ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng: BN khám bệnh tại khoa Khám bệnh và người nhà BN (BN dưới 15 tuổi), trong giờ hành chính (sáng 7 giờ 30 đến 11 giờ, chiều 13 giờ đến
17 giờ), từ tháng 04/2019 đến tháng 08/2019
Lãnh đạo bệnh viện và trưởng khoa đóng vai trò quan trọng trong quản lý chất lượng bệnh viện Điều dưỡng và nhân viên tại các khâu như hướng dẫn, tiếp đón bệnh nhân, các bàn khám, xét nghiệm, thu viện phí và cấp phát thuốc đều góp phần vào quy trình chăm sóc sức khỏe hiệu quả.
Bệnh nhân có BHYT và không có BHYT
BN nặng cần phải cấp cứu: không đi lại được, khó thở, rối loạn ý thức
BN thuộc đối tượng ưu tiên: Trẻ em ≤ 6 tuổi, người già > 75 tuổi, người tàn tật
BN bỏ lượt khám hoặc từ chối tham gia nghiên cứu.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: Từ tháng 04/2019 đến tháng 8/2019 Địa điểm: Khoa Khám bệnh, BVĐK Quận Thốt Nốt, Cần Thơ.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang kết hợp nghiên cứu định tính.
Cỡ mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng
- Cỡ mẫu: Vì đối tượng nghiên cứu là BN đến khám bệnh tại khoa Khám bệnh,
BVĐK quận Thốt Nốt không có phân bố chuẩn, vì vậy không áp dụng công thức tỷ lệ mẫu hay trung bình mẫu để tính cỡ mẫu Cỡ mẫu đại diện được chọn là n = 100, bao gồm 50 bệnh nhân đến khám vào buổi sáng và 50 bệnh nhân đến khám vào buổi chiều Mẫu được phân bố đều giữa các ngày trong tuần từ thứ 2 đến thứ 6.
2.4.2 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính
Phỏng vấn sâu 13 cuộc gồm: 1 Lãnh đạo BV, 1 trưởng khoa XN, 1 lãnh đạo khoa Khám bệnh, 1 lãnh đạo khoa Dược, 5 NV tham gia QTKB ở các khâu như tiếp đón,
HUPH khám bệnh, thu phí, XN, phát thuốc) tại BVĐK quận Thốt Nốt, 2 cuộc với BN có BHYT và 2 cuộc với BN không có BHYT.
Phương pháp chọn mẫu
2.5.1 Chọn mẫu cho nghiên cứu định lượng
Chọn mẫu có chủ đích là quy trình quan trọng trong nghiên cứu, nơi cộng tác viên tiếp cận bệnh nhân (BN) đang chờ lấy số thứ tự Họ giải thích mục đích và yêu cầu của nghiên cứu để BN hợp tác; nếu BN không đồng ý, cộng tác viên sẽ chọn BN khác Khi BN đồng ý, cộng tác viên ghi lại thông tin cá nhân của BN vào phiếu điều tra và thời điểm BN đến nơi tiếp đón Sau đó, họ theo dõi thời gian chờ và thời gian khám trong từng khâu của quy trình khám bệnh (QTKB) cho đến khi BN ra về Mỗi ngày, mỗi cộng tác viên thu thập thông tin từ 1 BN vào buổi sáng và 1 BN vào buổi chiều, với tổng cộng 6 BN được thu thập bởi 3 cộng tác viên trong một ngày.
Thời gian thu thập số liệu kéo dài 1 tháng, với việc phân bố đều các ngày từ thứ hai đến thứ sáu, nhằm đạt được cỡ mẫu 100 bệnh nhân Sau mỗi ngày, nghiên cứu viên kiểm tra lại phiếu thu thập, loại bỏ những phiếu không hợp lệ và đảm bảo rằng các phiếu phải có bệnh nhân khám lâm sàng đơn thuần, khám lâm sàng có làm thêm 01, 02 hoặc 03 cận lâm sàng Cuối cùng, chúng tôi đã thu thập được 137 bệnh nhân cho mẫu nghiên cứu.
Cộng tác viên là điều dưỡng tại khoa Khám bệnh và tổ nhận bệnh, do đó khi một cộng tác viên bận trực nhận bệnh, chỉ còn lại 2 cộng tác viên thu thập số liệu Hệ quả là có những ngày chúng tôi chỉ thu thập được 4 bệnh nhân cho mẫu nghiên cứu Thực tế, một số bệnh nhân được chọn vào mẫu nghiên cứu có chỉ định làm từ 2.
XN CLS từ mức độ trở lên, thời gian khám bệnh kéo dài đến cuối buổi chiều, khiến cộng tác viên không kịp trở lại để tiếp cận và chọn bệnh nhân tiếp theo cho mẫu nghiên cứu.
BN thường không đến khám bệnh vì sợ trễ giờ, không được khám bệnh trong ngày
Trung bình, mỗi ngày chúng tôi chỉ có thể chọn từ 3 đến 5 bệnh nhân cho mẫu nghiên cứu, dẫn đến việc thu thập số liệu kéo dài hơn 1 tháng.
2.5.2 Chọn mẫu cho nghiên cứu định tính
Chọn mẫu có chủ đích
Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phương pháp phỏng vấn sâu, với các đối tượng đại diện cho các khoa trong QTKB, bao gồm bệnh nhân có bảo hiểm y tế (BHYT) và không có BHYT, tất cả đều đồng ý tham gia nghiên cứu.
