cộng định hướng quản lý thông tin y tế tại trường Đại học Y tế công cộng 33
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
1 Thiết kế nghiên cứu 43
2 Thời gian nghiên cứu 43
3 Phương pháp thực hiện nghiên cứu 43
4 Đối tượng và cỡ mẫu nghiên cứu 43
5 Phương pháp thu thập thông tin 44
6 Các biến số 44
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47
1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 47
2 Các kỹ năng áp dụng trong công việc hàng ngày 50
3 Thực trạng cử nhân định hướng QLTTYT đạt được các chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo và sự đáp ứng với công việc thực tế 52
4 Những điều chỉnh cần thiết của chương trình đào tạo cử nhân y tế công cộng định hướng quản lý thông tin y tế phù hợp đối với công việc thực tế tại Việt Nam 62
CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN 70
1 Việc làm của sinh viên sau khi ra trường 70
2 Đánh giá chương trình đào tạo 70
3 Đáp ứng với nhu cầu công việc thực tế 72
4 Hạn chế của nghiên cứu 73
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 75
1 Kết luận 75
2 Khuyến nghị 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
HUPH
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH ẢNH DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tóm tắt phân loại của Bloom về mức độ nhận thức, thái độ và kỹ năng 22
Bảng 1.2: Khuyến nghị chung về các chương trình đào tạo tin học y tế 31
Bảng 1.3: Cấu trúc kiến thức của chương trình đào tạo 34
Bảng 1.4: Danh mục các môn học định hướng quản lý thông tin y tế 34
Bảng 1.5: Kỹ năng/ năng lực của cử nhân Y tế công cộng chuyên ngành quản lý thông tin y tế 36
DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 1.1: Mô hình hệ thống thông tin sức khoẻ Việt nam 15
Hình 1.2: Mô hình đánh giá chương trình đào tạo theo Kirkpatrick 26
Hình 3.1: Tỷ lệ tham gia đánh giá của 3 khóa tracking 37
Hình 3.2: Công việc chính thường ngày tại cơ quan 39
Hình 3.3: Những kỹ năng thực tế yêu cầu nhưng không được học 39
Hình 3.4: Cách học các kỹ năng mới không được học tại trường 40
Hình 3.5: Một số phần mềm được sử dụng trong công việc thực tế 40
Hình 3.6: Mức độ cung cấp đủ các kiến thức, kỹ năng liên quan đến sử dụng các thông tin sức khỏe từ chương trình đào tạo 42
Hình 3.7: Mức độ đạt được các kiến thức, kỹ năng về sử dụng các thông tin sức khỏe 42
Hình 3.8: Mức độ sử dụng các kỹ năng thông tin sức khỏe 43
Hình 3.9: Mức độ tự tin sử dụng các thông tin sức khỏe 44
Hình 3.10: Mức độ cung cấp đủ các kiến thức, kỹ năng liên quan đến Khai thác và sử dụng công nghệ thông tin từ chương trình đào tạo 45
Hình 3.11: Mức độ đạt được các kiến thức, kỹ năng về Khai thác và sử dụng công nghệ thông tin 45
Hình 3.12: Mức độ sử dụng các kỹ năng khai thác và sử dụng công nghệ thông tin 46
Hình 3.13: Mức độ tự tin Khai thác và sử dụng công nghệ thông tin 46
Hình 3.14: Mức độ cung cấp đủ các kiến thức, kỹ năng liên quan đến Phát triển và vận hành hệ thống QLTTYT từ chương trình đào tạo 47
HUPH
Trang 7Hình 3.15: Mức độ đạt đƣợc các kiến thức, kỹ năng về Phát triển và vận hành hệ thống quản lý thông tin y tế 47 Hình 3.16: Mức độ sử dụng các kỹ năng Phát triển và vận hành hệ thống QLTTYT 48 Hình 3.17: Mức độ tự tin Phát triển và vận hành hệ thống QLTTYT 49
HUPH
Trang 8Phần A: Báo cáo tóm tắt nghiên cứu
ĐÁNH GIÁ SỰ PHÙ HỢP CỦA CHƯƠNG TRÌNH CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG ĐỊNH HƯỚNG QUẢN LÝ THÔNG TIN Y TẾ TẠI TRƯỜNG ĐẠI
HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG VỚI CÔNG VIỆC THỰC TẾ
Ths Trần Khánh Long (Khoa Sức khỏe môi trường và Nghề nghiệp, Trường
ĐHYTCC)
Ths Phùng Văn Thùy (Phòng Đào tạo Đại học, Trường ĐHYTCC)
Ths Nguyễn Trung Kiên (Khoa Khoa học xã hội, Trường ĐHYTCC)
Ths Nguyễn Trung Kiên (Khoa Khoa học cơ bản, Trường ĐHYTCC)
* Tóm tắt tiếng Việt
Dưới sự tài trợ của quỹ Rockefeller trong 4 năm 2011-2015, trường đại học YTCC
đã xây dựng và triển khai chương trình cử nhân y tế công cộng chuyên ngành quản lý thông tin y tế tại Việt Nam dựa trên kết quả đánh giá TNA về thực tế nhu cầu công việc
và kỹ năng còn thiếu của các bộ y tế tại các cấp Cho đến thời điểm này, 3 khóa cử nhận định hướng quản lý thông tin y tế với 76 cử nhân đã tốt nghiệp, 18 sinh viên của niên khóa 2012-2016 tiếp theo sẽ tốt nghiệp trong năm nay
Mục tiêu: (1) Đánh giá sự đáp ứng của cựu sinh viên cử nhân y tế công cộng định hướng QLTTYT tại trường Đại học Y tế cộng cộng với công việc liên quan đến QLTTYT trên thực tế; (2) Xác định những điều chỉnh cần thiết của chương trình đào tạo cử nhân y
tế công cộng định hướng QLTTYT phù hợp đối với công việc thực tế tại Việt Nam Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định tính và định lượng, thực hiện trên toàn bộ sinh viên định hướng quản lý thông tin y tế đã tốt nghiệp (76 sinh viên)
Kết quả cho thấy tỷ lệ sinh viên ra trường có việc làm chưa cao (59,7%) Chương trình đào tạo cung cấp đủ thông tin, kiến thức cơ bản; mức độ nắm được hoàn toàn kiến thức được học viên đánh giá cao ở chuẩn đầu ra khai thác và sử dụng CNTT
Các kết quả về nhu cầu thực tế của thị trường cho thấy chương trình đào tạo là cần thiết và phù hợp, tuy nhiên cần điều chỉnh phù hợp hơn với thực tế trên các khía cạnh: Điều chỉnh theo các văn bản pháp quy mới có hiệu lực để tăng khả năng đáp ứng với hệ thống nói chung; Điều chỉnh theo nhu cầu của người học: Tăng các cấu phần kỹ thuật và thực hành; Điều chỉnh theo nhu cầu của người sử dụng: tăng khả năng đáp ứng và cập nhật với công nghệ
HUPH
Trang 9* Tóm tắt tiếng Anh
Under the funding of the Rockefeller Foundation for the 4 years (2011-2015), the Hanoi University of Public Health has developed and implemented a public health bachelor program in Health Information Management in Vietnam based on the TNA assessment about the actual lack of work and skills of the health officers at all levels Up
to this point, 3 health care orientation courses with 76 graduates and 18 undergraduate students from 2012-2016 would graduate this year
Objectives: (1) Evaluate the response of graduated students of Health Information Management program of Hanoi University of Public Health to the actual work related to Health Information Management; (2) Identify the necessary modifications of Health Information Management training program that are suitable with the actual work in Vietnam The study uses a qualitative and quantitative cross-sectional descriptive research methodology, which is implemented across all graduated student of Health Information Management training program (76 students)
The results show that the rate of graduated students got jobs was not high (59.7%) The training program provided sufficient information and basic knowledge; Most of graduated students said that they could get most of knowledge in the standard of exploiting and using IT
The results of the actual market demand show that this training program is necessary and appropriate but it needs to be adjusted with reality in terms of: new and effiective legal documents; increase the technical and practical components; increased responsiveness and updated with technology HUPH
Trang 10Phần B: Tóm tắt các kết quả nổi bật của đề tài
1 Kết quả nổi bật của đề tài
(a) Đóng góp mới của đề tài
- Cung cấp bằng chứng về kết quả đào tạo cử nhân YTCC, định hướng quản lý thông tin y tế của trường Đại học YTCC
- Kết quả nghiên cứu sẽ được sử dụng để điều chỉnh chương trình đào tạo đại học hình thức chính quy và vừa học vừa làm của trường Đại học Y tế công cộng, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu và yêu cầu của thị trường lao động
(b) Kết quả cụ thể (các sản phẩm cụ thể)
- Công cụ, biểu mẫu thu thập số liệu về đánh giá chương trình đào tạo cử nhân y
tế công cộng, định hướng quản lý thông tin y tế
- Bộ số liệu đánh giá chương trình đào tạo cử nhân y tế công cộng, định hướng quản lý thông tin y tế
- Báo cáo kết quả nghiên cứu đánh giá chương trình đào tạo cử nhân y tế công cộng, định hướng quản lý thông tin y tế
(c) Hiệu quả về đào tạo:
- Nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học, điều phối hoạt động và khả năng làm việc với cộng đồng cho cán bộ, giảng viên của Trường Đại học Y tế công cộng
Từ đó giúp cho các giảng viên có có thêm kiến thức thực tế áp dụng vào công tác giảng dạy cho sinh viên
(d) Hiệu quả về xã hội
