PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Bài nghiên cứu này tập trung vào các bà mẹ có con dưới 6 tuổi, cụ thể là những bà mẹ có con sinh từ ngày 1/4/2009 đến 1/4/2015 Đối tượng nghiên cứu được xác định dựa trên danh sách trẻ dưới 6 tuổi do phường Thành Công, quận Ba Đình, Hà Nội cung cấp, và các bà mẹ này hiện đang sinh sống và có hộ khẩu thường trú tại phường Thành Công.
Trẻ dưới 6 tuổi là con của các bà mẹ
Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ lựa chọn các bà mẹ đáp ứng các yêu cầu sau:
Bà mẹ có con sinh từ ngày 1/4/2009 đến 1/4/2015
Bà mẹ có con bị ốm trong vòng 4 tuần trước thời điểm điều tra
Bà mẹ có từ hai con trở lên dưới 6 tuổi bị ốm trong 4 tuần trước khi nghiên cứu diễn ra sẽ đồng ý tham gia Thông tin thu thập về trẻ bệnh sẽ được lấy từ trẻ nhỏ tuổi nhất trong lần ốm gần đây nhất.
Bà mẹ có rối loạn về tâm thần, không có khả năng trả lời
Bà mẹ vắng nhà trong khoảng thời gian nghiên cứu, điều tra viên đến 03 lần nhưng không gặp.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại phường Thành Công, quận
Ba Đình, thành phố Hà Nội
Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống kết hợp với chọn mẫu ngẫu nhiên đơn
Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng được tính theo công thức: d2q z p n 2 ( 1 α/ 2 )
- z: hệ số tin cậy Chọn độ tin cậy 95% thì giá trị của z = 1,96
- p: ước tính tỷ lệ trẻ ốm trong 4 tuần trước điều tra có sử dụng dịch vụ KCB, chọn p = 0,5 để đạt cỡ mẫu lớn nhất
Để đạt được sai số chấp nhận d = 0,05, cỡ mẫu tính toán cần thiết là 384 hộ gia đình Mỗi hộ gia đình sẽ được phỏng vấn bà mẹ có con dưới 6 tuổi Tuy nhiên, trong thực tế, số liệu thu thập được không đạt yêu cầu.
- Lập danh sách các bà mẹ có con dưới 6 tuổi (sinh từ 1/4/2009 đến 1/4/2015) của phường Thành Công
- Tính hệ số k = 2025 ÷ 420 ≈ 5 (trong đó số trẻ em dưới 6 tuổi tại phường Thành Công vào thời điểm nghiên cứu là 2025 trẻ) [26]
- Chọn bà mẹ thứ nhất có số thứ thứ tự là x trong đó 1 ≤ x ≤ 5
Chọn các bà mẹ tham gia nghiên cứu bằng cách cộng số thứ tự của bà mẹ đầu tiên với k cho đến khi đạt đủ số lượng Nếu bà mẹ được chọn không có trẻ dưới 6 tuổi ốm trong vòng 4 tuần, hãy chuyển sang bà mẹ tiếp theo theo nguyên tắc "chọn bà mẹ liền kề gần nhà bà mẹ được chọn gần nhất" cho đến khi đủ số bà mẹ tham gia.
2.4.2 Nghiên cứu định tính Đối tượng: chọn chủ đích trong số bà mẹ có con bị ốm trong 4 tuần 07 bà mẹ tham gia phỏng vấn sâu
Các bà mẹ đại diện cho các nhóm sau
- Xử trí ban đầu khi trẻ ốm
Số lượng: 07 cuộc phỏng vấn sâu
Bài viết này tìm hiểu các nguyên nhân mà bà mẹ lựa chọn cơ sở y tế (CSYT) để chăm sóc sức khỏe cho trẻ dưới 6 tuổi, đồng thời phân tích các rào cản trong việc sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh (KCB) tại phường Thành Công.
Phương pháp thu thập số liệu
Công cụ thu thập số liệu được sử dụng là bộ câu hỏi phát vấn tại hộ gia đình Việc thu thập thông tin được thực hiện bởi các học viên cao học Y tế công cộng khóa 17 và Quản lý bệnh viện khóa 6 tại Đại học Y tế Công cộng.
Hỗ trợ điều tra: Nhân viên y tế tại địa phương
Giám sát viên là các nhà nghiên cứu và cán bộ thuộc Phòng Thống kê y tế, Vụ Kế hoạch Tài chính của Bộ Y tế, có nhiệm vụ giám sát toàn bộ quá trình điều tra và thu thập số liệu.
Các bước thu thập số liệu định lượng:
Dựa trên danh sách các bà mẹ có trẻ dưới 6 tuổi do TYT phường Thành Công cung cấp, điều tra viên sẽ phát phiếu khảo sát tại nhà của các bà mẹ Nếu chủ hộ vắng mặt hoặc từ chối tham gia, điều tra viên sẽ chuyển sang các hộ gia đình tiếp theo để đảm bảo thu thập đầy đủ thông tin.
Điều tra viên làm việc cùng bà mẹ để giải thích những nội dung chưa rõ ràng, đồng thời kiểm tra tính đầy đủ của phiếu phát vấn Nếu có thông tin thiếu, điều tra viên sẽ đề nghị bà mẹ bổ sung và thu lại phiếu ngay sau khi bà mẹ hoàn thành việc điền thông tin.
- Việc điều tra kết thúc sau khi đã thu thập đủ toàn bộ số phiếu (350 phiếu) (từ các hộ gia đình có trẻ bị ốm trong vòng 4 tuần)
Thời gian phỏng vấn: 30 - 40 phút/1 cuộc
Công cụ hỗ trợ: Máy ghi âm, biên bản ghi chép nội dung trả lời phỏng vấn
Bài phỏng vấn này nhằm khám phá những nguyên nhân mà các bà mẹ lựa chọn cơ sở y tế (CSYT) để chăm sóc sức khỏe cho trẻ em, cũng như lý do đằng sau sự lựa chọn dịch vụ chăm sóc sức khỏe của họ.