Sau khi phân tích số liệu cho nghiên cứu định lượng, làm cơ sở cho việc chọn chủ đề nghiên cứu định tính
Bài viết này tóm tắt kết quả phỏng vấn sâu 13 cuộc tại Bệnh viện Đa khoa quận Thốt Nốt, bao gồm 1 lãnh đạo bệnh viện, 1 trưởng khoa Xét nghiệm, 1 lãnh đạo khoa Khám bệnh, 1 lãnh đạo khoa Dược, và 5 nhân viên tham gia quản trị kinh doanh ở các khâu như tiếp đón, khám bệnh, thu phí, xét nghiệm, và phát thuốc Ngoài ra, còn có 2 cuộc phỏng vấn với bệnh nhân có bảo hiểm y tế và 2 cuộc với bệnh nhân không có bảo hiểm y tế.
Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập số liệu cho nghiên cứu định lượng là bước đầu tiên, sau đó phân tích kết quả để rút ra những thông tin quan trọng Kết quả từ nghiên cứu định lượng sẽ là cơ sở vững chắc cho việc phát triển chủ đề nghiên cứu định tính.
Cộng tác viên sẽ gặp bệnh nhân (BN) để giải thích về nghiên cứu, sau đó tiến hành phỏng vấn để ghi thông tin cá nhân vào phiếu điều tra Họ sẽ ghi nhận thời gian chờ khám và thời gian khám của BN Cách chọn mẫu được thực hiện bằng cách tiếp cận BN khi họ đang chờ lấy số tự động, ghi lại thời điểm BN đến và theo dõi toàn bộ thời gian di chuyển, chờ đợi và khám Cộng tác viên sẽ ghi lại thời điểm BN ra về hoặc nhập viện Mỗi cộng tác viên sẽ thu thập đủ 2 BN trong một ngày, bao gồm 1 BN vào buổi sáng và 1 BN vào buổi chiều Tuy nhiên, có trường hợp BN đăng ký khám vào buổi sáng nhưng đến chiều mới nhận được kết quả, dẫn đến việc chỉ thu thập được 1 BN/ngày cho mẫu nghiên cứu.
Dựa vào bảng theo dõi – Quan sát và tính thời gian BN đến khám
Công cụ: Phiếu theo dõi, đồng hồ điện tử
Quy trình đo thời gian chờ:
+ Thời gian BN chờ từ khi bắt đầu ngồi chờ lấy số thứ tự, làm thủ tục đăng ký khám cho tới khi được BS khám: T1
+ Thời gian BN chờ tại nơi thu tiền (tính từ lúc được khám xong đến khi nộp được tiền để làm XN CLS): T2
+ Thời gian BN chờ lấy mẫu XN CLS (nếu có): T3
Thời gian bệnh nhân chờ đợi từ khi có kết quả cho đến khi bác sĩ đọc kết quả là T4 Ngoài ra, thời gian bệnh nhân chờ tại nơi thu tiền đồng chi trả với bảo hiểm y tế (nếu có) là T5.
+ Thời gian chờ nhận thuốc: T6
+ Thời gian chờ được DS tư vấn sử dụng thuốc: T7
Tổng thời gian chờ khám = T1 + T2 + T3 + T4 + T5 + T6 + T7
Bước 1: Cộng tác viên sẽ đến nơi bệnh nhân (BN) chờ lấy số thứ tự, giải thích về nghiên cứu và ghi lại thời gian BN nhận số thứ tự Sau đó, điều tra viên sẽ đồng hành cùng BN, ghi lại thời gian chờ đợi và thực hiện khám theo phiếu điều tra cho đến khi BN được bác sĩ tư vấn về việc sử dụng thuốc hoặc trường hợp bệnh nặng cần nhập viện.
Cộng tác viên ghi lại thời gian chờ, bắt đầu và kết thúc quy trình lấy số khám chuyên khoa và nộp tiền khám vào phiếu thu thập thông tin của bệnh nhân.
Bước 3: Cộng tác viên ghi lại thời gian chờ, thời gian bắt đầu và kết thúc của việc bác sĩ khám bệnh, chỉ định cận lâm sàng (XN, CĐHA, nội soi), kê toa thuốc hoặc đưa bệnh nhân vào điều trị nội trú.
Bước 4: Nếu có chỉ định CLS, cộng tác viên ghi vào phiếu thu thập thời gian chờ, bắt đầu và kết thúc việc nộp tiền làm CLS
Bước 5: Nếu thực hiện xét nghiệm, cộng tác viên cần ghi lại thời gian chờ, thời gian bắt đầu và kết thúc lấy mẫu xét nghiệm, cũng như thời gian trả kết quả.
Bước 6: Nếu thực hiện XQ hoặc SA, cộng tác viên cần ghi lại thời gian chờ, thời gian bắt đầu và kết thúc của quá trình làm XQ hoặc SA, cũng như thời gian nhận kết quả.
Bước 7: Trong trường hợp có thực hiện nội soi, cộng tác viên cần ghi lại thời gian chờ, thời gian bắt đầu và kết thúc quá trình nội soi, cũng như thời gian nhận kết quả.
Bước 8: Cộng tác viên ghi vào phiếu thu thập thời gian, chờ, bắt đầu và kết thúc việc BS khám lại cho chỉ định toa thuốc
Bước 9: BN tới quầy thu phí, tại đây Cộng tác viên ghi vào phiếu thu thập thời gian chờ, bắt đầu và kết thúc việc nộp tiền
Bước 10: BN tới nơi cấp phát thuốc, cộng tác viên ghi vào phiếu thu thập thời gian chờ, bắt đầu và kết thúc việc nhận thuốc
Trong quá trình QTKB, nếu bệnh nhân thực hiện công việc cá nhân làm kéo dài thời gian chờ khám, cộng tác viên sẽ ghi chép thông tin để loại bệnh nhân đó khỏi đối tượng nghiên cứu.
