ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân đang điều trị methadone tại cơ sở điều trị methadone huyện Kinh Môn- Hải Dương đảm bảo các tiêu chuẩn sau:
- Điều trị methadone duy trì từ 03 tháng trở lên
- Có sức khỏe, tỉnh táo và có khả năng hiểu trả lời câu hỏi
- Đồng ý tham gia vào nghiên cứu
- Có mặt tại địa bàn trong thời điểm điều tra
- Cán bộ y tế làm việc tại cơ sở điều trị methadone
- Người nhà của những bệnh nhân được chọn tham gia vào nghiên cứu và trên 18 tuổi
- Bệnh nhân đang điều trị methadone đủ tiêu chuẩn tham gia vào nghiên cứu.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 3/2015 đến hết tháng 6/2015 tại huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang sử dụng phương pháp định lượng kết hợp định tính.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Toàn bộ bệnh nhân (gồm 150 bệnh nhân) đáp ứng tiêu chí nghiên cứu và hồ sơ bệnh án của những bệnh nhân này được chọn vào nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu định tính bao gồm:
Tại cơ sở điều trị methadone, có 03 cán bộ y tế đang làm việc, bao gồm trưởng cơ sở, một bác sĩ điều trị và một cán bộ tư vấn Họ đều có kinh nghiệm làm việc tại cơ sở này.
HUPH trị từ 1 năm trở lên; trực tiếp tư vấn và điều trị cho bệnh nhân đã được chọn làm đối tượng phỏng vấn sâu
Trong nghiên cứu về điều trị methadone, 06 người nhà của bệnh nhân đủ tiêu chuẩn đã tham gia phỏng vấn sâu Sau khi hoàn tất phỏng vấn định lượng và có kết quả xét nghiệm nước tiểu, chúng tôi đã liên hệ với những người nhà bệnh nhân để mời họ tham gia phỏng vấn Cuối cùng, nghiên cứu bao gồm 03 người nhà bệnh nhân vẫn đang sử dụng chất gây nghiện và 03 người nhà bệnh nhân đã ngừng sử dụng chất gây nghiện.
Ba bệnh nhân đang điều trị bằng methadone đã được xác định là sử dụng chất gây nghiện Sau khi hoàn thành phỏng vấn định lượng và nhận kết quả xét nghiệm nước tiểu, các nghiên cứu viên đã mời những bệnh nhân có kết quả dương tính tham gia phỏng vấn sâu Quá trình này sẽ dừng lại khi đủ số lượng bệnh nhân đồng ý tham gia.
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng 05 bệnh nhân điều trị bằng methadone đã ngừng sử dụng chất gây nghiện Sau khi hoàn thành phỏng vấn định lượng và nhận được kết quả xét nghiệm nước tiểu, các nghiên cứu viên đã mời những bệnh nhân có kết quả âm tính tham gia thảo luận nhóm, và tiếp tục mời cho đến khi đạt đủ số lượng cần thiết.
Tổng số đã thực hiện 12 phỏng vấn sâu và 01 thảo luận nhóm.
Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Thu thập thông tin định lượng Điều tra viên phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu tại cơ sở điều trị, một số đối tượng nghiên cứu hẹn địa điểm tại nơi thuận tiện cho họ như nhà đối tượng hoặc quán nước Bộ câu hỏi phỏng vấn bệnh nhân được sử dụng để phỏng vấn bệnh nhân (Phụ lục 2) Điều tra viên là nghiên cứu viên chính và 02 cán bộ Trung tâm Y tế huyện được nhóm nghiên cứu lựa chọn để thực hiện phỏng vấn điều tra định lượng Các điều tra viên được tập huấn kỹ về nội dung và yêu cầu của cuộc điều tra, các kỹ năng tiếp cận, phỏng vấn Sau khi điều tra viên nộp phiếu điều tra cho giám sát viên Giám sát viên (là nghiên cứu viên chính) kiểm tra chất lượng các thông tin đã thu thập trong phiếu điều tra, những phiếu không đạt đã được yêu cầu điều tra viên đó làm lại
Nghiên cứu viên chính đã thực hiện việc trích lục thông tin từ bệnh án của 150 bệnh nhân Mẫu thu thập thông tin từ bệnh án được thiết kế sẵn nhằm đảm bảo thu thập dữ liệu một cách hiệu quả (Phụ lục 1).