HUPH vụ KCB nào để chữa trị cho trẻ, các rào cản trong việc sử dụng dịch vụ KCB tại phường Thành Công
Người phỏng vấn: Nghiên cứu viên.
Các biến số nghiên cứu
2.6.1 Các biến số trong nghiên cứu định lượng
Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh cho trẻ dưới 6 tuổi tại phường Thành Công, quận Ba Đình, Hà Nội năm 2015
TT Biến số nghiên cứu Định nghĩa biến
1 Sử dụng dịch vụ KCB cho trẻ trong 4 tuần
Có hay không hành vi đưa trẻ ốm đến bất kỳ CSYT nào khi trẻ ốm trong vòng 4 tuần qua phân Phát vấn Nhị
CSYT lựa chọn khi trẻ ốm
CSYT đầu tiên gia đình tìm đến khi trẻ ốm lần gần đây nhất trong 4 tuần qua:
- Tự mua thuốc về chữa
- Mời thầy thuốc đến nhà
- TYT/Phòng khám đa khoa khu
- vực Bệnh viện tuyến trên (Bệnh viện thành phố, trung ương)
- Bệnh viện, phòng khám tư Định danh Phát vấn
Lý do lựa chọn CSYT
Lý do/tiêu chí gia đình lựa chọn CSYT ban đầu đưa trẻ đến khi ốm trong 4 tuần qua:
- Tin tưởng vào chất lượng KCB
- Tin tưởng vào trang thiết bị, thuốc điều trị
- Hài lòng với thái độ phục vụ của nhân viên y tế
- Đã từng đưa trẻ đến cơ sở trước đó khi trẻ ốm
TT Biến số nghiên cứu Định nghĩa biến
KCB đã sử dụng cho trẻ
Hình thức KCB trẻ đã sử dụng khi đến CSYT đầu tiên:
- Nằm điều trị nội trú
5 Kết quả điều trị Có hay không khỏi bệnh khi trẻ KCB tại CSYT đầu tiên Nhị phân Phát vấn
CSYT lựa chọn tiếp theo
CSYT lựa chọn tiếp theo khi trẻ không khỏi bệnh
- Bệnh viện tuyến trung ương
7 Lý do lựa chọn CSYT tiếp theo
Lý do chính gia đình lựa chọn CSYT tiếp theo khi trẻ không khỏi bệnh
Lý do không đưa trẻ bệnh đến CSYT
Lý do chính gia đình không đưa trẻ bệnh đến CSYT trong 4 tuần trước cuộc điều tra:
- Bệnh nặng/không chữa được
- Mua thuốc theo đơn cũ
- Người quen là bác sĩ
Mục tiêu của nghiên cứu là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi tại phường Thành Công, quận Ba Đình, Hà Nội trong năm 2015.
TT Biến số nghiên cứu Định nghĩa biến Phân loại biến
Phương pháp thập thu Nhóm thông tin chung
1 Tuổi Tuổi tính theo năm dương lịch của đối tượng nghiên cứu tính đến thời điểm điều tra Liên tục Phát vấn
6 tuổi Số con dưới 6 tuổi hiện có trong gia đình Rời rạc Phát vấn
3 Trình độ học vấn Cấp học cao nhất của đối tượng nghiên cứu Định danh Phát vấn
4 Nghề nghiệp Công việc chính đang làm có thu nhập cao và chiếm nhiều thời gian nhất của đối tượng nghiên cứu Định danh Phát vấn
5 Điều kiện kinh tế của gia đình
Tổng thu nhập/tổng số người trong gia đình của đối tượng nghiên cứu Liên tục Phát vấn
6 Biết về chính sách KCB miễn phí
Có hay không có việc bà mẹ biết về chính sách KCB miễn phí cho trẻ Nhị phân Phát vấn
7 Được hỗ trợ của CBYT phường
CBYT phường đến tư vấn về các vấn đề sức khỏe tại gia đình Nhị phân Phát vấn
Gia đình đã được CBYT hỗ trợ những gì:
- Truyền thông về sức khỏe
- Tư vấn xử trí bệnh của trẻ
- Khác Định danh Phát vấn
9 Người quyết định lựa chọn dịch vụ
Là người quyết định việc lựa chọn các dịch vụ KCB cho trẻ trong gia đình Định danh Phát vấn
Nhóm thông tin về nguồn lực, tiếp cận thông tin y tế
10 Phương tiện đưa trẻ đến
Phương tiện gia đình thường sử dụng đưa trẻ đến CSYT KCB:
- Xe đạp Định danh Phát vấn
TT Biến số nghiên cứu Định nghĩa biến Phân loại biến
11 Khoảng cách từ nhà đến
Khoảng cách từ nhà đến CSYT là bao nhiêu km? Liên tục Phát vấn
12 Có KCB miễn phí Trẻ đã được cấp thẻ KCB miễn phí chưa Nhị phân Phát vấn
13 Hỗ trợ của y tế địa phương
Có hay không CBYT đến nhà tư vấn sức khỏe Nhị phân Phát vấn
Biết về các cơ sở KCB tại địa phương
Bà mẹ biết hay không biết về các cơ sở KCB tại quanh khu vực sinh sống:
- Bệnh viện chuyên khoa nhi
- Khác Định danh Phát vấn
15 Nguồn thông tin tiếp cận dịch vụ KCB
Nguồn thông tin có được để tìm kiếm các dịch vụ KCB cho trẻ Định danh Phát vấn
Thông tin về trẻ ốm
16 Giới tính Giới tính của trẻ ốm Nhị phân Phát vấn
17 Tuổi Tuổi dương lịch của trẻ ốm Liên tục Phát vấn
18 Thứ tự con trong gia đình Trẻ là con thứ mấy trong gia đình Định danh Phát vấn
19 Loại bệnh Loại bệnh trẻ mắc phải lần bị bệnh gần nhất trong 4 tuần qua Định danh Phát vấn
TT Biến số nghiên cứu Định nghĩa biến Phân loại biến
20 Mức độ bệnh do gia đình đánh giá
Mức độ ốm của trẻ do gia đình tự đánh giá Phân loại Phát vấn
21 Tuần suất mắc bệnh trong tháng Số lần trẻ mắc bệnh trong 4 tuần qua Liên tục Phát vấn Nhận xét của các bà mẹ về cơ sở KCB
1 Vấn đề vệ sinh, không gian KCB
