1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tật khúc xạ ở học sinh lớp 4 5, trường tiểu học thị trấn trà ôn, huyện trà ôn, tỉnh vĩnh long năm 2022

136 3 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tật khúc xạ ở học sinh lớp 4 - 5, trường tiểu học thị trấn Trà Ôn, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long năm 2022
Tác giả Nguyễn Ngọc Trâm
Người hướng dẫn PGS. TS. Dương Minh Đức
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 3,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN (15)
    • 1.1. Khái niệm tật khúc xạ (15)
    • 1.2. Thực trạng tật khúc xạ học đường (20)
    • 1.3. Các yếu tố liên quan đến tật cận thị học đường (24)
    • 1.4. Các quy định về điều kiện học tập của học sinh tiểu học (30)
    • 1.5. Sơ lược về đặc điểm địa bàn nghiên cứu (32)
    • 1.6. Khung lý thuyết (34)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (35)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (35)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (35)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (35)
    • 2.4. Cỡ mẫu (35)
    • 2.5. Phương pháp chọn mẫu (36)
    • 2.6. Phương pháp thu thập số liệu (36)
    • 2.7. Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá (40)
    • 2.8. Sơ đồ nghiên cứu (44)
    • 2.9. Phương pháp phân tích số liệu (45)
    • 2.10. Đạo đức của nghiên cứu (45)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (47)
    • 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (47)
    • 3.2. Tỷ lệ tật khúc xạ của học sinh Trường Tiểu học thị trấn Trà Ôn (49)
    • 3.4. Các yếu tố liên quan đến tật cận thị của học sinh (59)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (64)
    • 4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (64)
    • 4.2. Tỷ lệ tật khúc xạ của học sinh Trường Tiểu học thị trấn Trà Ôn (65)
    • 4.3. Thực trạng kiến thức về cận thị, hành vi sức khỏe của học sinh và điều kiện vệ sinh học đường (71)
    • 4.4. Các yếu tố liên quan đến tật cận thị của học sinh (77)
    • 4.5. Hạn chế của nghiên cứu (81)
  • KẾT LUẬN (84)
  • PHỤ LỤC (94)

Nội dung

TỔNG QUAN

Khái niệm tật khúc xạ

1.1.1 Định nghĩa tật khúc xạ

Mắt chính thị là trạng thái bình thường của mắt khi không có điều tiết, trong đó các tia sáng từ vật ở xa sẽ hội tụ chính xác trên võng mạc.

Hình 1.1 Mắt chính thị (Nguồn: Visioncenter.org)

Khi mắt gặp tật khúc xạ, hình ảnh của một vật ở vô cực sẽ được tạo ra trước hoặc sau võng mạc Các loại tật khúc xạ phổ biến bao gồm cận thị, viễn thị và loạn thị.

Mắt cận thị có công suất quang học vượt quá độ dài trục nhãn cầu, dẫn đến hiện tượng các tia sáng song song từ vật ở xa hội tụ trước võng mạc.

Hình 1.2 Mắt cận thị (Nguồn: Visioncenter.org)

Mắt viễn thị là tình trạng ngược lại với mắt cận thị, trong đó trục nhãn cầu ngắn hơn bình thường, dẫn đến hình ảnh của vật được hình thành ở phía sau võng mạc.

Hình 1.3 Mắt viễn thị (Nguồn: Visioncenter.org)

Mắt loạn thị là tình trạng mà các kinh tuyến khúc xạ không đồng đều, dẫn đến việc hình ảnh của một điểm qua hệ quang học trở thành một đường thẳng thay vì một điểm.

Hình 1.4 Mắt loạn thị ( Nguồn: Visioncenter.org ) 1.1.2 Chẩn đoán tật khúc xạ

Trong thực tế lâm sàng, việc chẩn đoán tật khúc xạ thường dựa vào độ cầu tương đương SE (Spherical Equivalent) Công thức tính độ cầu tương đương SE được xác định như sau: Độ cầu tương đương (SE) = Độ khúc xạ cầu + ½ độ trụ.

