ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu bao gồm 30 cán bộ y tế (CBYT) trực tiếp quản lý và theo dõi, những người thường xuyên sử dụng trang thiết bị y tế (TTBYT) với 35 chủng loại khác nhau.
76 TTBYT có giá trị trên 100 triệu đồng và đóng vai trò quan trọng trong công tác khám chữa bệnh thường xuyên, bao gồm 08 nhóm phân loại tại Bệnh viện Y học Cổ truyền Phần 2.1.1 đề cập đến nghiên cứu định lượng.
TTBYT được triển khai tại 05 khoa, bao gồm Khoa Xét nghiệm – Chẩn đoán hình ảnh, Khoa Vật lý trị liệu và phục hồi chức năng, Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, Khoa Dược, và Khoa Hồi sức tích cực – chống độc.
Trong lĩnh vực y tế, có 35 chủng loại thiết bị y tế (TTBYT) với tổng số lượng 76 thiết bị, bao gồm 08 nhóm phân loại, có giá trị trên 100 triệu đồng Những thiết bị này đóng vai trò quan trọng trong công tác khám chữa bệnh và điều trị thường xuyên, được phê duyệt theo Quyết định số 50/2017/QĐ-TTg và Thông tư số 08/2019/TT-BYT Ngoài ra, Quyết định số 4682/QĐ-BYT cũng quy định danh mục trang thiết bị sử dụng trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh y dược cổ truyền, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.
Dựa trên công dụng của thiết bị y tế (TTBYT), hiện nay có thể phân loại TTBYT bệnh viện thành 10 nhóm chính Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, chỉ lựa chọn 08 nhóm để phân tích.
Nhóm thiết bị chẩn đoán hình ảnh bao gồm nhiều loại máy móc hiện đại như máy chụp X-quang, máy cộng hưởng từ (MRI), máy chụp cắt lớp điện toán (CT), máy chụp mạch máu xóa nền, máy chụp cắt lớp Positron (PET/CT) và máy siêu âm.
+ Nhóm thiết bị chẩn đoán thiết bị sinh lý: máy điện tâm đồ, điện não đồ, điện cơ đồ, máy đo lưu huyết não…
Nhóm thiết bị labo xét nghiệm bao gồm các thiết bị như sắc ký khí, quang phổ kế và máy đếm tế bào Trong khi đó, nhóm thiết bị cấp cứu hồi sức, gây mê và phòng mổ bao gồm máy thở, máy gây mê, máy theo dõi, máy sốc tim và máy tạo nhịp tim.
+ Nhóm thiết bị vật lý trị liệu – phục hồi chức năng: máy điện phân, điện giao thoa, máy điều trị sóng ngắn, tia hồng ngoại, laser trị liệu…
+ Nhóm thiết bị điện quang điện tử y tế như: Laser CO2, phân tích máu bằng laser…
Nhóm thiết bị y tế chuyên dụng bao gồm máy đo chức năng hô hấp, máy đo thính giác, máy tán sỏi ngoài cơ thể, gia tốc điều trị ung thư, thiết bị cường nhiệt và máy chạy thận nhân tạo.
+ Nhóm các thiết bị y tế đông y như: máy dò huyệt, máy châm cứu…
- Các TTBYT dưới 100 triệu, không thuộc trong 08 nhóm đã phân loại, chưa nhập trong danh sách quản lý của khoa, phòng
• Tiêu chuẩn lựa chọn: với 30 CBYT trực tiếp quản lý, sử dụng thường xuyên
- Các cán bộ trực tiếp quản lý sổ sách, giám sát TTBYT tại Bệnh viện Y học Cổ truyền.
- Cán bộ kỹ thuật, sửa chữa, bảo dưỡng trực tiếp trang thiết bị
Các cán bộ y tế, bao gồm y bác sĩ, kỹ thuật viên, điều dưỡng và hộ sinh, thường xuyên sử dụng trang thiết bị tại các khoa, phòng trong quá trình khám và chữa bệnh.
- Cán bộ có mặt tại thời gian nghiên cứu
Cán bộ không tham gia trực tiếp hoặc thường xuyên trong việc quản lý, theo dõi sổ sách, cũng như không có mặt tại bệnh viện trong thời gian nghiên cứu, không tham gia vào các hoạt động kỹ thuật, sửa chữa và bảo dưỡng.
- Cán bộ có thời gian công tác tại bệnh viện dưới 01 năm
- Văn bản liên quan, các báo cáo, thống kê về TTBYT tại Bệnh viện Y học Cổ truyền.
- Các văn bản, báo cáo trước năm 2018
- Đại diện cán bộ lãnh đạo Bệnh viện Y học Cổ truyền
Cán bộ quản lý tại các khoa như Khoa Xét nghiệm – Chẩn đoán hình ảnh, Khoa Vật lý trị liệu và phục hồi chức năng, Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, Khoa Dược, và Khoa Hồi sức tích cực – Chống độc đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng dịch vụ y tế và nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân.
- Cán bộ phòng Tổ chức – Hành chính, quản trị thiết bị
Nhân viên y tế sử dụng trang thiết bị tại các khoa như Khoa Xét nghiệm – Chẩn đoán hình ảnh, Khoa Vật lý trị liệu và Phục hồi chức năng, Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, Khoa Dược, và Khoa Hồi sức tích cực – Chống độc.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Tại 05 khoa lâm sàng và cận lâm sàng Bệnh viện Y học Cổ truyền tỉnh Đồng Tháp
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10 năm 2020 đến tháng 07 năm 2021 Thời gian thu thập số liệu được tiến hành từ tháng 04 đến tháng 06 năm 2021.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính
Nghiên cứu định lượng thu thập thông tin về vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị y tế (TTBYT) tại bệnh viện thông qua tài liệu thứ cấp và phỏng vấn cán bộ liên quan Đồng thời, nghiên cứu định tính thực hiện phỏng vấn sâu với lãnh đạo, cán bộ sử dụng TTBYT hàng ngày tại các khoa và cán bộ phòng Vật tư - Thiết bị, nhằm tìm hiểu phân tích sâu hơn về quy trình và hiệu quả sử dụng TTBYT.
HUPH tích yếu tố ảnh hưởng tới công việc vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa TTBYT của bệnh viện.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Nghiên cứu này tập trung vào các trang thiết bị y tế phục vụ lâm sàng và cận lâm sàng tại Bệnh viện Y học Cổ truyền tỉnh Đồng Tháp Nghiên cứu được thực hiện dựa trên Quyết định số 50/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chuẩn và định mức sử dụng máy móc, thiết bị, cùng với Quyết định số 4682/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế về danh mục trang thiết bị trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh y dược cổ truyền Ngoài ra, tài liệu tham khảo từ Bộ Y tế về quản lý bệnh viện và Thông tư số 08/2019/TT-BYT cũng được sử dụng để hướng dẫn tiêu chuẩn và định mức sử dụng thiết bị chuyên dùng trong lĩnh vực y tế.
Bài viết đề cập đến 5 khoa quan trọng trong lĩnh vực y tế, bao gồm Khoa xét nghiệm - Chẩn đoán hình ảnh, Khoa vật lý trị liệu và phục hồi chức năng, Khoa kiểm soát nhiễm khuẩn, Khoa Hồi sức tích cực – chống độc, và Khoa dược Những khoa này có tần suất và thời gian sử dụng thiết bị y tế (TTBYT) cao, với tổng số 76 TTBYT thuộc 35 chủng loại có giá trị trên 100 triệu đồng Các TTBYT này đóng vai trò quan trọng trong việc khám và điều trị, được phân loại thành 08 nhóm khác nhau (Xem chi tiết phụ lục 4) [33].