Nhận xét về không gian KCB của CSYT có sạch sẽ, thoải mái hay không Thứ tự Phát vấn
2 Thủ tục hành chính Thủ tục hành chính tại CSYT có phức tạp hay không Thứ tự Phát vấn
3 Thời gian chờ đợi Nhận xét về thời gian chờ đợi có lâu hay không Thứ tự Phát vấn
4 Trang thiết bị, phương tiện KCB
Nhận xét về trang thiết bị, phương tiện KCB đầy đủ hay không Thứ tự Phát vấn
5 Thuốc điều trị Nhận xét về mức độ sẵn có của thuốc điều trị tại CSYT KCB Thứ tự Phát vấn
6 Trình độ chuyên môn của CBYT
Có hay không có niềm tin vào trình độ chuyên môn của các CBYT tại cơ sở
KCB Thứ tự Phát vấn
7 Thái độ của nhân viên y tế
Có hay không có sự hài lòng về thái độ của nhân viên y tế tại cơ sở KCB Thứ tự Phát vấn
Nhận xét về kinh phí chi trả cho các dịch vụ KCB tại CSYT có phù hợp hay không Thứ tự Phát vấn
9 Tiếp tục sử dụng dịch vụ Bà mẹ có hay không tiếp tục sử dụng dịch vụ KCB tại cơ sở này Nhị phân Phát vấn
2.6.2 Các chủ đề trong nghiên cứu định tính
Tìm hiểu một số nguyên nhân liên quan đến việc bà mẹ lựa chọn CSYT để chăm sóc sức khỏe cho trẻ
Tìm hiểu các rào cản trong việc sử dụng dịch vụ KCB cho trẻ dưới 6 tuổi tại phường Thành Công.
Phương pháp phân tích số liệu
2.7.1 Đối với nghiên cứu định lượng
Số liệu thu thập được nhập, làm sạch và quản lý bằng phần mềm Epidata 3.1
Phân tích dữ liệu được thực hiện bằng phần mềm SPSS phiên bản 16.0 với các kiểm định thống kê phù hợp Thuật toán Khi bình phương (χ2) được áp dụng để so sánh sự khác biệt giữa các nhóm Phân tích đa biến được sử dụng nhằm xác định các yếu tố liên quan đến thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh (KCB) và các yếu tố liên quan khác Nghiên cứu thiết lập mức ý nghĩa α = 0,05 và khoảng tin cậy 95%.
2.7.2 Đối với nghiên cứu định tính
Bản ghi âm được gỡ và ghi chép lại bằng bản word một cách trung thực
Nghiên cứu viên tiến hành tóm tắt nội dung và mã hóa thông tin dựa trên các vấn đề trong khung lý thuyết, đồng thời bổ sung các khái niệm mới phát hiện từ phỏng vấn Thông tin mã hóa được trình bày trong ma trận tóm tắt, giúp hệ thống hóa và làm rõ các dữ liệu thu thập được.
Các đối tượng tham gia phỏng vấn sâu được mã hóa theo số thứ tự và độ tuổi của bà mẹ sau khi gỡ băng nội dung phỏng vấn.
- Bà mẹ thứ nhất 25 tuổi tham gia phỏng vấn sâu được mã hóa là BM1, 25 tuổi
- Bà mẹ thứ hai 27 tuổi tham gia phỏng vấn sâu được mã hóa là BM2, 27 tuổi
- Bà mẹ thứ ba 28 tuổi tham gia phỏng vấn sâu được mã hóa là BM3, 28 tuổi
- Bà mẹ thứ tư 29 tuổi tham gia phỏng vấn sâu được mã hóa là BM4, 29 tuổi
- Bà mẹ thứ năm 30 tuổi tham gia phỏng vấn sâu được mã hóa là BM5, 30 tuổi
- Bà mẹ thứ sáu 32 tuổi tham gia phỏng vấn sâu được mã hóa là BM6, 32 tuổi
- Bà mẹ thứ bảy 37 tuổi tham gia phỏng vấn sâu được mã hóa là BM7, 37 tuổi
Một số khái niệm, chỉ tiêu đánh giá được dùng trong nghiên cứu
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng một số khái niệm như sau:
Trẻ em có bất kỳ vấn đề sức khỏe nào kéo dài trên một ngày trong 4 tuần trước buổi phỏng vấn, bao gồm tai nạn, ho, sốt, tiêu chảy, ngộ độc và bỏng, cần được chú ý đặc biệt.
- Tai nạn: tai nạn giao thông, động vật cắn, đuối nước, tai nạn thương tích…
- Ngộ độc: ngộ độc thức ăn, hóa chất…
- Bỏng: điện giật, nước sôi, lửa…
Tuyến y tế công lập bao gồm các nhân viên y tế tại phường, trạm y tế (TYT), phòng khám đa khoa khu vực, bệnh viện quận, bệnh viện thành phố và bệnh viện trung ương, cùng với các cơ sở y tế nhà nước khác.
- Tuyến y tế ngoài công lập: thầy thuốc tư nhân, phòng khám, nhà thuốc, bệnh viện tư nhân bao gồm cả y học cổ truyền và tây y
Hiệu thuốc không phân biệt giữa nhà nước và tư nhân, vì bà mẹ thường không chú ý đến chủ sở hữu Điều này ảnh hưởng đến việc điều trị ngoại trú.
Trường hợp khám, điều trị hoặc sử dụng dịch vụ tại CSYT mà không phải qua đêm tại CSYT Điều trị nội trú
Trường hợp khám hoặc điều trị mà phải qua đêm tại CSYT
Tự mua thuốc về chữa (tự điều trị)
Trẻ không được khám bệnh mà mua thuốc, sử dụng thuốc của người khác mua hoặc tại nhà (bao gồm cả mua theo đơn cũ)
Mời thầy thuốc về nhà chữa trị
Gia đình liên hệ với nhân viên y tế về nhà để khám bệnh và chữa trị cho trẻ, không đưa trẻ đến các CSYT
Mức độ nặng/nhẹ của bệnh
Mức độ bệnh của trẻ theo 3 mức độ: nặng, vừa, nhẹ được đánh giá theo quan điểm của bà mẹ
Mức độ hài lòng của bà mẹ
Thang điểm đánh giá mức độ hài lòng được mã hóa thành 2 nhóm "Hài lòng" (4-5 điểm) và "Không hài lòng" (1-3 điểm).