Theo lý thuyết, mắt chính thị có độ khúc xạ cầu tương đương bằng 0, nhưng trong thực tế, tiêu chuẩn SE bằng 0 không được sử dụng để chẩn đoán tật khúc xạ do sai số trong các phương pháp đo Các tiêu chuẩn chẩn đoán thường được áp dụng là: mắt chính thị có SE từ -0,50D đến +0,50D; cận thị có SE từ -0,50D trở lên; viễn thị có SE từ +0,50D trở lên; và mắt loạn thị có độ trụ từ 0,75D trở lên.

1.1.3 Phân loại tật khúc xạ

Hiện nay, cận thị được phân loại theo nhiều quan điểm khác nhau, nhưng trong lâm sàng, thường được chia thành ba mức độ: cận thị nhẹ với độ cận dưới -3,00D, cận thị trung bình từ -3,00D đến -6,00D, và cận thị nặng với độ cận trên -6,00D.

Dựa vào mức độ điều tiết viễn thị được phân loại như sau: viễn thị nhẹ ≤ +2,00D, viễn thị trung bình từ +2,25D đến + 5,00D, viễn thị nặng > +5,00D (10- 12).

Loạn thị được phân loại theo các mức độ như sau: loạn thị nhẹ < 1,00D, loạn thị trung bình từ 1,00D đến 2,00D, loạn thị nặng từ 2,25D đến 3,00D, loạn thị rất nặng > 3,00D (10-12).

1.1.4 Nguyên nhân tật khúc xạ

Cận thị thông thường thường xuất phát từ những sai lệch trong quá trình phát triển trong thời kỳ phôi thai và giai đoạn phát triển tích cực Các rối loạn này có thể dẫn đến những bất thường trong các thành phần cấu tạo khúc xạ của nhãn cầu, như độ cong của giác mạc và độ sâu của tiền phòng Di truyền cũng đóng vai trò quan trọng và rõ rệt trong cận thị bẩm sinh và cận thị nặng.

Nguyên nhân môi trường: môi trường cũng có thể ảnh hưởng đến tình trạng

Khúc xạ của mắt học sinh có thể bị ảnh hưởng bởi sự gắng sức khi làm việc ở cự ly gần Đối với lứa tuổi học sinh, môi trường học tập là một trong những nguyên nhân chính gây ra tật khúc xạ Các yếu tố trong trường học có thể bao gồm ánh sáng không đủ, tư thế ngồi không đúng và thời gian học tập kéo dài.

Ánh sáng đóng vai trò quan trọng trong thị lực, vì độ chiếu sáng cao giúp cải thiện khả năng phân biệt các vật nhỏ Thiếu ánh sáng hoặc chiếu sáng không hợp lý trong quá trình học có thể dẫn đến mỏi điều tiết, từ đó tạo điều kiện cho các tật khúc xạ phát sinh và phát triển.

Kích thước bàn ghế không phù hợp với lứa tuổi học sinh, cùng với việc sắp xếp sai quy cách, là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng không đạt tiêu chuẩn vệ sinh học đường Cụ thể, sự chênh lệch giữa chiều cao bàn và ghế, như bàn cao ghế thấp hoặc bàn thấp ghế cao, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và sự thoải mái của học sinh.

Môi trường gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến tật khúc xạ của trẻ Ngoài thời gian học tập tại trường, trẻ còn học bài và làm bài tập tại nhà, vì vậy yếu tố ánh sáng và kích thước bàn ghế khi học tại nhà cũng có tác động lớn Nếu điều kiện học tập và sinh hoạt tại nhà không đảm bảo, điều này có thể dẫn đến tật khúc xạ ở trẻ.