2.5.2 Thu thập thông tin định tính
Nghiên cứu sử dụng phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm để thu thập thông tin định tính, với nghiên cứu viên chính thực hiện trực tiếp Các cuộc phỏng vấn sâu với cán bộ y tế diễn ra tại Trung tâm Y tế huyện Kinh Môn, trong khi phỏng vấn bệnh nhân và người nhà được thực hiện tại nhà của bệnh nhân Thảo luận nhóm bệnh nhân được tổ chức tại cơ sở điều trị Nội dung hướng dẫn cho phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được tham khảo từ các phụ lục tương ứng Tất cả các cuộc phỏng vấn và thảo luận đều được ghi âm với sự đồng ý của đối tượng nghiên cứu.
Các biến số nghiên cứu
Các biến số của nghiên cứu này được chia thành năm nhóm chính sau đây (Bảng biến số được trình bày chi tiết ở Phụ lục 8):
Nhóm biến số thông tin chung của đối tượng nghiên cứu bao gồm: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, tình trạng việc làm, tiền sử sử dụng chất dạng thuốc phiện, tiền sử cai nghiện và tham gia nhóm đồng đẳng.
Nhóm biến số liên quan đến kết quả điều trị methadone của đối tượng nghiên cứu bao gồm liều điều trị, tình trạng sử dụng chất gây nghiện, mức độ tuân thủ điều trị, hành vi tiêm chích ma túy, việc sử dụng bao cao su, tình trạng sức khỏe, sự thay đổi cân nặng, và các tác dụng phụ gặp phải trong quá trình điều trị methadone.
Nhóm biến số liên quan đến yếu tố gia đình của đối tượng nghiên cứu bao gồm kinh tế hộ gia đình, sự hỗ trợ từ gia đình, người hỗ trợ chính và các hình thức hỗ trợ trong quá trình điều trị cho bệnh nhân.
Sự hài lòng của bệnh nhân đối với thái độ của cán bộ y tế là yếu tố quan trọng, bao gồm cảm nhận về bác sỹ điều trị, cán bộ tư vấn, cán bộ xét nghiệm, cán bộ hành chính, cán bộ cấp thuốc, và cán bộ điều dưỡng Các dịch vụ được cung cấp tại cơ sở điều trị cũng góp phần vào mức độ hài lòng này.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị của đối tượng nghiên cứu bao gồm việc tham gia hoạt động cùng bạn bè sử dụng chất gây nghiện, sự hỗ trợ từ cộng đồng, và thái độ của cộng đồng đối với bệnh nhân điều trị methadone.
Các khái niệm, tiêu chuẩn đánh giá sử dụng trong nghiên cứu này
2.7.1 Tình trạng sử dụng chất gây nghiện
Tình trạng bệnh nhân sử dụng hoặc không sử dụng các chất gây nghiện khác trong quá trình điều trị methadone được theo dõi thông qua việc thử nghiệm nước tiểu Việc này được thực hiện với sự giám sát chặt chẽ của nhân viên y tế và bệnh nhân không được thông báo trước về việc kiểm tra.
Cách đánh giá xét nghiệm CDTP trong nước tiểu:
- Dương tính: Bệnh nhân đang còn sử dụng CDTP
- Âm tính: Bệnh nhân không còn sử dụng CDTP
2.7.2 Tình trạng tuân thủ điều trị
Theo quy định của Bộ Y tế, tại cơ sở điều trị methadone huyện Kinh Môn, tình trạng tuân thủ điều trị được phân thành hai loại.
Bệnh nhân cần tuân thủ điều trị bằng cách uống thuốc đầy đủ hàng ngày, không được bỏ thuốc quá 3 ngày và phải thông báo lý do cho cơ sở điều trị trước khi ngừng thuốc.