2.7.1 Biến số cho nghiên cứu định lượng
Thời điểm bắt đầu khám bệnh
Thời điểm kết thức khám bệnh
Khám bệnh lần thứ mấy
Thời gian lấy số thứ tự + chờ đăng ký
Thời gian làm thủ tục đăng ký
Thời gian khám chuyên khoa ban đầu, tư vấn điều trị
Thời gian chờ ở phòng lấy mẫu XN
Thời gian lấy mẫu XN và nhận kết quả
Thời gian chờ ở phòng siêu âm
Thời gian siêu âm và nhận kết quả
Thời gian chờ ở phòng chụp XQ
Thời gian chụp XQ và nhận kết quả
Thời gian chờ ở phòng TDCN
Thời gian được TDCN và nhận kết quả
Thời gian chờ khám lại khi có kết quả CLS
Thời gian BS khám lại, tư vấn điều trị khi có kết quả CLS
Thời gian chờ ở quầy thu viện phí
Thời gian nộp viện phí
Thời gian chờ ở nơi nhận thuốc
Thời gian nhận được thuốc và DS tư vấn sử dụng thuốc
2.7.2 Chủ đề chính cho nghiên cứu định tính
- Phỏng vấn sâu 04 BN (2 BN có BHYT và 2 BN không có BHYT)
- Phỏng vấn sâu 1 ĐD khâu tiếp đón, 1 ĐD bàn khám bệnh, 1 kế toán thu phí, 1 kỷ thuật viên XN, 1 DS phát thuốc)
- Phỏng vấn sâu trưởng khoa Khám bệnh, Trưởng khoa XN, Trưởng khoa Dược
- Phỏng vấn sâu 1 trong Ban giám đốc BV
Phân tích các khâu kéo dài thời gian chờ là việc xác định những giai đoạn không hợp lý trong quy trình, từ đó cải thiện để giảm thời gian chờ mà vẫn đảm bảo chất lượng khám bệnh.
Các yếu tố kéo dài thời gian bao gồm sự cố rớt mạng, việc xếp chung bệnh nhân mới với bệnh nhân tái khám, phân bố lưu lượng bệnh nhân chưa hợp lý, cũng như các thủ tục đăng ký khám bệnh và thanh toán viện phí Quy trình cấp phát thuốc bảo hiểm y tế cũng được phân tích dựa trên kết quả phỏng vấn sâu với bệnh nhân, điều dưỡng, nhân viên kế toán, kỹ thuật viên xét nghiệm, dược sĩ và các bác sĩ trưởng khoa tham gia trong quản trị kinh bệnh.
Các cải tiến được đề xuất nhằm rút ngắn thời gian chờ bao gồm những ý kiến từ các điều dưỡng, bác sĩ, dược sĩ, nhân viên kế toán và trưởng khoa tham gia trong quá trình quản lý chất lượng bệnh viện, nhằm giải quyết các nguyên nhân gây kéo dài thời gian chờ.
Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu sau khi kiểm tra, được mã hóa làm sạch bằng phần mềm nhập liệu
Epidata 3.1 Để tránh sai sót trong quá trình nhập liệu, tiến hành nhập liệu với 2 người trên 2 máy tính khác nhau và nghiên cứu viên kiểm tra ngẫu nhiên 10% số phiếu được nhập Phân tích số liệu bằng toán thống kê SPSS 20.0 cho các thông tin mô tả và phân tích thống kê
Dựa vào Quyết định 1313/QĐ-BYT của Bộ Y tế, quy định thời gian khám bệnh như sau:
- Khám LS đơn thuần dưới 120 phút
- Khám LS có thêm 01 kỹ thuật XN/CĐHA, thăm dò chức năng dưới 180 phút
- Khám LS có làm thêm 02 kỹ thuật phối hợp cả XN và CĐHA hoặc XN và thăm dò chức năng dưới 210 phút
- Khám LS có thêm 03 kỹ thuật phối hợp cả XN, CĐHA và thăm dò chức năng dưới 240 phút
Thời gian khám bệnh của bệnh nhân tại khoa Khám bệnh của BVĐK quận Thốt Nốt cần được so sánh với yêu cầu của Bộ Y tế Để thực hiện điều này, các phương pháp phân tích mô tả sẽ được áp dụng, bao gồm tính giá trị trung bình, trung vị, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, độ lệch chuẩn, tần số và tỷ lệ phần trăm, nhằm xác định thời gian cho từng khâu của quy trình khám bệnh.
Dùng phép kiểm t độc lập, kiểm định ANOVA xác định các yếu tố liên quan đến thời gian ngồi chờ với ý nghĩa thống kê p < 0,05
Nội dung phỏng vấn sâu được thu âm và ghi chép, sau đó mã hóa thông tin để phân tích Việc lựa chọn trích dẫn theo các chủ đề giúp minh họa cho phần định lượng, đồng thời phát hiện các khâu kéo dài thời gian chờ trong quy trình và đề xuất các giải pháp khắc phục hiệu quả.
Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý thời gian khám bệnh bao gồm số lượng bàn khám, bác sĩ, điều dưỡng, dược sĩ, kỹ thuật viên xét nghiệm, kế toán, thao tác sử dụng máy tính, sự liên kết giữa các khâu trong quy trình quản lý thời gian khám bệnh, và số lượng bệnh nhân.
Phân tích các yếu tố kéo dài thời gian chờ dựa trên kết quả phỏng vấn sâu với lãnh đạo khoa, nhân viên và điều dưỡng tham gia trong các khâu của quy trình quản lý chất lượng bệnh viện Mục tiêu là phát hiện những yếu tố cần khắc phục để rút ngắn thời gian chờ.
HUPH không ảnh hưởng chất lượng khám bệnh.
Các tiêu chuẩn đánh giá, đo lường trong nghiên cứu
Quyết định 1313/QĐ-BYT, quy định thời gian khám bệnh ở các quy trình như sau:
- Khám LS đơn thuần dưới 120 phút
- Khám LS có thêm 01 kỹ thuật XN/CĐHA, thăm dò chức năng dưới 180 phút
- Khám LS có làm thêm 02 kỹ thuật phối hợp cả XN và CĐHA hoặc XN và TDCN dưới 210 phút
- Khám LS có thêm 03 kỹ thuật phối hợp cả XN, CĐHA và thăm dò chức năng dưới 240 phút.