Một số yếu tố bất lợi ảnh hưởng đến sức khỏe mắt bao gồm sách vở và chữ viết không đạt tiêu chuẩn vệ sinh, việc đọc sách có cỡ chữ nhỏ và giấy tối màu Chế độ học tập căng thẳng cùng với sự gia tăng thời gian dành cho các trò chơi điện tử, phim hoạt hình và TikTok cũng góp phần làm mắt phải điều tiết nhiều hơn, từ đó có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của tật khúc xạ.

Viễn thị sinh lý là tình trạng do sự mất cân bằng giữa trục trước sau của nhãn cầu và lực quang học của mắt, dẫn đến việc ảnh hội tụ sau võng mạc Tình trạng này được cho là do sự kết hợp giữa yếu tố di truyền và các biến đổi sinh lý khác của mắt, trong khi yếu tố môi trường ít ảnh hưởng hơn so với cận thị.

Thực trạng tật khúc xạ học đường

1.2.1 Tình hình tật khúc xạ học đường trên thế giới

Tật khúc xạ, đặc biệt là cận thị, là một vấn đề nhãn khoa phổ biến toàn cầu, với ước tính khoảng 220 triệu người mắc phải Dự báo đến năm 2050, số người bị cận thị có thể tăng lên 4,8 tỷ, chiếm 50% dân số thế giới, trong đó khoảng 1 tỷ người sẽ bị cận thị nặng Nhiều nghiên cứu cho thấy tật khúc xạ đang gia tăng nhanh chóng ở hầu hết các quốc gia, đặc biệt là tại Châu Á, nơi có tỷ lệ mắc cao nhất.

Mỹ tăng từ 25% đến 41% và từ 70% đến 90% ở các nước châu Á (16) Tỉ lệ cận thị nặng (>6D), cũng tăng cao (17).

Các nghiên cứu gần đây cho thấy tỷ lệ mắc tật khúc xạ học đường ở trẻ em đang gia tăng, trở thành một vấn đề sức khỏe quan trọng trên toàn cầu Tại Trung Quốc, nghiên cứu của tác giả L Guo (2016) đã chỉ ra mối liên quan giữa tình trạng này và các yếu tố môi trường cũng như thói quen học tập của trẻ.

Trong một nghiên cứu tại Quảng Châu với 3055 học sinh từ 6 đến 15 tuổi, tỷ lệ cận thị đạt 47,4%, tăng theo cấp học: chỉ 0,2% ở lớp 1, 38,8% ở lớp 3, 46,2% ở lớp 5 và cao nhất là 68,4% ở lớp 9 Tại Mỹ, nghiên cứu của Morgan và cộng sự (2008) cho thấy tỷ lệ cận thị là 4,5% ở 14.075 trẻ em từ nhà trẻ đến lớp 4 Đến năm 2018, nghiên cứu của Christos Theophanous tại Southern California ghi nhận tỷ lệ cận thị ở học sinh là 41,9%, trong đó 14,8% ở trẻ từ 5 đến 7 tuổi.

Theo nghiên cứu của Rohit Saxena và cộng sự, tỷ lệ trẻ em từ 5-10 tuổi mắc cận thị tại một thành phố miền Bắc Ấn Độ là 20,7%, trong khi tỷ lệ này ở trẻ từ 11-13 tuổi lên tới 55% Tương tự, các nghiên cứu tại Úc cho thấy tỷ lệ cận thị ở trẻ 6 tuổi là 1,4% và ở trẻ 12 tuổi là 11,9%.

Tại châu Âu, tỷ lệ trẻ mắc cận thị thấp hơn so với các khu vực khác, với nghiên cứu của Assefa W (2012) tại Ethiopia cho thấy tỷ lệ cận thị ở trẻ em là 9,4% Tương tự, nghiên cứu của Sandra Jobke tại Đức năm 2008 chỉ ra rằng tỷ lệ cận thị ở trẻ em từ 7 - 11 tuổi là 5,5% Ngoài ra, nghiên cứu của O’Donoghue năm 2010 tại Bắc Ireland ghi nhận tỷ lệ cận thị ở trẻ em 6 - 7 tuổi chỉ là 2,8%, thấp hơn đáng kể so với các nhóm tuổi khác.