- Nghiên cứu đã tổ chức phỏng vấn, xin ý kiến của lãnh đạo các cơ quan, ban ngành Đây là một bước giới thiệu và nâng cao hiểu biết của lãnh đạo và cộng đồng về vai trò và chức năng của ngành y tế công cộng và các nhiệm vụ chức năng của các cử nhân y tế công cộng nói chung và cử nhân y tế công cộng định hướng quản lý thông tin y tế nói riêng
2 Áp dụng vào thực tiễn đời sống xã hội
HUPH
Trang 11- Chương trình giảng dạy cử nhân y tế công cộng được điều chỉnh sẽ nâng cao hiệu quả đào tạo, đáp ứng yêu cầu của thị trường về nhân lực chuyên ngành y
tế công cộng và đóng góp vào sự phát triển của ngành y tế công cộng nói chung
3 Đánh giá thực hiện đề tài đối chiếu với đề cương nghiên cứu đã được phê duyệt
(a) Tiến độ: Đúng tiến độ
(b) Thực hiện mục tiêu nghiên cứu: Đạt được toàn bộ các mục tiêu nghiên cứu
(c) Các sản phẩm tạo ra so với dự kiến của bản đề cương: Đạt được so với dự kiến
Trang 12Phần C: Nội dung báo cáo chi tiết kết quả nghiên cứu đề tài cấp cơ sở
ĐẶT VẤN ĐỀ
Thông tin đáng tin cậy đóng vai trò quan trọng cho việc triển khai hiệu quả các hoạt động chăm sóc sức khỏe, theo dõi bệnh dịch và quản lý hệ thống y tế Trên thế giới, các chương trình đào tạo về lĩnh vực Quản lý thông tin Y tế, Tin học Y tế, Tin học Y tế Công Cộng khá phổ biến Có khoảng trên 30 trường Đại học cung cấp các loại hình đào tạo bao gồm các cấp học Tiến sỹ, Thạc sỹ và bậc đại học [1-3] Tại Việt Nam các chương trình chương trình đào tạo dài hạn cho loại hình quản lý thông tin y tế/tin học y tế cho tất cả các cấp học tại Việt Nam còn rất hạn chế Có một số khoá đào tạo ngắn hạn do Bộ y tế và một số đơn vị khác triển khai dưới hình thức đào tạo lại hàng năm nhưng chủ yếu tập trung vào kỹ năng sử dụng máy tính hoặc phân tích số liệu Dưới sự tài trợ của quỹ Rockefeller trong 4 năm 2011-2015, trường đại học YTCC đã xây dựng và triển khai chương trình cử nhân y tế công cộng chuyên ngành quản lý thông tin y tế tại Việt Nam dựa trên kết quả đánh giá TNA về thực tế nhu cầu công việc và kỹ năng còn thiếu của các
bộ y tế tại các cấp Bắt đầu từ năm 2013, chương trình đào tạo cử nhân y tế công cộng định hướng quản lý thông tin y tế bắt đầu được trường Đại học Y tế công cộng đưa vào triển khai Cho đến thời điểm này, 3 khóa cử nhận định hướng này với 76 cử nhân đã tốt nghiệp, 18 sinh viên của niên khóa 2012-2016 tiếp theo sẽ tốt nghiệp trong năm nay [4] Cuối năm 2014, sau khi khóa định hướng quản lý thông tin y tế đầu tiên tốt nghiệp, một nghiên cứu đánh giá nhanh về tính phù hợp của chương trình đào tạo cũng như phản hồi của các nhà nhà tuyển dụng đã được thực hiện bởi một chuyên gia đánh giá độc lập [5] Nghiên cứu được thực hiện trên dựa trên thu thập các thông tin phản hồi qua các câu hỏi tự điền của 24 sinh viên đã tốt nghiệp định hướng về các nhận xét đối với chương trình đào tạo cùng với kết hợp các thông tin phỏng vấn sâu từ các nhà quản lý về tính phù hợp của chương trình đào tạo Các kết quả ban đầu đã chỉ ra tính phù hợp của chương trình đào tạo, nội dung dung đào tạo đầy đủ phản ánh được ba chuẩn năng lực cần có của
cử nhân QLTTYT đã được xây dựng [6] Tuy nhiên, nghiên cứu đánh giá này chỉ thực hiện trên 24 sinh viên mới tốt nghiệp ra trường, vì vậy các thông tin phản ánh liên quan đến đánh giá sự đáp ứng của cử nhân đã tốt nghiệp này đối với những công việc thực tế liên quan đến QLTTYT chưa được thực hiện trong nghiên cứu Bên cạnh đó, kết quả của nghiên cứu cũng chưa lượng giá được các chuẩn đầu ra năng lực của chương trình đào tạo được học viên áp dụng trong thực tế như thế nào Một điểm nữa cần nhắc đến là cũng
HUPH
Trang 13tương tự như các chương trình đào tạo được xây dựng dựa trên nhu cầu của xã hội khác, việc đánh giá tổng thể lại chương trình đào tạo, cập nhật các nhu cầu thực tế hiện tại cũng như đánh giá sự đáp ứng của các sản phẩm từ chương trình đối với thực tế công việc là việc cần thiết nhằm nhằm hướng tới việc lượng giá được chất lương của chương trình, đồng thời cập nhật và bổ sung hoàn thiện chương trình đào tạo định hướng quản lý thông tin y tế, góp phần tạo lập và xây dựng đội ngũ nhân lực đáp ứng được nhu cầu thực tế công việc của xã hội Vì vậy, nghiên cứu “Đánh giá sự phù hợp của chương trình Cử nhân
Y tế công cộng định hướng Quản lý thông tin y tế tại trường Đại học Y tế công cộng với công việc thực tế„ được thực hiện với hai mục tiêu:
1 Đánh giá sự đáp ứng của cựu sinh viên cử nhân y tế công cộng định hướng QLTTYT tại trường Đại học Y tế cộng cộng với công việc liên quan đến QLTTYT trên thực tế
2 Xác định những điều chỉnh cần thiết của chương trình đào tạo cử nhân y tế công cộng định hướng QLTTYT phù hợp đối với công việc thực tế tại Việt Nam
HUPH
Trang 14CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Hệ thống thông tin y tế
1.1 Các khái niệm chung
Mặc dù việc ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe không mới và ngày càng phát triển, tuy nhiên một vấn đề vẫn còn rất nhiều thảo luận về thuật ngữ và điều này không phải chỉ xảy ra ở Việt Nam mà còn ở nhiều nơi trên thế giới [7] Nội dung tập trung vào việc liệt kê các định nghĩa và một số quan niệm chung về vấn đề này và từ đó đưa ra thuật ngữ sẽ dùng chung trong toàn bộ nghiên cứu
Khái niệm đầu tiên mà chúng ta cần đề cập đến đó là công nghệ thông tin (CNTT - Information Technology) hoặc công nghệ thông tin và truyền thông (Information
Communication Technology) CNTT là một ngành ứng dụng công nghệ điện tử và truyền thông trong quản lý và xử lý thông tin Ở Việt Nam, khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết chính phủ 49/CP ký ngày 04/08/1993 là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại – chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông – nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả có nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội [8]
Một khái niệm khác cũng được sử dụng khá phổ biến hiện nay là tin học
(informatics) Đây là khái niệm mặc dù được dùng khá nhiều nhưng lại là khái niệm thường mang lại nhiều mâu thuẫn nhất Có rất nhiều học giả, nhà nghiên cứu cho rằng tin học thiên hướng nhiều về lĩnh vực thông tin hơn là công nghệ trong đó phần công nghệ chỉ là công cụ chuyển tải thông tin [7, 8], một số khác thì lại cho rằng ngược lại và cho rằng công nghệ sẽ định hướng các hoạt động nhận thức của con người nhiều hơn [9] Một số khái niệm khác mang lại nhiều tranh luận và được sử dụng trong lĩnh vực
chăm sóc sức khỏe bao gồm Tin học y sinh (Biomedical informatics), Tin học Y tế (Medical/Health Informatics), hoặc Tin học Y tế Công Cộng (Public Health Informatics)
Tất cả các khái niệm này đều được dùng trong nhiều bối cảnh khác nhau và đôi khi họ cho rằng khái niệm này bao phủ lên khái niệm khác và những thảo luận về các vấn đề liên quan này đã được nhiều tác giả đề cập và những kết luận khá tập trung đều hướng tới việc đưa ra sự phân định mặc dù chưa hoàn toàn rõ ràng nhưng tương đối thống nhất hướng tới
cách gọi Tin học Y Tế (Medical/health Informatics) [10-12] và trong đó định nghĩa tin học
y tế và những thành phần của nó bao gồm:
HUPH
Trang 15- Tin học Y sinh (Biomedical informatics): liên quan đến các lĩnh vực tế bào, phân
tử
- Tin học Y học (medical/clinical informatics): liên quan đến một cá thể
- Tin học y tế công cộng (public Health Informatics): liên quan đến quần thể
Hệ thống thông tin y tế và các hệ thống thành phần của nó đều hướng tới mục tiêu
áp dụng CNTT và truyền thông trong việc sử dụng thông tin hiệu quả để tăng cường nghiên cứu và hoạt động của hệ thống tế nhằm nâng cao sức khỏe của cá nhân, cộng đồng
Ở Việt Nam, cũng như ở nhiều nơi trên thế giới, các khái niệm thuật ngữ còn có nhiều tranh luận, tuy nhiên dựa trên mục tiêu của hệ thống cũng như sự đồng thuận của
nhiều nhà khoa học, khái niệm thông tin y tế được sử dụng khá nhiều, khái niệm này bao
hàm cả các vấn đề liên quan đến thông tin và khía cạnh công nghệ
1.2 Hệ thống thông tin y tế Việt Nam
Mạng lưới của hệ thống y tế thông tin với mục tiêu thực hiện công tác thống kê được thiết lập từ xã đến cấp huyện, cấp tỉnh và trung ương
Cấp trung ương
Vụ Kế hoạch và Tài chính - Bộ Y tế là đơn vị đầu mối cho việc tổng hợp, phân tích
và chia sẻ thông tin với các chức năng và nhiệm vụ sau đây:
- Xây dựng và thống nhất chỉ số, phương pháp thu thập lưu trữ dữ liệu quy định về cung cấp và sử dụng dữ liệu thông tin y tế, sức khoẻ cho toàn ngành
- Tổng hợp và phân tích dữ liệu thống kê hàng năm, 5 năm và 10 năm
- Biên soạn và xuất bản Niên giám Y tế thống kê hàng năm và các sản phẩm thống
kê khác Là tổ chức duy nhất cung cấp và công bố các số liệu y tế trong và ngoài nước