Trong tổng số 82 nhân viên tại 05 khoa lâm sàng và cận lâm sàng, bao gồm Khoa Xét nghiệm – Chẩn đoán hình ảnh với 08 nhân viên, Khoa Vật lý trị liệu và Phục hồi chức năng với 39 nhân viên, Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn với 08 nhân viên, Khoa Dược với 18 nhân viên, và Khoa Hồi sức tích cực – Chống độc với 09 nhân viên Thông tin về các nhân viên y tế trong 05 khoa sẽ được sàng lọc để xác định những người trực tiếp và thường xuyên thực hiện công tác quản lý vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa, và sẽ được khảo sát thông qua bảng kiểm điều tra thông tin nhân lực.
Tất cả hồ sơ và báo cáo liên quan đến quản lý vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị y tế tại 05 khoa đã được chọn trong 2 năm qua.
Báo cáo tổng kết tình hình quản lý trang thiết bị y tế (TTBYT) tại Bệnh viện trong năm 2019 và 2020, cùng với số liệu về kinh phí dành cho công tác bảo dưỡng và sửa chữa TTBYT trong cùng thời gian, cung cấp cái nhìn tổng quan về hiệu quả và sự cần thiết trong việc duy trì chất lượng dịch vụ y tế.
Để thu thập thông tin về quy trình vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị y tế, chúng tôi đã thực hiện 06 cuộc phỏng vấn sâu và 01 cuộc thảo luận nhóm với các đối tượng liên quan.
- Tổ chức 01 cuộc phỏng vấn sâu lãnh đạo bệnh viện (01 phó Giám đốc): để tìm hiểu chính sách liên quan
- Tổ chức 05 cuộc phỏng vấn cán bộ quản lý khoa của 05 khoa: để tìm hiểu các yếu tố, đặc thù của 05 khoa và thực trạng
Tổ chức một cuộc thảo luận nhóm với 10 nhân viên y tế trực tiếp sử dụng các thiết bị y tế trong bệnh viện nhằm tìm hiểu cách vận hành thiết bị, những vấn đề gặp phải trong quá trình sử dụng, cũng như đánh giá tình trạng năng lực và đào tạo của các nhân viên y tế.
Công cụ, phương pháp thu thập số liệu
Nghiên cứu định lượng sử dụng bảng kiểm có cấu trúc để thu thập dữ liệu từ bệnh viện liên quan đến tài chính, nhân sự, đào tạo, quản lý và quy định về thiết bị y tế Các điều tra viên thực hiện quan sát và ghi chép thông tin trên bảng kiểm theo mẫu có sẵn Bảng kiểm này thu thập thông tin về vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị y tế, dựa trên hướng dẫn sử dụng và khuyến cáo của nhà sản xuất Đối với 30 cán bộ y tế tại 5 khoa được chọn, mỗi người sẽ vận hành một thiết bị y tế để đánh giá tính an toàn trong quá trình sử dụng Do không có điều kiện quan sát bí mật, mỗi cán bộ y tế chỉ thực hiện một lần dưới sự giám sát trực tiếp của quan sát viên.
Thông tin và số liệu thứ cấp được thu thập và tham khảo sau khi được sự đồng ý của lãnh đạo bệnh viện cùng các khoa phòng liên quan (Xem chi tiết tại phụ lục 2).
2.5.1 Công cụ nghiên cứu Để đánh giá thực trạng quản lý vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT tại 05 khoa lâm sàn và cận lâm sàng tại Bệnh viện Y học Cổ truyền Đồng Tháp, nghiên cứu viên sẽ sử dụng bộ câu hỏi định lượng có cấu trúc, bảng kiểm quan sát và bộ câu hỏi phỏng vấn sâu
Bộ công cụ định lượng được xây dựng với các nội dung liên quan đến công tác quản lý vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT, cụ thể:
Thông tin chung về cán bộ tham gia nghiên cứu
Thực trạng công tác quản lý vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT
Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý vận hành bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT
2.5.2 Thu thập thông tin định lượng
Nghiên cứu viên và Quan sát viên: Nhóm điều tra gồm 3 người, học viên cao học – Nghiên cứu viên chính và 2 học viên cao học hỗ trợ
Tổ chức thu thập số liệu bằng cách sử dụng bộ câu hỏi phát vấn, số liệu thứ cấp và bảng kiểm để thu thập thông tin về công tác vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa trang thiết bị y tế (TTBYT) của 30 cán bộ y tế tại 05 khoa lâm sàng và cận lâm sàng.
Nghiên cứu viên đã liên hệ với lãnh đạo bệnh viện để làm rõ mục đích nghiên cứu và hẹn thời gian tiến hành điều tra Các đối tượng nghiên cứu được sắp xếp ngồi cách xa nhau, mỗi người một bàn, nhằm đảm bảo không có sự trao đổi thông tin.
Nghiên cứu viên giải thích lý do và đọc thông tin nghiên cứu cho đối tượng được phỏng vấn, đồng thời cung cấp phiếu tự nguyện tham gia Họ cũng giải đáp mọi thắc mắc liên quan đến nội dung nghiên cứu và phát phiếu nghiên cứu để đối tượng hoàn thành.
Sau khi cán bộ tham gia nghiên cứu hoàn thành phiếu điều tra, điều tra viên sẽ thu lại và kiểm tra tính đầy đủ, hợp lệ của thông tin Nếu có thông tin thiếu, điều tra viên sẽ yêu cầu bổ sung Khi phiếu đã hợp lệ và đầy đủ, điều tra viên sẽ thu lại và cảm ơn sự hợp tác của các cán bộ tham gia.
Để đảm bảo tính chính xác và tin cậy của số liệu thứ cấp, tất cả các số liệu này cần có chữ ký của lãnh đạo khoa/phòng và bệnh viện (nếu cần thiết).
Quan sát viên sẽ thu thập thông tin cùng với một cán bộ từ phòng Tổ chức – Hành chính và năm khoa lâm sàng, cận lâm sàng nhằm đảm bảo tính chính xác và khách quan trong quá trình kiểm tra.
2.5.3 Thu thập thông tin định tính
Tổ chức thảo luận nhóm nhằm nghiên cứu nhu cầu sử dụng thiết bị y tế (TTBYT) trong bệnh viện, tìm hiểu cách vận hành thiết bị để đảm bảo an toàn và hiệu quả, cũng như các vấn đề gặp phải trong quá trình sử dụng Đánh giá thực trạng và hiệu quả sử dụng các thiết bị, thực hiện chế độ bảo dưỡng và sửa chữa để đảm bảo hoạt động liên tục Cần lập sổ quản lý lý lịch, sổ nhật ký vận hành, sổ bàn giao và bảng hướng dẫn sử dụng TTBYT Đề xuất các kiến nghị cho lãnh đạo Sở Y tế và Bệnh viện nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo dưỡng và sửa chữa TTBYT trong thời gian tới.
Hướng dẫn phỏng vấn sâu được thực hiện sau khi có sự đồng ý của lãnh đạo bệnh viện và các cán bộ liên quan Các cán bộ tham gia đã được giải thích rõ ràng về nội dung phỏng vấn Các câu hỏi được xây dựng dựa trên các nhóm chủ đề đã chuẩn bị sẵn, nhằm làm rõ mục tiêu nghiên cứu và phù hợp với từng đối tượng Nghiên cứu viên đã xin phép ghi âm và ghi chép chi tiết trong suốt quá trình phỏng vấn để thu thập dữ liệu một cách hiệu quả, tránh bỏ sót thông tin.