Tỷ lệ cận thị ở trẻ em từ 5 đến 17 tuổi có sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm dân tộc, với người gốc Á đạt 18,5%, cao hơn so với người gốc Tây Ban Nha (13,2%), gốc Phi (6,6%) và thấp nhất là người da trắng (4,4%) Nghiên cứu của Proskurina O.V (2018) cho thấy, tại một số vùng ở Nga, chỉ 2,4% trẻ em bị cận thị khi bắt đầu đi học, nhưng con số này đã tăng gấp 8 lần lên 19,7% vào lớp 5, gần đạt mức trung bình của châu Âu với tỷ lệ cận thị lên tới 36,8%.

Tại khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ cận thị học đường đang gia tăng đáng kể Cụ thể, ở Singapore, nghiên cứu cho thấy tỷ lệ cận thị ở trẻ em từ 1 đến 6 tuổi là 11%, 29% ở trẻ 7 tuổi, 34,7% ở trẻ 8 tuổi và 53,1% ở trẻ 9 tuổi Tương tự, tại Thái Lan, nghiên cứu của tác giả Yingyong P (2010) cũng chỉ ra tình trạng cận thị đang trở thành vấn đề nghiêm trọng.

Nghiên cứu tại Bangkok cho thấy tỷ lệ cận thị ở trẻ em từ 6 - 12 tuổi là 12,7%, trong khi ở Nakhonpathom là 5,7% Tương tự, nghiên cứu của Goh P (2005) tại Malaysia cho thấy 9,8% trẻ em từ 7 - 9 tuổi bị cận thị trong số 4.634 học sinh được khảo sát.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tình trạng mắc tật khúc xạ, đặc biệt là cận thị, đang gia tăng đáng báo động Tỷ lệ mắc cận thị ở học sinh năm sau cao hơn năm trước, và tỷ lệ này tăng theo độ tuổi Cụ thể, nghiên cứu của Zhihao Xie (2020) tại Trùng Khánh, Trung Quốc cho thấy tỷ lệ cận thị chung là 33,9%, với trẻ em gái có nguy cơ cao hơn trẻ em trai Tương tự, nghiên cứu của Jiaxing Wang (2020) tại Thiên Tân, Trung Quốc ghi nhận tỷ lệ mắc cận thị tại trường học này lên tới 78,2%, dao động từ 10% ở độ tuổi 5 đến 95% ở tuổi 16.

Trong những năm gần đây, đại dịch COVID-19 đã thúc đẩy xu hướng học trực tuyến trên toàn cầu, đồng thời việc giãn cách xã hội đã làm giảm thời gian trẻ em hoạt động ngoài trời, dẫn đến nguy cơ cao mắc tật khúc xạ Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tật khúc xạ ở học sinh gia tăng nhanh chóng do phải ở nhà trong thời gian dài Nghiên cứu của Jiaxing Wang (2021) tại Trung Quốc chỉ ra rằng việc trẻ em ở nhà trong đại dịch có liên quan đến sự gia tăng đáng kể bệnh cận thị, với mức tăng khoảng 0,3 diop ở trẻ từ 6 đến 8 tuổi Theo James Loughman, việc tiếp xúc liên tục với thiết bị kỹ thuật số cũng là một nguyên nhân chính làm tăng tỷ lệ mắc cận thị.

1.2.2 Tình hình mắc tật khúc xạ học đường ở Việt Nam

Tại Việt Nam, tỷ lệ tật khúc xạ học đường đang gia tăng nhanh chóng, với số liệu cho thấy khoảng 25-40% trẻ em từ 6-15 tuổi ở khu vực thành thị và 10-15% ở khu vực nông thôn bị ảnh hưởng Theo Viện Mắt Trung ương, điều này tương đương với khoảng 3 triệu trẻ em mắc tật khúc xạ, và con số này đang tiếp tục tăng lên.