Đạo đức nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân và nhân viên tham gia nghiên cứu đều được thông báo rõ ràng về nội dung và mục tiêu của nghiên cứu Sự tham gia là hoàn toàn tự nguyện, và việc từ chối không ảnh hưởng đến chất lượng khám chữa bệnh cũng như bảo mật thông tin cá nhân của họ với nhân viên y tế.
Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức Trường Đại học Y tế Công cộng phê duyệt theo quyết định số 208/2019 YTCC-HD3, xác nhận sự chấp thuận đối với các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.
Nghiên cứu đã được xét duyệt của Hội đồng khoa học công nghệ BVĐK quận Thốt Nốt.
Sai số và biện pháp khắc phục sai số
Sai số xảy ra do chưa thống nhất về cách ghi số liệu thời gian vào phiếu thu thập Sau khi thử thu thập 20 phiếu, chúng tôi đã tổ chức họp với các cộng tác viên để thống nhất phương pháp ghi chép.
Trong quá trình thực hiện QTKB, khi bệnh nhân (BN) đi làm việc riêng, cộng tác viên sẽ ghi lại thời điểm và các khâu mà BN vắng mặt để loại BN khỏi đối tượng nghiên cứu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của bệnh nhân Đặc điểm (N = 137) Tần số Tỷ lệ
Học vấn Không biết chữ 8 5,8
Công chức, viên chức 8 5,8 Học sinh, sinh viên 9 6,6 Buôn bán, kinh doanh 16 11,7
Nhận xét: Tỷ lệ BN từ 40 – 49 tuổi chiếm tỷ lệ 27% đạt cao nhất và thấp nhất là nhóm < 30 tuổi chiếm 10,9% Tỷ lệ BN nam nhiều hơn nữ (51,8% so với 48,2%)
Tỷ lệ bệnh nhân có trình độ học vấn trung học cơ sở chiếm tỷ lệ cao nhất với
36,5% và thấp nhất là không biết chữ chiếm 5,8%
Bảng 3.2 Đặc điểm khám bệnh của bệnh nhân Đặc điểm (N = 137) Tần số Tỷ lệ
Nhận xét: Đa phần BN đến khám tại Khoa Nội chiếm 50,4% và kế đến là khoa
Liên chuyên khoa đạt 21,9%, với 34,4% bệnh nhân đi khám vào tuần đầu của tháng cao nhất, chủ yếu vào thứ 3 và thứ 4, chiếm lần lượt 26,3% và 24,8% Nghiên cứu cho thấy bệnh nhân đi khám vào buổi sáng nhiều hơn buổi chiều, với tỷ lệ 54,7% so với 45,3%.
Bảng 3.3 Đặc điểm thời điểm vào viện và ra viện của bệnh nhân Đặc điểm (N 7) Tần số Tỷ lệ (%)
Thời điểm xếp hàng Trước 8h 27 19,7 lấy số thứ tự 8h – Trước 9h 28 20,4
Thời điểm vào và Vào sáng – về sáng 71 51,8 thời điểm về Vào chiều – về chiều 62 45,2
Trong buổi khám sáng, phần lớn BN đến vào khoảng 8 giờ – trước 9 giờ chiếm
20,4% và buổi chiều vào khoảng trước 14 giờ chiếm 25,5% Đa phần BN vào khám và ra về cùng buổi chiếm 97%
Bảng 3.4 Đặc điểm bảo hiểm y tế và hình thức khám của bệnh nhân Đặc điểm (N = 137) Tần số Tỷ lệ (%)
Hình thức khám Khám lần đầu 48 35,0
Nhận xét: BN có BHYT chiếm 93,4%, BN không có BHYT 6,6%, BN tái khám chiếm 65%, BN khám lần đầu 35%
Bảng 3.5 Số lượng bệnh nhân có thực hiện cận lâm sàng
Cận lâm sàng (N = 137) Tần số Tỷ lệ
Lấy mẫu máu xét nghiệm Có 29 21,2
Cận lâm sàng (N = 137) Tần số Tỷ lệ
Thăm dò chức năng Có 6 4,4
Thực hiện CLS Khám LS đơn thuần
Tỷ lệ bệnh nhân khám lâm sàng đơn thuần đạt 59,9%, trong khi tỷ lệ bệnh nhân thực hiện cận lâm sàng là 40,1% Trong số đó, lấy máu xét nghiệm chiếm tỷ lệ cao nhất với 21,2%, trong khi thăm dò chức năng chỉ chiếm 4,4% Tỷ lệ bệnh nhân thực hiện một cận lâm sàng là 29,2%, hai cận lâm sàng chiếm 8,8%, và ba cận lâm sàng chỉ chiếm 2,1%.
Đặc điểm thời gian chờ khám và thời gian được khám của BN
Bảng 3.6 Đặc điểm thời gian chờ khám (phút) Đặc điểm N Trung bình
Thời gian lấy số thứ tự và chờ đăng ký
Thời gian chờ đến lượt khám 137 22,1
Thời gian chờ nộp tiền làm CLS
Thời gian chờ lấy mẫu xét nghiệm 29 9,7 (3,4) 4 15
Thời gian chờ siêu âm 19 26,6
Thời gian chờ chụp XQ 19 18,2
Thời gian chờ thăm dò chức năng 6 8,5 (6,2) 1,6 20
Thời gian chờ khám khi có kết quả
Thời gian chờ nộp tiền viện phí 23 5,1 (2,8) 2 13
Thời gian chờ phát thuốc 137 18,7
Tổng thời gian chờ khám 137 67,9
Nhận xét: Trung bình thời gian chờ được khám của BN là 67,9 (27,2) phút;
Thời gian chờ đợi khám ban đầu của bệnh nhân là lâu nhất, trung bình đạt 22,1 phút, với độ lệch chuẩn là 11,7 phút Thời gian chờ để lấy số thứ tự và đăng ký là 12,1 phút, có trường hợp kéo dài đến 33,7 phút.