- Phối hợp xây dựng chính sách, chiến lược tăng cường và phát triển các hoạt động liên quan đến quản lý thông tin sức khoẻ
- Cung cấp các hướng dẫn nghiệp vụ cho các đơn vị trong ngành y tế Tổ chức và quản lý khảo sát và đánh giá về hoạt động của ngành y tế cũng như các yếu tố liên quan đến tình trạng sức khỏe của người dân
- Phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin trong xử lý, lưu trữ và truyền tải thông tin
- Thực hiện chế độ báo cáo với các cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan
HUPH
Trang 16Cấp tỉnh
Trung bình mỗi Sở Y tế tỉnh có 1 hoặc 2 cán bộ làm công tác thống kê trong phòng
kế hoạch tổng hợp với các chức năng và nhiệm vụ chính như sau:
- Tổ chức việc thu thập và xử lý thông tin về hoạt động y tế và tình trạng sức khỏe của người dân trong toàn tỉnh
- Cung cấp số liệu y tế, thông tin, hướng dẫn cho các đơn vị y tế trên địa bàn tỉnh về công tác thống kê báo cáo
- Thực hiện chế độ báo cáo của các cơ quan Bộ Y tế và địa bao gồm Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh/thành phố, phòng thống kê tỉnh
- Tổ chức các cuộc điều tra/khảo sát về vấn đề sức khoẻ trên địa bàn (nếu có)
Cấp huyện
Từ năm 2006, Ngành y tế đã tổ chức lại mô hình quản lý y tế cấp huyện Thay vì chỉ
có một trung tâm y tế (TTYT) huyện chịu trách nhiệm quản lý trên tất cả các khía cạnh y
tế trên địa bàn, hiện nay có 3 tổ chức: Phòng Y tế, bệnh viện và trung tâm y tế dự phòng huyện với các chức năng khác nhau Phòng y tế là đơn vị chịu sự quản lý trực tiếp của UBND và chịu trách nhiệm quản lý nhà nước với các hoạt động y tế trên địa bàn Phòng
Y tế huyện cũng là đơn vị chịu trách nhiệm hướng dẫn và giám sát kỹ thuật cho cấp xã về
việc báo cáo, thu thập thông tin, số liệu hoạt động y tế trong địa bàn
Cấp xã
Trạm y tế xã/phường có trách nhiệm ghi chép các thông tin về tình hình khám chữa bệnh và điều trị trong địa bàn, thu thập thông tin về tình trạng sức khỏe của cộng đồng thông qua mạng lưới y tế thôn bản, tổng hợp số liệu cung cấp dịch vụ y tế và tình trạng
sức khỏe của người dân trong xã để báo cáo UBND, phòng y tế và trung tâm y tế cấp trên Cấp thôn
Nhân viên y tế thôn/bản có trách nhiệm thực hiện các hoạt động giáo dục sức khoẻ
và thu thập các thông tin liên quan tại cộng đồng bao gồm các thông tin sinh, tử, bệnh dịch, tai nạn thương tích và tập hợp về trạm y tế xã Tuỳ theo qui mô dân số tại mỗi
xã/phường có thể có từ 5-10 nhân viên y tế thôn/bản
HUPH
Trang 17Hình 1.1: Mô hình hệ thống thông tin sức khoẻ Việt nam
1.3 Thực trạng quản lý thông tin y tế tại Việt Nam
1.3.1 Những chính sách đã ban hành
Mặc dù đã có nhiều chính sách được ban hành liên quan đến Hệ thống thông tin thống kê nói chung và Hệ thống thông tin y tế nói riêng, song vẫn chưa bao trùm toàn bộ các khía cạnh và các thành phần của hệ thống thông tin thống kê y tế
Trong khi bản kế hoạch tổng thể về hệ thống thông tin được phát triển, hệ thống chỉ tiêu cơ bản và tài liệu hướng dẫn biểu mẫu đối với hệ thống thông tin quản lý được ban hành thì sự chuẩn hóa đối với các tiểu hệ thống thông tin còn chưa đồng bộ Thực tế việc thực hiện các quy định vẫn còn yếu, đặc biệt là sự tuân thủ của các đơn vị y tế tư nhân Một số chính sách tuy được ban hành nhưng chưa được thực hiện, phần vì những chính sách đưa ra lại thiếu các giải pháp và những điều kiện triển khai, thiếu quy định về nhân lực và kinh phí thực hiện các chính sách đó Việc tuyên truyền vận động thực hiện các chính sách chưa được thường xuyên và rộng khắp Các chính sách liên quan đến hệ thống thông tin y tế trên tuy đã có sự phân công, song chưa quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ thu thập, xử lý, cung cấp và chia sẻ thông tin giữa các tiểu hệ thống thông tin trong ngành y tế, đã gây lên sự chồng chéo; Cơ quan thống kê Quốc gia, Bộ Tài chính, Bảo hiểm xã hội và Bộ Y tế chưa thiết lập cơ chế điều phối và hợp tác trong quá trình thu
HUPH
Trang 18thập và chia sẻ thông tin [13]
Thực hiện các quy định, văn bản của Chính phủ liên quan đến lĩnh vực thống kê còn chưa đầy đủ, như Luật thống kê, chính sách về phổ biến thông tin thống kê của Chính phủ (Quyết định số 34/2013/QĐ-TTg) và các Nghị định về hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thống kê (Nghị định số 79/2013/NĐ-CP) Ngành y tế còn thiếu văn bản hướng dẫn chi tiết thực hiện văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ mới ban hành Chế tài thực hiện chế độ thống kê báo cáo đối với khu vực y tế tư nhân chưa thực hiện được gây hạn chế về chất lượng số liệu (tính kịp thời, đầy đủ, chính xác của số liệu) [14]
1.3.2 Đáp ứng nhu cầu người sử dụng số liệu
Về phổ biến và sử dụng thông tin: có nhiều nguồn thông tin nhưng cơ chế công bố thông tin chưa rõ ràng, chưa có đầu mới phổ biến số liệu của ngành y tế và các số liệu liên quan từ các ngành khác
Về sản phẩm và chất lượng thông tin: Năng lực phân tích và sử dụng thông tin còn yếu đối với cả cán bộ thống kê và các cán bộ quản lý Nhiều số liệu thô được thu thập nhưng có nhiều hạn chế trong việc phân tích sơ bộ thành thông tin ban đầu được sử dụng thường xuyên, cơ chế phản hồi thông tin cho tuyến dưới và việc phân tích sâu thông tin ban đầu thành xu hướng, dự báo, tính toán về gánh nặng bệnh tật Nguyên nhân là do kiến thức sử dụng số liệu trong phân tích đánh giá của cán bộ y tế còn hạn chế, chưa có cơ sở
dữ liệu tại các tuyến gây khó khăn cho việc chia sẻ, sử dụng thông tin Chất lượng số liệu nếu xét về mức độ đầy đủ, kịp thời, chính xác, độ phân tổ và đáp ứng nhu cầu của hệ thống thông tin còn nhiều vấn đề cần giải quyết
Mặc dù Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và chỉ tiêu Ngành y tế đã được chỉnh sửa nhằm đáp ứng nhu cầu của người dùng tin, song việc thu thập số liệu để tính toán các chỉ tiêu vẫn còn gặp nhiều khó khăn, do một số nguyên nhân: (1) Hệ thống biểu mẫu sổ sách, báo cáo của một số lĩnh vực và chương trình ban hành đã khá lâu và không thống nhất, đặc biệt biểu mẫu ghi chép ban đầu và báo cáo của bệnh viện (hồ sơ bệnh án và sổ sánh ghi chép ban đầu ban hành từ năm 2001; biểu mẫu báo cáo ban hành từ năm 1997) Chính vì vậy một số chỉ tiêu thu thập không còn giá trị, trong khi lại thiếu những chỉ tiêu quan trọng (2) Việc ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực y tế còn quá chậm nên không thể cung cấp những thông chi tiết phục vụ phân tổ chỉ tiêu theo đặc điểm dân số như: (tuổi/giới); theo kinh tế /xã hội (nhóm thu nhập, trình độ văn hóa); Theo đơn vị hành chính (tỉnh, huyện, xã, nông thôn/ thành thị), cụ thể như bệnh tật theo tuổi/ giới, nhân lực
HUPH
Trang 19phân theo tuổi/giới/ dân tộc (3) Một số chỉ tiêu phải thu thập bằng phương pháp điều tra nhưng do không có kinh phí để thực hiện nên không thể thu thập được; (4) Kinh phí đầu
tư cho công tác thống thông tin quá thấp đã có những khó khăn trong việc sửa đổi, triển khai hệ thống biểu mẫu mới và đầu tư ứng dụng công nghệ tin học cho hệ thống và tiểu
hệ thống thông tin y tế [13]
1.3.3 Ngân sách đầu tư và cơ sở hạ tầng cho hệ thống thông tin y tế
Một số tiểu hệ thống thông tin y tế có Dự án trong nước hoặc Quốc tế, tuy có sự hỗ trợ về kỹ thuật và trang thiết bị để thu thập và xử lý thông tin, song sự hỗ trợ này chỉ tập trung ở một số vùng /tỉnh của Dự án và thời gian mà dự án còn hoạt động nên không bao phủ được toàn bộ hệ thống cùng như tình bền vững sau khi kết thúc dự án
Nhìn chung ngân sách đầu tư cho hệ thống và tiểu hệ thống thông tin thống kê y tế rất thấp và không thường xuyên Trong kế hoạch phân bổ ngân sách hàng năm của các tuyến kể cả tuyến trung ương không có dòng ngân sách dành riêng cho công tác thông tin thống kê y tế Đây là vấn đề khó khăn mà hệ thống không thể tiến hành các cuộc điều tra định kỳ cũng như tổ chức các khóa đào tạo, mua sắm thiết bị, ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật trong công tác thông tin thống kê y tế, thậm chí cả in ấn biểu mẫu, đặc biệt là tỉnh nghèo và vùng khó khăn
Việc trang bị thiết bị tính toán cho các cơ sở y tế nói chung và cho công tác thông tin thống kê nói riêng tuy đã có sự cải thiện song vẫn còn nhiều bất cập Hiện tại, hầu hết các trạm y tế chưa được trang bị máy vi tính Một số Trung tâm y tế quận huyện, phòng khám bệnh, cán bộ làm công tác thông tin thống kê chưa được trang bị máy vi tính riêng
mà phải sử dụng chung với các bộ phận khác như kế hoạch, kế toán, quản lý hành chính v.v Nhiều bệnh viện tuyến tỉnh kể cả tuyến trung ương, tuy được trang bị máy tính song cấu hình rất thấp, hệ thống mạng quá cũ không đáp ứng yêu cầu của các phần mềm quản