Tỷ lệ mắc tật khúc xạ, đặc biệt là cận thị học đường, đang gia tăng nhanh chóng, nhất là ở các thành phố lớn Nghiên cứu của Trịnh Thị Bích Ngọc tại Hà Nội năm 2009 cho thấy tỷ lệ cận thị ở học sinh tiểu học là 18% Tại thành phố Hồ Chí Minh, công bố của Lê Thị Thanh Xuyên chỉ ra rằng tỷ lệ cận thị học đường đang có xu hướng tăng đáng báo động, từ 8,7% vào năm 1994 lên 17,2% vào năm 2002.

Theo nghiên cứu của Nguyễn Quốc Đạt, tỷ lệ trẻ mắc cận thị vào năm 2006 là 38,9%, cho thấy không chỉ số lượng trẻ em mắc cận thị ngày càng gia tăng mà mức độ nặng của bệnh cũng đang có xu hướng tăng lên.

Một nghiên cứu được thực hiện vào năm 2017 tại Đà Nẵng đã theo dõi 129 trẻ em có tật khúc xạ trong suốt một năm Kết quả cho thấy độ cận thị có xu hướng gia tăng theo thời gian, trong khi độ viễn thị lại duy trì ổn định qua các lần đánh giá.

Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc tật khúc xạ ở trẻ em tại khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn Cụ thể, nghiên cứu của Hoàng Hữu Khôi (2017) trên 1.539 học sinh tại Đà Nẵng cho thấy tỷ lệ tật khúc xạ đạt 38,9%, trong đó cận thị chiếm 92,8%, với tỷ lệ học sinh thành thị là 58,7% so với 16,7% ở nông thôn Tại Trà Vinh, nghiên cứu của Nguyễn Văn Trung (2015) trên 1.431 học sinh từ 7 đến 14 tuổi ghi nhận tỷ lệ tật khúc xạ là 21,87%, cũng cho thấy khu vực thành thị cao hơn nông thôn Tại thành phố Điện Biên Phủ, Trần Đức Nghĩa (2019) báo cáo tỷ lệ cận thị ở học sinh tiểu học là 17,2%, trong đó 82% là cận thị nhẹ, 16% cận thị trung bình và 2% cận thị nặng.

(2013) lại ghi nhận kết quả ngược lại với tỷ lệ tật khúc xạ của học sinh tiểu học là 7,2%, ở khu vực ngoại thành cao hơn khu vực nội thành (41).

Các yếu tố liên quan đến tật cận thị học đường

1.3.1 Các yếu tố cá nhân

Nhiều nghiên cứu cho thấy cận thị nhẹ và trung bình có thể di truyền qua nhiều gen, trong khi cận thị nặng có thể liên quan đến một gen duy nhất trong một số trường hợp Kiểu di truyền của cận thị có thể là trội, lặn hoặc đôi khi liên kết với giới tính Tỷ lệ mắc tật khúc xạ cao hơn ở những người có người thân mắc tật khúc xạ Nghiên cứu gen trong tương lai có thể giúp làm rõ các cơ chế điều chỉnh sự phát triển và kích thước của nhãn cầu.

Yếu tố di truyền có vai trò quan trọng trong việc gây cận thị, với nghiên cứu của Nguyễn Chí Dũng (2008) cho thấy di truyền chiếm đến 60% nguyên nhân Một số nghiên cứu khác chỉ ra rằng khoảng 30% - 35% cận thị bệnh lý là do bẩm sinh và di truyền, trong khi 65% - 70% là do mắc phải Tỷ lệ cận thị cao hơn ở trẻ em có cha mẹ bị cận thị, với nghiên cứu tại Sydney cho thấy trẻ 12 tuổi có cha mẹ bình thường chỉ có tỷ lệ cận thị 7,6%, trong khi trẻ có cha hoặc mẹ bị cận thị có tỷ lệ lên đến 14,9%, và nếu cả cha mẹ đều bị cận thị, tỷ lệ này tăng lên 43,6% Nghiên cứu của Bùi Thanh Quyển (2021) tại Sóc Trăng cũng cho thấy học sinh có tiền sử gia đình mắc tật khúc xạ có nguy cơ cao gấp 2 lần.