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu định tính cũng như nghiên cứu định lượng đều tuân thủ quy định về đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành khi có sự cho phép của chính quyền và TYT phường Thành Công
Các đối tượng tham gia được cung cấp đầy đủ thông tin về nghiên cứu
Các số liệu thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích học tập và nghiên cứu chứ không vì mục đích nào khác
Đối tượng tham gia nghiên cứu là tự nguyện không ép buộc
Nghiên cứu phải được sự chấp thuận của Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học của Trường Đại học Y tế công cộng
Kết quả nghiên cứu sẽ được gửi đến TYT phường Thành Công sau khi hoàn tất Những kết quả này sẽ là cơ sở để TYT thực hiện tuyên truyền, khuyến khích người dân đưa trẻ đến các cơ sở y tế khi trẻ bị bệnh, thay vì tự điều trị tại nhà.
Hạn chế của đề tài, sai số trong nghiên cứu và hướng khắc phục
2.10.1 Hạn chế của đề tài
Do hạn chế về thời gian, nghiên cứu chỉ đánh giá việc sử dụng dịch vụ trong 4 tuần và số bệnh trẻ mắc nặng nhất trong lần gần đây nhất, do đó không phản ánh đầy đủ tình hình bệnh tật chung trong cả năm hoặc các bệnh có tính chất theo mùa có thể bị bỏ sót.
Nghiên cứu mới chỉ đánh giá sử dụng dịch vụ từ phía người dân 1 phường nên tính khái quát chưa cao
Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh (KCB) cho trẻ dưới 6 tuổi hiện tại chỉ tập trung vào ý kiến của các bà mẹ, mà chưa xem xét ý kiến từ các nguồn khác.
Hệ thống HUPH của các cán bộ y tế (trạm y tế phường, bệnh viện, phòng khám tư) chưa được nghiên cứu đầy đủ về các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh, dẫn đến việc chưa có những khuyến nghị phù hợp.
Khung lý thuyết trong nghiên cứu dựa trên mô hình của Andersen chỉ đáp ứng mục tiêu mô tả thực trạng sử dụng dịch vụ KCB cho trẻ dưới 6 tuổi, nhưng chưa xác định đầy đủ các yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng dịch vụ này, đặc biệt là các yếu tố từ phía nhà cung cấp dịch vụ y tế như tính sẵn có, khả năng tiếp cận và khả năng chi trả Điều này dẫn đến việc chưa tìm hiểu sâu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ KCB cho trẻ Hơn nữa, mô hình của Andersen chỉ đánh giá từ góc độ xã hội học, tập trung vào hành vi và thái độ trong việc tìm kiếm dịch vụ y tế, do đó chưa đáp ứng được yêu cầu thay đổi chính sách y tế công cộng Những hạn chế này có thể mở ra cơ hội cho các nghiên cứu khác phân tích sâu hơn về các yếu tố này.
Bà mẹ có thể nhầm lẫn về số lần bị bệnh của trẻ do nghiên cứu trong khoảng thời gian 4 tuần nên bị mắc sai số nhớ lại
Khó tiếp cận đối tượng nghiên cứu hơn do đặc điểm ở thành phố người dân đi làm ban ngày và chỉ buổi tối mới ở nhà
Tập huấn kỹ cho điều tra viên về nội dung nghiên cứu
Đối tượng tham gia nghiên cứu được thông báo rõ ràng về mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu, đồng thời được khuyến khích tham gia một cách tự nguyện Sau khi hoàn thành phiếu điều tra, điều tra viên sẽ kiểm tra ngay lập tức và yêu cầu bổ sung những thông tin còn thiếu.
Để giảm thiểu sai số trong việc nhớ lại của bà mẹ, điều tra viên đã gắn thời gian 4 tuần từ khi thu thập dữ liệu với sự kiện cụ thể, giúp bà mẹ dễ dàng nhớ lại tình trạng ốm của trẻ.
Số liệu được kiểm tra và làm sạch trước khi nhập
Để giảm thiểu sai sót trong quá trình nhập liệu, nhóm nghiên cứu đã sử dụng phần mềm Epi Data để nhập số liệu, đồng thời có một người khác kiểm tra 10% số phiếu phát vấn đã được nhập.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Thông tin chung về bà mẹ
Trong nghiên cứu này, chúng tôi dự định chọn 384 hộ gia đình có bà mẹ có con dưới 6 tuổi bị ốm trong 4 tuần trước thời điểm nghiên cứu Tuy nhiên, chỉ có 350 bà mẹ tham gia do 34 bà mẹ từ chối hoặc không gặp được điều tra viên sau 3 lần đến nhà.
Bảng 3.1 Các thông tin chung về bà mẹ tham gia nghiên cứu (N = 350) Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)
≤ Trung học phổ thông (Cấp III) 89 25,4
Từ Đại học trở lên 140 40
Thu nhập bình quân (người/tháng)
Nghiên cứu được thực hiện trên 350 bà mẹ tại phường Thành Công có con dưới 6 tuổi bị ốm trong 4 tuần trước khi thu thập số liệu Tuổi trung bình của các bà mẹ là 31,28, với độ tuổi lớn nhất là 51 và nhỏ nhất là 19 Đặc biệt, nhóm tuổi từ 25 đến 35 chiếm tỷ lệ cao nhất, lên tới 74,9% (262 trường hợp), trong khi nhóm dưới 25 tuổi chỉ chiếm 6% và nhóm trên 35 tuổi chiếm 19,1%.
Tại địa bàn nghiên cứu, tỷ lệ các bà mẹ là cán bộ/viên chức chiếm ưu thế cao nhất với 41,1% Tiếp theo, tỷ lệ bà mẹ làm nội trợ hoặc thất nghiệp là 22,9%, trong khi tỷ lệ các bà mẹ tham gia buôn bán đạt 18,9%.