lý, xử lý và chuyển tải thông tin Phương tiện thông tin liên lạc (Telecommunication) còn hạn chế Một số phần mền tuy đã được xây dựng và đưa vào hoạt động nhưng vẫn còn trục trặc, các phân hệ của phần mềm chưa kết nối được với nhau
1.3.4 Ứng dụng CNTT và truyền thông trong hệ thống thông tin y tế
Trong những năm qua, việc triển khai ứng dụng và phát triển CNTT và truyền thông
đã được ngành Y tế đặc biệt quan tâm, nhiều cơ sở y tế đã đầu tư mua sắm trang thiết bị
và xây dựng phần mềm quản lý và xử lý số liệu song vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu hiện nay
HUPH
Trang 20Theo báo cáo đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT/TT của Hệ thống y tế, năm 2010 vẫn còn nhiều tồn tại và bất cập: việc thu thập, xử lý, lưu trữ chuyển tải thông tin và công
bố số liệu còn mang nặng tính thủ công Một số phần mềm quản lý, báo cáo tuy đã được xây dựng, nhưng vẫn còn nhiều lỗi, các phân hệ phần mềm không thể kết nối được với nhau và chưa kết xuất được báo cáo theo yêu cầu của Bộ Y tế và các ban ngành địa phương Ứng dụng điện tử trong xây dựng bệnh án, cung cấp dịch vụ tư vấn, khám chữa bệnh từ xa, chuyển tải hình ảnh phục vụ chẩn đoán và điều trị còn rất khiêm tốn [15] Theo báo cáo của Cục Quản lý Khám chữa bệnh năm 2012 và 2013 cho thấy không có gói ứng dụng nào hiện nay được sử dụng trong nước có thể đáp ứng tất cả các chức năng của bệnh án điện tử theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
Ứng dụng CNTT còn rời rạc, chỉ có một vài hệ thống thông tin của một số lĩnh vực theo ngành dọc; các hệ thống đã xây dựng không có khả năng kết nối, trao đổi thông tin Điều này làm hạn chế khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thu thập, xử lý, phân tích và phổ biến thông tin [14]
Chưa có những nền tảng cần thiết cho việc ứng dụng CNTT bài bản, thống nhất, bảo đảm việc kết nối, trao đổi thông tin giữa các hệ thống như danh mục chung, kiến trúc và thiết kế tổng thể hệ thống thông tin y tế, cơ sở dữ liệu tích hợp,
Việc có máy vi tính tại các cơ sở y tế không nói lên việc xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin có hiệu quả Trong một số trường hợp, máy tính có sẵn nhưng các dữ liệu thông tin lại không được chia sẻ giữa các nhà quản lý, các cán bộ chương trình hay cán bộ thống
kê Máy vi tính và các trang thiết bị khác sẽ không thể được sử dụng hiệu quả khi chưa có các phần mềm thích hợp Hầu hết các phần mềm sử dụng tại các bệnh viện hiện nay vẫn được thiết kế theo hình thức là các cơ sở dữ liệu ngoại tuyến và chưa thể sử dụng trực tuyến Chưa có sự giám sát sự đồng bộ về tính năng và kiểu mẫu của máy vi tính, cũng như tính tương thích của phần mềm ứng dụng của máy vi tính Những điều trên cho thấy máy vi tính, phần mềm ứng dụng chưa đủ đáp ứng cho việc quản lý hệ thống bệnh án điện tử cũng như đáp ứng yêu cầu của hệ thống thông tin y tế và theo dõi đánh giá [13]
1.4 Khả năng đáp ứng của cán bộ quản lý thông tin y tế hiện tại
Nguồn nhân lực của Hệ thống thông tin thống kê thiếu về số lượng, yếu về chuyên môn và không ổn định ở tất cả các tuyến Số cán bộ làm kiêm nhiệm công tác thông tin thống kê còn cao, chiếm khoảng trên 50% [16] Tại một số bệnh viện/cơ sở y tế tuyến trung ương hoặc tỉnh thì có các biên chế cụ thể và thường trực thuộc các phòng kế hoạch
HUPH
Trang 21tổng hợp Các số liệu thống kê của Bộ Y tế không thể hiện nhóm nhân lực này Một số hoạt động như đánh giá gánh nặng bệnh tật, thực hiện tính toán Tài khoản y tế quốc gia chưa được thực hiện thường xuyên theo nhu cầu hoạch định chính sách do chưa có nguồn kinh phí và nhân lực được đào tạo và giao trách nhiệm thường xuyên để thực hiện
Năm 2012 được sự hỗ trợ của Phái đoàn Liên minh Châu Âu (EC), Vụ Kế hoạch Tài chính, Bộ Y tế đã tiến hành đánh giá về thực trạng nhân lực làm công tác thông tin và nhu cầu đào tạo [17] Báo cáo kết quả điều tra của 54 tỉnh, thành phố cho thấy: 64,50% người được hỏi cho rằng nhân lực làm công tác thống kê thiếu và không ổn định; khoảng 80% chưa được tập huấn, đặc biệt là cán bộ làm công tác thông tin thống kê khối bệnh viện (khoảng 90%) Về nhu cầu đào tạo: 64,7% có nhu cầu đào tạo kiến thức cơ bản về thống kê; gần 50% có nhu cầu tập huấn về tổng hợp, phiên giải số liệu; 50,2% về sử dụng số liệu để phân tích, đánh giá và 44,8% tập huấn sử dụng số liệu trong lập kế hoạch
Theo kết quả đánh giá nhu cầu đào tạo cử nhân y tế công cộng định hướng quản lý thông tin y tế 2012 của trường Đại học Y tế công cộng tiến hành từ cấp Trung ương tới cơ
sở cho thấy nguồn nhân lực làm việc trong lĩnh vực quản lý thông tin trong y tế đang còn rất mỏng, kết quả đồng thời cũng cho thấy nhu cầu về nguồn nhân lực này hiện nay là thật
sự cấp thiết [5] Công việc chính của cán bộ quản lý thông tin y tế tại các cơ sở chủ yếu liên quan đến việc sử dụng thông tin, ứng dụng CNTT và vận hành hệ thống: trên 70% cán bộ quản lý thông tin y tế thường xuyên phải làm việc liên quan đến ứng dụng phần mềm để lưu trữ/xử lý dữ liệu, đánh giá chất lượng và thu thập thông tin; 80% thường xuyên sử dụng internet để tìm kiếm thông tin, chạy các ứng dụng trực tuyến, kiểm tra email, trình bày kết quả dữ liệu; 74% thường xuyên làm việc liên quan đến quản lý số liệu tại các cơ sở y tế; 61% thường xuyên làm việc liên quan đến bảo mật hệ thống thông tin y
tế như hồ sơ quản lý bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS; 64,3% cán bộ cho rằng công việc của
họ có nhiều liên quan đến việc sử dụng các chuẩn công nghệ thông tin để đảm bảo sự kết nối thông suốt giữa các hệ thống thông tin y tế
Tuy nhiên, một thực tế về đội ngũ cán bộ QLTTYT hiện nay là người có chuyên môn về CNTT thì lại không hiểu gì về chuyên môn y, ngược lại, người có chuyên môn y, hiểu về hệ thống y tế thì khả năng sử dụng CNTT lại hạn chế Ngoài ra, hệ thống máy vi tính dùng trong các cơ sở y tế không đồng bộ, hệ thống mạng quá cũ, tư vấn thiết kế không tốt và trình độ của cán bộ ở nhiều đơn vị y tế cũng còn hạn chế, dẫn tới việc triển khai các phần mềm quản lý đơn vị hay bệnh viện gặp nhiều khó khăn
HUPH
Trang 22Năng lực phân tích và sử dụng số liệu trong hệ thống y tế còn yếu Số liệu tại các tuyến tỉnh và tuyến trung ương mới được phân tích sơ bộ thông qua tính toán các chỉ tiêu
và trình bày theo các bảng biểu, đồ thị Việc phân tích sâu để đánh giá xu hướng phục vụ
dự báo hay những vấn đề, những yếu tố nguy cơ mà hệ thống y tế đang phải đối mặt chưa được thực hiện thường xuyên Nguyên nhân của vấn đề này là do:
- Kiến thức về sử dụng số liệu trong phân tích, đánh giá, dự báo của các nhà quản lý,
kế hoạch và thống kê ở các tuyến còn hạn chế do phần đông trong số họ chưa được tập huấn kỹ năng phân tích, đánh giá số liệu cũng như sử dụng các phần mềm phân tích như: STATA, SPSS, GIS
- Số liệu của hệ thống thông tin thống kê y tế được sử dụng chủ yếu để đánh giá về thực trạng và báo cáo tuyến trên, chưa được sử dụng nhiều trong việc tính toán các chỉ tiêu kế hoạch cũng như phân bổ nguồn lực tại tuyến tỉnh và các tuyến dưới nên
đã không thấy hết được tầm quan trọng của số liệu
- Chất lượng thông tin y tế hiện nay còn có những hạn chế nhất định nên ảnh hưởng không nhỏ đến việc sử dụng số liệu trong phân tích, đánh giá và hoạch định chính sách
Cán bộ làm công tác thống kê tin học của các cơ sở y tế không ổn định Nguyên nhân là do chính sách đãi ngộ cho những cán bộ này thường thấp hơn so với cán bộ cùng trình độ nhưng làm ở lĩnh vực khác, và phải kiêm nhiệm nhiều việc khác trong khi đó sự quan tâm của các cấp, các ngành đến công tác thông tin thống kê của các Bộ ngành còn hạn chế Năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 45/2009/QĐ-TTg về việc ban hành chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với cán bộ, công chức làm công tác thống
kê, song Quyết định này mới được thực hiện ở hệ thống Thống kê Nhà nước Thêm vào
đó kiến thức sử dụng số liệu của cán bộ quản lý, thống kê các cấp còn yếu Quan niệm làm thống kê là để báo cáo cấp trên là phổ biến nên đã không khuyến khích người làm công tác thông tin thống kê y tế cũng như đầu tư cho lĩnh vực này [13]
2 Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo
2.1 Khái niệm về chuẩn đầu ra
Chương trình đào tạo là hệ thống các môn học thể hiện mục tiêu đào tạo, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phẩm chất đạo đức (thái độ), phạm vi và cấu trúc nội dung đào tạo, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ đào tạo của bậc đào tạo Các chương trình đào tạo hướng