Mỗi cuộc phỏng vấn sâu kéo dài từ 30 đến 45 phút, diễn ra tại địa điểm do người tham gia nghiên cứu lựa chọn, như phòng giao ban khoa, phòng riêng của lãnh đạo hoặc cán bộ quản lý, và phòng trực Tất cả các địa điểm đều yên tĩnh, đảm bảo chỉ có nghiên cứu viên và người tham gia có mặt.
Biến số nghiên cứu
Các kết quả nghiên cứu định lượng được đánh giá theo các nhóm biến số như:
- Thông tin chung về bệnh viện: số lượng bệnh nhân, lượt sử dụng giường, lượt bệnh nhân điều trị nội trú, ngoại trú…
Thông tin về nhân viên y tế bao gồm tuổi, giới tính, khoa làm việc, trình độ học vấn, đào tạo định hướng và chuyên môn Họ có trách nhiệm quản lý và vận hành Trung tâm Y tế (TTBYT) một cách an toàn.
- Thực trạng TTBYT: số lượng hiện có, năm mua sắm, được phân công quản lý, sổ theo dõi, chứng nhận chất lượng, tình trạng máy, tiêu chuẩn an toàn
- Thực trạng vận hành TTBYT: số năm vận hành, tần suất, hướng dẫn sử dụng, nhật ký vận hành
Thực trạng bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị y tế hiện nay bao gồm thời gian hỏng, số lần sửa chữa, địa điểm sửa chữa và tình trạng vật tư thay thế Các biến số chi tiết được trình bày trong phụ lục 3.
Các chủ đề nghiên cứu:
- Thông tin các cán bộ quản lý vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa trực tiếp trang thiết bị
- Nhân lực cho TTBYT của bệnh viện
- Thực trạng quản lý vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT của bệnh viện
- Các chính sách, quy định, kế hoạch liên quan đến TTBYT
- Sự quan tâm của lãnh đạo, các cơ sở chính sách, định hướng tổng thể ảnh hưởng đến công tác quản lý vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT
- Cơ sở vật chất, kinh phí hỗ trợ cho công tác quản lý TTBYT
- Các khó khăn, thuận lợi của các cán bộ trong quá trình quản lý vận hành, sử dụng thiết bị.
Tiêu chí đánh giá
Dựa trên quy chế quản lý và sử dụng vật tư, TTBYT theo Quyết định số 1895/1997/QĐ-BYT, ngày 19/9/1997 của Bộ Y tế về việc Ban hành quy chế bệnh
Nghị định số 98/2021/ND-CP ngày 08/11/2021 của Chính phủ quy định về quản lý trang thiết bị y tế, bao gồm phân loại, sản xuất, lưu hành, mua bán, cung cấp, thông tin và sử dụng tại các cơ sở y tế Bộ Y tế (2001) đã phát hành tài liệu "Quản lý bệnh viện" nhằm hỗ trợ việc này Các khuyến cáo an toàn từ nhà sản xuất cũng được kết hợp, và các kết quả định lượng được đánh giá dựa trên một số tiêu chí nhất định.
Vận hành an toàn TTBYT của các CBYT:
- Kiểm tra đường điện ra/vào TTBYT Nếu có dấu hiệu hư hỏng, dò điện phải ngừng vận hành TTBYT
- Kiểm tra tình trạng vỏ, máy của TTBYT trước và sau khi vận hành TTBYT
- Làm sạch thiết bị sau khi sử dụng
- Báo cáo tình trạng máy nếu có hỏng hóc, dò điện ngay cho phòng VT-TTB (nếu có)
Tình trạng hoạt động của TTBYT được đánh giá là tốt khi có tất cả các tiêu chí sau:
- Máy có thể khởi động thuận lợi Máy không khởi động được thì được đánh giá là Không hoạt động
- Vỏ máy không có dấu hiệu hư hỏng, vỡ
- Không có dấu hiệu lỗi khi tiến hành các thao tác tiêu chuẩn
- Chế độ tự kiểm (nếu có) cho kết quả đúng với kết quả mẫu
Tiêu chuẩn an toàn của TTBYT được đánh giá là tốt khi có tất cả các tiêu chí sau:
- Nguồn điện sử dụng đúng với nguồn điện yêu cầu của thiết bị
- Không có dấu hiệu vỡ ở phích cắm điện
- Không có dấu hiệu bong, rách hoặc thủng ở dây điện hoặc bất cứ dây dẫn nào của TTBYT.
Phân tích số liệu
Tất cả số liệu định lượng đã được làm sạch, mã hóa và nhập vào phần mềm Epidata 3.1 Bộ số liệu này bao gồm thông tin thu thập từ bảng kiểm đã được thiết lập sẵn và được bảo mật, chỉ có các thành viên trong nhóm nghiên cứu mới có quyền truy cập.
Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện theo quyết định chấp thuận số 198/2021/YTCC-HD3, ngày 05/5/2021, liên quan đến việc phê duyệt các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học của Hội đồng Y đức trường Đại học Y tế công cộng.
Nghiên cứu được sự cho phép của Ban Giám đốc Bệnh viện Y học Cổ truyền Đồng Tháp
Nghiên cứu tuân thủ quy định y đức trong y học, đảm bảo tất cả đối tượng được thông báo rõ ràng về mục đích và tự nguyện tham gia Thông tin cá nhân được bảo mật, và điều tra chỉ diễn ra khi có sự đồng ý của đối tượng và đơn vị chủ quản Mục đích nghiên cứu là khoa học, do đó việc thu thập và cung cấp thông tin phải khách quan và trung thực Kết quả nghiên cứu sẽ được báo cáo với lãnh đạo Bệnh viện Y học Cổ truyền để triển khai các giải pháp phù hợp.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thực trạng công tác quản lý vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa trang thiết bị y tế
3.1.1 Thông tin về cán bộ y tế trực tiếp quản lý trang thiết bị y tế tại 5 khoa của bệnh viện YHCT
Bảng 3.1 Thông tin chung về cán bộ y tế trực tiếp quản lý trang thiết bị y tế tại
5 khoa của Bệnh viện YHCT
Nữ 3(42,9) 4(57,1) 2(50,0) 4(66,7) 5(83,3) 18(60,0) Trình độ chuyên môn
Trung cấp 0(0,0) 4(57,1) 2(50,0) 2(33,3) 0(0,0) 8(26,7) Cao đẳng 1(14,3) 3(42,9) 0(0,0) 1(16,7) 3(50,0) 8(26,7) Đại học 5(71,4) 0(0,0) 2(50,0) 2(33,3) 0(0,0) 12(40,0) Sau đại học 1(14,3) 0(0,0) 0(0,0) 1(16,7) 3(50,0) 2(6,6) Chức vụ
Nhân viên 6(85,7) 6(85,7) 3(75,0) 6(100,0) 6(100,0) 27(90,0) Thời gian công tác
Sử dụng TTB 3(42,9) 6(85,7) 1(25,0) 4(66,7) 4(66,6) 18(60,0) Quản lý TTB 1(14,2) 1(14,3) 1(25,0) 0(0,0) 1(16,7) 4(13,3)
Cả hai 2(42,9) 0(0,0) 2(50,0) 2(33,3) 1(16,7) 8(26,7) Hình thức lao động
Tổng số cán bộ y tế (CBYT) tham gia trực tiếp vào công tác quản lý vận hành, bảo quản và sửa chữa tại 5 khoa phòng là 30 người Trong đó, Khoa Xét nghiệm và Chẩn đoán hình ảnh có 7 CBYT, chiếm 23,3%; Khoa Vật lý trị liệu và Phục hồi chức năng cũng có 7 CBYT, tương đương 23,3%; Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn có 4 CBYT, chiếm 13,4%; Khoa Dược có 6 CBYT, chiếm 20,0%; và Khoa Hỗ trợ điều trị có 6 CBYT, cũng chiếm 20,0%.