Trong số các bà mẹ, tỷ lệ có trình độ học vấn từ đại học trở lên chiếm 40% (140 trường hợp), trong khi đó, tỷ lệ các bà mẹ có trình độ trung cấp, cao đẳng là 34,6% (121 trường hợp) Tỷ lệ các bà mẹ có trình độ từ cấp 3 trở xuống thấp nhất, chỉ đạt 25,4% (89 trường hợp).
Gia đình có thu nhập bình quân từ 3 triệu trở xuống chiếm tỷ lệ cao nhất với 50%, tiếp theo là các hộ gia đình có thu nhập từ 3 đến 5 triệu, chiếm 39,7% Chỉ có 10,3% số gia đình được hỏi có thu nhập từ 5 triệu trở lên, cho thấy tỷ lệ này là thấp nhất.
Kết quả nghiên cứu cho thấy 82,6% các bà mẹ có 1 con dưới 6 tuổi, trong khi 17,1% có 2 con dưới 6 tuổi, và chỉ có 0,3% bà mẹ có 3 con dưới 6 tuổi.
Bảng 3.2 Người quyết định lựa chọn dịch vụ khám chữa bệnh cho trẻ
Người quyết định lựa chọn dịch vụ KCB cho trẻ Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Khi được hỏi về người quyết định lựa chọn sử dụng dịch vụ KCB cho trẻ, có
Trong một khảo sát, 326 bà mẹ (93,1%) cho biết rằng họ là người quyết định lựa chọn dịch vụ khám chữa bệnh (KCB) cho trẻ khi trẻ ốm, trong khi chỉ có 24 bà mẹ (6,9%) cho rằng người thân khác là người quyết định Thông tin chi tiết có thể tham khảo trong bảng 3.2.
Bảng 3.3 trình bày hiểu biết của các bà mẹ về chính sách khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi, với tần số (n) và tỷ lệ (%) được ghi nhận.
Kết quả khảo sát cho thấy 98,6% bà mẹ trong số 350 người được hỏi đã biết về chính sách khám chữa bệnh miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi, trong khi chỉ có 1,4% (5 bà mẹ) không nắm rõ thông tin này Chi tiết có thể tham khảo trong bảng 3.3.
Bảng 3.4 Hỗ trợ của cán bộ y tế phường về các vấn đề sức khỏe
Hỗ trợ của CBYT phường Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Truyền thông về sức khỏe 148 75,1
Tư vấn xử trí bệnh của trẻ 48 24,4
Khi được hỏi về sự hỗ trợ của CBYT xã phường trong việc tư vấn sức khỏe tại gia đình, có 148 bà mẹ (75,1%) cho biết họ nhận được sự hỗ trợ truyền thông về sức khỏe Ngoài ra, 48 bà mẹ (24,4%) được hỗ trợ trong việc xử trí bệnh của trẻ, trong khi chỉ có 1 bà mẹ (0,5%) nhận được hỗ trợ về các vấn đề khác Chi tiết có thể tham khảo trong bảng 3.4.
Bảng 3.5 Hiểu biết về các cơ sở khám chữa bệnh quanh khu vực sinh sống của bà mẹ (N = 350)
Cơ sở KCB quanh khu vực sinh sống Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Bệnh viện chuyên khoa nhi 264 75,4
Trong một nghiên cứu với 350 bà mẹ, tỷ lệ nhận thức về các cơ sở khám chữa bệnh (KCB) trong khu vực cho thấy sự khác biệt rõ rệt Cụ thể, 75,4% bà mẹ biết đến bệnh viện chuyên khoa nhi, 59,4% biết về trạm y tế (TYT), 50,6% nhận thức về bệnh viện đa khoa, và 37,4% biết đến phòng khám đa khoa tại địa bàn nghiên cứu.
3.1.2 Thông tin về trẻ dưới 6 tuổi bị ốm trong 4 tuần qua
Biểu đồ 3.1 Giới tính của trẻ ốm
Kết quả nghiên cứu cho thấy trong vòng 4 tuần trước, tỷ lệ trẻ em dưới 6 tuổi bị ốm cao hơn ở trẻ nam so với trẻ nữ, với 63,4% (222 trẻ) là trẻ nam và 36,6% (128 trẻ) là trẻ nữ Thông tin chi tiết được thể hiện trong Biểu đồ 3.1.
Bảng 3.6 Thứ tự của trẻ ốm (N = 350) Thứ tự của trẻ ốm trong gia đình Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trẻ em ốm trong gia đình cao nhất là con thứ nhất, với 189 trẻ (54,3%), tiếp theo là con thứ hai với 146 trẻ (41,7%), và con thứ ba chỉ có 1 trẻ (3%).
Bảng 3.7 Thông tin về tuổi của trẻ ốm
Nhóm tuổi Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Bảng 3.7 cho thấy, tuổi trung bình của trẻ ốm trong nghiên cứu là 2,3; nhóm trẻ từ 1 đến 3 tuổi chiếm tỷ lệ nhiều nhất với 148 trường hợp (42,3%), nhóm trẻ dưới
1 tuổi chiếm tỷ lệ ít nhất với 72 trường hợp (20,6%), còn lại là nhóm trẻ từ 3 đến dưới
Bảng 3.8 Các vấn đề sức khỏe của trẻ (N = 350)
Vấn đề về sức khỏe Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Nhiễm khuẩn hô hấp, bệnh liên quan đến hô hấp 123 35,1
Tiêu chảy, các vấn đề về tiêu hóa 70 20
Ngộ độc, tai nạn, bỏng 29 8,3
Trong 4 tuẩn trước ngày điều tra, trẻ bị mắc các bệnh về đường hô hấp chiếm tỷ lệ lớn nhất là 35,1%; tiếp theo là bệnh tiêu chảy, các vấn đề về tiêu hóa (20%); sốt, bệnh dịch (18,3%); các bệnh về da liễu (10,3%); ngộ độc, tai nạn, bỏng (8,3%)
Bảng 3.9 Mức độ bệnh của trẻ
Mức độ bệnh Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Theo ý kiến của các bà mẹ, phần lớn trẻ em bị bệnh chỉ ở mức độ nhẹ và vừa, chiếm tới 94%, trong khi trẻ em ốm nặng chỉ chiếm 6% Thông tin chi tiết có thể tham khảo trong bảng 3.9.