HUPH
Trang 23đến việc thực thi và hoàn thiện các chuẩn năng lực đào tạo, hay còn được gọi là chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo
Chuẩn đầu ra thể hiện mục tiêu đào tạo trong đó bao gồm các nội dung và mức độ
về kiến thức, kỹ năng, phẩm chất đạo đức; công việc mà người học có thể đảm nhận sau khi tốt nghiệp và các yêu cầu đặc thù khác đối với từng chương trình và ngành đào tạo Thiết kế các khóa học bằng cách sử dụng chuẩn đầu ra sẽ tạo ra cách tiếp cận lấy sinh viên làm trung tâm, đánh dấu một bước chuyển đổi từ nội dung của một module hoặc các khóa học (những gì mà giáo viên dạy) trở thành chuẩn đầu ra (đó là những khả năng mà sinh viên có thể làm khi hoàn thành khóa học hoặc một khối lượng học tập) Chuẩn đầu ra
là quy định về nội dung kiến thức chuyên môn; kỹ năng thực hành, khả năng nhận thức công nghệ và giải quyết vấn đề; công việc mà người học có thể đảm nhận sau khi tốt nghiệp và các yêu cầu đặc thù khác đối với từng trình độ, ngành đào tạo [18]
Nhiều tài liệu đã đề cập đến đặc trưng cơ bản chuẩn đầu ra của một chương trình đào tạo, nhằm giúp cho người thực hiện có thể dễ dàng hình dung về một chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo Tựu chung lại, một số đặc trưng cơ bản của chuẩn đầu ra bao gồm các thành tố sau [19]:
- Thể hiện những yêu cầu người học có thể biết và làm
- Chú trọng vào kết quả hơn là chú trọng vào quá trình
- Phải chi tiết, đặc hiệu và đo lường được
- Bao gồm các động từ hành động
Tác giả Bloom đã xây dựng một hệ thống phân loại các mục tiêu và chuẩn đầu ra của quá trình giáo dục Ba lĩnh vực của các hoạt động giáo dục đã được xác định, đó là lĩnh vực về nhận thức (cognitive domain), lĩnh vực về kỹ năng (psychomator domain) và lĩnh vực về cảm xúc, thái độ (affective domain) Hiện nay phân loại của Bloom được sử dụng phổ biến nhất để diễn đạt các chuẩn đầu ra Phân loại này thể hiện quá trình phức tạp tăng dần điều mà chương trình đào tạo mong muốn người học đạt được [20]
HUPH
Trang 24Bảng 1.1: Tóm tắt phân loại của Bloom về mức độ nhận thức, thái độ và kỹ năng
Phân tích/tổng hợp Tích hợp Hoạt động phối hợp
Đánh giá Hình thành các giá trị Kỹ xảo
Sáng tạo
Khi xây dựng, phát triển chương trình đào tạo theo chuẩn đầu ra, phải tuân thủ các quy trình một cách chặt chẽ: xây dựng chuẩn đầu ra, thiết kế khung chương trình và cách chuyển tải nó trong thực tiễn, đồng thời đánh giá kết quả học tập cũng như toàn bộ chương trình đào tạo [21] Đào tạo theo năng lực thực hiện công việc có các đặc điểm sau:
(1) Người học được coi là hoàn thành chương trình đào tạo khi chứng tỏ là đã thông thạo tất cả các năng lực thực hiện quy định trong chương trình không phụ thuộc vào thời lượng học tập
(2) Người học có thể học theo năng lực và nhịp độ riêng của từng cá nhân Vì vậy người học có thể nhập học và kết thúc quá trình học tập ở các thời điểm khác nhau (3) Bằng cấp, chứng chỉ của người học được thể hiện đầy đủ nội dung và kết quả học tập theo chương trình tạo cơ sở để chuyển đổi, liên thông với những chương trình
kế tiếp có liên quan hoặc ở trình độ cao hơn
(4) Quá trình đào tạo chú trọng hình thành năng lực thực hiện (các công việc, nhiệm
vụ chuyên môn của nghề) theo các chuẩn mực, tiêu chuẩn hành nghề đặt ra
Phát triển chương trình đào tạo theo năng lực thực hiện trên cơ sở đào tạo theo năng lực thực hiện đáp ứng được các xu hướng của chương trình đào tạo là: hướng tới người
học; liên thông; linh hoạt và mở; hình thành năng lực hành nghề cụ thể
Chuẩn đầu ra được rà soát, điều chỉnh và bổ sung và hoàn thiện hàng năm đảm bảo cam kết của đơn vị đào tạo với yêu cầu của xã hội, của đơn vị sử dụng sinh viên tốt nghiệp Các nội dung của chuẩn đầu ra về kiến thức, kỹ năng được xác định theo các khối kiến thức mô tả trong quy chế đào tạo Việc xây dựng chuẩn đầu ra được giao cho đơn vị đào tạo chủ trì, khoa (thuộc trường đại học) hoặc bộ môn (trong khoa trực thuộc) thực
HUPH
Trang 25hiện Chuẩn đầu ra được sử dụng làm cơ sở để thiết kế (hoặc điều chỉnh) chương trình đào tạo, tổ chức thực thi chương trình đào tạo và đánh giá kết quả đào tạo Mỗi môn học với đề cương chi tiết có vai trò riêng trong việc trang bị kiến thức, kỹ năng và phẩm chất đạo đức trong hệ thống môn học tích hợp thành chuẩn đầu ra của ngành đào tạo
2.2 Mối liên quan giữa chuẩn đầu ra và chương trình đào tạo
Hiện nay, mô hình đào tạo CDIO (Conceive- Design- Implement- Operate) được bắt nguồn từ Viện Công nghệ Massachusetts (Massachusetts Institute of Technology – MIT), Hoa Kỳ Cho đến nay, mô hình này được khoảng 50 trường đại học thuộc 25 quốc gia trên thế giới áp dụng [22] Về bản chất, CDIO là một giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu xã hội (XH) trên cơ sở xác định chuẩn đầu ra, từ đó thiết kế chương trình và kế hoạch đào tạo Ở Việt Nam, việc áp dụng CDIO đang ở bước đầu thử nghiệm Năm học 2009-2010, ĐHQG Hà Nội và ĐHQG Thành phố Hồ Chí Minh bắt đầu áp dụng CDIO để đào tạo một số ngành tại các trường thành viên [22]
Xây dựng chương trình đào tạo theo cách tiếp cận dựa trên chuẩn đầu ra cho thấy, chuẩn đầu ra có mối quan hệ mật thiết với chương trình đào tạo và tiêu chuẩn nghề cũng như nhiệm vụ của người học sau khi tốt nghiệp Theo đó, cơ sở đào tạo căn cứ vào tiêu chuẩn nghề cũng như chức năng nhiệm vụ của các vị trí việc làm của chuyên ngành/ ngành đào tạo để thiết kế chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo Sau đó, dựa trên chuẩn đầu ra đã được xây dựng, cơ sở đào tạo thiết kế nội dung chương trình đào tạo Như vậy, chương trình đào tạo được thiết kế theo cách tiếp cận này sẽ sát thực với cơ quan sử dụng lao động, nhu cầu của nhà tuyển dụng và các công việc thực tế mà người học sau khi tốt nghiệp sẽ thực hiện Chuẩn đầu ra cũng là cơ sở để kiểm định chương trình đào tạo, kiểm tra đánh giá việc thực hiện chương trình đào tạo và cấp văn bằng chứng chỉ cho người học
3 Đánh giá chương trình đào tạo
3.1 Khái niệm đánh giá đào tạo
Có nhiều cách định nghĩa khái niệm "đánh giá" trong nhiều năm qua Tyler (1942)
đã coi đánh giá là sự xác định các mục tiêu của chương trình đã đạt được hay chưa bằng cách xem xét các kết quả thực tế so với các kết quả kỳ vọng [23] Theo nghĩa rộng, nghiên cứu đánh giá bao gồm tất cả những nỗ lực nhằm gán các giá trị cho người, vật, sự kiện hoặc các quy trình [24] Từ quan điểm giảng dạy, việc đánh giá có thể được định nghĩa là "sự xác định chất lượng hoặc giá trị của một chương trình giáo dục (hoặc một
HUPH
Trang 26phần của chương trình học) Việc này bao gồm thu thập các thông tin để đánh giá chất lượng của các chương trình giáo dục, giáo trình và tài liệu giảng dạy" (tr 273) [25] Đánh giá cũng có thể được xem là sự so sánh các mục tiêu ban đầu với kết quả chương trình thực tế, có sử dụng cả phương pháp định tính và định lượng [26, 27] Brinkerhoff (1981)
đã mở rộng khái niệm đánh giá là "việc điều tra có tính hệ thống về hoàn cảnh, nhu cầu,
kế hoạch, sự vận hành và tác động của giảng dạy và đào tạo" (tr 66)[28] Basarab và Root (1992) đã đưa ra một định nghĩa toàn diện của đánh giá là "một quy trình có hệ thống nhằm chuyển đổi các dữ liệu thích hợp thành các thông tin được dùng để đo lường tác động của đào tạo, hỗ trợ quá trình ra quyết định, đưa ra các kết quả để cải thiện chương trình, và cung cấp phương pháp để xác định chất lượng đào tạo" (tr.2) [29] Quan điểm của các bên liên quan cũng có thể là nguồn thông tin cho việc quản lý cấp cao, khi
đó đào tạo được xem là một sự đầu tư chứ không phải là một khoản chi phí
Basarab và Root cho rằng "quá trình này đánh giá tổng giá trị của một hệ thống đào tạo và các chương trình đào tạo thực tế đối với các nhu cầu của người học, chi phí/lợi ích của cơ sở đào tạo, và những yêu cầu của các bên liên quan" (tr 2) [29] Trọng tâm của hầu hết các đánh giá đào tạo là đo lường tác động của chương trình đến (a) người học, (b) công việc của người học, và (c) tổ chức [30, 31]
Tuỳ theo cách tiếp cận trong thiết kế chương trình giáo dục, có thể có nhiều cách quan niệm về chương trình giáo dục, tuy nhiên mọi hoạt động đánh giá phải được căn cứ trên mục tiêu của chương trình giáo dục và phải trả lời được 2 câu hỏi (1) Chương trình giáo dục có đạt mục tiêu đã xác định của nó hay không? (kiến thức, kỹ năng, thái độ) và (2) Làm thế nào để cải tiến chương trình giáo dục?