Các CBYT tại 4 khoa phòng có độ tuổi 30 tuổi chiếm 66,7% Về giới tính, tỷ lệ cán bộ nam chiếm 40% so với nữ tại 5 khoa trong nghiên cứu
Trong số 30 cán bộ quản lý trực tiếp trang thiết bị, 40% có trình độ đại học và 6,6% có trình độ sau đại học Trong đó, 10% là cán bộ quản lý với 3 người đảm nhiệm chức vụ này Đặc biệt, 63,3% cán bộ có thời gian công tác trên 5 năm, trong khi nhiệm vụ sử dụng trang thiết bị chiếm 60,0% Đáng chú ý, 73,3% cán bộ làm việc theo hợp đồng, chỉ có 26,7% là biên chế.
Bảng 3.2 Đào tạo định hướng quản lý trực tiếp trang thiết bị y tế của các cán bộ y tế tại 5 khoa của Bệnh viện YHCT
Chung n (%) n (%) n (%) n (%) n (%) n (%) Đào tạo định hướng kỹ thuật
Có 3(42,9) 4(66,7) 3(75,0) 2(33,3) 3(50,0) 14(46,7) Không 4(57,1) 2(33,3) 1(25,0) 4(66,7) 3(50,0) 16(53,3) Tồng thời gian đào tạo định hướng
Bệnh viện tổ chức đào tạo định hướng quản lý trang thiết bị y tế cho cán bộ y tế, nhưng tỷ lệ cán bộ được đào tạo chỉ đạt 46,7% Đặc biệt, Khoa Vật lý trị liệu và Phục hồi chức năng có tỷ lệ đào tạo đạt 66,7%.
Trong số 30 cán bộ tham gia khảo sát, 57,2% không được đào tạo hoặc chỉ được đào tạo trong thời gian ngắn từ 1 đến 3 ngày Chỉ có 21,4% cán bộ có tổng thời gian đào tạo trên 5 ngày.
3.1.2 Thực trạng công tác quản lý vận hành trang thiết bị y tế tại 4 khoa Bệnh viện YHCT
Bảng 3.3 Chuyên môn và trách nhiệm quản lý trực tiếp trang thiết bị y tế của các cán bộ y tế tại 5 khoa của Bệnh viện YHCT
Chung n (%) n (%) n (%) n (%) n (%) n (%) Hình thức quản lý/sử dụng TTB
Chuyên trách 2(28,6) 1(14,3) 1(25,0) 1(16,7) 2(33,3) 7(23,3) Kiêm nhiệm 5(71,4) 6(85,7) 3(75,0) 5(83,3) 4(66,7) 23(76,7) Bàn giao trách nhiệm quản lý TTB
Có 5(71,4)) 7(100,0) 4(100,0) 3(50,0) 3(50,0) 22(73,3) Không 2(28,6) 0(0,0) 0(0,0) 3(50,0) 3(50,0) 8(26,7) Bảo quản tốt tài liệu kỹ thuật
Trong lĩnh vực chuyên môn và quản lý trang thiết bị, phần lớn cán bộ y tế (CBYT) đảm nhận vai trò kiêm nhiệm hoặc là người sử dụng tại 5 khoa nghiên cứu, chiếm tỷ lệ 76,7% Chỉ có 23,3% CBYT là chuyên trách trong công tác này.
Sau khi kết thúc ca trực, các cán bộ y tế tại các khoa nghiên cứu cần bàn giao thiết bị y tế cho cán bộ y tế tiếp theo Kết quả nghiên cứu cho thấy 26,7% cán bộ chưa thực hiện tốt yêu cầu này, trong khi 73,3% thực hiện tốt.
Về công tác bảo quản tài liệu kỹ thuật của TTBYT, chỉ có 3,3% CBYT chưa thực hiện đúng nhiệm vụ, có 96,7% cán bộ thực hiện công tác này
Bảng 3.4: Thực hiện quy định an toàn khi vận hành TTBYT của các cán bộ y tế tại 5 khoa của Bệnh viện YHCT
Chung n (%) n (%) n (%) n (%) n (%) n (%) Kiểm tra đường điện ra vào TTB
Có kiểm tra máy trước và sau khi sử dụng
Có 7(100,0) 7(100,0) 4(100,0) 6(100,0) 6(100,0) 29(100,0) Không 0(0,0) 0(0,0) 0(0,0) 0(0,0) 0(0,0) 0(0,0) Làm sạch/vệ sinh máy sau khi sử dụng
Có 7(100,0) 7(100,0) 4(100,0) 6(100,0) 6(100,0) 30(100,0) Không 0(0,0) 0(0,0) 0(0,0) 0(0,0) 0(0,0) 0 (0,0) Nếu máy có dấu hiệu rò điện hoặc vỡ thì báo cáo cho ai
Phòng VT-TTB 7(100,0) 4(57,1) 3(75,0) 3(50,0) 5(83,3) 22(73,4) Lãnh đạo Khoa
Cả hai 0 1(14,3) 1(25,5) 2(33,3) 0 4(13,3) Không báo cáo 0(0,0) 0(0,0) 0(0,0) 0(0,0) 0(0,0) 0(0,0)
Trong quá trình vận hành thiết bị y tế (TTBYT), 100% cán bộ y tế (CBYT) tham gia vào việc kiểm tra đường điện ra vào của thiết bị, kiểm tra máy trước và sau khi sử dụng, cũng như làm sạch và vệ sinh máy sau khi sử dụng Nếu phát hiện TTBYT bị rò rỉ, CBYT cần báo cáo ngay cho phòng Hành chính - quản trị, với tỷ lệ thiết bị chiếm 73,4%.
Bảng 3.5 Thông tin quản lý trang thiết bị y tế tại 4 khoa Bệnh viện YHCT Nội dung
Có phân công quản lý trực tiếp
Kết quả bảng 3.5 trong tổng số 76 trang thiết bị tại 4 khoa cho thấy có chiếm tỷ lệ cao nhất là khoa VLTL-PHCN chiếm tỷ lệ 86,9%%
Trong nghiên cứu, tất cả trang thiết bị đều có sổ theo dõi, đạt tỷ lệ 100% Mặc dù cán bộ y tế (CBYT) làm việc kiêm nhiệm, nhưng đến 92,1% trang thiết bị vẫn có người quản lý trực tiếp.
“Trang thiết bị tại các khoa hiện nay điều có phân công người quản lý mặc dù họ không phải là cán bộ chuyên trách” – (PVS Lãnh đạo BV)
Hàng ngày, các khoa điều trị sử dụng sổ theo dõi thiết bị y tế (TTB) để ghi nhận và báo cáo kịp thời các sự cố liên quan đến TTB, nhằm đảm bảo việc sửa chữa được thực hiện nhanh chóng.
