PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
Người bệnh từ 18 tuổi trở lên hoặc người đại diện của người bệnh dưới 18 tuổi có thể đến khám tại khoa Khám trong giờ hành chính và đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Lãnh đạo bệnh viện, Trưởng khoa các khoa có liên quan
- Điều dưỡng, nhân viên trực tiếp tham gia tại các khâu: Hướng dẫn phát số thứ tự; Tiếp đón NB; Các bàn khám; XN; CĐHA; TDCN; Thu viện phí
- Các giai đoạn trong quy trình khám bệnh
- Đối tƣợng không đồng ý tham gia nghiên cứu
Bệnh nhân có thể gặp phải tình trạng suy giảm trí nhớ do lão hóa hoặc do sự phát triển tâm thần không đầy đủ, dẫn đến việc họ không đủ khả năng và hành vi để tham gia trả lời các câu hỏi trong nghiên cứu.
- Những đối tƣợng ra về khi chƣa kết thúc quy trình khám bệnh
- NB có chỉ định XN mà kết quả đƣợc hẹn trả qua ngày hôm sau.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: Từ tháng 03/2017 đến tháng 7/2017 Địa điểm: Khoa Khám bệnh, Bệnh viện đa khoa huyện Thạnh Trị.
Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích kết hợp nghiên cứu định lƣợng và nghiên cứu định tính
Nghiên cứu này nhằm mô tả đặc điểm nhân khẩu học, thời gian khám bệnh và sự hài lòng của bệnh nhân tại khoa Khám Bên cạnh việc phân tích mối liên hệ giữa thời gian khám bệnh và sự hài lòng, nghiên cứu còn sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của bệnh nhân Đồng thời, nghiên cứu cũng xem xét quan điểm của người cung cấp dịch vụ khám bệnh và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ tại bệnh viện Thêm vào đó, phỏng vấn sâu một số bệnh nhân không hài lòng sẽ giúp làm rõ nguyên nhân của sự không hài lòng này.
HUPH dịch vụ KCB và mong đợi của NB về dịch vụ KCB tại BV.
Phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Chọn mẫu cho phần nghiên cứu định lƣợng
- Cỡ mẫu: đƣợc tính theo công thức
Trong đó: n: Số lƣợng mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu
Z (1 – α/2) : Hệ số tin cậy Với mức ý nghĩa = 0,05 thì Z (1 – α/2) = 1,96
Để xác định cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu, ta sử dụng công thức với P = 0,5 và sai số chấp nhận được d = 0,07, dẫn đến cỡ mẫu tối thiểu n = 196 Để đảm bảo tính chính xác, cần dự phòng khoảng 10%, do đó cỡ mẫu cần thiết sẽ là 196 + 196 * 10% = 216, được làm tròn thành 220 đối tượng.
- Phương pháp chọn: Chọn mẫu liên tiếp
Do tính chất đặc thù của khoa Khám bệnh, mỗi ngày có một bác sĩ khác nhau làm việc tại mỗi phòng khám Không có danh sách bệnh nhân trước, và tất cả bệnh nhân đủ tiêu chuẩn đều được đưa vào nghiên cứu cho đến khi đạt đủ cỡ mẫu.
Với cỡ mẫu n = 220, việc thu thập sẽ diễn ra trong vòng 01 tháng, không tính thứ 7 và Chủ nhật, trung bình mỗi ngày sẽ có 10 người bệnh (NB) được chọn vào mẫu nghiên cứu Có 5 điều tra viên (ĐTV), mỗi ĐTV sẽ thu thập khoảng 02 NB/ngày.