3.2 Mô hình đánh giá chương trình đào tạo của Kirkpatrick
Mô hình đánh giá được được biết đến và sử dụng nhiều nhất hiện nay là mô hình Kirkpatrick [26, 30] Mô hình của Kirkpatrick (1994) bao gồm 4 mức độ đánh giá, bao gồm cấp 1 - Phản ứng, cấp 2 - Học tập, cấp 3 - Hành vi công việc, và cấp 4 - Kết quả Đây là 4 trụ cột chính, tạo nền tảng để đo lường hiệu quả của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Sự phản ứng tích cực và kiến thức thu được là những yếu tố quan trọng trong đánh giá hiệu quả đào tạo Các yếu tố này là những chỉ số ngắn hạn cho định hướng phát triển nguồn nhân lực của một tổ chức/cơ quan Những thay đổi hành vi và tác động đến tổ chức là nền tảng đo lường cho sự phát triển nguồn nhân lực, đòi hỏi các đánh giá dài hạn gồm làm việc với các cá nhân/người đại diện các nhóm, xác định rõ mục đích của đào tạo
HUPH
Trang 27và tổ chức [32]
Mô hình này cũng đã được sử dụng trong đánh giá chương trình đào tạo tại trường Đại học Y tế công cộng Với mức độ 1, nghiên cứu đánh giá nhanh về tính phù hợp của chương trình đào tạo cử nhân y tế công cộng định hướng Quản lý thông tin y tế được thực hiện năm 2014 [6] cùng với các kết quả đánh giá môn học được thực hiện theo quy trình đào tạo của trường ĐH YTCC đã cung cấp các minh chứng lượng giá mức độ thoải mái, thỏa mãn hay không với môi trường và nội dung đào tạo của các sinh viên trong định hướng đào tạo này
Tương tự, mô hình này cũng được áp dụng trong đánh giá thực trạng đào tạo và khả năng đáp ứng công việc của cử nhân y tế công cộng theo học tại trường Đại học Y tế công cộng, năm 2015 [33] Kết quả cho thấy ở mức độ 1, tất cả các đối tượng nghiên cứu đều
có đánh giá tích cực về chương trình đào tạo của nhà trường liên quan tới các nội dung về thiết kế chương trình, khối lượng các môn học, trình tự các môn học được phân bổ trong
4 năm học Ở mức độ 2, đối với các chuẩn đầu ra của chương trình, bao gồm chuẩn về kiến thức, chuẩn về kỹ năng và chuẩn về thái độ, sinh viên năm cuối cả hai loại hình đào tạo đánh giá chương trình đã phần nào đạt được so với các chuẩn đầu ra này Ở mức độ 3, các cử nhân đã tốt nghiệp và đang đi làm tự đánh giá năng lực bản thân trong việc thực hiện các công việc tại cơ quan về hoạt động YTCC, với hoạt động theo dõi, phân tích và chẩn đoán sức khỏe cộng đồng Với hoạt động Lập kế hoạch xử lý các vấn đề sức khỏe
ưu tiên, hoạt động Đưa ra các đề xuất làm căn cứ cho việc hoạch định chính sách liên quan đến lĩnh vực y tế công cộng được hai nhóm sinh viên chính qui và vừa học vừa làm đều đánh giá ở mức làm tốt với tỷ lệ thấp HUPH
Trang 28Hình 1.2: Mô hình đánh giá chương trình đào tạo theo Kirkpatrick [34]
3.3 Bốn cấp đánh giá đào tạo trong mô hình của Kirkpatrick
3.3.1 Cấp độ 1 – Phản ứng (Reaction)
Mức độ này thể hiện ý kiến về trải nghiệm học tập của người học và thường là lúc cuối khóa học Một người học có được nhiều kiến thức và kỹ năng từ khóa đào tạo sẽ sẵn sàng ứng dụng những gì đã học vào công việc, vì vậy sẽ mang đến những phản hồi ứng tích cực Đây có thể là một thước đo để đánh giá thái độ, kỳ vọng và động lực của người học Mặc dù sự phản ứng này mang tính chủ quan, nhưng nó cũng cũng cấp thêm thông tin về phong cách và nội dung đào tạo Việc đo lường này là rất hữu ích nhằm tăng cường quản lý hỗ trợ cho chương trình đào tạo
Theo Baird, bộ câu hỏi này cần hướng đến việc đo lường thái độ của người học về nội dung, quá trình, định nghĩa của mục tiêu khóa học, mức độ đạt mục tiêu khóa học và giá trị chung của khóa học Trọng tâm của đo lường này là nhằm điều tra thái độ về các tài liệu đào tạo được cung cấp trong quá trình đào tạo và nhận thông tin phản hồi của người học Tuy nhiên, các phương pháp điều tra bảng hỏi sau đào tạo cũng có thể không được hoàn toàn chính xác và có thể có các sai số Hình thức và loại câu hỏi trong bảng hỏi cũng cõ thể ảnh hưởng đến câu trả lời Các bảng hỏi trước và sau đào tạo đã được cải thiện để đảm bảo tính chính xác nhưng không thể loại bỏ hoàn toàn các sai số
HUPH
Trang 29Ở mức độ này, những phản ứng của người học được cho là sẽ thể hiện những đánh giá chủ quan và theo nhận thức của người học về tính phù hợp và chất lượng của chương trình đào tạo Theo Kirkpatrick, các chương trình đào tạo nên đánh giá ít nhất là ở mức độ này để giúp cải thiện thiết kế và khái niệm hóa chương trình đào tạo Bộ câu hỏi sẽ được
sử dụng để đo lường mức độ này thường để xem người học có cảm thấy thoải mái, thỏa mãn hay không với môi trường và nội dung đào tạo
3.3.2 Cấp độ 2 – Học tập (Learning)
Đây là cấp độ đánh giá thứ hai trong mô hình của Kirkpatrick Nhìn chung, cấp độ 2 được sử dụng để đo lường việc những người tham gia chương trình đào tạo có đạt được những kiến thức, kĩ năng và thái độ sau khi kết thúc chương trình hay không Hay nói cách khác, đây là cấp độ xem những mục đích đào tạo được đề ra ban đầu có đạt được hay không
Đạt được mục tiêu học tập là một loại đánh giá về kiến thức và kỹ năng có được thông qua chương trình đào tạo mà cuối cùng sẽ giúp cải thiện hiệu suất công việc Phản hồi về cảm xúc tích cực, các kỹ năng thực tiễn tăng lên và kiến thức ngành là những biểu hiện của một chương trình đào tạo thành công, và là yêu cầu cho chương trình phát triển nguồn nhân lực có ý nghĩa Các bài kiểm tra trước và sau để đánh giá hiệu quả đào tạo sẽ cho kết quả nhằm so sánh với mức chuẩn Các mức chuẩn sẽ giúp thể hiện kiến thức và
kỹ năng thu được từ chương trình đào tạo
Các kiểm tra trước và sau đôi khi có thể được thực hiện tại các buổi học chuyên đề
và buổi học có đóng vai Việc áp dụng các hình thức lớp học này sẽ mang lại kết quả trực tiếp, giúp làm giảm căng thẳng và mang đến môi trường học tập tích cực Ngoài ra, nếu được thiết kế và áp dụng đúng cách, hình thức học này có thể liên kết chặt chẽ người học với môi trường làm việc sau này, giải quyết một số vấn đề liên quan đến đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
3.3.3 Cấp độ 3 – Hành vi (Behaviror)
Cấp độ 3 được sử dụng để đo lường mức độ hành vi của người được đào tạo có thay đổi sau chương trình đào tạo hay không Thông thường, nó sẽ được sử dụng để đo lường những kiến thức, kĩ năng và thái độ được học sẽ được ứng dụng vào thực tế công việc như thế nào Các tổ chức tuyển dụng sẽ đo lường trước và sau chương trình học để xác định được cấp độ này Cấp độ này đo lường hiệu quả của đào tạo tập trung về công việc
và những thay đổi hành vi có ảnh hưởng đến hiệu suất công việc Điều này đòi hỏi phải
HUPH
Trang 30nghiên cứu những thay đổi trong hành vi công việc của người học thông qua đào tạo Trong khi các kiến thức và thái độ có thể dễ dàng đạt được sau các buổi học, đo lường sự thay đổi hành vi đòi hỏi thời gian để người học có thể hoàn toàn áp dụng được các kiến thức và kỹ năng mới học được
Một phương pháp đo lường hành vi phổ biến là xác định các mục tiêu ban đầu về khả năng làm việc cần đạt được Việc đạt được các mục tiêu đã đặt ra là cách đo lường việc biến sự hài lòng với chương trình đào tại và kiến thức học được thành những thay đổi về hành vi
3.3.4 Cấp 4: Kết quả (Results)
Cấp độ 4 của mô hình Kirkpatrick xoay quanh tác động của đào tạo và sự phát triển của cơ quan/tổ chức Việc đo lường dựa trên quan điểm cho tằng vệc đào tạo và sự phát triển nguồn nhân lực phải phản ánh văn hóa và chiến lược của cơ quan/tổ chức Một chương trình đào tạo được cho là thành công chỉ khi kết quả đào tạo liên kết chặt chẽ với mục tiêu của cơ quan/tổ chức Việc đánh giá tác động đến cơ quan/tổ chức có thể chỉ ra
sự cải thiện về lợi nhuận, các biện pháp an toàn,
Cấp 4 sẽ xác định những kết quả hữu hình của chương trình đào tạo: chi phí giảm, chất lượng và hiệu suất công việc được nâng cao, sản lượng tăng, tỉ lệ nhân viên nghỉ việc ít… Cấp độ này là cấp độ khó nhất để đo lường vì tổ chức cần phải xác định kết quả cuối cùng sẽ có được nhờ việc triển khai chương trình đào tạo là gì, còn do cấu trúc phức tạp của các bộ thận cấu thành sự tác động và tương tác với môi trường bên ngoài
4 Đào tạo nhân lực cho hệ thống y tế tại Việt Nam
4.1 Thực trạng đào tạo nhân lực cho hệ thống y tế tại Việt Nam
Ở Việt Nam cũng như nhiều nơi trên thế giới, năng lực của cán bộ y tế về quản lý, phân tích số liệu, thông tin và sử dụng các kết quả trong quá trình ra quyết định thường là thiếu Họ thường được yêu cầu sử dụng công nghệ thông tin trong khi đó kỹ năng của họ
về lĩnh vực này thường thấp hoặc không thấy vai trò và sự cần thiết của công nghệ trong công việc của họ Sự phát triển của CNTT-TT trong những năm gần đây đã kéo theo sự thay đổi to lớn trong mọi mặt của xã hội và các hoạt động của hệ thống y tế cũng không thể nằm ngoài xu hướng này Việc cần thiết phải đào tạo các cán bộ y tế có kỹ năng về quản lý thông tin và áp dụng công nghệ hiện đại là một việc làm vô cùng cần thiết do:
- Quá trình xử lý thông tin, số liệu đã thay đổi rất nhiều do sự thay đổi của
CNTT-TT
HUPH
Trang 31- Khối lượng thông tin, kiến thức liên quan đến sức khỏe, sự thay đổi mô hình bệnh tật, thông tin về phương pháp điều trị, dự phòng là rất lớn Chúng ta không thể nào
xử lý, học hỏi hoặc trao đổi được khối lượng thông tin đó một cách nhanh chóng nếu như không sử dụng các công nghệ mới
