ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- Điều dưỡng viên hiện đang công tác tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu Bến Tre
- Lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo phòng Điều dưỡng, Lãnh đạo khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Toàn bộ điều dưỡng hiện đang công tác tại các khoa lâm sàng của Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu và đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Điều dưỡng đang đi học tập trung, tập huấn hoặc nghỉ theo quy định (bệnh, hậu sản) trong thời gian nghiên cứu.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 04/2018 đến tháng 08/2018
- Địa điểm: Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, địa chỉ: số 109, đường Đoàn Hoàng Minh, Phường 5, Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp định lượng và định tính.
Mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng:
Toàn bộ điều dưỡng các khoa lâm sàng tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu đã được lấy mẫu và đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu Tổng số đối tượng nghiên cứu là 420 người.
2.4.2 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính:
Chọn lựa các đối tượng phỏng vấn sâu một cách có chủ đích, bao gồm những người quản lý bệnh viện, quản lý điều dưỡng và quản lý công tác kiểm soát nhiễm khuẩn tại bệnh viện.
Số lượng các cuộc phỏng vấn sâu trong nghiên cứu được thực hiện như sau: Phỏng vấn sâu 01 lãnh đạo bệnh viện
Phỏng vấn sâu 01 lãnh đạo phòng Điều dưỡng
Phỏng vấn sâu 01 lãnh đạo khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn
Dựa trên kết quả nghiên cứu định lượng, 10 điều dưỡng có điểm kiến thức chung về VGBNN thấp nhất đã được lựa chọn, với sự cân đối về độ tuổi, trình độ chuyên môn và thâm niên công tác tại bệnh viện.
Mục đích của các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm là để khám phá các yếu tố quản lý liên quan đến việc cung cấp phương tiện bảo hộ lao động cho nhân viên y tế, cũng như đào tạo, tập huấn và kiểm tra, giám sát Những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến kiến thức và thực hành phòng bệnh viêm gan B của các điều dưỡng lâm sàng.
Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu định lượng
Sử dụng bộ câu hỏi tự điền được thiết kế sẵn, phát vấn cho các điều dưỡng làm việc tại các khoa lâm sàng (phụ lục 1)
Phiếu phát vấn được xây dựng theo 3 phần:
- Thông tin chung: Gồm 12 câu (từ C1 đến C12)
- Kiến thức về bệnh và phòng bệnh VGBNN: Gồm 25 câu (từ câu C13 đến câu C37)
Thực hành phòng bệnh viêm gan B nghề nghiệp (VGBNN) bao gồm 26 câu hỏi (từ C38 đến C63) nhằm đánh giá kiến thức và thực hành của học viên Học viên sẽ dựa vào các đề tài nghiên cứu tương tự và các văn bản, quy định, quy trình liên quan đến viêm gan B của Bộ Y tế để thực hiện đánh giá này.
Phần kiến thức từ câu C13 đến C37 bao gồm các câu hỏi với số điểm tương ứng Điểm số được tính dựa trên phần trả lời của ĐTNC theo thang điểm Nếu ĐTNC trả lời đúng hơn 2/3 các ý đúng, kiến thức được xem là đạt Nội dung đánh giá bao gồm 3 phần chính.
- Kiến thức về bệnh VGB: Từ câu C13 – C21, tổng điểm: 20 điểm, điểm đạt
- Kiến thức về phòng bệnh: Từ câu C22 – C29, tổng điểm: 24 điểm, điểm đạt
- Kiến thức về xử trí sau phơi nhiễm: Từ câu C30-C37, tổng điểm: 19 điểm, điểm đạt > 13 điểm, không đạt < 13 điểm
Tổng điểm cho ba phần kiến thức về bệnh viêm gan B nghề nghiệp, phòng bệnh viêm gan B nghề nghiệp và xử trí sau phơi nhiễm là 63 điểm Điểm đạt yêu cầu là trên 44 điểm, trong khi điểm không đạt là dưới 44 điểm.
Nghiên cứu tiến hành đánh giá chung về thực hành dự phòng phơi nhiễm và xử trí khi bị TNNN
* Đánh giá dự phòng phơi nhiễm với các yếu tố nguy cơ (chung cho tất cả các ĐTNC)
Phần thực hành bao gồm các câu hỏi từ C42 đến C53, mỗi câu hỏi được gán một số điểm nhất định Điểm số này được xác định dựa trên phần trả lời của ĐTNC, theo thang điểm để tính toán và đánh giá tính chính xác của câu trả lời.
Điểm tối đa cho phần đánh giá thực hành là 12 điểm Nếu ĐTNC thực hành đúng trên 2/3 các tiêu chí, sẽ được xem là thực hành đúng, với điểm số trên 9 điểm Ngược lại, nếu không đạt yêu cầu, điểm số sẽ dưới 9 điểm.
* Đánh giá thực hành xử trí khi bị TNNN:
Phần thực hành xử trí khi bị tai nạn do vật sắc nhọn bao gồm các câu hỏi C57 và C58, mỗi câu hỏi có giá trị điểm số nhất định Điểm tối đa cho phần đánh giá thực hành là 5 điểm, trong đó thực hành đúng đạt trên 4 điểm, còn thực hành không đúng sẽ dưới 4 điểm.
Phần thực hành xử trí khi bị văng bắn, dính máu dịch bao gồm các câu hỏi C62 và C63, mỗi câu hỏi tương ứng với một số điểm nhất định Điểm tối đa cho phần đánh giá thực hành là 2 điểm, trong đó thực hành đúng sẽ nhận 2 điểm, còn nếu không đúng sẽ nhận điểm thấp hơn 2.
Đánh giá thực hành xử trí đúng khi gặp tai nạn nghề nghiệp là rất quan trọng Cần xử trí kịp thời khi bị tai nạn do vật sắc nhọn hoặc khi bị văng bắn máu, dịch Trong trường hợp xảy ra cả hai loại tai nạn này, việc áp dụng đúng quy trình xử trí sẽ giúp giảm thiểu rủi ro và bảo vệ sức khỏe người lao động.
2.5.2 Công cụ thu thập chủ đề định tính
Nghiên cứu viên xây dựng bộ câu hỏi theo chủ đề nghiên cứu gồm:
- 03 hướng dẫn phỏng vấn sâu: 01 lãnh đạo bệnh viện, 01 lãnh đạo phòng Điều dưỡng, 01 trưởng khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn (phụ lục 3)
- 01 hướng dẫn thảo luận nhóm (10 ĐD của 10 khoa lâm sàng) được chọn theo chủ đề đích (phụ lục 4)
2.5.3.Quy trình thu thập số liệu:
Thu thập số liệu định lượng:
Nhóm điều tra viên 03 người: Nghiên cứu viên chính và 02 nhân viên phòng
Kế hoạch tổng hợp cho chuyên ngành y tế công cộng và quản lý bệnh viện bao gồm việc hỗ trợ nghiên cứu viên trong việc thu thập số liệu Nghiên cứu viên và điều tra viên sẽ thảo luận để thống nhất về kỹ thuật và phương pháp thu thập dữ liệu.