Bảng 3.6: Tình trạng trang thiết bị y tế tại 4 khoa Bệnh viện YHCT Nội dung
Cũ hở 0 (0,0) 0 (0,0) 0 (0,0) 0 (0,0) (0,0) Khi vận hành thao tác tiêu chuẩn
Báo lỗi 0 (0,0) 0 (0,0) 0 (0,0) 0 (0,0) (0,0) Ngừng, treo 1(16,7) 2(3,1) 0(0,0) 0(0,0) 3(3,9) Không có lỗi xẩy ra 5(83,3) 64(96,9) 2(100,0) 2(100,0) 73(96,1) Thiết bị có chế độ tự kiểm
Kết quả chế độ tự kiểm Đúng 6(100,0) 66(100,0) 2(100,0) 2(100,0) 76(100,0)
Tình trạng thực tế của các trang thiết bị y tế (TTBYT) được đánh giá dựa trên tình trạng chung và các thành phần cấu tạo như vỏ, máy, dây dẫn Trong số 76 trang thiết bị khảo sát, 90,7% ở trong tình trạng tốt và tất cả đều hoạt động, chỉ có 9,3% bị đánh giá chưa tốt Đặc biệt, tại khoa Dược và Khoa HSTC-CĐ, 100% TTBYT đều ở trong tình trạng tốt.
Trang thiết bị y tế hiện nay hoạt động hiệu quả và ít gặp lỗi, điều này góp phần nâng cao hiệu suất chuyên môn của bệnh viện.
“Thiết bị y tế tại khoa hiện nay được đầu tư mới hiện đại có nhiều chức năng như chế độ tự kiểm tra….” – (Thảo luận nhóm CBYT)
Bảng 3.7: Chất lượng trang thiết bị y tế tại 4 khoa của Bệnh viện YHCT Nội dung
Chung n (%) n (%) n (%) n (%) n (%) Chứng chỉ chất lượng
Trạng thái dây cấm và nối
Cũ, có dấu nối 0 (0,0) 0 (0,0) 0 (0,0) 0 (0,0) (0,0) Phích cắm
Nguồn điện cung cấp sử dụng Đúng với thông số 6(100,0) 66(100,0) 2(100,0) 2(100,0) 76(100,0) Không đúng với thông số 0 (0,0) 0 (0,0) 0 (0,0) 0 (0,0) (0,0)
Tiêu chuẩn chất lượng thiết bị y tế được đánh giá dựa trên nguồn điện, cách điện, phích cắm và chứng nhận chất lượng Kết quả cho thấy 100% các thiết bị y tế đạt tiêu chí chất lượng tốt Tuy nhiên, vẫn còn 17,1% thiết bị có dây nối và dây cắm cũ mà không có dấu nối.
Theo ý kiến của nhóm thảo luận, Trung tâm Bảo y tế (TTBYT) đang hoạt động hiệu quả với chất lượng tương đối tốt Mặc dù một số thiết bị đã cũ, nhưng chúng vẫn vận hành rất tốt.
3.1.3 Thực trạng công tác vận hành trang thiết bị y tế tại 4 khoa Bệnh viện YHCT Bảng 3.8 Thông tin vận hành trang thiết bị y tế tại 4 khoa của Bệnh viện
Chung n (%) n (%) n (%) n (%) n (%) Tuổi thọ thiết bị
≥ 5 năm 1(16,7) 16(24,2) 0 (0,0) 0 (0,0) 17(22,4) Tần suất sử dụng
Bảng 3.8 cho thấy rằng 77,6% các thiết bị y tế (TTBYT) có tuổi thọ dưới 5 năm, trong khi chỉ 22,4% thiết bị có tuổi thọ từ 5 năm trở lên Tại khoa HSTC-CĐ và Khoa Dược, 100% các TTBYT đều là thiết bị mới với tuổi thọ dưới 5 năm Khoa PHCN-VLTL TTBYT có tỷ lệ thiết bị trên 5 năm cao nhất, đạt 24,2%.
Các TTBYT tại các khoa nghiên cứu đều có tần suất sử dụng cao với 92,1% TTBYT được sử dụng hàng ngày, 7,9% TTBYT được sử dụng hàng tuần
Kết quả phỏng vấn sâu lãnh đạo khoa thì TTBYT tất cả TTB đều hoạt động
Tại khoa, TTB được sử dụng hàng ngày, tuy nhiên, một số thiết bị chỉ hoạt động từ 2-3 ngày trong tuần Không có thiết bị nào bị bỏ không hay không được sử dụng, tất cả đều được khai thác hiệu quả.
Một số yếu tố ảnh hưởng trong công tác quản lý vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa trang thiết bị y tế
Để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa trang thiết bị y tế, chúng tôi đã thực hiện phỏng vấn sâu với lãnh đạo bệnh viện, các khoa, phòng và nhân viên trực tiếp sử dụng thiết bị Kết quả cho thấy có nhiều yếu tố quan trọng tác động đến công tác này tại Bệnh viện Y học.
Cổ truyền Đồng Tháp bao gồm các yếu tố quan trọng như chính sách, nguồn nhân lực, chất lượng và điều kiện vận hành, kinh phí - tài chính, sự quan tâm của lãnh đạo cùng với chính sách đào tạo và tập huấn Đặc biệt, yếu tố nhân lực trong lĩnh vực y tế trực tiếp quản lý, vận hành và bảo dưỡng sửa chữa cũng đóng vai trò then chốt.
Cả 6 yếu tố đều ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của bệnh viện, đặc biệt là trong quản lý, bảo dưỡng và sửa chữa trang thiết bị y tế Trong số đó, chính sách được coi là yếu tố quan trọng nhất, không chỉ tác động trực tiếp đến quản lý và đầu tư trang thiết bị, mà còn ảnh hưởng đến các yếu tố khác như chất lượng và điều kiện vận hành, nhân lực, đào tạo, cơ sở vật chất và cán bộ quản lý.
HUPH cả các hoạt động của đơn vị đều phải tuân thủ theo các chủ trương, chính sách đã quy định
3.2.1 Hãng cung cấp trang thiết bị y tế
Trong quá trình mua sắm thiết bị y tế (TTB), các bệnh viện thường phụ thuộc vào nhà sản xuất Điều này xảy ra vì khi bệnh viện quyết định mua TTB từ một hãng, họ cũng phải sử dụng hóa chất tương ứng của hãng đó.
Bệnh viện Y học Cổ truyền đang gặp phải tình trạng phụ thuộc vào nhà cung cấp trong việc đặt máy và mua hóa chất Lãnh đạo quản lý khoa XN-CĐHA cho biết rằng sự phụ thuộc này không chỉ ảnh hưởng đến việc mua sắm mà còn làm giảm tính chủ động trong các xét nghiệm và quy trình vận hành máy Đây là một nhược điểm phổ biến trong hệ thống y tế công hiện nay.
Công tác sửa chữa và bảo dưỡng bệnh viện phụ thuộc vào nhà sản xuất, do đó, cần có dịch vụ chăm sóc khách hàng tốt sau khi bàn giao thiết bị.
Khi xảy ra hỏng hóc lớn, việc thiếu chế độ phục vụ tốt có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác chăm sóc bệnh nhân, theo PVS Lãnh đạo quản lý khoa VLTL-PHCN tại Bệnh viện Y học Cổ truyền.
Mặt khác, ngay cả bản thân nhà cung cấp TTBYT cũng gặp những khó khăn nhất định về nhân lực
Lực lượng bảo hành và bảo trì sau bán hàng của các hãng hiện nay đang gặp khó khăn do số lượng nhân viên mỏng và yếu Việc di chuyển nhân lực trong các hãng khiến cho người mới vào rất khó tiếp cận công việc, dẫn đến thời gian đào tạo kéo dài và tạo ra khoảng trống trong dịch vụ hỗ trợ.