- Việc áp dụng CNTT sẽ làm cho tiết kiệm các chi phí và thời gian cho các hoạt động y tế và từ đó sẽ góp phần làm cho việc chăm sóc sức khỏe cho cá nhân và cộng đồng đạt nhiều thành tựu hơn
- Các cán bộ y tế được đào tạo về kỹ năng quản lý thông tin y tế đặc biệt là ở Việt Nam hiện nay sẽ giúp cho việc đẩy mạnh công tác tin học hóa và áp dụng công nghệ trong hệ thống y tế của Việt Nam một cách nhanh chóng góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cao hơn
Cũng như các lĩnh vực khác, đào tạo cán bộ y tế về quản lý thông tin y tế, tin học y
tế cũng cần phải được thiết kế và tuân thủ theo các nguyên tắc chung Chương trình đào tạo cần phải được xây dựng phù hợp với các hoạt động của hệ thống y tế, đa dạng, có hệ thống và đáp ứng nhu cầu phát triển nghề nghiệp của người học trong tương lai Hiệp hội quốc tế về Tin học Y tế (IMIA – International Medical Informatics Association) [35] đã đưa ra các khuyến nghị rất chi tiết về việc xây dựng các chương trình đào tạo về tin học y
tế trong đó nhấn mạnh đến các nguyên tắc quan trọng bao gồm:
- Nhiều cấp độ học tập để giúp cho việc phát triển con đường nghề nghiệp rõ ràng cho cán bộ Các loại hình đào tạo cần phải được thiết kế để giúp cho việc phát triển nghề nghiệp lâu dài
- Chương trình đào tạo và tài liệu cần thiết phải được xây dựng đạt chất lượng cao
và cập nhật các tiến bộ công nghệ Giảng viên cần thiết phải có kiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực này
- Cần phải có những qui định về vị trí làm việc rõ ràng trong hệ thống ngành y tế cho các nhân viên làm việc về hệ thống thông tin y tế
HUPH
Trang 32Với các nguyên tắc cơ bản, trên thế giới cũng đã có rất nhiều chương trình đào tạo
về tin học y tế được xây dựng và triển khai trong những năm qua Các chương trình đào tạo đều có những định hướng chung và hướng tới việc đào tạo ra các đội ngũ cán bộ có năng lực đáp ứng theo nhu cầu của thực tế tại các quốc gia cụ thể
4.2 Nhu cầu về nhân lực quản lý thông tin y tế tại Việt Nam
Thông tin đáng tin cậy đóng vai trò quan trọng cho việc triển khai hiệu quả các hoạt động chăm sóc sức khỏe, theo dõi bệnh dịch và quản lý hệ thống y tế Tuy nhiên, thông tin thực tế thường không chính xác đặc biệt tại các nước đang phát triển như Việt Nam Một trong những thách thức lớn đối với các nước đang phát triển đó là đảm bảo các thông tin phải chính xác và kịp thời để hỗ trợ việc ra quyết định
Tại Việt Nam, mạng lưới thông tin của hệ thống y tế được xác lập với mục tiêu tổng hợp số liệu thống kê được thiết lập từ xã đến cấp huyện, cấp tỉnh và trung ương Hệ thống thông tin y tế có nhiệm vụ chính thu thập và tổng hợp các dữ liệu cần thiết và các chỉ số phục vụ cho việc hoạch định chính sách và triển khai các hoạt động chăm sóc sức khoẻ của quốc gia Do vậy hệ thống này đôi khi đáp ứng được một số nhu cầu đặc thù của các chương trình chăm sóc sức khoẻ đặc thù, ngoài ra với hệ thống hiện tại việc khai thác và chia sẻ thông tin giữa các chương trình y tế vẫn còn khá hạn chế và những chuẩn thông tin đôi khi không phù hợp Hệ thống giám sát các bệnh truyền nhiễm gây dịch, tiểu hệ thống thông tin của các lĩnh vực như sức khỏe sinh sản; sốt rét; tiêm chủng mở rộng đã được xây dựng và đưa vào vận hành Tuy nhiên nhưng việc phối hợp và chia sẻ thông tin giữa các khoa khám chữa bệnh của các bệnh viện với hệ thống giám sát và các tiểu hệ thống tại các tuyến còn hạn chế Do vậy, có nhiều chương trình y tế quốc gia đã thiết lập các hệ thống chạy riêng so với hệ thống số liệu của ngành Các thông tin trong các chương trình này cũng đã được thu thập từ xã đến cấp huyện, cấp tỉnh và trung ương [36] Trong thập kỷ vừa qua, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) trong lĩnh vực y tế không ngừng phát triển tại Việt Nam Báo cáo của Cục CNTT-Bộ Y tế, cả nước có khoảng 80% số bệnh viện trung ương, 60% bệnh viện tuyến tỉnh và 30% bệnh viện huyện và 5% của trạm y tế xã đã áp dụng một phần công nghệ thông tin trong việc quản lý bệnh nhân, cấp phát thuốc và quản lý tài chính Tuy nhiên, một số khó khăn ảnh hưởng tới sự phát triển ICT trong y tế như thiếu kế hoạch tổng thể, kiến thức và kỹ năng
về CNTT của cán bộ y tế còn hạn chế Cũng theo báo cáo y tế hàng năm 2010 cũng chỉ ra việc thiếu nguồn nhân lực có chuyên môn về quản lý hệ thống thông tin y tế được đề cập:
HUPH
Trang 33Có khoảng dưới 500 chuyên gia công nghệ thông tin đang làm việc tại các cơ sở y tế và chỉ có khoảng 5000 nhân viên y tế đã được đào tạo các kỹ năng máy tính cơ bản trong 5 năm qua [36]
4.3 Các năng lực cơ bản của chuyên ngành quản lý thông tin y tế
Như đề cập trong phần trước, rất khó có thể đưa ra một mô hình đào tạo chuẩn cho tất cả các quốc gia về lĩnh vực tin học y tế Mặc dù các chuẩn về công nghệ thường giống nhau nhưng mức độ phát triển, qui trình nghiệp vụ và hoạt động quản lý hệ thống tại mỗi quốc gia đều có sự khác biệt rất lớn IMIA và nhiều tác giả khác [35, 37-39] cũng đã đưa
ra nhiều khuyến nghị về mục tiêu của một chương trình đào tạo về tin học y tế/thông tin y
tế cần hướng tới là: (i) Tăng cường năng lực cho các nhân viên y tế trong việc sử dụng và đáp ứng một cách có hiệu quả CNTT-TT trong quản lý xử lý thông tin, số liệu y tế (ii) Chuẩn bị các kỹ năng nghiên cứu, phát triển cần thiết cho quá trình học tập liên tục và định hướng nghề nghiệp trong lĩnh vực này Dựa trên các kinh nghiệm và chương trình giáo dục tại nhiều nước trên thế giới IMIA đã đưa ra một khuyến nghị chung cho các chương trình đào tạo về tin học y tế bao gồm kiến thức và kỹ năng như trong bảng sau
Bảng 1.2: Khuyến nghị chung về các chương trình đào tạo tin học y tế
Lĩnh vực 1: Phương pháp xử lý thông tin và
kiến thức y tế
- Xử lý thông tin/số liệu
- Hệ thống thông tin y tế
- Truy cập và tìm kiếm thông tin
- Phân loại bệnh tật, tử vong
- Đánh giá chất lượng dữ liệu
- Trình bày thông tin và hỗ trợ ra quyết định
- Truyền thông điện tử
- Các kỹ năng máy tính cơ bản
* Phát triển dựa trên khuyến nghị của IMIA [40]
Dựa trên các khuyến nghị trên cũng như các kỹ năng cơ bản cho cán bộ chuyên
HUPH
Trang 34ngành tin học y tế công cộng phiên bản 2002 và 2009 [41] Các kỹ năng được dịch sang tiếng Việt được chọn lọc để phù hợp với bối cảnh của Việt nam Các kỹ năng được chọn lọc dựa trên 2 phiên bản được Trung tâm phòng chống bệnh tật (CDC), Mỹ xây dựng Phiên bản năm 2002 được xây dựng một cách đơn giản và khá phù hợp tuy nhiên sự bổ sung các kỹ năng định hướng tới các hoạt động lâm sàng, khối điều trị lại được thể hiện
rõ hơn trong phiên bản 2009
Các kỹ năng này sẽ được sử dụng để đánh giá tại các cơ sở y tế trong hệ thống Kết quả đánh giá sẽ giúp cho việc đưa ra các khuyến nghị phù hợp cho các chương trình đào tạo cử nhân YTCC chuyên ngành Quản lý thông tin y tế trong thời gian tới
4.4 Các chương trình đào tạo chuyên ngành liên quan hiện có
Trên thế giới, các chương trình đào tạo về lĩnh vực Quản lý thông tin Y tế, Tin học
Y tế, Tin học Y tế Công Cộng khá phổ biến Có khoảng trên 30 trường ĐH cung cấp các loại hình đào tạo bao gồm các cấp học Tiến sỹ, Thạc sỹ và bậc đại học Có cơ sở đào tạo đại học ở Mĩ, Úc, Anh, Canada đã triển khai đào tạo Cử nhân khoa học chuyên ngành Quản lý thông tin y tế/Tin học Y tế (Bachelor of Health Informatics; Bachelor of Science
in Health Management Information) Cấu trúc của các chương trình này có những nét đặc trưng riêng Tuy nhiên, điểm chung là trong các chương trình đào tạo là các cấu phần hệ thống thông tin y tế, tin học y tế, tin học y tế công cộng chiếm thành phần lớn, khoảng 25-40% tổng số tín chỉ (credits) và được tổ chức học tập theo các môn riêng biệt [42-44] Các môn học cũng được sắp xếp theo các mức độ khác nhau từ lí thuyết cơ bản đến thực hành nâng cao và loại hình đào tạo có thể là tại trường hoặc học trực tuyến
Hiện nay chưa có những chương trình đào tạo dài hạn nào cho loại hình quản lý thông tin y tế/tin học y tế cho tất cả các cấp học Có một số khoá đào tạo ngắn hạn do Bộ
y tế và một số đơn vị khác triển khai dưới hình thức đào tạo lại hàng năm nhưng chủ yếu tập trung vào kỹ năng sử dụng máy tính hoặc phân tích số liệu Trường ĐH Bách khoa và
ĐH kỹ thuật Lê Quí Đôn1 cũng triển khai các chương trình thạc sỹ và định hướng chuyên ngành cho chương trình đại học năm cuối (4+1) về Điện tử Y sinh [45, 46] tuy nhiên nội dung chương trình đi sâu vào các kỹ thuật điện tử, mạch của các hệ thống máy, dụng cụ
sử dụng trong y học hơn là việc khai thác và sử dụng số liệu y tế Trong các chương trình đào tạo của các trường Y Dược hiện nay ở Việt Nam, mới chỉ có một số môn học riêng
HUPH
Trang 35biệt đã cung cấp những kiến thức cơ bản về lĩnh vực thông tin y tế/quản lý thông tin y tế tại trường Đại học Y tế Công Cộng bao gồm “Hệ thống thông tin y tế”, “phân loại quốc tế bệnh tật” với thời lượng từ 2 đơn vị học trình
5 Chương trình đào tạo cử nhân y tế công cộng định hướng quản lý thông tin y tế tại trường Đại học Y tế công cộng
5.1 Giới thiệu chung
Dưới sự tài trợ của quỹ Rockefeller trong 4 năm 2011-2015, trường đại học YTCC