- Không tuân thủ điều trị: Không đảm bảo ít nhất một trong những điều kiện đảm bảo tuân thủ điều trị
Trong nghiên cứu này chúng tôi đánh giá tuân thủ điều trị trong 3 tháng điều trị gần nhất tính đến tháng 3/2015
Thu thập thông tin về cân nặng khởi đầu từ hồ sơ bệnh án của bệnh nhân và xác nhận cân nặng hiện tại bằng cách cân trực tiếp trong buổi phỏng vấn.
2.7.4 Đánh giá mức độ hài lòng của bệnh nhân với thái độ của cán bộ của cơ sở điều trị
Dựa trên tổng số điểm từ các câu trả lời cho các câu hỏi E1 đến E7, với tổng điểm tối đa là 7, chúng tôi đã quy định như sau (xem phụ lục 9).
- Nếu tổng số điểm các câu trả lời từ 4 điểm trở lên là hài lòng
- Nếu tổng số điểm các câu trả lời dưới 4 điểm là không hài lòng
2.7.5 Tình trạng bệnh nhân gặp các tác dụng phụ của thuốc
Theo hướng dẫn của Bộ Y tế về điều trị methadone, thuốc này có thể gây ra một số tác dụng phụ cho bệnh nhân, bao gồm táo bón, tăng tiết mồ hôi, rối loạn chức năng tình dục, rối loạn giấc ngủ, mệt mỏi và khô miệng.
2.7.6 Phân loại mức độ nghèo, cận nghèo
Phân loại hộ gia đình (HGĐ) nghèo và cận nghèo theo quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ bao gồm:
Hộ nghèo được định nghĩa là các hộ gia đình nông thôn có thu nhập bình quân hàng tháng dưới 400.000đ/người, trong khi đó, hộ gia đình thành thị có thu nhập bình quân dưới 500.000đ/người.
Hộ cận nghèo bao gồm các hộ gia đình nông thôn có thu nhập bình quân từ 401.000 đến 520.000 đồng/người, và các hộ gia đình thành thị có thu nhập bình quân từ 501.000 đến 650.000 đồng/người.
Phương pháp phân tích số liệu
2.8.1 Phân tích số liệu định lượng
- Định lượng: Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1, làm sạch và phân tích bằng phần mềm SPSS 19.0
- Kết quả phân tích được chia làm 2 phần:
Sử dụng tần số và tỷ lệ phần trăm để mô tả các biến số nghiên cứu Kiểm định χ² và giá trị p được áp dụng để xác định các yếu tố liên quan đến việc sử dụng chất gây nghiện của đối tượng nghiên cứu.
2.8.2 Phân tích số liệu định tính
Băng ghi âm các cuộc phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm (TLN) được chuyển đổi thành văn bản và phân tích theo các chủ đề nhằm bổ sung và giải thích cho thông tin định lượng Một số ý kiến tiêu biểu của đối tượng nghiên cứu được trích dẫn để minh họa cho kết quả nghiên cứu.
Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế công cộng phê duyệt, với các quy định được thực hiện nghiêm túc nhằm giảm thiểu tối đa nguy cơ ảnh hưởng đến các đối tượng tham gia.
Sai số và biện pháp khắc phục sai số
Đối tượng nghiên cứu là những cá nhân nhạy cảm, do đó việc tiếp cận gặp nhiều khó khăn và có thể dẫn đến thông tin không chính xác Để giảm thiểu sai số, người phỏng vấn cần giải thích rõ ràng mục tiêu nghiên cứu và áp dụng kỹ năng tiếp cận phù hợp nhằm xây dựng lòng tin với đối tượng Sau khi tạo được không khí thoải mái và tin tưởng, cuộc phỏng vấn mới được tiến hành Trong suốt quá trình phỏng vấn, người phỏng vấn luôn lắng nghe và thể hiện sự tôn trọng đối với đối tượng nghiên cứu.