Bảng 3.10 Tần suất ốm của trẻ trong 4 tuần qua Tuần suất ốm trong 4 tuần vừa qua Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Một số yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh cho trẻ 48 1 Một số yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh cho trẻ dưới 6 tuổi
3.2.1 Một số yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh cho trẻ dưới 6 tuổi
Bảng 3.23 Liên quan giữa đặc điểm của bà mẹ với hành vi sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh cho trẻ tại cơ sở y tế Các yếu tố
Hành vi sử dụng dịch vụ KCB tại CSYT OR
Hành vi sử dụng dịch vụ KCB tại CSYT OR
Từ Đại học trở lên 131 (93,6) 9 (6,4)
Thu nhập bình quân người/tháng
Bảng 3.23 chỉ ra sự khác biệt trong hành vi sử dụng dịch vụ KCB cho trẻ dưới 6 tuổi giữa các nhóm tuổi của bà mẹ, với giá trị thống kê là χ2 = 5,062 và p < 0,05 Nhóm tuổi từ 25 đến
35 tuổi sử dụng dịch vụ KCB tại CSYT là cao nhất và cao hơn nhóm tuổi trên 35 là 2,825 lần một cách có ý nghĩa thống kê (OR = 2,825, CI: 1,1-7,2: p< 0,05)
Không có mối liên quan giữa yếu tố nghề nghiệp của mẹ với hành vi sử dụng dịch vụ KCB tại CSYT cho trẻ dưới 6 tuổi (χ2 = 1,682; p > 0,05)
Không có mối liên quan giữa trình độ học vấn của bà mẹ với hành vi sử dụng dịch vụ KCB cho trẻ tại CSYT (χ2 = 0,805; p > 0,05)
Nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa thu nhập bình quân của hộ gia đình và hành vi sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh (KCB) cho trẻ tại cơ sở y tế (CSYT), với giá trị thống kê χ2 = 10,226 và p < 0,05 Cụ thể, gia đình có thu nhập trên 3 triệu đồng có xu hướng sử dụng dịch vụ KCB cho trẻ nhiều hơn.
HUPH trẻ đến CSYT cao hơn gia đình có thu nhập dưới 3 triệu là 5,23 lần một cách có ý nghĩa thống kê (OR = 5,23; CI:1,7-16,7; p < 0,05) Chi tiết xem bảng 3.23
Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa số con dưới 6 tuổi với hành vi sử dụng dịch vụ KCB tại CSYT cho trẻ dưới 6 tuổi (χ2 = 0,087; p > 0,05)
Bảng 3.24 Liên quan giữa đặc điểm của trẻ với hành vi sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh Các yếu tố
Hành vi sử dụng dịch vụ
Mức độ bệnh của trẻ
Tuần suất ốm trong vòng 4 tuần
Hành vi sử dụng dịch vụ
Tỷ lệ trẻ có thẻ bảo hiểm y tế miễn phí Đã được cấp 316 (94) 20 (6)
Khoảng cách đưa trẻ đến CSYT
Tỷ lệ trẻ nam sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh (KCB) cao gấp 3,5 lần so với trẻ nữ Mặc dù có sự chênh lệch này, nhưng hành vi sử dụng dịch vụ KCB giữa trẻ nam và nữ không có ý nghĩa thống kê (χ2 = 7,39; p > 0,05).
Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nhóm tuổi của trẻ với hành vi sử dụng dịch vụ KCB tại CSYT (χ2 = 0,464; p > 0,05)
Nghiên cứu chỉ ra rằng có sự liên quan giữa mức độ bệnh của trẻ và hành vi sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại cơ sở y tế Cụ thể, tỷ lệ trẻ mắc bệnh mức độ vừa và nặng được đưa đến cơ sở y tế cao gấp 13,6 lần so với trẻ mắc bệnh nhẹ, với giá trị thống kê đáng kể (χ2 = 10,613; p < 0,05; OR = 13,6; CI: 1,8-103,01; p < 0,05).
Kết quả từ bảng 3.24 chỉ ra rằng tỷ lệ trẻ ốm từ 2 lần trở lên cao hơn 1,4 lần so với tỷ lệ trẻ ốm 1 lần Tuy nhiên, sự khác biệt về hành vi sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh giữa hai tỷ lệ này không có ý nghĩa thống kê (χ2 = 0,214; p > 0,05).
Bảng 3.24 chỉ ra rằng có sự liên quan giữa sự hỗ trợ của CBYT và hành vi sử dụng dịch vụ KCB cho trẻ Cụ thể, trẻ em nhận được sự hỗ trợ từ CBYT có khả năng được đưa đến cơ sở y tế cao gấp 3,2 lần so với những trẻ không nhận được sự hỗ trợ, với kết quả có ý nghĩa thống kê (OR = 3,2; CI: 1,2-8,3; p < 0,05).
Kết quả từ bảng 3.24 chỉ ra rằng không tồn tại mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ trẻ em có thẻ bảo hiểm y tế và khoảng cách đến cơ sở y tế với hành vi sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại cơ sở y tế (p > 0,05).
Bảng 3.25 trình bày mối liên hệ giữa sự hài lòng của các bà mẹ với các yếu tố tại cơ sở y tế và hành vi sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh cho trẻ em tại các cơ sở này.
Hành vi sử dụng dịch vụ KCB tại CSYT OR
(%) Vấn đề vệ sinh, không gian KCB
Trình độ chuyên môn của CBYT
Thái độ phục vụ của CBYT
Có sự liên quan giữa niềm tin của các bà mẹ vào vấn đề vệ sinh và không gian khám chữa bệnh (KCB) với hành vi sử dụng dịch vụ KCB cho trẻ tại cơ sở y tế (CSYT) Cụ thể, các bà mẹ có niềm tin vào vệ sinh và không gian KCB có khả năng sử dụng dịch vụ KCB tại CSYT cao gấp 3,04 lần so với những bà mẹ không có niềm tin, với kết quả có ý nghĩa thống kê (OR = 3,04; CI: 1,1-8,1; p).