Trần Đức Nghĩa tại Điện Biên ghi nhận tỷ lệ này là 2,67 lần (7).

Nghiên cứu về yếu tố giới tính liên quan đến tật khúc xạ học đường đã cho ra những kết quả khác nhau Cụ thể, nghiên cứu của Guo (2016) chỉ ra rằng nữ sinh có nguy cơ cận thị cao gấp 1,22 lần so với nam sinh Trong khi đó, một nghiên cứu khác tại Ba Lan cho thấy tỷ lệ cận thị ở học sinh nam và nữ tương đương nhau trước độ tuổi trưởng thành.

Sau 9 tuổi, tỷ lệ cận thị ở nữ cao hơn nam, với nghiên cứu của Bùi Thanh Quyển tại Sóc Trăng cho thấy tỷ lệ tật khúc xạ ở nữ là 24,6% so với 20,4% ở nam Nguyên nhân cho sự chênh lệch này được cho là do nữ sinh thường dành nhiều thời gian xem ti vi và đọc truyện, trong khi ít tham gia các hoạt động thể thao ngoài trời hơn nam sinh.

Nghiên cứu cắt ngang của Lê Ngọc Tùng (2020) tại Tây Ninh cho thấy nam giới có nguy cơ mắc cận thị cao hơn nữ giới với p2 giờ: 0 điểm, ≤2 giờ: 1 điểm.

 Thời gian học liên tục: >35 phút không nghỉ: 0 điểm, ≤35 phút: 1 điểm

 Có bàn học riêng tại nhà: có: 1 điểm, không: 0 điểm.

 Có sử dụng đèn học tại nhà: có: 1 điểm, không: 0 điểm.

 Vị trí thường học bài: Trên bàn học: 1 điểm, vị trí khác: 0 điểm.

 Tư thế thường xuyên ngồi học bài: Nằm: 0 điểm, ngồi ở góc học tập: 1 điểm, tiện đâu ngồi đó: 0 điểm, tư thế khác: 0 điểm.

 Thường xuyên xem truyền hình: >1 giờ: 0 điểm, ≤1 giờ: 1 điểm.

 Thường xuyên sử dụng điện thoại >1 giờ: 0 điểm, ≤1 giờ: 1 điểm.

 Thường xuyên sử dụng máy vi tính: >1 giờ: 0 điểm, ≤1 giờ: 1 điểm.

 Thường xuyên chơi thể thao, hoạt động ngoài trời: có: 1 điểm, không: 0 điểm.

Dựa trên điểm cắt đoạn 75% của tổng số điểm, chia hành vi thành 2 mức độ:

+ Tốt: ≥75% tổng số điểm + Chưa tốt:

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Mắt chính thị (Nguồn: Visioncenter.org) - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tật khúc xạ ở học sinh lớp 4 5, trường tiểu học thị trấn trà ôn, huyện trà ôn, tỉnh vĩnh long năm 2022
Hình 1.1. Mắt chính thị (Nguồn: Visioncenter.org) (Trang 15)
Hình 1.5. Các kích thước của bàn ghế - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tật khúc xạ ở học sinh lớp 4 5, trường tiểu học thị trấn trà ôn, huyện trà ôn, tỉnh vĩnh long năm 2022
Hình 1.5. Các kích thước của bàn ghế (Trang 31)
2.8. Sơ đồ nghiên cứu - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tật khúc xạ ở học sinh lớp 4 5, trường tiểu học thị trấn trà ôn, huyện trà ôn, tỉnh vĩnh long năm 2022
2.8. Sơ đồ nghiên cứu (Trang 44)
Bảng 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tật khúc xạ ở học sinh lớp 4 5, trường tiểu học thị trấn trà ôn, huyện trà ôn, tỉnh vĩnh long năm 2022
Bảng 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (Trang 47)
Bảng 3.3. Phân bố tỷ lệ mắc các loại tật khúc xạ Tật khúc xạ (N = 507) Tần số (n) Tỉ lệ (%) - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tật khúc xạ ở học sinh lớp 4 5, trường tiểu học thị trấn trà ôn, huyện trà ôn, tỉnh vĩnh long năm 2022
Bảng 3.3. Phân bố tỷ lệ mắc các loại tật khúc xạ Tật khúc xạ (N = 507) Tần số (n) Tỉ lệ (%) (Trang 49)
Bảng 3.5. Tỷ lệ mắc tật khúc xạ theo dân tộc - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tật khúc xạ ở học sinh lớp 4 5, trường tiểu học thị trấn trà ôn, huyện trà ôn, tỉnh vĩnh long năm 2022
Bảng 3.5. Tỷ lệ mắc tật khúc xạ theo dân tộc (Trang 50)
Bảng 3.10. Hành vi học tập của học sinh - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tật khúc xạ ở học sinh lớp 4 5, trường tiểu học thị trấn trà ôn, huyện trà ôn, tỉnh vĩnh long năm 2022
Bảng 3.10. Hành vi học tập của học sinh (Trang 54)
Bảng 3.11. Hành vi xem ti vi, sử dụng điện thoại, máy vi tính của học sinh - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tật khúc xạ ở học sinh lớp 4 5, trường tiểu học thị trấn trà ôn, huyện trà ôn, tỉnh vĩnh long năm 2022
Bảng 3.11. Hành vi xem ti vi, sử dụng điện thoại, máy vi tính của học sinh (Trang 55)
Bảng 3.12. Hành vi chơi thể thao/hoạt động ngoài trời của học sinh - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tật khúc xạ ở học sinh lớp 4 5, trường tiểu học thị trấn trà ôn, huyện trà ôn, tỉnh vĩnh long năm 2022
Bảng 3.12. Hành vi chơi thể thao/hoạt động ngoài trời của học sinh (Trang 56)
Bảng 3.13. Điều kiện ánh sáng phòng học - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tật khúc xạ ở học sinh lớp 4 5, trường tiểu học thị trấn trà ôn, huyện trà ôn, tỉnh vĩnh long năm 2022
Bảng 3.13. Điều kiện ánh sáng phòng học (Trang 57)
Bảng 3.21. Mối liên quan giữa hành vi học tập với tật cận thị của học sinh - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tật khúc xạ ở học sinh lớp 4 5, trường tiểu học thị trấn trà ôn, huyện trà ôn, tỉnh vĩnh long năm 2022
Bảng 3.21. Mối liên quan giữa hành vi học tập với tật cận thị của học sinh (Trang 61)
Bảng 3.22. Mối liên quan giữa hành vi giải trí với tật cận thị của học sinh - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tật khúc xạ ở học sinh lớp 4 5, trường tiểu học thị trấn trà ôn, huyện trà ôn, tỉnh vĩnh long năm 2022
Bảng 3.22. Mối liên quan giữa hành vi giải trí với tật cận thị của học sinh (Trang 62)
Bảng Phụ lục 1. Biến số, chỉ số nghiên cứu - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tật khúc xạ ở học sinh lớp 4 5, trường tiểu học thị trấn trà ôn, huyện trà ôn, tỉnh vĩnh long năm 2022
ng Phụ lục 1. Biến số, chỉ số nghiên cứu (Trang 94)
Hình máy vi tính là - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tật khúc xạ ở học sinh lớp 4 5, trường tiểu học thị trấn trà ôn, huyện trà ôn, tỉnh vĩnh long năm 2022
Hình m áy vi tính là (Trang 102)
Bảng 3.20 trang 49 - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tật khúc xạ ở học sinh lớp 4 5, trường tiểu học thị trấn trà ôn, huyện trà ôn, tỉnh vĩnh long năm 2022
Bảng 3.20 trang 49 (Trang 125)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w