3.2.2 Chính sách nguồn nhân lực của Bộ Y tế và sự quan tâm của Ban giám đốc bệnh viện
Hiện nay, bệnh viện đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là các kỹ thuật viên chuyên môn trong quản lý trang thiết bị y tế Việc thiếu chính sách hợp lý để thu hút và giữ chân những cán bộ này đã ảnh hưởng đáng kể đến công tác quản lý trang thiết bị y tế.
Khó khăn trong việc quản lý vật tư y tế tại bệnh viện là một thách thức lớn, do lực lượng tương đối mỏng Hiện tại, bệnh viện chưa thành lập được phòng quản lý vật tư thiết bị y tế (TBYT) và cũng chưa có cán bộ chuyên trách cho công tác này.
HUPH viên chủ yếu kiêm nhiệm, chưa được đào tạo, tập huấn về bảo dưỡng, sửa chữa và quản lý TTBYT” - (PVS Lãnh đạo - Bệnh viện Y học Cổ truyền)
Mặc dù bệnh viện có ý định cải thiện đãi ngộ và môi trường làm việc cho cán bộ, nhưng việc thiếu mã ngành pháp lý chuyên biệt cho quản lý trang thiết bị y tế đã gây ra nhiều khó khăn trong quá trình triển khai.
Hiện nay, nhiều sinh viên tốt nghiệp chưa có mã ngành cụ thể, dẫn đến khó khăn trong việc phân loại chuyên môn Chẳng hạn, sinh viên cao đẳng kỹ thuật thiết bị y tế không thể được xếp vào ngành nào rõ ràng Để giải quyết vấn đề này, Bộ Y tế, UBND tỉnh và Sở Y tế cần triển khai các chính sách thu hút nhân lực có chuyên môn trong quản lý thiết bị y tế Đồng thời, cần tổ chức các lớp đào tạo và tập huấn định kỳ để nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng thiết bị y tế cho cán bộ y tế.
Các kỹ thuật viên trong ngành y tế đóng vai trò quan trọng và không thể thiếu tại các bệnh viện Tuy nhiên, hiện tại Bộ Y tế vẫn chưa ban hành mã ngạch cho cán bộ viên chức trong lĩnh vực này.
Cần sớm ban hành mã ngạch cán bộ viên chức để sinh viên tốt nghiệp từ các trường y tế yên tâm làm việc tại bệnh viện Bên cạnh đó, việc tổ chức các chương trình đào tạo thực tiễn và quản lý là rất quan trọng, không chỉ cho những người làm quản lý mà còn cho những nhân viên trực tiếp.
3.2.3 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Bệnh viện đang đầu tư xây dựng và sửa chữa cơ sở hạ tầng, dẫn đến một số khó khăn và bất tiện trong hoạt động Các tòa nhà mới với đầy đủ tiện nghi đang được xây dựng, nhưng sự tồn tại của các tòa nhà cũ chưa được thay thế gây ra sự không đồng bộ giữa các khoa, phòng Diện tích phòng hạn chế cũng ảnh hưởng đến quá trình vận hành của cán bộ y tế, tạo ra sự vướng víu và bất tiện trong việc phục vụ sức khỏe của bệnh nhân.
BÀN LUẬN
Thực trạng công tác vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa trang thiết bị y tế
Nghiên cứu được thực hiện trên 05 khoa có nhiều thiết bị của Bệnh viện Y học
Cổ truyền bao gồm các khoa như Khoa Xét nghiệm – Chẩn đoán hình ảnh, Khoa Vật lý trị liệu và Phục hồi chức năng, Khoa kiểm soát nhiễm khuẩn, Khoa Dược, và Khoa Hồi sức tích cực – Chống độc, có trách nhiệm quản lý hầu hết các trung tâm y tế trong Bệnh viện Y học.
Khoa Hồi sức cấp cứu có công suất giường bệnh thấp (91%) do gánh nặng giường bệnh ít hơn các khoa chuyên môn khác Khoa tiếp nhận bệnh nhân nặng và rất nặng, sau đó chuyển sang các khoa chuyên môn khác khi tình trạng đã ổn định Thời gian lưu trú của bệnh nhân tại khoa không dài, với tổng thời gian điều trị nội trú chỉ khoảng 7 nghìn ngày, chiếm 2% tổng thời gian điều trị nội trú của toàn bệnh viện.
Tại 05 khoa tham gia nghiên cứu có 30 CBYT đang công tác với tỷ lệ cán bộ dưới 30 tuổi và từ 30-49 tuổi về giới tính, tỷ lệ cán bộ nam chiếm 40% so với tại 05 khoa trong nghiên cứu Khoa XN-CĐHA là khoa tiếp xúc với nhiều tia, sóng độc hại nên tỷ lệ nam giới hơi cao hơn so với nữ giới (57,1% so với 42,9%) Đối tượng nghiên cứu có thời gian công tác trên 05 năm chiếm tỷ lệ 63,3% Nhiệm vụ sử dụng TTB chiếm 60,0%, cho thấy các CBYT ở đây đều là những người có kinh nghiệm làm việc lâu năm
Phòng Hành chính, quản trị thiết bị và khoa dược chịu trách nhiệm quản lý trang thiết bị y tế tại Bệnh viện Y học Cổ truyền Các khoa khác hầu như không có cán bộ y tế chuyên trách cho việc này, mà chủ yếu là cán bộ kiêm nhiệm, chỉ thực hiện việc sử dụng và bảo quản thiết bị phục vụ cho công tác khám chữa bệnh.
Mặc dù tất cả các cán bộ y tế đều có trách nhiệm bàn giao trang thiết bị y tế sau mỗi ca trực, nhưng vẫn còn 26,7% cán bộ chưa thực hiện điều này Việc bàn giao trang thiết bị y tế là rất quan trọng, không chỉ đảm bảo sự liên tục trong công việc mà còn nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.
HUPH không chỉ giúp vận hành hiệu quả Trung tâm Bệnh viện Y tế mà còn nâng cao trách nhiệm của cán bộ y tế trong việc tiếp quản thiết bị trước ca trực Tài liệu kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hoạt động trơn tru của Trung tâm, đồng thời là nguồn tham khảo cần thiết khi thiết bị gặp sự cố, giúp đưa ra phương án xử lý chính xác Do đó, việc bảo quản tài liệu này là trách nhiệm chung của toàn bộ cán bộ y tế Tuy nhiên, tại Bệnh viện Y học Cổ truyền, vẫn còn 26,7% cán bộ chưa thực hiện tốt việc này.
Tại nhiều quốc gia, quy định yêu cầu cán bộ y tế (CBYT) phải có năng lực và trình độ phù hợp để đảm bảo việc sử dụng trang thiết bị y tế (TTBYT) an toàn và hiệu quả Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy nhân lực quản lý TTBYT có trình độ cao hiện vẫn còn thấp, với 53,4% cán bộ có trình độ dưới đại học, 40% có trình độ đại học và chỉ 6,6% có trình độ sau đại học Tỷ lệ này thấp hơn so với thống kê của Bộ Y tế năm 2017 tại 22 bệnh viện Trung Ương, nơi có 49,2% CBYT đạt trình độ đại học, nhưng lại cao hơn so với tỷ lệ ở bệnh viện tuyến tỉnh (25,7%) Kết quả này chỉ ra rằng hiện nay vẫn chưa đủ nhân lực đáp ứng nhu cầu quản lý TTBYT tại các đơn vị y tế.