Bảng 3.7 Đặc điểm thời gian được khám của bệnh nhân (phút) Đặc điểm N Trung bình
Thời gian làm thủ tục đăng ký 137 9,7
Thời gian được BS khám và tư vấn 137 8,5
Thời gian được nộp tiền làm CLS (BN không có BHYT)
Thời gian được lấy mẫu XN và nhận kết quả
Thời gian được siêu âm và nhận kết quả
HUPH Đặc điểm N Trung bình
Thời gian được chụp XQ và nhận kết quả
Thời gian được TDCN và nhận kết quả
Thời gian được BS khám, tư vấn điều trị khi có kết quả CLS
Thời gian được nộp tiền viện phí 23 4,6
Thời gian được nhận thuốc và tư vấn, hướng dẫn sử dụng thuốc
Tổng thời gian được khám 137 48,0
Thời gian trung bình để hoàn tất thủ tục đăng ký là 9,7 phút, trong khi thời gian khám bệnh nhân trung bình là 48,0 phút Cụ thể, thời gian khám chuyên khoa ban đầu và tư vấn là 8,5 phút, và thời gian tư vấn của bác sĩ khi có kết quả xét nghiệm CLS là 8,9 phút Thêm vào đó, thời gian cấp phát thuốc cho bệnh nhân cũng mất khoảng 13,6 phút.
Bảng 3.8 Tổng thời gian khám chữa bệnh của bệnh nhân Đặc điểm N Trung bình
Thời gian trung bình bệnh nhân đến bệnh viện từ khi xếp hàng bốc số thứ tự khám cho đến khi ra về là 126,3 phút Nhóm có bảo hiểm y tế (BHYT) có tổng thời gian chờ là 127,4 phút, cao hơn so với nhóm không có BHYT Ngoài ra, nhóm thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng (CLS) có tổng thời gian khám chữa bệnh là 163,9 phút, vượt trội so với nhóm không thực hiện CLS với 92,2 phút Thời gian khám chữa bệnh tăng lên đáng kể ở nhóm thực hiện nhiều CLS, đặc biệt là nhóm thực hiện 03 CLS với thời gian lên tới 270,3 phút.
Bảng 3.9 Sự hỗ trợ bệnh nhân khi thực hiện cận lâm sàng
Sự hỗ trợ bệnh nhân (n = 137) Tần số Tỷ lệ
(%) Điều dưỡng hướng dẫn Có 133 97
NVYT trực lấy máu XN (n = 10) Có 9 90
Không 1 10 Điều dưỡng hướng dẫn ở phòng siêu âm Có 13 100
(n) Không 0 0 Điều dưỡng hướng dẫn ở phòng TDCN Có 0 0
Nhận xét: 97% bệnh nhân phản hồi có được điều dưỡng có mặt hướng dẫn trong suốt quá trình khám bệnh
Bảng 3.10 Số lượt bệnh nhân muốn được cải thiện thời gian chờ tại các vị trí
HUPH Đặc điểm (n = 32) Tần số Tỷ lệ (%)
Chờ đến lượt khám bệnh 18 56,2
Trong số 32 bệnh nhân, 56,2% cho rằng thời gian chờ khám bệnh cần được cải thiện, trong khi 43,7% phản hồi về thời gian chờ kết quả cận lâm sàng Bên cạnh đó, 18,7% ý kiến cũng đề cập đến thời gian chờ phát thuốc.
Các yếu tố liên quan đến thời gian chờ của bệnh nhân
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân của bệnh nhân với thời gian chờ (phút) Đặc điểm n Trung bình
(*) One way ANOVA, Post Hoc test (LSD) được sử dụng
Thời gian chờ trung bình của nhóm bệnh nhân từ 30 đến 39 tuổi là 77,8 phút, trong khi nhóm bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên có thời gian chờ ngắn hơn, chỉ 58,6 phút Tuy nhiên, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về thời gian chờ giữa các nhóm tuổi với giá trị p > 0,05.
Thời gian chờ ở nữ giới là 66,5 (26,4) phút ngắn hơn nam là 69,2 (28,0) phút Tuy nhiên sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê với p = 0,5
Thời gian chờ cao nhất ở nhóm công chức là 79,4 (32,1) phút Tuy nhiên chưa có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về thời gian chờ theo nghề nghiệp với p>0,05
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa phòng khám với thời gian chờ (phút) Đặc điểm n Trung bình
(*) One way ANOVA, Post Hoc test (LSD) được sử dụng
Thời gian chờ của bệnh nhân tại phòng khám Sản là cao nhất, đạt 81,9 (31,6) phút, trong khi phòng khám YHCT có thời gian chờ thấp nhất là 42,9 (17,3) phút Sự khác biệt về thời gian chờ giữa nhóm Sản và nhóm Nhi có ý nghĩa thống kê với p = 0,03, so với nhóm YHCT là p = 0,001 và so với nhóm LCK là p = 0,03 Kết quả này phản ánh thực tế rằng bệnh nhân khám Sản thường phải thực hiện các kiểm tra định kỳ và nhiều xét nghiệm cận lâm sàng.
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa đặc điểm khám bệnh của bệnh nhân với thời gian chờ (phút) Đặc điểm N Trung bình
ANOVA LSD Tuần lễ khám * Tuần 1 47 63,9 (26,0) 0,1 -
Thời điểm Trước 8h 27 86,5 (23,2) 0,05.