Danh sách ĐD tham gia phát vấn do phòng Tổ chức Cán bộ kết hợp với các khoa báo cáo số lượng ĐD hiện có tại khoa
NCV đã thông báo kế hoạch và thời gian nghiên cứu đến các khoa lâm sàng, đồng thời giải thích rõ mục đích của nghiên cứu Sau khi nhận được sự đồng ý từ đối tượng nghiên cứu (ĐTNC), NCV và ĐTV sẽ tiến hành khảo sát kiến thức và thực hành VGBNN của ĐD tại các khoa lâm sàng, sử dụng bộ câu hỏi đã được thiết kế và hiệu chỉnh sẵn.
Sau khi kết thúc thời gian giao ban khoa, các ĐD đã tập trung tại phòng hành chính để trả lời bộ câu hỏi theo phương pháp tự điền Đối với những ĐTNC không có mặt trực tiếp hoặc bận việc, NVC đã liên hệ trực tiếp để tiến hành phỏng vấn vào thời gian phù hợp.
Trong mỗi buổi thu thập số liệu, NVC và ĐTV hướng dẫn ĐTNC cách trả lời phiếu một cách rõ ràng và giải thích các thông tin chưa hiểu Họ kiểm soát để đảm bảo ĐTNC không trao đổi câu trả lời, nhằm bảo vệ tính chính xác của nghiên cứu Sau khi ĐTNC hoàn thành việc trả lời, NVC và ĐTV sẽ kiểm tra tính đầy đủ của thông tin, và nếu phát hiện thiếu sót, họ sẽ hướng dẫn ĐTNC bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp.
Thu thập số liệu định tính:
Nghiên cứu viên liên hệ với đối tượng phỏng vấn hẹn thời gian thích hợp để phỏng vấn và tổ chức thảo luận nhóm
Nghiên cứu viên sẽ giới thiệu về bản thân, nội dung đề tài nghiên cứu và mục đích của cuộc phỏng vấn Đồng thời, họ sẽ gửi cho người tham gia nghiên cứu “Phiếu đồng ý phỏng vấn và tự nguyện tham gia nghiên cứu” cùng với bản hướng dẫn phỏng vấn sâu để người tham gia có thể nắm rõ thông tin cần thiết.
Sau khi đọc xong, người tham gia nghiên cứu sẽ ký vào phần cuối của phiếu nếu đồng ý tham gia Chỉ những người đồng ý mới được tiến hành thu thập thông tin qua phỏng vấn sâu Chúng tôi xin phép ghi âm và bắt đầu cuộc phỏng vấn.
Các biến số nghiên cứu
2.6.1 Biến số nghiên cứu định lượng
Các biến số chia làm 2 nhóm theo mục tiêu nghiên cứu sau ( phụ lục 5)
Mục tiêu 1: Mô tả kiến thức, thực hành phòng bệnh viêm gan B nghề nghiệp của điều dưỡng lâm sàng Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu năm 2018
- Nhóm biến số mô tả kiến thức:
+ Nhóm kiến thức về bệnh viêm gan B
+ Nhóm kiến thức về phòng bệnh viêm gan B nghề nghiệp
+ Nhóm kiến thức về xử trí sau phơi nhiễm
- Nhóm biến số mô tả thực hành:
+ Nhóm thực hành dự phòng phơi nhiễm
+ Nhóm thực hành xử trí khi bị tai nạn nghề nghiệp
Mục tiêu 2: Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng bệnh
VGBNN của điều dưỡng lâm sàng Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu năm 2018
- Nhóm biến số về yếu tố cá nhân của đối tượng nghiên cứu: Tuổi, giới tính, thâm niên công tác, trình độ chuyên môn
- Kiến thức với thực hành phòng bệnh VGBNN
2.6.2 Các chủ đề nghiên cứu định tính:
STT Chủ đề nghiên cứu Đối tượng
Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng bệnh viêm gan B nghề nghiệp
1 Đánh giá việc cung cấp phương tiện bảo hộ lao động cho nhân viên y tế
Lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo phòng Điều dưỡng, lãnh đạo khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn và điều dưỡng viên ở các khoa
2 Đánh giá việc tập huấn- đào tạo kiến thức về phòng bệnh viêm gan
3 Đánh giá việc kiểm tra, giám sát các hoạt động phòng phơi nhiễm
Phương pháp phân tích số liệu
Quản lý số liệu là bước quan trọng trong nghiên cứu, trong đó phiếu điều tra được kiểm tra kỹ lưỡng sau khi thu thập Sau đó, nhân viên nghiên cứu sẽ tiến hành làm sạch, mã hóa và nhập số liệu bằng phần mềm EpiData 3.1.
Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 18.0
- Phân tích số liệu: Kết quả phân tích được chia làm 2 phần:
+ Phần miêu tả những bảng, biểu thể hiện tần số của các biến nghiên cứu
Sử dụng kiểm định Khi bình phương và tỷ suất chênh (OR) để phân tích các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành phòng bệnh viêm gan B ở điều dưỡng lâm sàng.
Số liệu định tính được thu thập qua ghi chép và băng ghi âm, sau đó được gỡ băng phỏng vấn, mã hóa và phân tích theo chủ đề Nhà nghiên cứu lựa chọn các câu trích dẫn phù hợp để trả lời các câu hỏi chính trong nghiên cứu, từ đó làm rõ mục tiêu nghiên cứu.
Đạo đức nghiên cứu
Để đảm bảo tính hợp pháp và đạo đức trong nghiên cứu, quy trình xét duyệt của Hội đồng Đạo đức - Trường Đại học Y tế Công cộng cần được tuân thủ Trước khi triển khai tại bệnh viện, các nghiên cứu phải được Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học của Trường Đại học Y tế công cộng thông qua, theo Quyết định số 301/2018/YTCC-HD3 ngày 26 tháng 4 năm 2018 về việc chấp thuận các vấn đề đạo đức y sinh học.
ĐTNC đã được thông báo rõ ràng về mục đích nghiên cứu và chỉ tham gia khi có sự đồng ý Họ có quyền từ chối hoặc rút lui ở bất kỳ giai đoạn nào mà không bị phân biệt Trong nghiên cứu này, không có ĐTNC nào từ chối tham gia.