Bệnh viện Y học Cổ truyền đã tổ chức đào tạo định hướng quản lý Trung tâm Y tế cho các cán bộ y tế, nhưng chỉ có 46,7% cán bộ tham gia nghiên cứu được đào tạo, trong khi 53,3% vẫn chưa được đào tạo Tỷ lệ cán bộ được đào tạo tại Bệnh viện Y học Cổ truyền Đồng Tháp thấp hơn so với báo cáo của Bộ Y tế năm 2017, cho thấy chỉ có 70,8% cán bộ được đào tạo quản lý Trung tâm Y tế.
Nghiên cứu của Nguyễn Nhật Linh (2017) chỉ ra rằng điểm kiến thức về quản lý trang thiết bị y tế của cán bộ y tế chỉ đạt 4,6/14, trong khi điểm thực hành trung bình chỉ đạt 4,4/15 Những con số này cho thấy sự cần thiết phải cải thiện công tác đào tạo cho cán bộ y tế tại Bệnh viện Y học Cổ truyền.
Trong số 30 cán bộ tham gia khảo sát, 57,2% không được đào tạo hoặc chỉ được đào tạo dưới 1-3 ngày trong 3 năm qua Chỉ có 21,4% cán bộ có tổng thời gian đào tạo trên 5 ngày, cho thấy sự thiếu hụt trong công tác đào tạo nhân lực Kết quả này tương đồng với báo cáo của Bộ.
Y tế (2017) với tỷ lệ CBYT được đào tạo trên 5 ngày là 27,1%và dưới 1 ngày là 50%
Khoa Vật lý trị liệu và Phục hồi chức năng (VLTL-PHCN) có tỷ lệ cán bộ với tổng thời gian đào tạo trên 5 ngày cao nhất, đạt 66,7% Điều này cho thấy sự cần thiết phải đào tạo thường xuyên cho các cán bộ trong khoa này.
Kết quả đào tạo cán bộ y tế tại HUPH chưa đáp ứng được hướng dẫn của Bộ Y tế về thời gian đào tạo liên tục theo thông tư số 22/2013/TT-BYT Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khẳng định rằng hiệu quả của các chính sách về đào tạo y tế chỉ đạt được khi có đủ số lượng cán bộ được đào tạo đầy đủ Thực tế này dẫn đến việc giảm hiệu quả và hiệu suất sử dụng thiết bị y tế.
Nghiên cứu mới cho thấy rằng việc kiểm tra đường điện, vỏ và máy của thiết bị y tế, cũng như quy trình làm sạch trước và sau khi sử dụng, là rất quan trọng Tỷ lệ cán bộ y tế thực hiện tốt các quy định an toàn đạt 73,4%, cho thấy sự tuân thủ cao Việc thực hiện đầy đủ các quy định này không chỉ giúp xử lý hiệu quả các sự cố mà còn đảm bảo an toàn cho cả cán bộ y tế và bệnh nhân Kết hợp kiểm tra thủ công với chức năng tự kiểm của thiết bị có thể ngăn ngừa các sự cố trong quá trình cung cấp dịch vụ y tế.
4.1.2 Thực trạng công tác vận hành trang thiết bị y tế
77,6% thiết bị y tế (TTBYT) có tuổi thọ dưới 5 năm, trong khi chỉ 22,4% có tuổi thọ từ 5 năm trở lên Kết quả này cải thiện so với nghiên cứu của Lê Ka Thủy (2017) tại Bệnh viện Đa khoa Đắk Lắk, nơi tỷ lệ TTBYT trên 10 năm chỉ đạt 22,2% Tại các bệnh viện tuyến tỉnh và huyện, khoảng 30% TTBYT đã sử dụng trên 10 năm, đặc biệt là những thiết bị được cấp từ nguồn vốn ODA, có thời gian vận hành lên đến 47 năm Nghiên cứu tại Bệnh viện Xanh Pôn cũng cho thấy một số thiết bị đã được sử dụng từ những năm 1970, dẫn đến tình trạng thiếu phụ tùng thay thế và ảnh hưởng xấu đến hoạt động Điều này chứng tỏ rằng các TTBYT trong nghiên cứu đều mới và hiện đại, giúp Bệnh viện Y học Cổ truyền Đồng Tháp thực hiện quy trình khám chữa bệnh hiệu quả và chính xác hơn.
Nghiên cứu cho thấy tần suất sử dụng TTYT tại Bệnh viện Y học Cổ truyền rất cao, với 92,1% các TTBYT hoạt động liên tục hàng ngày Chỉ có 7,9% TTBYT tại 5 khoa có tần suất sử dụng dưới 1 lần/tuần.
Một số yếu tố ảnh hưởng trong công tác quản lý vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa trang thiết bị y tế
4.2.1 Chính sách quy định, tiêu chuẩn đối với hãng cung cấp trang thiết bị y tế, bảo hành, bảo dưỡng
Các máy chất lượng, được sản xuất bởi các thương hiệu uy tín, thường được tối ưu hóa với công nghệ mới, giúp cải thiện hiệu quả sử dụng thiết bị y tế cho các cán bộ y tế.
Công tác bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị y tế tại Bệnh viện Y học Cổ truyền được hỗ trợ tích cực từ các hãng cung cấp thiết bị y tế xung quanh bệnh viện Phòng Hành chính, quản trị thiết bị - khoa dược và các hãng cùng phối hợp trong việc này Sự hợp tác của các hãng thông qua việc cử người hỗ trợ và tư vấn qua điện thoại giúp giảm bớt gánh nặng cho cán bộ y tế Ngoài ra, các hãng cũng sẵn sàng cho mượn thiết bị y tế thay thế khi máy hỏng, đảm bảo khoa có thể tiếp tục hoạt động và đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh hàng ngày.
Sửa chữa thiết bị y tế tại Bệnh viện Y học Cổ truyền phụ thuộc vào sự sẵn có của vật tư thay thế Nếu vật tư có sẵn, thời gian sửa chữa sẽ nhanh chóng, nhưng nếu không, đặc biệt là với vật tư từ các hãng nước ngoài, sẽ mất nhiều thời gian để vận chuyển, gây lãng phí khi thiết bị không hoạt động Thêm vào đó, chất lượng dịch vụ hậu mãi của hãng sản xuất ảnh hưởng lớn đến quá trình bảo trì và sửa chữa thiết bị y tế Nghiên cứu của Lê Ka Thủy (2017) cho thấy công tác sửa chữa sẽ gặp khó khăn nếu bệnh viện không nhận được hỗ trợ kịp thời từ công ty sửa chữa Hơn nữa, nghiên cứu của Poonam (2015) chỉ ra rằng thời gian hạn chế trong bảo trì và sửa chữa là yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng thiết bị Việc phụ thuộc vào hãng sản xuất cũng tạo gánh nặng tài chính cho bệnh viện trong việc vận hành thiết bị y tế.
Công tác bảo dưỡng và sửa chữa tại Bệnh viện Y học Cổ truyền đang được thực hiện kịp thời và đúng quy trình Tuy nhiên, vẫn cần nỗ lực phối hợp hơn nữa để nâng cao hiệu quả công việc này.
HUPH được hình thành từ nhiều yếu tố, bao gồm quy trình kỹ thuật, vật tư thay thế, nhân lực và nguồn lực quản lý Hệ thống trang thiết bị y tế nội tại của bệnh viện được kết nối với các đối tác, từ nhà cung cấp đến các hỗ trợ từ chính sách y tế địa phương và quốc gia.