Thời gian chờ khám của bệnh nhân vào thứ 5 cao nhất là 80,0 phút (độ lệch chuẩn 26,9), trong khi vào thứ 2 thấp nhất là 51,1 phút (độ lệch chuẩn 25,1) Sự khác biệt về thời gian chờ giữa nhóm khám vào thứ 2 và các nhóm khám vào thứ 3 (p = 0,004), thứ 4 (p = 0,01) và thứ 5 cho thấy ý nghĩa thống kê.
Thời gian chờ của bệnh nhân khám vào buổi sáng trung bình là 69,6 phút, trong khi đó nhóm khám buổi chiều có thời gian chờ trung bình là 65,8 phút Mặc dù thời gian chờ buổi sáng cao hơn, nhưng sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với p = 0,4.
Thời gian chờ trung bình cao nhất ở nhóm bệnh nhân khám trước 8 giờ là 86,5 phút, trong khi nhóm khám trước 14 giờ có thời gian chờ trung bình là 74,4 phút Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p0,05).
Nghiên cứu của Nguyễn Minh Nhật Hằng (2018) cho thấy thời gian chờ khám bệnh trung bình ở các nhóm tuổi khác nhau có sự chênh lệch đáng kể Cụ thể, nhóm dưới 6 tuổi có thời gian chờ là 115,85 phút, trong khi nhóm từ 7-18 tuổi là 151,86 phút Nhóm 19-29 tuổi có thời gian chờ là 142,92 phút, và nhóm 30-39 tuổi là 154,56 phút Đặc biệt, nhóm 40-59 tuổi ghi nhận thời gian chờ cao nhất với 168,39 phút, gấp 2 lần so với nhóm dưới 6 tuổi Nhóm trên 60 tuổi có thời gian chờ là 144,25 phút.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, thời gian chờ trung bình ở nhóm tuổi 40-49 là 70,4 (28,4) phút, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo nhóm tuổi về thời gian chờ Điều này phản ánh quyền lợi công bằng trong việc tiếp cận dịch vụ y tế tại Việt Nam Tại BVĐK quận Thốt Nốt, nhóm tuổi này chiếm tỷ lệ cao nhất với 27%, do sự gia tăng của các bệnh mãn tính như cao huyết áp, tiểu đường, tim mạch và suy thận mạn Bệnh nhân thường đến tái khám và nhận thuốc theo định kỳ, do đó không mất nhiều thời gian cho việc khám, tư vấn và làm xét nghiệm, nhờ vào việc được bác sĩ và điều dưỡng giải thích rõ ràng về tình trạng bệnh.
BN khám bệnh về chuyên khoa Nhi và Y học cổ truyền thường ít được chỉ định làm
Thời gian thực hiện QTKB tại XN CLS đã được rút ngắn, tuy nhiên, tình trạng thiếu nhân sự bác sĩ (chỉ còn 4 bác sĩ cho khu vực phòng khám, giảm từ 5 do một bác sĩ đã về hưu) đã gây áp lực lớn Mỗi ngày, khu vực khám ngoại trú tiếp nhận từ 1300 đến 1500 lượt bệnh nhân, dẫn đến việc không thể khám kịp thời Để giải quyết vấn đề này, bác sĩ từ các khoa nội trú, phòng Kế hoạch tổng hợp và Ban giám đốc đã phải được điều động hỗ trợ, nhưng điều này đã làm gia tăng khối lượng công việc cho các bác sĩ, khiến họ phải hạn chế chỉ định khám bệnh.
BN thực hiện xét nghiệm cận lâm sàng, tập trung vào việc khám bệnh lâm sàng đơn giản và cấp toa thuốc cho bệnh nhân trong ngày, đảm bảo không để bệnh nhân phải quay lại vào ngày hôm sau.
Cụ thể là trong 137 BN trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 29 BN có làm
XN, 19 BN được chỉ định chụp XQ, 19 BN được làm SA và 6 BN được chỉ định TDCN
4.3.2 Liên quan giữa loại phòng khám với thời gian chờ
Trong nghiên cứu của chúng tôi, 50,4% bệnh nhân được khảo sát đến khám tại phòng khám Nội Các bệnh lý Nội khoa thường yêu cầu sự phối hợp của nhiều cận lâm sàng để hỗ trợ chẩn đoán Kết quả cho thấy thời gian chờ đợi ở nhóm bệnh nhân khám tại phòng khám Sản là lâu nhất, trung bình 81,9 (31,6) phút, trong khi nhóm phòng khám YHCT có thời gian chờ ngắn nhất, chỉ 42,9 (17,3) phút Sự khác biệt này chỉ được ghi nhận khi so sánh giữa nhóm bệnh nhân khám tại phòng khám Sản với các nhóm phòng khám Nhi (p=0,03), phòng khám YHCT (p=0,001) và phòng khám LCK.
Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian chờ khám tại khoa Sản BVĐK quận Thốt Nốt là 0,03 phút, phù hợp với thực tế khi bệnh nhân thường được chỉ định làm xét nghiệm và siêu âm để kiểm tra sức khỏe của bà mẹ và thai nhi, dẫn đến thời gian chờ kéo dài Ngược lại, bệnh nhân khám Y học cổ truyền thường không cần làm xét nghiệm cận lâm sàng, chỉ cần khám lâm sàng và cấp toa thuốc, do đó thời gian chờ khám chỉ là 42,9 (17,3) phút Thời gian chờ khám trung bình cho bệnh nhi là 49,7 (22,6) phút, chủ yếu do các bệnh như nhiễm siêu vi, sốt xuất huyết, và viêm phổi, thường chỉ cần khám lâm sàng đơn thuần hoặc có thêm một xét nghiệm cận lâm sàng Nghiên cứu của Nguyễn Minh Nhật Hằng (2018) tại BVĐK Nông Nghiệp cho thấy thời gian chờ khám ở phòng khám Ngoại khoa cao nhất với 175,19 (109,85) phút, trong khi khoa Răng-Hàm-Mặt có thời gian chờ thấp nhất là 89,89 (71,25) phút.