- Các thông tin thu thập được chỉ dùng cho mục đích học tập và nghiên cứu khoa học, được giữ bí mật chỉ NCV mới được phép tiếp cận
Nội dung nghiên cứu đã nhận được sự ủng hộ từ lãnh đạo bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu tỉnh Bến Tre Sau khi hoàn thiện và bảo vệ, kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày cho lãnh đạo bệnh viện dưới dạng báo cáo tóm tắt.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3 1 Nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu (nB0)
Nhóm tuổi Tần số Tỷ lệ (%)
Kết quả cho thấy đa số ĐD tham gia nghiên cứu ở ở độ tuổi trẻ, nhóm từ 20-
29 tuổi (45,9%), nhóm 30-39 tuổi (38,1%), nhóm 40-49 tuổi (10,5%) và thấp nhất là nhóm > 50 tuổi (5,5%) Tuổi trung bình là 32,5±7,8 tuổi; thấp nhất là 22 tuổi và cao nhất là 60 tuổi
Biểu đồ 3.1: Giới tính của đối tượng nghiên cứu Đối tượng tham gia nghiên cứu chủ yếu là nữ, tỷ lệ 79,5%, ĐD nam là 20,5%
Bảng 3 2 Đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu (nB0)
Nội dung Tần số Tỷ lệ (%)
Sau đại học 0 0 Đại học 78 18,6
Lấy bệnh phẩm (máu, dịch) 329 78,3
Biết về nguy cơ phơi nhiễm và mắc bệnh VGB của NVYT Đã biết 404 96,2
Lịch sử tiêm ngừa vắc xin VGB Đã tiêm ngừa đủ 281 66,9
Gần 66,2% đội ngũ y tế có trình độ chuyên môn trung học, trong khi tỷ lệ cao đẳng và đại học chỉ chiếm 33,8%, không có ai có trình độ sau đại học làm công tác lâm sàng Đội ngũ này có 34,3% thâm niên công tác dưới 5 năm, trong khi 65,7% có thâm niên từ 6 năm trở lên Thâm niên công tác dao động từ 1 đến 40 năm, với thâm niên trung bình là 10 ± 7,8 năm.
Công việc trong quá trình làm việc ảnh hưởng đến mức độ phơi nhiễm với các yếu tố gây bệnh Hơn 70% nhân viên y tế thường xuyên tiếp xúc với vật sắc nhọn, máu và dịch của bệnh nhân.
Có 99,3% ĐD đã được xét nghiệm HBsAg và có 66,9% ĐD đã tiêm đủ 3 mũi vắc xin VGB
Biểu đồ 3.2 cho thấy các nguồn thông tin về bệnh VGBNN mà ĐTNC được tiếp cận
Biểu đồ 3.2 Nguồn thông tin về bệnh VGBNN
Khoảng 73,6% đối tượng đã nhận thức được nguy cơ phơi nhiễm và mắc bệnh viêm gan B nghề nghiệp (VGBNN) thông qua các chương trình tập huấn tại bệnh viện, trong khi kiến thức từ các trường đào tạo đạt tỷ lệ từ 64,3% đến 67,1%.
Trong trường đào tạo Tập huấn trong bệnh viện
Hội thảo, tập huấn ngoài bệnh viện
Kiến thức, thực hành của điều dưỡng về phòng bệnh VGBNN
3.2.1 Kiến thức của điều dưỡng về phòng bệnh VGBNN
3.2.1.1 Kiến thức về bệnh VGBNN
Bảng 3 3 Kiến thức về bệnh VGBNN (nB0)
Kiến thức về bệnh VGBNN Tần số Tỷ lệ (%)
Buồn nôn, nôn, đau bụng 223 53,1
Mệt mỏi, đau mỏi khớp 221 52,6
Không biết 9 2,1 Đường lây truyền Đường hô hấp 8 1,9 Đường tiêu hóa 43 10,2 Đường máu 392 93,3
Qua niêm mạc và da bị trầy xước 242 57,6
Máu, bệnh phẩm nói chung 211 50,2
Máu, bệnh phẩm có vi rút VGB 379 90,2
Người bệnh mắc VGB 314 74,8 Đồng nghiệp có mắc VGB 242 57,6
Hầu hết ĐD đều trả lời vi rút là tác nhân gây bệnh VGB (97,4%)
Theo khảo sát, 71% đối tượng cho rằng vàng da là dấu hiệu của bệnh, trong khi 52% cho biết có triệu chứng như vàng mắt, buồn nôn, nôn, đau bụng, mệt mỏi và đau mỏi khớp Ngoài ra, 43,3% người tham gia cho biết nước tiểu có màu sẫm, và 2,1% không biết câu trả lời.
Theo khảo sát, 93,3% đối tượng cho rằng bệnh viêm gan B (VGB) lây truyền qua đường máu, trong khi 57,6% cho rằng virus có thể lây qua niêm mạc và da bị trầy xước Chỉ 12,1% cho biết bệnh có thể lây qua đường tiêu hóa và hô hấp Đáng chú ý, 90,2% đối tượng nhận định rằng máu và các bệnh phẩm chứa virus VGB là nguồn lây chính, và 74,8% cho biết người bệnh mắc VGB Hơn 50% cho rằng nguy cơ lây nhiễm từ máu, bệnh phẩm và đồng nghiệp mắc VGB là tương đương nhau.
Hơn 85% đối tượng điều tra cho rằng xơ gan và ung thư gan là hệ quả của bệnh viêm gan B Trong khi đó, 51,7% cho rằng viêm gan mãn tính là nguyên nhân, 30,5% cho rằng suy gan cấp tính, và 6,7% cho rằng suy thận cũng là hậu quả của bệnh viêm gan B.
Bảng 3 4 Kiến thức về nguy cơ mắc bệnh VGBNN (nB0)
Nguy cơ mắc bệnh Tần số Tỷ lệ (%)
Tổn thương do vật sắc nhọn 405 96,4
Do dính/ văng bắn máu, dịch qua da không nguyên vẹn
Do dính / văng bắn máu, dịch lên vùng da không tổn thương
Theo khảo sát, 96,4% điều dưỡng cho rằng nguy cơ mắc bệnh viêm gan B do tổn thương từ vật sắc nhọn, trong khi 87,4% cho rằng nguyên nhân là do tiếp xúc với máu hoặc dịch cơ thể qua da không nguyên vẹn Ngoài ra, có 15,8% điều dưỡng cho biết họ có thể bị phơi nhiễm khi máu hoặc dịch bắn lên vùng da không tổn thương, thường là do tiếp xúc thông thường hoặc không rõ nguyên nhân.
Biểu đồ 3.3: ĐD biết về chế độ bảo hiểm bệnh nghề nghiệp khi bị VGBNN
Gần 50% người dân hiểu rõ về chế độ bảo hiểm bệnh nghề nghiệp khi mắc bệnh VGBNN Tuy nhiên, có 17,8% người dân cho rằng họ không được bảo hiểm, trong khi 32,4% vẫn chưa biết thông tin này.