Khoảng cách chọn mẫu liên tiếp là yếu tố quan trọng trong nghiên cứu Để xác định khoảng cách thích hợp, nhóm nghiên cứu đã tiến hành chọn ngẫu nhiên 10 người từ dãy số thứ tự NB từ 01 đến 20 trong một ngày Qua ba lần thử nghiệm với các khoảng cách 20, 30 và 40 NB, nhóm nhận thấy rằng những khoảng cách này không đủ thời gian cho mỗi ĐTV thu thập mẫu thứ hai Cuối cùng, khoảng cách 50 NB được xác định là phù hợp, cho phép mỗi ĐTV có đủ thời gian để thu thập mẫu thứ hai trong cùng một ngày.
2.4.2 Chọn mẫu cho nghiên cứu định tính
Dữ liệu định tính được thu thập thông qua phương pháp PVS và thảo luận nhóm, với các đối tượng được chọn có chủ đích nhằm đại diện cho các bên liên quan đến vấn đề nghiên cứu và đã đồng ý tham gia phỏng vấn.
* 10 cuộc phỏng vấn sâu đƣợc chọn nhƣ sau:
- 01 PVS Lãnh đạo bệnh viện
- 03 PVS Trưởng khoa có liên quan: Khám bệnh; Cận lâm sàng; Dược
Bài viết đề cập đến 06 PVS người bệnh, đại diện cho các nhóm tuổi khác nhau như thanh niên, trung niên và người già Những đối tượng này đều có trách nhiệm thu phí và tham gia bảo hiểm y tế (BHYT), đồng thời tham gia đầy đủ vào các bước trong quy trình quản lý bệnh (QTKB).
Cuộc thảo luận nhóm bao gồm 7 điều dưỡng trực tiếp làm việc tại các khâu như Hướng dẫn, Tiếp đón đăng ký, Các bàn khám, XN, CĐHA, TDCN và Thu viện phí Tất cả các thành viên đều có thâm niên công tác từ 1 năm trở lên, đảm bảo sự cân bằng về tuổi, giới và trình độ học vấn.
Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Số liệu thứ cấp Đƣợc thu thập thông qua các báo cáo tổng kết cuối năm 2016 và số liệu thống kê lưu trên máy tính của phòng Kế hoạch nghiệp vụ
* Công cụ thu thập số liệu :
- Phiếu quan sát thời gian khám bệnh (Phụ lục 2), gồm có 19 tiểu mục
- Phiếu phát vấn khảo sát sự hài lòng của NB về thời gian khám bệnh (Phụ lục 3), gồm 2 phần:
Phần I của bài viết cung cấp thông tin chung về đối tượng nghiên cứu, bao gồm các mục từ 1 đến 8 Phần II tập trung vào mức độ hài lòng của người bệnh về thời gian khám bệnh, sử dụng bộ công cụ gồm 9 yếu tố (Từ A đến I) và 22 tiểu mục để đo lường các biến số trong nghiên cứu.
A: Khâu tiếp đón: có 2 tiểu mục từ A1 đến A2
B: Khâu khám chuyên khoa ban đầu: có 2 tiểu mục từ B1 đến B2
C: Khâu xét nghiệm: có 2 tiểu mục từ C1 đến C2
D: Khâu CĐHA: có 4 tiểu mục từ D1 đến D4
E: Khâu TDCN: có 2 tiểu mục từ E1 đến E2
F: Khâu khám lại khi có kết quả CLS: 2 tiểu mục từ F1 đến F3
G: Khâu thu phí: có 2 tiểu mục từ G1 đến G2
H: Khâu phát thuốc: có 3 tiểu mục từ H1 đến H3
I: Hoàn tất QTKB: có 3 tiểu mục từ I1 đến I3
Bước 1: Tập huấn cho 5 ĐTV về nội dung, phương pháp thu thập số liệu Bước 2: Chọn NB vào mẫu nghiên cứu
Quy trình thu thập số liệu trong nghiên cứu được thực hiện thông qua việc bốc thăm chọn ngẫu nhiên các số từ 1 đến 50, đại diện cho số thứ tự của những người tham gia (NB) Cụ thể, Điều tra viên thứ nhất chọn NB có số thứ tự 50 và 300, Điều tra viên thứ hai chọn NB có số thứ tự 100 và 350, Điều tra viên thứ ba chọn NB có số thứ tự 150 và 400, Điều tra viên thứ tư chọn NB có số thứ tự 200 và 450, và cuối cùng, Điều tra viên thứ năm chọn NB có số thứ tự 250 và 500.