4.3.3 Liên quan đặc điểm thời gian khám bệnh với thời gian chờ
Tuần lễ khám, ngày khám, buổi khám
Số lượng bệnh nhân đến khám tại bệnh viện có sự phân bố không đồng đều theo thời gian, với sự tập trung cao vào đầu tuần và giảm dần vào cuối tuần Điều này liên quan đến quan niệm kiêng cữ khám bệnh vào đầu tháng, đầu năm hoặc đầu tuần, khi có nhiều bác sĩ và điều dưỡng làm việc hơn Nghiên cứu của Phạm Thị Kiều Duyên (2018) chỉ ra rằng thời gian chờ khám bệnh bị ảnh hưởng bởi số lượng bệnh nhân đông, thiếu bác sĩ, dẫn đến thời gian khám kéo dài Sự khác biệt rõ rệt trong thời gian chờ khám giữa bệnh nhân đến vào buổi sáng và buổi chiều cho thấy buổi sáng thường đông hơn, kéo dài thời gian chờ khám so với buổi chiều Tình trạng này phản ánh thực trạng tại quận Thốt Nốt và các khu vực lân cận.
Người dân HUPH chủ yếu sống bằng nghề nông và thường đưa bệnh nhân đi khám bệnh vào khoảng 6 – 7 giờ sáng để nhận được đơn thuốc trong buổi sáng, sau đó dành thời gian cho công việc vườn vào buổi chiều Thời gian chờ khám trung bình vào buổi sáng là 69,6 phút (độ lệch chuẩn 24,1 phút) và vào buổi chiều là 65,8 phút (độ lệch chuẩn 30,6 phút) Nghiên cứu của Hứa Kim Trang (2017) cho thấy kết quả tương tự với nghiên cứu của chúng tôi về thời gian chờ khám trung bình.
BN đăng ký vào buổi sáng là 78,77 (38,83) phút và buổi chiều là 43,87 (25,83) phút
Sự chênh lệch giữa sáng và chiều là khá lớn, với tỷ lệ cao nhất bệnh nhân đi khám ghi nhận trong tuần đầu tiên đạt 34,4%.
Các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian chờ của bệnh nhân tại bệnh viện đa khoa quận Thốt Nốt
4.4.1 Thiếu nhân lực bác sĩ
Sự thiếu hụt bác sĩ là nguyên nhân chính dẫn đến thời gian chờ khám kéo dài cho bệnh nhân Tại các cơ sở y tế, nguồn lực con người đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hoạt động khám chữa bệnh Cụ thể, khoa Khám bệnh của Bệnh viện Đa khoa Quận Thốt Nốt chỉ có 5 bác sĩ phụ trách khám cho 1300 – 1500 lượt bệnh nhân mỗi ngày.
Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng sự thiếu hụt bác sĩ từ phòng Kế hoạch tổng hợp và các khoa nội trú, mặc dù không thường xuyên, có thể ảnh hưởng đến thời gian khám bệnh tại BV Quận 3 Điều này tương đồng với nhận định của tác giả Phạm Xuân Dzu (2017), cho rằng cơ sở vật chất lạc hậu và việc thiếu bác sĩ chuyên khoa là những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này.
Nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Kiều Duyên (2018) tại BVĐK Ninh Thuận chỉ ra rằng sự thiếu hụt nhân lực thường xuyên và đột xuất là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thời gian khám bệnh Biên chế bác sĩ hiện tại của khoa Khám bệnh không đủ, dẫn đến việc bệnh viện phải tăng cường bác sĩ từ khu vực nội trú ra khoa Khám bệnh, tuy nhiên, số lượng bác sĩ tăng cường không đảm bảo thường xuyên Tình trạng tương tự cũng xảy ra tại khoa Khám bệnh của BVĐK Quận Thốt Nốt, nơi nhận được sự hỗ trợ từ bác sĩ phòng Kế hoạch tổng hợp và bác sĩ từ các khoa nội trú.
Cơ sở vật chất tại bệnh viện chưa đáp ứng đủ yêu cầu cho công tác khám chữa bệnh, với chỉ một bác sĩ trực siêu âm và một phòng siêu âm phục vụ cho cả bệnh nhân nội trú, ngoại trú, sản khoa và cấp cứu Việc bố trí nơi lấy mẫu phân và nước tiểu xa khoa xét nghiệm cũng làm tăng thời gian chờ đợi của bệnh nhân Nghiên cứu của chúng tôi đồng tình với nhận định của tác giả Phạm Xuân Dzu (2017) rằng cơ sở vật chất lạc hậu, xuống cấp và sự thiếu hụt bác sĩ chuyên khoa là những nguyên nhân chính dẫn đến thời gian khám bệnh kéo dài tại bệnh viện Quận 3.
Nghiên cứu của Nguyễn Minh Nhật Hằng (2018) tại BVĐK Nông nghiệp cho thấy, tại khoa Khám bệnh, số lượng bệnh nhân thực hiện xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh vào buổi sáng rất đông, trong khi số lượng máy tại các khoa chẩn đoán hình ảnh lại thiếu, dẫn đến thời gian chờ đợi kéo dài Hệ thống vạch màu hướng dẫn bệnh nhân đến nơi làm xét nghiệm, siêu âm và chụp X-quang đã bị phai màu, gây khó khăn cho bệnh nhân trong việc tìm kiếm địa điểm Tương tự, nghiên cứu của Phạm Thị Kiều Duyên (2018) tại BVĐK Ninh Thuận cũng chỉ ra rằng, mặc dù hệ thống biển báo hướng dẫn bệnh nhân được thiết lập theo quy định, nhưng chất lượng và hiệu quả của nó vẫn còn hạn chế.