Bảng 3.5 Kiến thức của ĐD về bệnh VGBNN (nB0)
Kiến thức về bệnh VGBNN Tần số Tỷ lệ (%) Đạt 221 52,6
Như vậy, có hơn 1/2 ĐD tham gia nghiên cứu có kiến thức đạt về bệnh VGBNN (52,6%), không đạt (47,4%)
3.2.1.2 Kiến thức về phòng bệnh VGBNN
Bảng 3 6 Kiến thức về dự phòng phơi nhiễm vi rút VGB (nB0)
Biện pháp dự phòng Tần số Tỷ lệ (%)
Tiêm, truyền máu an toàn 284 67,6
Sử dụng phương tiện bảo hộ lao động 369 87,9
Không tiếp xúc với người mắc VGB
Xử lý chất thải sắc nhọn đúng quy định
4,8 79,8 Tuyên truyền giáo dục các biện pháp dự phòng 259 61,7
Hầu hết các điều dưỡng (ĐD) đều cho rằng tiêm vắc xin là biện pháp dự phòng viêm gan B (VGB) hiệu quả với tỷ lệ 94% Ngoài ra, 87,9% ĐD nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng phương tiện bảo hộ lao động, trong khi 79,8% cho rằng xử lý chất thải sắc nhọn đúng quy định là cần thiết Bên cạnh đó, 67,6% ĐD khẳng định việc tiêm truyền máu an toàn là rất quan trọng, và 61,7% ĐD cho biết họ tham gia tuyên truyền giáo dục các biện pháp dự phòng.
Bảng 3 7 Kiến thức về mục đích sử dụng phương tiện BHLĐ (nB0) Mục đích sử dụng phương tiện BHLĐ Tần số Tỷ lệ (%)
Ngăn ngừa tác nhân gây bệnh 346 82,4
Bảo vệ nhân viên y tế khi có nguy cơ lây nhiễm VGB
Bảo vệ cho NB không lây nhiễm VGB 325 77,4
Không có tác dụng gì 2 0,5
Không biết 0 0 Đa số ĐD (94%) cho rằng mục đích sử dụng phương tiện bảo BHLĐ là bảo vệ NVYT khi có nguy cơ lây nhiễm VGB
Bảng 3 8 Kiến thức về phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn (nB0) Phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn Tần số Tỷ lệ (%)
Tháo rời kim tiêm 171 40,7 Đậy nắp kim tiêm 126 30,0
Bỏ ngay cả bơm kim tiêm vào thùng 138 32,9
Không để lẫn vật sắc nhọn với chất thải khác 387 92,1
Đa số điều dưỡng (ĐD) có kiến thức về phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn, với 92,1% cho biết không để lẫn vật sắc nhọn với chất thải khác Trong số đó, 40,7% ĐD tháo rời kim tiêm, 32,9% cho biết bỏ ngay bơm kim tiêm vào thùng, và 30% đậy nắp kim tiêm sau khi sử dụng.
Bảng 3.9 Kiến thức của ĐD về phòng bệnh VGBNN (nB0)
Kiến thức về phòng bệnh viêm gan
Tần số Tỷ lệ (%) Đạt 291 69,3
Như vậy, có 69,3% ĐD có kiến thức đạt về phòng bệnh VGBNN, không đạt chiếm 30,7%
3.2.1.3 Kiến thức về xử trí sau tai nạn nghề nghiệp
Bảng 3 10 Kiến thức về xử trí tại chỗ khi bị TNNN (nB0)
Cách xử trí Tần số Tỷ lệ (%)
Khi bị tổn thương do vật sắc nhọn
1 Bóp nặn máu vùng tổn thương 9 2,1
2 Xối ngay vết thương chảy máu dưới vòi nước
3 Để vết thương chảy máu trong thời gian ngắn
4 Rửa kỹ bằng xà phòng, sát khuẩn bằng cồn 345 82,1
Bị dính/ văng, bắn máu, dịch qua vết thương hở, niêm mạc bị trầy xước
Lấy bông, gạc lau máu dịch 105 25,0
Rửa sạch ngay bằng nước 414 98,6
Khi bị tổn thương do vật sắc nhọn, 95,2% điều dưỡng cho rằng cần xối ngay vết thương dưới vòi nước chảy, sau đó rửa kỹ bằng xà phòng và sát khuẩn bằng cồn (82,1%) Tuy nhiên, vẫn có 2,1% điều dưỡng trả lời rằng nên bóp/nặn máu vùng tổn thương Quy trình xử trí khi bị tổn thương do vật sắc nhọn cần thực hiện đủ 4 bước (từ bước 2-5), nhưng chỉ có 7,1% điều dưỡng trả lời đúng theo quy trình này.
Khi bị dính hoặc văng máu, dịch qua vết thương hở hoặc niêm mạc bị trầy xước, hầu hết các điều dưỡng (ĐD) đều cho rằng cần phải rửa sạch ngay vết thương bằng nước, với tỷ lệ lên tới 98,6%.
Bảng 3 11 Kiến thức về điều trị sau phơi nhiễm với vi rút VGB (nB0)
Thời gian cần điều trị dự phòng Tần số Tỷ lệ (%)
Khi được hỏi về thời gian cần điều trị dự phòng sau khi phơi nhiễm với vi rút VGB, 60% ĐD trả lời là trong vòng 24 giờ
Bảng 3.12 Kiến thức về báo cáo sau phơi nhiễm:
Mục đích báo cáo khi bị TNNN Tần số Tỷ lệ (%)
Xác định mắc bệnh do phơi nhiễm nghề nghiệp Được điều trị
Yêu cầu của bệnh viện
Nội dung báo cáo khi bị TNNN Tần số Tỷ lệ (%)
Thời gian xảy ra tai nạn rủi ro
Thông tin chi tiết về phơi nhiễm
Thông tin về nguồn phơi nhiễm
Thông tin về người bị phơi nhiễm
Khi gặp tai nạn nghề nghiệp (TNNN), hầu hết người lao động đều nhận thức rõ rằng mục đích của việc báo cáo là để xác định bệnh tật do phơi nhiễm nghề nghiệp (93%) Đa số cũng hiểu rõ nội dung cần báo cáo sau khi xảy ra TNNN.
Bảng 3 13 Kiến thức về điều trị cho NVYT chưa tiêm vắc xin và chưa bị VGB khi bị phơi nhiễm HBV (nB0)
Biện pháp điều trị dự phòng Tần số Tỷ lệ (%)
Tiêm kháng huyết thanh và vắc xin VGB 259 61,7
Biện pháp điều trị dự phòng cho nhân viên y tế chưa tiêm vắc xin và chưa bị viêm gan B khi tiếp xúc với virus viêm gan B là rất quan trọng Theo khảo sát, 61,7% đối tượng cho rằng việc tiêm kháng huyết thanh và vắc xin viêm gan B là cần thiết.