- Quy trình chọn mẫu đƣợc lặp lại trong 22 ngày làm việc của khoa Khám bệnh đều giống nhau cho đến khi đủ cỡ mẫu 220 NB
Bước 3: Cách thức quan sát mẫu đƣợc chọn
ĐTV đầu tiên tiếp cận đối tượng nghiên cứu bằng cách lấy số thứ tự và hướng dẫn, giải thích các yêu cầu trong nghiên cứu Sau đó, phát phiếu khảo sát sự hài lòng của người bệnh để họ tự điền Phiếu khảo sát được đặt trong sơ mi nhựa có dán số thứ tự của người bệnh được chọn, giúp dễ dàng nhận biết khi quan sát.
Mỗi ĐTV sẽ theo dõi một NB theo thứ tự được phân công trong suốt quá trình khám bệnh, từ khi NB nhận số thứ tự cho đến khi ra về hoặc nhập viện ĐTV ghi nhận toàn bộ thời gian di chuyển, thời gian chờ, cũng như thời gian bắt đầu và kết thúc ở từng giai đoạn trong quy trình khám bệnh vào phiếu điều tra.
Sau khi hoàn tất quy trình khám bệnh, ĐTV sẽ tiếp cận bệnh nhân để kiểm tra thông tin trên phiếu trả lời và nhận lại phiếu khảo sát sự hài lòng Nghiên cứu viên sẽ tiến hành phỏng vấn sâu đồng thời với một số đối tượng đủ tiêu chuẩn đã được chọn.
Công tác giám sát thu thập số liệu được thực hiện đồng thời bởi người nghiên cứu và một giám sát viên Để hạn chế thời gian khám bệnh do ảnh hưởng từ việc di chuyển và chờ đợi, ĐTV đã giải thích rõ ràng và thống nhất sự hợp tác với đối tượng Nếu có bất kỳ lý do nào làm ảnh hưởng đến thời gian khám, ĐTV sẽ ghi lại thông tin của đối tượng tại các vị trí phát hiện và loại đối tượng đó ra khỏi nghiên cứu vào cuối ngày.
Nghiên cứu viên thực hiện phỏng vấn sâu và tổ chức thảo luận nhóm, sử dụng máy ghi âm và ghi chép biên bản để thu thập dữ liệu.
- Vào mỗi tuần sẽ chọn 1 - 2 đối tƣợng trong số 220 đối tƣợng đƣợc chọn trong nghiên cứu định lƣợng để thực hiện PVS
- Với cán bộ lãnh đạo, quản lý thực hiện PVS khi có kết quả nghiên cứu định lƣợng
- Tổ chức thảo luận nhóm vào cuối buổi chiều làm việc của ngày giữa tuần.
Xử lý và phân tích số liệu
Để thu thập thông tin giá trị, bộ câu hỏi đã được thử nghiệm trên 20 đối tượng và chỉnh sửa trước khi tiến hành điều tra chính thức Sau mỗi buổi điều tra, nghiên cứu viên sẽ kiểm tra lại các phiếu, loại bỏ hoặc điều tra lại những phiếu không đạt yêu cầu.
Sau khi kiểm tra và làm sạch, số liệu được nhập vào bảng tính Excel Để đảm bảo độ chính xác, nghiên cứu viên đã kiểm tra ngẫu nhiên 10% số phiếu nhập Phân tích số liệu được thực hiện bằng phần mềm SPSS 16.0 để cung cấp thông tin mô tả và thực hiện các phân tích thống kê.