đã xây dựng và triển khai chương trình cử nhân y tế công cộng chuyên ngành quản lý thông tin y tế tại Việt Nam dựa trên kết quả đánh giá nhu cầu đào tạo về thực tế nhu cầu công việc và kỹ năng còn thiếu của các bộ y tế tại các cấp Bắt đầu từ năm 2013, chương trình đào tạo cử nhân y tế công cộng định hướng quản lý thông tin y tế bắt đầu được trường Đại học Y tế công cộng đưa vào triển khai Cho đến thời điểm này, 3 khóa cử nhận định hướng này với 76 cử nhân đã tốt nghiệp, 18 sinh viên của niên khóa 2012-2016 tiếp theo sẽ tốt nghiệp trong năm nay [4]
Những sinh viên theo học định hướng này sẽ có thời gian học tập các môn học cơ bản của y tế công cộng trong 2,5 năm đầu, 1,5 năm tiếp theo các sinh viên này sẽ được học 6 môn học chuyên môn sâu trong lĩnh vực quản lý thông tin y tế: (1) Hệ thống thông tin y tế; (2) cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin ; (3) Nguồn số liệu, chuẩn và các hệ thống thông tin ; (4) Quản trị cơ sở dữ liệu sức khoẻ; (5) Thông tin hỗ trợ ra quyết định; (6) Nghiên cứu và đánh giá hệ thống thông tin y tế cùng với một đợt thực địa chuyên ngành trong thời gian 10 tuần trong môi trường công việc quản lý thông tin y tế [47] Chương trình đào tạo hướng tới ba chuẩn đầu ra, bao gồm: (1) Sử dụng có hiệu quả các thông tin sức khoẻ trong các hoạt động thường quy của cơ sở y tế nơi làm việc, (2) Sử dụng thành thạo và đề xuất được các công nghệ thông tin- truyền thông cập nhật cho các hoạt động của cơ sở y tế Và (3) Quản lý, sử dụng và duy trì có hiệu quả hệ thống thông tin sức khoẻ tại cơ sở nơi làm việc [47] Như vậy, những sinh viên cử nhân của định hướng đào tạo này sau khi ra trường ngoài những kiến thức, kỹ năng cơ bản về y tế công cộng còn có những năng lực chuyên môn về QLTTYT đáp ứng một phần các nhu cầu công việc thực
tế trong lĩnh vực QLTTYT
5.2 Nội dung chương trình đào tạo
5.2.1 Khung chương trình chung
Chương trình đào tạo cử nhân y tế công cộng định hướng quản lý thông tin được
HUPH
Trang 36tiến hành trong 4 năm với kiến thức tối thiểu 130 tín chỉ (TC), chưa kể các học phần Giáo dục thể chất (3TC) và Giáo dục quốc phòng – An ninh (165 tiết)
Bảng 1.3: Cấu trúc kiến thức của chương trình đào tạo
1 Kiến thức giáo dục đại cương tối thiểu (chưa kể các phần nội dung:
Giáo dục thể chất và Giáo dục Quốc phòng – An ninh)
5.2.2 Môn học chuyên ngành Quản lý thông tin y tế
Các cử nhân của định hướng ngoài những năng lực của cơ bản của cử nhân YTCC còn đạt được các chuẩn đầu ra theo chuyên ngành QLTTYT: (1) Sử dụng có hiệu quả các thông tin sức khoẻ trong các hoạt động thường quy của cơ sở y tế nơi làm việc, (2) Sử dụng thành thạo và đề xuất được các công nghệ thông tin- truyền thông cập nhật cho các hoạt động của cơ sở y tế Và (3) Quản lý, sử dụng và duy trì có hiệu quả hệ thống thông tin sức khoẻ tại cơ sở nơi làm việc [47] Để đạt được các chuẩn đầu ra này, cử nhân chuyên ngành QLTTYT phải tham gia học 6 môn học định hướng QLTTYT
Bảng 1.4: Danh mục các môn học định hướng quản lý thông tin y tế
Tín chỉ
Phân bố Tín chỉ
1 Giới thiệu về hệ thống thông tin y tế 2 1 1
3 Nguồn số liệu, chuẩn và các hệ thống thông tin 2 1 1
6 Nghiên cứu và đánh giá hệ thống thông tin y tế 2 1 1
HUPH
Trang 37(1) PHI 01: Giới thiệu về hệ thống thông tin y tế - 2 TC (1 LT- 1 TH)
Điều kiện tiên quyết: Không
Môn học này sẽ cung cấp cho sinh viên các nguyên tắc cơ bản, công cụ, phương pháp, các nguồn dữ liệu, thuật ngữ, và các vấn đề chính sách có liên quan đến lĩnh vực tin học y tế, tin học y tế công cộng Các chính sách của quốc gia về tin học y tế, hiện trạng áp dụng, sử dụng công nghệ thông tin trong ngành Y tế tại Việt nam Ngoài ra, sinh viên cũng được cung cấp các kiến thức và kỹ năng về các chuẩn trao đổi thông tin trên thế giới
và việt nam
(2) PHI02: Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin - 2TC (1LT-1TH)
Điều kiện tiên quyết: Không
Môn học này sẽ cung cấp cho học viên các khía cạnh cơ bản và quan trọng của hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) Học viên sẽ được trang bị các kiến thức
cơ bản về phần cứng (máy tính, mạng, các thiết bị giao tiếp, …) và phần mềm (hệ điều hành, ứng dụng, hệ thống phần mềm hỗ trợ, …) Học viên cũng sẽ được trang bị các kiến thức cơ bản về các vấn đề khả năng hoạt động, tính tin cậy của các hệ thống phần mềm đóng tại Việt Nam cũng như trên thế giới
Sinh viên sẽ áp dụng được các phương pháp nghiên cứu, khai thác thông tin để thay đổi cách tiếp cận trong hoạt động quản lý các hệ thống thông tin y tế tại nơi làm việc
(3) PHI03: Nhu cầu thông tin, nguồn dữ liệu và chuẩn - 2TC (1LT-1TH)
Điều kiện tiên quyết: PHI 01
Môn học này sẽ cung cấp cho sinh viên các kỹ năng và kiến thức về nhu cầu thông tin y tế, nguồn số liệu và chuẩn thông tin y tế Sinh viên sẽ học cách xác định các nhu cầu thông tin y tế, đánh giá các nguồn dữ liệu, cũng như các tiện ích, ứng dụng quan trọng với các hệ thống/tổ chức y tế
Môn học cũng sẽ cung cấp các kỹ năng thực hành trong đánh giá nhu cầu thông tin y
tế, các nguồn dữ liệu và các chuẩn quan trọng về thiết kế một hệ thống thông tin hiệu quả,
có thể tích hợp (các hệ thống hỗ trợ minh bạch trao đổi thông tin/dữ liệu với các hệ thống thông tin khác)
(4) PHI04: Quản trị cơ sở dữ liệu sức khoẻ - 3TC (1LT-2TH)
Điều kiện tiên quyết: PHI 01, PHI 03
Môn học này sẽ cung cấp cho sinh viên các khái niệm quan trọng như thuật ngữ, khái niệm, và các mô hình và nguyên tắc quản lý dữ liệu, quản lý kiến thức, và cấu trúc
HUPH
Trang 38dữ liệu Y tế Sinh viên sẽ học cách áp dụng các phương pháp thiết kế dữ liệu Họ cũng sẽ tìm hiểu để tổng hợp, chuẩn hóa, tích hợp và phân tích dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau Cuối cùng, sinh viên sẽ được thực hành cách thiết kế cơ sở dữ liệu trên môi trường mạng
và internet có sự kết nối dựa trên các chuẩn hiện hành
(5) PHI 05: Thông tin và số liệu hỗ trợ ra quyết định - 2TC (1LT-1TH)
Điều kiện tiên quyết: PHI 01, Thống kê Y tế cơ bản, Dịch tễ học cơ bản, Quản lý Y
tế, Truyền thông Giáo dục Sức khoẻ
Mục đích của môn này là cung cấp cho sinh viên với kiến thức cơ bản của quản trị tri thức và hệ thống hỗ trợ ra quyết định trong y tế công cộng nói riêng và chăm sóc sức khoẻ nói chung Sinh viên sẽ xác định các thông tin công cụ cần thiết để hỗ trợ các loại quyết định khác nhau trong quản lý điều trị lâm sàng, can thiệp sức khoẻ cộng đồng và truyền thông chính sách Ngoài ra, học sinh sẽ được cung cấp kiến thức và kỹ năng về khai thác dữ liệu, kỹ thuật hình ảnh (ví dụ như GIS), truyền thông (internet, di động) để khai thác và chuyển tải thông tin đến đối tượng phù hợp
(6) PHI 06: Nghiên cứu và đánh giá hệ thống thông tin y tế - 2TC (1LT-1TH)
Điều kiện tiên quyết: Tin học Y tế cơ bản, Thống kê Y tế cơ bản, Dịch tễ học cơ
bản, Nguồn số liệu, chuẩn và các hệ thống thông tin, Nghiên cứu khoa học
Mục đích của môn học này là cung cấp cho sinh viên các phương pháp và kỹ thuật
để thực hành xem xét, đưa ra các ý kiến đánh giá dựa trên bằng chứng cho các hoạt động,
hệ thống liên quan đến thông tin y tế Sinh viên sẽ được áp dụng các kỹ năng nghiên cứu
và khai thác thông tin tin cậy cho việc quản lý, vận hành và cải thiện hệ thống thông tin Y
tế tại cơ sở làm việc
5.3 Chuẩn đầu ra và năng lực cơ bản
Sau khi hoàn thành chương trình cử nhân chính quy y tế công cộng định hướng quản
lý thông tin y tế, các sinh viên cần đảm bảo các kỹ năng cần thiết sau
Bảng 1.5: Kỹ năng/ năng lực của cử nhân Y tế công cộng chuyên ngành Quản lý
Trang 39TT Kỹ năng cần thiết Môn học
P00 P01 P02 P03 P04 P05
phân phối số liệu, thông tin (vd: không tiết
lộ thông tin bệnh nhân, người trả lời, sử
dụng số liệu không đúng mục đích, …)
2 Đánh giá và cải thiện chất lượng số liệu và
thông tin y tế từ khâu thu thập, nhập liệu,
phân tích, xử lý và lưu trữ số liệu
3 Phân tích và tổng hợp số liệu/thông tin y
tế từ nhiều nguồn khác nhau
3.1 Đánh giá được tính đầy đủ của số liệu, so
sánh số liệu và xác định được sự thiếu hụt
của các nguồn dữ liệu
3.2 Tổng hợp và khai thác số liệu/thông tin từ
nhiều nguồn khác nhau để phân tích vấn đề
sức khỏe nội cộm, đưa ra quyết định và lập
4.2 Sử dụng các phương tiện truyền thông,
công nghệ hiện đại, mạng lưới cộng đồng
để truyền tải thông tin/số liệu y tế một cách
hiệu quả
4.3 Trình bày được các thông tin dân số, kết
quả thống kê, kế hoạch, thông tin khoa học
HUPH
Trang 40TT Kỹ năng cần thiết Môn học
P00 P01 P02 P03 P04 P05 cho các đối tượng khác nhau
4.4 Lập kế hoạch, hướng dẫn và đánh giá các
lớp đào tào về sử dụng công nghệ thông tin
truyền thông cho các cán bộ y tế
4.5 Xác định, đánh giá, áp dụng và sử dụng các
nguồn tài nguyên và thông tin học tập để
tiếp tục phát triển chuyên môn
4.6 Gắn kết một cách hiệu quả và phù hợp với
các bên liên quan (bao gồm các cán bộ y tế,
các tổ chức phi chính phủ, các nhà tài trợ,
các chính trị gia và các thành viên của cộng
đồng địa phương) khi giới thiệu và quản lý
công nghệ thông tin
4.7 Hỗ trợ các chương trình y tế các công tác
hành chính và tài chính thông qua áp dụng
một cách phù hợp công nghệ thông tin
truyền thông
NHÓM 2: KỸ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN HIỆU QUẢ
1 Đánh giá hệ thống thông tin y tế bao gồm
luồng dữ liệu và luồng công việc
1.1 Xác định được điểm hạn chế còn tồn tại
trong các quy trình quản lý thông tin và dữ
liệu y tế (in và điện tử) và đề xuất giải pháp
1.2 Quản lý khả năng sử dụng và thử nghiệm
thí điểm công nghệ thông tin truyền thông