Bảng 3 14 Kiến thức của ĐD về xử trí sau phơi nhiễm VGB (nB0) Kiến thức về xử trí sau phơi nhiễm viêm gan B Tần số Tỷ lệ (%) Đạt 314 74,7
Tỷ lệ ĐD có kiến thức đạt về xử trí sau phơi nhiễm VGB là 74,7%, không đạt chiếm tỷ lệ 25,3%
Biểu đồ 3.4 Kiến thức chung về bệnh VGBNN
Như vậy, trong 420 ĐD tham gia nghiên cứu, tỷ lệ ĐD có kiến thức chung đạt về bệnh VGBNN là 63,5%, không đạt là 36,5%
3.2.2 Thực hành của điều dưỡng trong phòng bệnh viêm gan B nghề nghiệp
3.2.2.1 Thực hành phòng bệnh viêm gan B nghề nghiệp
Bảng 3 15 Thực hành trong sử dụng phương tiện bảo hộ lao động và vệ sinh tay (nB0)
Sử dụng phương tiện bảo hộ lao động
Sử dụng găng khi có nguy cơ tiếp xúc với máu, dịch
Vệ sinh tay trước và sau khi tiếp xúc với mỗi người bệnh
Vệ sinh tay trước, sau khi đi găng và tháo găng
Hơn 2/3 đội ngũ y tế thường xuyên sử dụng phương tiện bảo hộ lao động, trong khi 24,8% thỉnh thoảng hoặc không bao giờ sử dụng Cụ thể, 90,9% nhân viên thường xuyên đeo găng tay khi có nguy cơ tiếp xúc với máu và dịch của bệnh nhân Vệ sinh tay trước và sau khi tiếp xúc với mỗi bệnh nhân được thực hiện thường xuyên bởi 87,4% nhân viên Ngoài ra, 93,6% nhân viên vệ sinh tay trước, sau khi đi găng và tháo găng, trong khi 6,4% thực hiện thỉnh thoảng.
Bảng 3 16 Thực hành quy trình tiêm an toàn (nB0)
Không mang theo khay hay xe tiêm khi đi tiêm truyền, rút truyền, lấy máu
127 30,2 63 15,0 230 54,8 Đậy nắp kim tiêm sau khi sử dụng 162 38,6 49 11,6 209 49,8
Tháo rời kim tiêm khỏi bơm tiêm sau khi sử dụng
Bỏ ngay kim tiêm, vật sắc nhọn vào thùng kháng thủng
Để đảm bảo an toàn trong thực hành tiêm, nhân viên y tế cần luôn mang theo khay tiêm hoặc xe tiêm khi thực hiện các thủ tục như tiêm truyền, rút truyền và lấy máu Quan trọng là không bao giờ đậy nắp kim tiêm sau khi sử dụng Theo thống kê, hơn 70% nhân viên y tế thường tháo rời kim tiêm khỏi bơm tiêm sau khi sử dụng Hầu hết nhân viên y tế thực hiện tốt việc bỏ ngay kim tiêm và vật sắc nhọn vào thùng kháng thủng, đạt tỷ lệ 96,6%.
Bảng 3 17.Thực hành quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện (nB0)
Khử khuẩn sơ bộ dụng cụ sau khi sử dụng
Xử lý ngay khi có vết máu, dịch trên xe tiêm, dụng cụ
Yêu cầu nhân viên vệ sinh xử lý khi thấy máu, dịch trên sàn nhà
Khoảng 90% điều dưỡng thường xuyên thực hiện khử khuẩn sơ bộ dụng cụ sau khi sử dụng Hầu hết điều dưỡng (97,2%) xử lý ngay khi phát hiện vết máu hoặc dịch trên xe tiêm và dụng cụ Đặc biệt, 96,9% điều dưỡng thường xuyên yêu cầu nhân viên vệ sinh xử lý ngay khi thấy máu hoặc dịch trên sàn nhà.
Bảng 3.18 Thực hành phòng bệnh viêm gan B nghề nghiệp (nB0)
Thực hành phòng bệnh VGBNN
Tần số Tỷ lệ (%) Đúng 376 89,5
Kết quả đánh giá cho thấy đa số điều dưỡng (ĐD) thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừa bệnh viêm gan B nghề nghiệp (VGBNN) trong quá trình làm việc, với tỷ lệ đạt 89,5% Tuy nhiên, vẫn còn 10,5% ĐD chưa thực hành đúng các biện pháp này.
3.2.2.2 Thực hành xử trí khi bị tai nạn nghề nghiệp:
Bảng 3 19 ĐD bị tổn thương do vật sắc nhọn 6 tháng gần đây (nB0)
Tổn thương do vật sắc nhọn 28 6,7 392 93,3
Do dính/ văng bắn máu, dịch 53 12,6 367 87,4
Trong 6 tháng trước thời điểm nghiên cứu, ĐD bị tổn thương do vật sắc nhọn là 28 người (6,7%), do dính/văng bắn máu, dịch của NB là 53 người (12,6%)
Bảng 3.20.Thực hành xử trí tai nạn nghề nghiệp do vật sắc nhọn (n()
Nội dung Tần số Tỷ lệ (%)
Xử trí khi bị tai nạn nghề nghiệp do vật sắc nhọn
1.Bóp/ nặn máu vùng tổn thương 1 0,4
2.Xối ngay vết thương dưới vòi nước chảy 24 85,7 3.Để vết thương chảy máu trong thời gian ngắn 6 21,4
4 Rửa kỹ bằng nước - sát khuẩn 21 75,0
Ngay sau khi bị tai nạn do vật sắc nhọn 28 100 Thực hành xử trí sau tai nạn nghề nghiệp do vật sắc nhọn Đúng 7 25
BÀN LUẬN
Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Trong quá trình điều tra, có 420 đối tượng tham gia nghiên cứu tại bệnh viện, đạt tỷ lệ 100% Đối tượng nữ chiếm 79,5%, tương tự như các bệnh viện khác Tuổi trung bình của đối tượng là 32,5 tuổi với độ lệch chuẩn 7,8; tuổi nhỏ nhất là 22 và lớn nhất là 60 Nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là từ 20-29 tuổi, với 45,9%, thấp hơn so với nghiên cứu của Trần Thị Bích Hải (63,9%) nhưng cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thúy Quỳnh ở một số bệnh viện phía Bắc (6,5%).
[24], tác giả Nguyễn Thị Điểm ở Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang (20,9%)
Ngành y tế Bến Tre, đặc biệt là Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, đã thực hiện nhiều chính sách thu hút nguồn lực, đặc biệt là các y bác sĩ và điều dưỡng trẻ có tâm huyết Hiện có 65,7% điều dưỡng có thâm niên làm việc từ 6 năm trở lên, với thâm niên công tác trung bình khoảng 10 năm.