+ Áp dụng các phương pháp phân tích mô tả: tính giá trị trung bình (X), trung vị (Me), độ lệch chuẩn (ĐLC), tần số (n) và tỷ lệ phần trăm (%)
Phân tích hồi quy tuyến tính được thực hiện nhằm xác định mối quan hệ giữa thời gian khám bệnh và mức độ hài lòng của người bệnh về thời gian này.
HUPH nghĩa đƣợc thiết lập ở 0,05
Nội dung PVS được ghi âm và phân tích để lựa chọn các trích dẫn theo các chủ đề minh họa cho phần định lượng Các chủ đề chính sẽ được chọn đưa vào nghiên cứu.
- Những vấn đề chƣa hợp lý trong QTKB
- Nội dung NB thường phàn nàn có liên quan đến thời gian khám bệnh
- Giải pháp để giảm thời gian chờ đợi và tăng cường sự hài lòng NB.
Các biến số nghiên cứu
2.7.1 Căn cứ xây dựng biến số nghiên cứu
Các biến số liên quan đến thời gian khám bệnh được thiết lập dựa trên Quyết định số 1313/QĐ-BYT ngày 22/4/2013 của Bộ Y tế, trong đó hướng dẫn quy trình khám bệnh tại khoa Khám bệnh của bệnh viện.
Các biến số đánh giá sự hài lòng của người bệnh được tham khảo từ bộ công cụ đánh giá sự hài lòng của người bệnh ngoại trú do Bộ Y tế ban hành theo Quyết định số 4858/QĐ-BYT ngày 03/12/2013 Bộ công cụ này đã được chỉnh sửa một số nội dung để phù hợp với thực tiễn hiện tại và mục tiêu nghiên cứu, đồng thời được tham khảo ý kiến của các chuyên gia để đảm bảo tính phù hợp của nội dung các câu hỏi.
2.7.2 Biến số nghiên cứu (Phụ lục 1)
Các tiêu chuẩn đánh giá, đo lường trong nghiên cứu
Quyết định 1313/QĐ-BYT ngày 22/4/2013 của Bộ Y tế, chỉ tiêu thời gian khám bệnh ở các quy trình nhƣ sau:
- Khám lâm sàng đơn thuần: Thời gian khám trung bình dưới 2 giờ
- Khám lâm sàng có thêm 01 kỹ thuật XN/CĐHA, TDCN: Thời gian khám trung bình dưới 3 giờ
- Khám lâm sàng có làm thêm 02 kỹ thuật phối hợp cả X N và CĐHA hoặc
XN và TDCN: Thời giam khám trung bình dưới 3,5 giờ
- Khám lâm sàng có thêm 03 kỹ thuật phối hợp cả XN, CĐHA và TDCN: Thời gian khám trung bình dưới 4 giờ
2.8.2 Sự hài lòng của người bệnh về thời gian Đo lường mức độ hài lòng của NB dựa trên thang điểm Likert Thang điểm Likert gồm một câu hỏi đóng với 5 mức lựa chọn:
- Mức 1: Rất không hài lòng; rất không tốt; rất không đồng ý (1 điểm)
- Mức 2: Không hài lòng; không tốt; không đồng ý (2 điểm)
- Mức 3: Trung bình; chấp nhận đƣợc (3 điểm)
- Mức 4: Hài lòng; tốt; đồng ý (4 điểm)
- Mức 5: Rất hài lòng; rất tốt; rất đồng ý (5 điểm)
Cách tính điểm trung bình hài lòng được thực hiện theo Quyết định số 4448/QĐ-BYT, ngày 06/11/2013 của Bộ Y tế, nhằm phân tích sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ y tế công Tổng điểm được tính bằng cách nhân điểm tối đa (5 điểm) với số lượng các tiểu mục của yếu tố cần tính, từ đó xác định tổng điểm tối đa cho mỗi yếu tố Dựa trên điểm tối đa, mức độ hài lòng của người bệnh sẽ được phân thành 2 nhóm.
- Chƣa hài lòng: Điểm hài lòng trung bình nhỏ hơn điểm trung bình hài lòng tối thiếu (