Bà mẹ có niềm tin vào trình độ chuyên môn của cán bộ y tế (CBYT) sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh (KCB) cho trẻ tại cơ sở y tế (CSYT) cao gấp 3,6 lần so với những bà mẹ không tin tưởng Mối liên quan này có ý nghĩa thống kê với tỷ lệ odds (OR) là 3,6, khoảng tin cậy (CI) từ 1,43 đến 9,9, và giá trị p nhỏ hơn 0,05.
Kết quả từ bảng 3.25 chỉ ra rằng không tồn tại mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa sự hài lòng về thái độ phục vụ của cán bộ y tế và hành vi sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại cơ sở y tế.
(p > 0,05) dù tỷ lệ hài lòng lớn hơn tỷ lệ không hài lòng đối với thái độ phục vụ của CBYT
3.2.2 Một số nguyên nhân liên quan đến việc bà mẹ lựa chọn cơ sở y tế để chăm sóc sức khỏe cho trẻ và các rào cản trong việc sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của bà mẹ tại phường Thành Công, quận Ba Đình, Hà Nội
3.2.2.1 Một số nguyên nhân liên quan đến việc bà mẹ lựa chọn cơ sở y tế để chăm sóc sức khỏe cho trẻ
Ngoài các nguyên nhân chính mà bà mẹ lựa chọn cơ sở y tế (CSYT) để chăm sóc sức khỏe cho trẻ, như sự gần gũi và niềm tin vào chất lượng khám chữa bệnh, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn sâu 07 bà mẹ có con bị ốm trong 4 tuần qua để tìm hiểu thêm về các yếu tố khác ảnh hưởng đến quyết định này.
Hầu hết các bà mẹ lựa chọn các CSYT khi trẻ bị bệnh do bà mẹ tin tưởng chất lượng dịch vụ của cơ sở KCB
Nếu như ở tuyến dưới, chẳng hạn như TYT, chỉ đưa con đi tiêm phòng, thì mình không đưa đến KCB vì không tin tưởng vào chất lượng dịch vụ.
"Thực ra thì do không tin tưởng nên đưa luôn vào Nhi trung ương" (BM4, 29 tuổi)
TYT không phải là chuyên gia trong lĩnh vực này Tôi gặp vấn đề về tai mũi họng và đã được chị đưa đến phòng khám bác sĩ tại bệnh viện Tai mũi họng.
"Mình thì không có chuyên môn về ngành y, về y tế nên mình cứ đưa các cháu đến đấy khám cho yên tâm" (BM6, 32 tuổi)
"Bởi vì chị tin tưởng chất lượng khám chữa bệnh ở đó" (BM4, 29 tuổi)
BÀN LUẬN
Nghiên cứu về 350 bà mẹ có con dưới 6 tuổi tại phường Thành Công, quận Ba Đình, Hà Nội cho thấy rằng độ tuổi của các bà mẹ chủ yếu nằm trong khoảng từ 25 đến 35 tuổi, chiếm 74,9%, trong khi nhóm dưới 25 tuổi chỉ chiếm 6% và nhóm trên 35 tuổi chiếm 19,1% (Bảng 3.1) Kết quả này phản ánh thực tế rằng đây là độ tuổi thuận lợi cho việc sinh đẻ và nuôi con nhỏ, đồng thời cũng tương đồng với nghiên cứu của Vũ Minh Thúy, trong đó 71% bà mẹ thuộc độ tuổi từ 25 đến 35.
Tại phường Thành Công, tỷ lệ các bà mẹ là cán bộ/viên chức đạt 41,1%, trong khi đó, tỷ lệ bà mẹ nội trợ hoặc thất nghiệp là 22,9%, buôn bán chiếm 18,9% và các nghề khác là 17,1% Với trình độ dân trí cao và kinh tế xã hội phát triển, phường này có 40% bà mẹ có trình độ đại học trở lên, 34,6% có trình độ trung cấp, cao đẳng, và 25,4% có trình độ phổ thông Trình độ học vấn cao của các bà mẹ đã ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn dịch vụ khám chữa bệnh cho trẻ.
Nghiên cứu cho thấy, tại phường Thành Công, 82,6% hộ gia đình có 1 con dưới 6 tuổi, trong khi 17,1% có 2 con dưới 6 tuổi, điều này cho phép trẻ em nhận được sự quan tâm và chăm sóc tốt hơn từ gia đình Hơn nữa, 93,1% quyết định lựa chọn dịch vụ khám chữa bệnh cho trẻ em chủ yếu thuộc về bố hoặc mẹ, trong khi người thân khác chỉ chiếm 6,9%.
Cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi là một chính sách quan trọng nhằm đảm bảo sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe cho trẻ em tại Việt Nam Để chính sách này được thực hiện hiệu quả và trẻ em có thể hưởng đầy đủ quyền lợi về chăm sóc sức khỏe, việc nâng cao hiểu biết của cha mẹ về chính sách là rất cần thiết Nghiên cứu cho thấy đa số các bà mẹ cần được thông tin rõ ràng về quyền lợi và quy trình liên quan đến bảo hiểm y tế cho trẻ nhỏ.
Chính sách KCB miễn phí cho trẻ đã được 98,6% các bà mẹ biết đến, tuy nhiên vẫn còn khoảng 1,4% chưa nắm rõ thông tin này Điều này cho thấy vẫn còn một số trẻ em chưa được hưởng sự công bằng trong chăm sóc sức khỏe.
Kết quả nghiên cứu cho thấy 56,3% các bà mẹ nhận được sự hỗ trợ từ CBYT phường, trong khi 43,7% không nhận được Sự hỗ trợ chủ yếu đến từ truyền thông giáo dục sức khỏe, chiếm 42,3% Hầu hết các bà mẹ cho rằng TYT phường chỉ là nơi để tiêm chủng cho con, không phải là nơi chữa bệnh.