Bảo dưỡng định kỳ các thiết bị giúp cán bộ y tế (CBYT) nắm rõ tình trạng thiết bị y tế (TTBYT) trong và sau quá trình vận hành Việc này không chỉ hỗ trợ CBYT dự đoán các trục trặc có thể xảy ra mà còn cho phép lập kế hoạch sửa chữa và thay thế kịp thời Sửa chữa trước khi TTBYT gặp vấn đề nghiêm trọng sẽ tiết kiệm chi phí và giảm gánh nặng cho các thiết bị khác cũng như cho CBYT trong công tác khám chữa bệnh (KCB) khi máy không hoạt động.
4.2.2 Nhân lực CBYT trực tiếp quản lý, sử dụng vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa trang thiết bị y tế
Thiếu nhân lực vận hành trang thiết bị y tế do hạn chế biên chế cán bộ gây khó khăn trong việc sử dụng và bảo quản thiết bị Trình độ của cán bộ y tế không đủ và không đúng chuyên môn, dẫn đến việc họ chỉ có thể vận hành thiết bị khi không gặp trục trặc hoặc chỉ có lỗi nhỏ, không đáp ứng được nhu cầu kỹ thuật của khoa Nghiên cứu của Lê Ka Thủy chỉ ra vấn đề này.
Thiếu nhân lực đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác quản lý trang thiết bị y tế (TTBYT), như đã chỉ ra trong báo cáo của Bộ Y tế (2017) và nghiên cứu của Nguyễn Anh Quang (2017) Nhóm yếu tố nguồn nhân lực được xác định là yếu tố quan trọng nhất trong việc vận hành hiệu quả TTBYT Để giảm thiểu tác động của tình trạng thiếu nhân lực, các cán bộ y tế (CBYT) cần chủ động phối hợp chuyên môn với đồng nghiệp ở các khoa phòng khác và các đơn vị y tế khác Việc có CBYT chuyên trách quản lý TTBYT tại mỗi khoa phòng sẽ giúp theo dõi liên tục các thông số kỹ thuật của máy móc, từ đó hạn chế các lỗi nhỏ trong quá trình vận hành.
Nhằm đảm bảo được máy luôn ở trạng thái tốt nhất, các CBYT của Bệnh viện
Y học Cổ truyền thường xuyên kiểm tra các thông số cơ bản trước khi vận hành máy,
Quy trình HUPH giúp phát hiện sớm các vấn đề mà thiết bị y tế gặp phải trong quá trình sử dụng, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho công tác bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị tại bệnh viện.
Công tác bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị y tế tại Bệnh viện Y học Cổ truyền được thực hiện theo kế hoạch định kỳ, giúp nâng cao hiệu quả và giảm thời gian chờ đợi Việc xác định định mức về nhân lực, kỹ thuật và kinh phí tạo điều kiện cho cán bộ y tế dễ dàng tiếp cận các vấn đề liên quan đến thiết bị y tế Đồng thời, quy trình này cũng đảm bảo cung cấp vật tư thay thế một cách chính xác và kịp thời cho công tác bảo trì và sửa chữa thiết bị.
Bệnh viện Y học Cổ truyền tỉnh Đồng Tháp đã trang bị các thiết bị y tế (TTBYT) mới với chất lượng tốt nhất, nhằm đảm bảo nhu cầu khám chữa bệnh (KCB) của bệnh viện Các TTBYT tại các khoa phòng thường xuyên được vận hành để đáp ứng nhu cầu KCB, đặc biệt là tại khoa Hồi sức cấp cứu Tuy nhiên, vẫn còn một số thiết bị đặc thù có tần suất vận hành rất thấp, thậm chí không cần thiết do tần suất thực hiện các thủ thuật liên quan đến thiết bị đó cũng rất hạn chế Nghiên cứu của Lê Đăng Trung.
Năm 2012, nghiên cứu cho thấy tần suất vận hành thiết bị y tế tại Bệnh viện Đa khoa Thị xã Buôn Hồ, Đắk Lắk vẫn chưa đồng đều Điều này gây khó khăn trong việc đánh giá hiệu quả sử dụng thiết bị y tế chỉ dựa vào tần suất sử dụng.
Cơ sở hạ tầng tại bệnh viện ảnh hưởng lớn đến việc lắp đặt, sử dụng và bảo quản thiết bị y tế (TTBYT), đồng thời đảm bảo an toàn trong vận hành Bệnh viện Y học Cổ truyền Đồng Tháp chỉ đáp ứng yêu cầu cơ bản cho lắp đặt và vận hành TTBYT, chưa đạt tiêu chuẩn ISO và không đủ điều kiện cho thiết bị kỹ thuật cao Tình trạng tương tự cũng diễn ra tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Long An, nơi cơ sở vật chất chưa đáp ứng nhu cầu lắp đặt và sử dụng TTBYT Ngược lại, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đồng Nai đã có cơ sở vật chất mới, hiện đại, đáp ứng đầy đủ nhu cầu này Kể từ năm 2002, bệnh viện đã được nâng cấp lên hạng I với 340 giường bệnh và hiện nay đã phát triển thành bệnh viện đa khoa hoàn chỉnh với khoảng 1000 giường bệnh và 36 khoa phòng.
Bệnh viện Y học HUPH thực hiện nhiều chức năng quan trọng như khám chữa bệnh, nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ y tế, hợp tác quốc tế, chỉ đạo tuyến và quản lý kinh tế y tế Trong những năm gần đây, bệnh viện đã không ngừng phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.
Bệnh viện Y học Cổ truyền tỉnh Đồng Tháp đang tiếp nhận ngày càng nhiều bệnh nhân, khiến công suất giường bệnh vượt quá 148% Mặc dù tình trạng quá tải tại đây nghiêm trọng, nhưng vẫn tương đương hoặc thấp hơn so với nhiều bệnh viện khác trên toàn quốc.
Hạn chế nghiên cứu
Theo quyết định 58/2015/QĐ-TTg, Bộ trưởng hoặc Chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm ban hành tiêu chuẩn và định mức cho thiết bị y tế chuyên dụng có giá trị trên 500 triệu đồng Do hạn chế về thời gian và kinh phí, nghiên cứu chỉ tập trung vào các thiết bị y tế có giá trị trên 100 triệu đồng mỗi đơn vị Tuy nhiên, thông tin thu thập từ 35 loại thiết bị y tế tại 5 khoa phòng vẫn chưa đủ để đại diện cho toàn bộ thiết bị y tế tại bệnh viện.
Y học Cổ truyền đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe Tuy nhiên, việc đánh giá công tác vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa trang thiết bị y tế (TTBYT) hiện tại chưa mang lại cái nhìn toàn diện về vòng đời quản lý của chúng.
Do tình hình dịch COVID-19 phức tạp và nguồn lực hạn chế, nghiên cứu chỉ tập trung vào việc đánh giá công tác vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa trang thiết bị y tế (TTBYT) tại Bệnh viện Y học Cổ truyền tỉnh Đồng Tháp Quy trình liên quan đến vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa TTBYT được xem xét, nhưng nghiên cứu không thể đánh giá chất lượng thực hiện các chính sách, quy trình quản lý và các khâu khác trong vòng đời của TTBYT Để có một đánh giá toàn diện về mọi khía cạnh liên quan đến công tác này, cần một nghiên cứu lớn hơn với đủ thời gian và nguồn lực.
Thông tin thu thập qua bảng kiểm có thể không chính xác do sự hiện diện của điều tra viên, điều này có thể ảnh hưởng đến thực trạng và quy trình vận hành thiết bị, từ đó tác động đến kết quả nghiên cứu.