Để giảm thiểu sai số do kỹ năng phỏng vấn của điều tra viên, nghiên cứu viên đã lựa chọn những điều tra viên có kinh nghiệm và tiến hành tập huấn đầy đủ cho họ Trước khi thu thập số liệu, các điều tra viên đã được thực tập Nghiên cứu viên cũng giám sát và hỗ trợ trong quá trình hoàn thành các phiếu điều tra ban đầu Cuối mỗi ngày, các phiếu điều tra được kiểm tra, và những phiếu thông tin chưa đầy đủ hoặc không hợp lý sẽ được yêu cầu điều tra viên thực hiện lại.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu đã thu thập dữ liệu từ 150 bệnh nhân đang điều trị duy trì bằng methadone, với các đặc điểm như giới tính, tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, tình trạng việc làm, thời gian điều trị methadone và tiền sử sử dụng chất dạng thuốc phiện được trình bày chi tiết trong bảng 3.1 và bảng 3.2.
Bảng 3 1: Một số đặc điểm của ĐTNC
Nội dung thông tin Số lượng
Dưới Trung học phổ thông
Từ Trung học phổ thông trở lên
Tình trạng hôn nhân Độc thân
Thất nghiệp Việc làm thu nhập không ổn định
Có việc làm ổn định
Nhóm thời gian điều trị methadone
Thời gian trung bình điều trị methadone 32 tháng
Trong tổng số 150 bệnh nhân, 97,3% là nam giới, với nhóm tuổi từ 30 trở lên chiếm 63,3% Một nửa số bệnh nhân có trình độ học vấn từ Trung học phổ thông trở lên, và 71,3% hiện đang có vợ hoặc chồng Tuy nhiên, chỉ có 28,0% bệnh nhân có việc làm ổn định Thời gian điều trị methadone trung bình của các bệnh nhân là 32 tháng, trong đó 76,0% bệnh nhân đã điều trị trên 2 năm.
Bảng 3 2: Tiền sử sử dụng CDTP trước khi điều trị methadone của ĐTNC
Nội dung thông tin Số lượng
(n0) Tỷ lệ % Thời gian sử dụng CDTP
53,3 26,7 20,0 Trung bình thời gian sử dụng CDTP 5,7 năm
Số lần sử dụng trong ngày
Hình thức sử dụng CDTP thường xuyên sử dụng
Hít/Hút Tiêm dưới da, tiên trực tiếp vào ven
Trung tâm/Viện tâm thần
Bảng 3.2 cho thấy, số bệnh nhân có tiền sử sử dụng chất dạng thuốc phiện từ
5 năm trở lên chiếm 46,7%; số lần sử dụng chất dạng thuốc phiện trong một ngày
HUPH chủ yếu tập trung vào hai nhóm sử dụng: 1-2 lần/ngày (44,7%) và 3-4 lần/ngày (46,7%) Hình thức sử dụng phổ biến nhất là tiêm chích, chiếm tỷ lệ 64,7% Trước khi điều trị bằng methadone, 85,3% bệnh nhân đã từng trải qua quá trình cai nghiện, trong đó phương pháp tự cai nghiện tại nhà được áp dụng nhiều nhất với tỷ lệ 80,0%.
Kết quả điều trị methadone
Kết quả điều trị methadone của bệnh nhân được mô tả qua các chỉ số quan trọng như liều lượng methadone, tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị, việc sử dụng các chất gây nghiện khác, các tác dụng phụ, tình trạng bệnh kèm theo và sự thay đổi cân nặng.
Bảng 3 3: Liều điều trị methadone hiện tại của bệnh nhân
Nội dung thông tin Số lượng
48,7 35,3 16,0 Liều điều trị trung bình 73mg
Liều điều trị trung bình của những bệnh nhân điều trị ARV 115mg
Liều điều trị trung bình của những bệnh nhân không điều trị ARV 65mg
Bảng 3.3 cho thấy, liều điều trị methadone của các bệnh nhân tham gia nghiên cứu tập trung chủ yếu ở hai nhóm: Dưới 60mg/ngày chiếm 48,7% và nhóm
Liều điều trị trung bình methadone cho bệnh nhân nhiễm HIV đang sử dụng thuốc ARV là 115mg/ngày, cao hơn nhiều so với 65mg/ngày ở những người không điều trị ARV, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p