Tỷ lệ nhận thức của các bà mẹ về các cơ sở khám chữa bệnh (KCB) trong khu vực có sự khác biệt, với 75,4% biết đến bệnh viện chuyên khoa nhi và 59,4% biết về trạm y tế (TYT) Vị trí địa lý thuận lợi và giao thông dễ dàng đến các cơ sở như bệnh viện Nhi trung ương và bệnh viện Xanh Pôn đã góp phần làm tăng hiểu biết của các bà mẹ về KCB, từ đó mở ra nhiều lựa chọn hơn cho việc chăm sóc sức khỏe cho con cái.
4.1.2 Thông tin về sức khỏe trẻ em và hành vi sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh cho trẻ
Nghiên cứu cho thấy trẻ dưới 6 tuổi bị ốm trong 4 tuần qua, với tỷ lệ trẻ nam cao hơn trẻ nữ (63,4% so với 36,6%) (Biểu đồ 3.1) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Vũ Minh Thúy, cho thấy tỷ lệ trẻ nam bị ốm là 53,4% so với 46,6% ở trẻ nữ [25] Theo các nhà nghiên cứu, nguyên nhân có thể do thời điểm nghiên cứu rơi vào giai đoạn giao mùa và trẻ nam thường hiếu động hơn, dẫn đến nguy cơ ốm cao hơn.
Trẻ dưới 3 tuổi có tỷ lệ ốm cao hơn trẻ từ 3 - 6 tuổi, với 62,9% so với 37,1% Nghiên cứu của Vũ Minh Thúy cũng cho thấy trẻ dưới 3 tuổi ốm nhiều hơn trẻ từ 3 - 5 tuổi (67,6% so với 32,4%) Tương tự, nghiên cứu của Trần Mạnh Tùng chỉ ra rằng trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo bé (dưới 3 tuổi) có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn các nhóm khác, chiếm 67% Nguyên nhân có thể là do trẻ từ 1 đến dưới 2 tuổi bắt đầu ăn bổ sung, trong khi hệ miễn dịch của trẻ chưa hoàn thiện, dẫn đến việc dễ bị ốm hơn so với trẻ từ 3 - 6 tuổi.
HUPH và đây cũng là lứa tuổi nhỏ mới tiếp xúc với môi trường xã hội, nên khả năng mắc bệnh cao
Trong 4 tuần trước thời điểm điều tra, trẻ mắc các bệnh hô hấp chiếm tỷ lệ cao nhất (35,1%), tiếp theo là sốt và bệnh dịch (18,3%), các bệnh về da liễu (10,3%), và ngộ độc, tai nạn, bỏng (8,3%) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Vũ Minh Thúy, cho thấy trẻ mắc bệnh hô hấp chiếm 90,7% trong số các bệnh thường gặp Tương tự, Trần Mạnh Tùng cũng ghi nhận trẻ dưới 6 tuổi chủ yếu mắc bệnh đường hô hấp (53%) Nguyên nhân là do thời kỳ chuyển mùa với nhiệt độ thay đổi thất thường khiến cơ thể trẻ nhạy cảm, dễ mắc bệnh do virus và vi khuẩn Thời điểm này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các tác nhân gây bệnh hô hấp, dẫn đến tỷ lệ trẻ mắc bệnh tăng cao.
Trong 4 tuần qua, nghiên cứu cho thấy 86,6% trẻ em chỉ bị ốm một lần, trong khi 13,4% mắc bệnh từ hai lần trở lên Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Vũ Minh Thúy, trong đó 82,9% trẻ chỉ bị ốm một lần, và nghiên cứu của Trần Mạnh Tùng cho thấy 80% trẻ mắc bệnh đơn thuần, còn 20% mắc phối hợp từ hai bệnh trở lên Điều này cho thấy trẻ nhỏ là đối tượng dễ mắc bệnh, có thể bị ốm nhiều lần trong tháng.
Sự phát triển của xã hội đã thúc đẩy sự tiến bộ trong tất cả các ngành nghề, bao gồm cả ngành Y tế Hệ thống y tế, cả nhà nước lẫn tư nhân, ngày càng được mở rộng, mang lại nhiều lựa chọn cho người dân trong việc chăm sóc sức khỏe cho bản thân và con cái Nghiên cứu cho thấy, trong số 350 bà mẹ có con dưới 6 tuổi bị ốm trong 4 tuần qua, 34% chọn đưa con đến bệnh viện trung ương để điều trị, trong khi chỉ 5% lựa chọn đến trạm y tế phường Điều này phản ánh rõ ràng xu hướng ưu tiên của các bà mẹ trong việc tìm kiếm dịch vụ y tế chất lượng.
HUPH là những phường nằm ở trung tâm quận Ba Đình, nơi có nhiều bệnh viện hàng đầu của cả nước, giúp bà mẹ dễ dàng tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh Hơn nữa, với 40% bà mẹ tham gia nghiên cứu có trình độ đại học trở lên, họ có xu hướng chọn các bệnh viện tuyến trung ương có chất lượng tốt nhất cho con cái Kết quả phỏng vấn sâu cũng xác nhận xu hướng này.
Chỉ 5% bà mẹ đưa con đến Trạm Y tế (TYT) phường khi trẻ bị ốm, cho thấy sự thiếu tin tưởng vào chất lượng khám chữa bệnh và trình độ của cán bộ y tế tại đây là rào cản lớn nhất Nghiên cứu phỏng vấn sâu các bà mẹ đã chỉ ra rằng niềm tin vào dịch vụ y tế là yếu tố quyết định trong việc lựa chọn nơi khám chữa bệnh cho trẻ.
TYT phường là cơ sở y tế gần gũi nhất với người dân, cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh (KCB) và phòng ngừa cho cộng đồng Tuy nhiên, chỉ có 11,43% bà mẹ tiếp cận thông tin qua cán bộ y tế, trong khi 52% bà mẹ tìm kiếm dịch vụ KCB cho trẻ qua phương tiện thông tin đại chúng Điều này góp phần làm giảm tỷ lệ bà mẹ đưa trẻ đến KCB tại TYT, chỉ đạt 5%.