Trong suốt 40 năm qua, gần 66,2% đội ngũ điều dưỡng (ĐD) có trình độ chuyên môn là trung học, trong khi tỷ lệ cao đẳng và đại học chỉ chiếm 33,8% Hiện nay, các điều dưỡng viên trung học đang tham gia các khóa nâng cấp trình độ nhằm đáp ứng các quy định chuẩn hóa nguồn nhân lực.
Hầu hết điều dưỡng (ĐD) đều nhận thức được nguy cơ phơi nhiễm và mắc bệnh viêm gan B (VGB) trong quá trình làm việc, với tỷ lệ lên tới 96,2% Tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, các ĐD đã được trang bị kiến thức về bệnh VGB thông qua các buổi tập huấn được tổ chức trung bình 1-2 lần mỗi năm, trong đó nội dung về bệnh VGB được lồng ghép vào các chủ đề khác.
Việc xét nghiệm HBsAg và tiêm ngừa vắc xin VGB là rất quan trọng trong môi trường bệnh viện, đóng vai trò then chốt trong việc phòng ngừa VGBNN Việc tiêm ngừa không đầy đủ có thể làm tăng nguy cơ lây nhiễm HBV cho nhân viên y tế Chủng ngừa VGB là biện pháp hiệu quả nhất để bảo vệ nhân viên y tế khỏi virus này Tất cả nhân viên y tế có nguy cơ cao tiếp xúc với máu hoặc dịch tiết cần phải được tiêm ngừa Theo thống kê, 99,3% điều dưỡng đã được xét nghiệm HBsAg và gần 70% đã hoàn thành đủ 3 mũi vắc xin VGB, cao hơn so với nghiên cứu của Aluko O.O tại Nigeria, nơi chỉ có 64,2% nhân viên y tế hoàn thành việc tiêm.
HUPH ngừa VGB đầy đủ [37], cao hơn nghiên cứu tại Ghana, chỉ có 44,4% ĐD được tiêm phòng HBV đầy đủ [46].
Kiến thức, thực hành phòng bệnh VGBNN của điều dưỡng lâm sàng Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu Bến Tre
4.2.1.Kiến thức của điều dưỡng về bệnh và phòng bệnh VGBNN
* Kiến thức về bệnh VGBNN
Kết quả nghiên cứu cho thấy, 97,4% ĐTNC trả lời đúng về tác nhân gây bệnh VGB, tương tự như nghiên cứu của Nguyễn Thúy Quỳnh (93%) và Trần Thị Bích Hải (94,7%) Đáng chú ý, chỉ có 2,6% ĐD trả lời sai, thấp hơn so với tỷ lệ 5,3% trong nghiên cứu của Trần Thị Bích Hải.
Biểu hiện của bệnh VGB được phần lớn điều dưỡng (ĐD) nhận định đúng, nhưng tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của tác giả Trần Thị Bích Hải Đáng chú ý, vẫn còn 2,1% ĐD không biết về các biểu hiện của bệnh VGB.
Khi được hỏi về đường lây truyền virus viêm gan B (VGB), 93,3% đối tượng điều tra cho biết đúng là lây truyền qua đường máu Tuy nhiên, tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Điểm (100%) và Trần Thị Bích Hải (99,2%).
Tại bốn bệnh viện công ở Wad Medani, Sudan, tỷ lệ nhân viên y tế (NVYT) nhận thức về việc virus viêm gan B (VGB) truyền qua đường máu đạt 95%, cao hơn so với nghiên cứu của Rosanggela Gaze và cộng sự tại Brazil năm 2006, chỉ có 57,5% NVYT cho rằng VGB có thể lây qua đường máu.
Chỉ có 10,2% đối tượng được khảo sát cho rằng virus viêm gan B (VGB) lây truyền qua đường tiêu hóa, trong khi 1,9% cho rằng lây qua đường hô hấp Tại Bệnh viện Ung bướu Hà Nội, 51,5% người tham gia khảo sát cũng cho rằng VGB lây qua đường tiêu hóa, và 14% qua đường hô hấp Mặc dù phần lớn người dân nhận thức được nguồn lây chính, nhưng nguy cơ mắc bệnh VGB qua da và niêm mạc bị trầy xước vẫn tồn tại Chỉ có 57,6% người được hỏi biết rằng bệnh VGB có thể lây qua máu và dịch nhiễm HBV qua niêm mạc và da bị tổn thương Do đó, cần tăng cường tuyên truyền và tập huấn cho người dân về các biện pháp phòng ngừa, như sử dụng phương tiện bảo hộ lao động khi có vùng da hoặc niêm mạc bị trầy xước.
HUPH có nguy cơ tiếp xúc với máu và dịch của người bệnh, với tỷ lệ cao hơn so với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thúy Quỳnh (48,3%) và tác giả Trần Thị Bích Hải (40%).
Nguồn lây truyền của bệnh viêm gan B (VGB) chủ yếu là qua máu, với 90,2% bệnh phẩm chứa virus HBV, thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Điểm (100%) và Bakry SH tại Sudan (95%) Hầu hết điều dưỡng (ĐD) đều nhận thức rằng VGB có thể dẫn đến xơ gan và ung thư gan (> 85%), tương tự như nghiên cứu của Trần Thị Bích Hải Tuy nhiên, chỉ 30,5% ĐD biết rằng viêm gan cấp tính là hậu quả sớm nhất sau khi nhiễm HBV, trong khi 6,7% ĐD có quan niệm sai lầm rằng VGB gây suy thận, so với 4,5% trong nghiên cứu của Trần Thị Bích Hải Do đó, điều dưỡng cần cập nhật kiến thức về VGB và những hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra.
Nguy cơ mắc bệnh viêm gan B (VGB) chủ yếu do tổn thương từ vật sắc nhọn hoặc tiếp xúc với máu, dịch của người bệnh Nghiên cứu cho thấy hơn 87% điều dưỡng (ĐD) nhận thức được nguy cơ này, tuy nhiên, con số này thấp hơn so với nghiên cứu của Trần Thị Bích Hải (>90%) Đáng chú ý, 15,3% ĐD có hiểu biết sai lầm về việc tiếp xúc thông thường với máu, dịch của người mắc VGB Mặc dù Bộ Y tế đã công nhận VGB là bệnh nghề nghiệp được hưởng bảo hiểm từ lâu, chỉ có 49,8% ĐD biết đến chế độ này, cao hơn so với nghiên cứu tại Bệnh viện Ung bướu (36%) Thông tư 15/2016/TT-BYT đã quy định rõ ràng về việc hưởng chế độ bảo hiểm xã hội cho bệnh nhân VGB Để được hưởng quyền lợi này, nhân viên y tế cần tuân thủ quy trình xử trí khi bị tai nạn nghề nghiệp và báo cáo kịp thời với lãnh đạo khoa, bệnh viện để có biện pháp điều trị dự phòng và lập biên bản làm căn cứ cho chế độ bảo hiểm Đây là nội dung quan trọng trong việc tuyên truyền quyền lợi của nhân viên y tế khi gặp phải tai nạn nghề nghiệp liên quan đến VGB.