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Minh Nhật Hằng (2018) tại BVĐK Nông nghiệp chỉ ra rằng cơ sở hạ tầng đã được cải tạo, bao gồm nhà, đất, sân, vườn, đường đi nội bộ, hệ thống cấp điện, cấp/thoát nước và xử lý chất thải Quy trình khám bệnh cũng đã được xây dựng lại, sắp xếp các phòng khám hợp lý và rút ngắn thời gian khám để giảm thiểu thời gian di chuyển cho bệnh nhân.
BV đang mở rộng cơ sở hạ tầng, dẫn đến việc các bộ phận tại khoa Khám bệnh chưa được bố trí liên hoàn.
4.4.3 Việc áp dụng công nghệ thông tin còn hạn chế
Một trong những nguyên nhân kéo dài thời gian chờ khám là bệnh viện chưa triển khai hệ thống bảng báo điện tử hiển thị số thứ tự trong quy trình khám bệnh Ngoài ra, việc đăng ký hẹn lịch khám qua điện thoại hoặc internet vẫn chưa được áp dụng, và quy trình nhận mẫu cũng như trả kết quả xét nghiệm chưa được tự động hóa Nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng hình thức đăng ký khám bệnh theo lịch hẹn để giảm thiểu thời gian chờ đợi cho bệnh nhân và giúp nhân viên y tế chủ động hơn trong công việc.
Nghiên cứu của MinMin Zhang tại Trung Quốc cho thấy phần lớn bệnh nhân vẫn ưa chuộng phương pháp xếp hàng truyền thống khi khám bệnh Điều này nhấn mạnh rằng các bệnh viện cần cải thiện và khuyến khích hệ thống đăng ký khám chữa bệnh qua đặt lịch hẹn, không chỉ giảm thiểu thời gian chờ đợi mà còn cung cấp nhiều lựa chọn về thời gian khám cho bệnh nhân Tác giả Phạm Thị Kiều Duyên (2018) tại Bệnh viện Đa khoa Ninh Thuận cũng đồng tình rằng nhiều bệnh viện và phòng khám tư nhân đã triển khai đăng ký khám bệnh qua website và điện thoại, giúp bệnh nhân chủ động chọn thời gian khám và giảm thiểu tình trạng đông đúc tại bệnh viện.
Nghiên cứu của Nguyễn Minh Nhật Hằng (2018) tại BVĐK Nông nghiệp chỉ ra rằng các phòng khám lâm sàng của khoa Khám bệnh chưa áp dụng bảng hiển thị số điện tử, dẫn đến tình trạng tắc nghẽn do bệnh nhân không biết khi nào đến lượt mình, thường tập trung chờ trước cửa phòng khám.
Khoa XN của BVĐK Quận Thốt Nốt chưa áp dụng tự động hóa trong việc nhận mẫu và trả kết quả cho các khoa, dẫn đến việc các khâu vẫn phải do nhân viên thực hiện Điều này làm tăng thời gian chờ nhận kết quả xét nghiệm của bệnh nhân.
Nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Kiều Duyên năm 2018 tại BVĐK Ninh Thuận cho thấy khoa Khám bệnh và các khoa CLS của bệnh viện được trang bị đầy đủ thiết bị công nghệ mới, dẫn đến thời gian trả kết quả CLS ngắn hơn so với một số nghiên cứu khác.
4.4.4 Một số khâu trong quy trình khám bệnh chưa liên thông
Các phòng của khoa XN tại BVĐK Quận Thốt Nốt hiện chưa liên thông, gây khó khăn trong việc di chuyển mẫu máu từ phòng lấy mẫu sang phòng xét nghiệm hóa sinh và huyết học qua cửa chính, dẫn đến kéo dài thời gian và không đảm bảo vô khuẩn Bên cạnh đó, việc bố trí nơi lấy mẫu nước tiểu và phân xa khoa XN cũng khiến bệnh nhân phải di chuyển nhiều, làm tăng thời gian chờ đợi Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Minh Nhật Hằng.
Năm 2018, BVĐK Nông nghiệp cho biết quy trình khám bệnh tại bệnh viện được đánh giá hợp lý, nhưng vẫn gặp tình trạng ùn ứ tại khâu tiếp đón vào giờ cao điểm, dẫn đến thời gian chờ đợi của bệnh nhân tăng lên Đặc biệt, bệnh nhân phải chờ lâu để nhận kết quả, nhất là ở khâu chẩn đoán hình ảnh (CĐHA) Nếu bệnh viện triển khai trả kết quả CĐHA trực tiếp về phòng khám ban đầu, bệnh nhân sẽ giảm được thời gian chờ đợi và thời gian đi lấy kết quả.
4.4.5 Nhận thức của bệnh nhân chưa cao
Bác sĩ và điều dưỡng thường phải giải thích nhiều vấn đề về bảo hiểm y tế và chuyên môn, nhưng bệnh nhân không tuân thủ hướng dẫn, dẫn đến việc kéo dài thời gian chờ cho những bệnh nhân khác Nghiên cứu của Nguyễn Minh Nhật Hằng (2018) tại Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp cho thấy bệnh nhân chưa ý thức về việc giữ trật tự khi tập trung đông người trước khu vực phòng khám Cụ thể, tại khu vực phòng khám lâm sàng, việc thiếu màn hình điện tử tự động báo số thứ tự khiến bệnh nhân không nắm rõ thời gian chờ, dẫn đến tâm lý sốt ruột và ngại chờ đợi Thêm vào đó, mỗi bệnh nhân thường có hai người nhà đi cùng, điều này cũng góp phần vào mong muốn khám nhanh để về sớm Diện tích khoa Khám bệnh cũng khá hạn chế.