* Kiến thức về phòng bệnh VGBNN
Kiến thức về phòng ngừa viêm gan B nhiễm nghề nghiệp (VGBNN) là rất quan trọng đối với đội ngũ y tế Để thực hành an toàn, đội ngũ cần có kiến thức vững về phòng ngừa VGB trong công việc hàng ngày Nghiên cứu cho thấy 94% đội ngũ y tế nhận thức rằng tiêm vắc xin là biện pháp dự phòng hiệu quả, cao hơn so với 60,6% trong nghiên cứu của Trần Thị Bích Hải Gần 70% đội ngũ đã tiêm đủ các mũi vắc xin VGB, trong khi một số còn lại chưa tiêm hoặc tiêm không đủ liều Việc tiêm vắc xin là bước đầu tiên trong thực hành phòng ngừa VGB hiệu quả Để phòng ngừa VGBNN, 87,9% đội ngũ cho rằng cần sử dụng phương tiện bảo hộ lao động, 79,8% nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xử lý chất thải đúng quy định, và 67,6% cho rằng tiêm truyền máu an toàn là cần thiết Tuy nhiên, vẫn còn 5% đội ngũ có nhận thức sai lệch Đội ngũ y tế cần xem tất cả máu và dịch của bệnh nhân là nguy cơ lây nhiễm HBV để bảo vệ bản thân, đồng nghiệp và bệnh nhân.
Việc sử dụng phương tiện bảo hộ lao động (BHLĐ) là rất quan trọng cho nhân viên y tế (NVYT) trong quá trình làm việc Hầu hết điều dưỡng (ĐD) đều nhận thức rằng BHLĐ bảo vệ NVYT (94%), tương tự như nghiên cứu của Trần Thi Bích Hải (97%) Ngoài ra, 82,4% ĐD cho rằng BHLĐ có tác dụng ngăn ngừa tác nhân gây bệnh và bảo vệ bệnh nhân (NB) (77,4%) Nhận thức của ĐD hiện nay đã được nâng cao, cho thấy việc sử dụng BHLĐ không chỉ bảo vệ NVYT mà còn nhằm ngăn ngừa lây nhiễm bệnh cho NB Chỉ có 0,5% ĐD cho rằng BHLĐ không có tác dụng Hầu hết ĐD đều có kiến thức tốt về việc sử dụng BHLĐ, cho thấy NVYT đã được trang bị đầy đủ các phương tiện phòng hộ cần thiết cho từng vị trí công việc và khi thực hiện các thủ thuật có nguy cơ văng/bắn máu dịch.
Bệnh viện đã tổ chức tập huấn chi tiết về việc sử dụng BHLĐ, giúp đội ngũ điều dưỡng (ĐD) nắm vững kiến thức Kết quả cho thấy, 92,1% ĐD biết cách phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn và giảm nguy cơ mắc bệnh viêm gan B (VGB) bằng cách không để lẫn vật sắc nhọn với chất thải khác, tỷ lệ này cao gần gấp đôi so với nghiên cứu của Trần Thị Bích Hải (48,5%).
Theo quy định của Bộ Y tế, kỹ thuật tiêm an toàn yêu cầu không tháo rời hay đậy nắp kim tiêm để tránh tai nạn cho người dùng Tuy nhiên, có đến 30 – 40% điều dưỡng (ĐD) chọn đáp án sai, kết quả này tương tự với nghiên cứu của Trần Thị Bích Hải (38,6%) Điều này cho thấy kiến thức của ĐD về việc sử dụng bơm kim tiêm còn hạn chế và chưa đồng đều Do đó, cần tăng cường các chương trình tập huấn, đặc biệt là về kiến thức tiêm an toàn.
* Kiến thức xử trí tại chổ sau phơi nhiễm:
Kiến thức về xử trí khi bị tiếp xúc với nguy cơ nhiễm nhiễm (TNNN) là rất quan trọng, giúp giảm nguy cơ phơi nhiễm trong quá trình làm việc Nghiên cứu cho thấy 95,2% điều dưỡng (ĐD) biết xối ngay vết thương dưới vòi nước chảy, và 82,1% rửa kỹ bằng xà phòng hoặc sát khuẩn Tuy nhiên, 2,1% ĐD vẫn trả lời sai bằng cách bóp, nặn máu vùng tổn thương sau khi phơi nhiễm với HBV, thấp hơn so với nghiên cứu của Trần Thị Bích Hải (8,3%) Để phòng ngừa lây nhiễm hiệu quả, nhân viên y tế (NVYT) cần thực hiện đúng quy trình dự phòng, nhưng chỉ có 7,1% ĐD thực hiện đúng 4 bước theo quy trình xử trí tại chỗ sau phơi nhiễm Do đó, bệnh viện cần cập nhật nội dung này cho ĐD trong chương trình tập huấn chuyên môn định kỳ.
Sau khi thực hiện các xử trí ban đầu, điều dưỡng (ĐD) cần thông báo cho lãnh đạo khoa về trường hợp tai nạn nghề nghiệp (TNNN) Khoa sẽ lập biên bản theo mẫu và gửi hồ sơ phơi nhiễm đến bệnh viện để theo dõi Đây là cơ sở quan trọng để giải quyết chế độ bảo hiểm cho ĐD Trong nghiên cứu, có 94,8% ĐD báo cáo cho lãnh đạo khoa và 75,5% lập biên bản, kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Trần Thị Bích Hải (gần 100%) nhưng cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thúy Quỳnh (60,6%).
Lãnh đạo khoa có trách nhiệm quản lý trực tiếp đội ngũ điều dưỡng, do đó việc báo cáo ngay khi xảy ra sự cố là rất quan trọng Họ sẽ hướng dẫn nhân viên y tế thực hiện đúng các bước trong việc phòng ngừa phơi nhiễm virus viêm gan B (VGB).
Theo quy định và hướng dẫn điều trị dự phòng khi bị phơi nhiễm với máu dịch
Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng bệnh VGBNN
4.3.1.Một số yếu tố liên quan đến kiến thức phòng bệnh VGBNN
Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng kiến thức và thực hành của điều dưỡng các khoa lâm sàng về phòng bệnh viêm gan B nhiễm virus (VGBNN) và tìm hiểu các yếu tố liên quan Kết quả phân tích đơn biến cho thấy không có mối liên hệ thống kê có ý nghĩa giữa nhóm tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn và thâm niên công tác của điều dưỡng với kiến thức phòng bệnh VGBNN (p>0,05).
4.3.2 Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh VGBNN
* Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân và thực hành phòng bệnh VGBNN
Khi phân tích đơn biến, không tìm thấy mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân của ĐD với thực hành phòng bệnh VGBNN có ý nghĩa thống kê (p>0,05)
* Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành phòng bệnh VGBNN:
Nghiên cứu chỉ ra mối liên hệ giữa kiến thức về bệnh và thực hành phòng bệnh viêm gan B (VGBNN) của điều dưỡng (ĐD) Kết quả cho thấy có sự khác biệt rõ rệt giữa kiến thức và thực hành phòng bệnh VGBNN Cụ thể, nhóm có kiến thức không đạt thực hành phòng bệnh không đúng gấp 2,3 lần so với nhóm có kiến thức đạt Sự khác biệt này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao kiến thức để cải thiện thực hành phòng bệnh.
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức và thực hành phòng bệnh viêm gan B (VGBNN) với p=0,007 Nhóm có kiến thức không đạt thực hành phòng bệnh VGBNN không đúng gấp 4,3 lần so với nhóm có kiến thức đạt (p=0,0001) Điều này cho thấy rằng, những điều dưỡng có kiến thức vững về bệnh VGB, hiểu rõ mối nguy hiểm, cơ chế lây truyền và các biểu hiện của bệnh sẽ thực hiện các biện pháp phòng ngừa tốt hơn, từ đó hạn chế phơi nhiễm với bệnh so với những người thiếu kiến thức.
* Các yếu tố quản lý ảnh hưởng đến thực hành phòng bệnh VGBNN
Phương tiện bảo hộ lao động
Theo Quyết định 3671/QĐ-BYT của Bộ Y tế, phương tiện phòng hộ cá nhân được sử dụng để bảo vệ nhân viên y tế, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và người thăm bệnh khỏi nguy cơ lây nhiễm, đồng thời hạn chế phát tán mầm bệnh ra môi trường Việc sử dụng phương tiện bảo hộ lao động (BHLĐ) cần phải phù hợp với mục đích sử dụng, đặc biệt khi có khả năng tiếp xúc với máu và dịch tiết Tuy nhiên, một số khoa tại bệnh viện cho rằng việc cung cấp khẩu trang, găng tay và dung dịch rửa tay nhanh là chưa đủ, ảnh hưởng đến quy trình chuyên môn và các quy định phòng ngừa chuẩn Kiểm tra cho thấy các khoa này chưa sử dụng đúng cách phương tiện BHLĐ, dẫn đến tình trạng thiếu hụt Do đó, việc đào tạo và tập huấn là cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng phương tiện BHLĐ.
Việc tổ chức tập huấn chuyên môn cho đội ngũ điều dưỡng trong bệnh viện là cần thiết để đảm bảo họ có đủ kiến thức thực hành đúng Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay Tuy nhiên, hiện tại bệnh viện chỉ mới cung cấp kiến thức chung về kiểm soát nhiễm khuẩn mà chưa có chương trình tập huấn cụ thể về phòng ngừa các bệnh truyền nhiễm, bao gồm bệnh viêm gan B.
Nghiên cứu chỉ ra rằng có mối liên hệ thống kê quan trọng giữa kiến thức về bệnh VGB, biện pháp phòng ngừa bệnh VGB và thực hành phòng bệnh VGBNN (p< 0,05) Phần lớn các đối tượng điều tra đều thể hiện sự hiểu biết về vấn đề này.
HUPH đều được đào tạo, tập huấn về chuyên môn, quy trình kỹ thuật nhưng kiến thức về bệnh VGB, phòng bệnh VGBNN thì chưa được tập huấn
Việc kiểm tra giám sát quy trình chuyên môn và phòng ngừa chuẩn hàng tháng theo quy định của Bộ Y tế là cần thiết để nâng cao hiệu quả phòng bệnh cho đội ngũ điều dưỡng Công tác này được thực hiện định kỳ và có thể đột xuất, nhưng hiện tại vẫn chưa đạt hiệu quả như mong muốn Do đó, cần thay đổi hình thức kiểm tra, giám sát để linh hoạt hơn, đặc biệt trong việc thực hiện phòng ngừa chuẩn và phòng chống các bệnh lây nhiễm, bao gồm bệnh viêm gan B.
Hạn chế của nghiên cứu
Do nguồn lực và thời gian hạn chế, nghiên cứu chỉ tập trung vào việc đánh giá kiến thức và thực hành của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng, mà chưa mở rộng ra toàn bộ nhân viên y tế trong bệnh viện Vì vậy, kết quả nghiên cứu chỉ có thể áp dụng cho nhóm nhân viên này trong việc lập kế hoạch phòng bệnh viêm gan B nhiễm.
Việc thu thập thông tin qua bộ câu hỏi dài có thể dẫn đến sai số do người tham gia không hiểu rõ câu hỏi hoặc từ chối tham gia Để giảm thiểu tình huống này, NCV sẽ trực tiếp tập huấn và hướng dẫn điều tra viên cách xử lý, nhằm đảm bảo thu thập thông tin chính xác Đồng thời, NCV cũng sẽ giải thích rõ mục đích và tầm quan trọng của việc tham gia cũng như trả lời chính xác các câu hỏi.
Nghiên cứu này chỉ cung cấp một cái nhìn tổng quan về cơ sở vật chất và giám sát thực hành phòng ngừa VGBNN, mà chưa đi sâu vào phần định tính Việc thu thập thông tin về kiến thức và thực hành phòng bệnh VGBNN chủ yếu dựa vào bộ câu hỏi tự điền, mà không có quan sát trực tiếp từ các điều dưỡng Hơn nữa, nghiên cứu chỉ đánh giá thực hành thông qua việc xử trí sau tai nạn nghề nghiệp chung, không tập trung vào yếu tố phơi nhiễm VGB, dẫn đến kết quả đánh giá thực hành không khách quan Do đó, nếu có điều kiện, nghiên cứu tiếp theo nên bao gồm quan sát hành vi thực hành của điều dưỡng để có cái nhìn chính xác hơn.
HUPH đóng vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa phơi nhiễm VGBNN, đồng thời cần tìm hiểu các yếu tố quản lý ảnh hưởng đến công tác này để có được kết quả đánh giá toàn diện hơn.
Ý nghĩa của nghiên cứu
Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân viên y tế tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu đang được chú trọng hơn bao giờ hết Đây là một lĩnh vực nghiên cứu mới mẻ tại bệnh viện, với hy vọng rằng kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin phản hồi quý giá về kiến thức và thực hành trong việc phòng bệnh viêm gan B nhiễm nghề nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và điều trị.
NB để bệnh viện có kế hoạch đào tạo, tập huấn và có những biện pháp phòng ngừa bệnh VGBNN hữu hiệu cho NVYT.