1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhu cầu đào tạo liên tục về chuyên ngành tim mạch của bác sĩ tại cơ sở y tế tuyến quậnhuyện và khả năng đáp ứng của bệnh viện tim hà nội năm 2017

146 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhu cầu đào tạo liên tục về chuyên ngành tim mạch của bác sĩ tại cơ sở y tế tuyến quận/huyện và khả năng đáp ứng của Bệnh viện Tim Hà Nội năm 2017
Tác giả Phạm Thùy Trang
Người hướng dẫn GS.TS. Nguyễn Công Khẩn, TS. Trần Thị Mỹ Hạnh
Trường học Trường Đại Học Y Tế Công Cộng
Chuyên ngành Quản lý bệnh viện
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 3,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (14)
    • 1.1. Một số khái niệm (14)
    • 1.2. Nhu cầu đào tạo và đánh giá nhu cầu đào tạo (15)
    • 1.3. Một số quy định liên quan đến chức năng, nhiệm vụ của bác sĩ tuyến quận/huyện tại Việt nam (20)
    • 1.4. Các khóa ĐTLT về chuyên ngành tim mạch và một số kỹ năng cần thiết (0)
    • 1.5. Đào tạo liên tục cán bộ y tế chuyên khoa tim mạch ở một số nước trên Thế giới và Việt Nam (25)
    • 1.6. Thực trạng công tác đào tạo chuyên ngành tim mạch cho cán bộ y tế bệnh viện quận/huyện tại bệnh viện Tim Hà Nội (31)
    • 1.7. Khung lý thuyết (34)
  • CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (37)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (37)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (37)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (38)
    • 2.4. Cỡ mẫu (38)
    • 2.5. Phương pháp chọn mẫu (39)
    • 2.6. Phương pháp thu thập số liệu (39)
    • 2.7. Biến số nghiên cứu (41)
    • 2.8. Khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá (42)
    • 2.9. Phương pháp phân tích số liệu (42)
    • 2.10. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu (43)
    • 2.11. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số (43)
      • 2.11.1. Hạn chế của nghiên cứu (43)
      • 2.11.2. Sai số và biện pháp khắc phục sai số (44)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (45)
    • 3.1. Một số đặc điểm của bệnh viện, trung tâm y tế tuyến quận/huyện và bác sĩ (45)
    • 3.2. Nhu cầu đào tạo liên tục chuyên khoa tim mạch của bác sĩ tại bệnh viện quận/huyện Hà Nội (50)
    • 3.3. Khả năng đáp ứng về đào tạo liên tục về chuyên ngành tim mạch của bệnh viện Tim Hà Nội (62)
    • 3.4. Triển khai công tác đào tạo liên tục trong thời gian tới (72)
  • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (75)
    • 4.1. Nhu cầu đào tạo liên tục về chuyên ngành tim mạch của các bác sĩ tại các cơ sở y tế tuyến quận/huyện Hà Nội (75)
    • 4.2. Khả năng đáp ứng về đào tạo liên tục về chuyên ngành tim mạch của bệnh viện Tim Hà Nội năm 2017 (82)
    • 4.3. Kế hoạch triển khai công tác đào tạo liên tục bệnh viện Tim năm 2018 (87)
  • KẾT LUẬN (90)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (92)
  • PHỤ LỤC (96)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Các bác sĩ làm việc tại các bệnh viện tuyến quận/huyện thuộc Sở Y tế Hà Nội chủ yếu công tác tại các Khoa Nội, Khoa Tim mạch, Khoa Hồi sức cấp cứu và Khoa Khám bệnh, tùy theo phân khoa của đơn vị.

Mục tiêu 2 tập trung vào việc các bác sĩ là giảng viên tham gia đào tạo liên tục tại bệnh viện Tim Hà Nội, với sự chú trọng đến cơ sở vật chất, tài liệu phục vụ đào tạo và cơ sở thực hành.

Tiêu chuẩn loại trừ: Đối tượng vắng mặt tại thời điểm nghiên cứu (nghỉ thai sản, nghỉ ốm hoặc đi học)

Lãnh đạo (Giám đốc/Phó giám đốc) phụ trách chuyên môn đang làm việc tại bệnh viện tuyến quận/huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội

Bác sĩ đang công tác tại các bệnh viện tuyến quận/huyện trực thuộc Sở Y tế

Hà Nội làm việc tại các Khoa Nội hoặc Khoa Tim mạch (tùy theo phân khoa của đơn vị), Khoa Hồi sức cấp cứu và Khoa Khám bệnh

Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý và chuyên môn tham gia chương trình đào tạo liên tục chuyên khoa tim mạch tại Bệnh viện Tim Hà Nội

Giảng viên tham gia giảng dạy và xây dựng chương trình tại Bệnh viện Tim Hà Nội, đồng thời đảm nhiệm vai trò điều phối viên cho các lớp đào tạo liên tục Nhân viên hành chính cũng hỗ trợ khóa học, bao gồm việc quản lý công nghệ thông tin và tổ chức hội trường.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: Tháng 3 – 9/2017 Địa điểm:

- Bệnh viện quận/huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội: 15 bệnh viện tuyến quận/huyện và 30 Trung tâm y tế

- Bệnh viện Tim Hà Nội

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu này áp dụng phương pháp cắt ngang, kết hợp cả định lượng và định tính để xác định nhu cầu đào tạo liên tục cho các bác sĩ chuyên ngành tim mạch tại các cơ sở y tế tuyến quận/huyện Thông tin được thu thập đồng thời từ cả hai phương pháp nhằm so sánh và giải thích bổ trợ cho việc phân tích kết quả.

Cỡ mẫu

Toàn bộ Bác sĩ đang công tác tại các cơ sở y tế tuyến quận/huyện trực thuộc

Sở Y tế Hà Nội làm việc tại các Khoa Nội hoặc Khoa Tim mạch, Khoa Hồi sức cấp cứu và Khoa Khám bệnh tại 45 cơ sở y tế: 450 bác sĩ

Toàn bộ các bác sĩ là giảng viên tham gia đào tạo liên tục đang công tác tại bệnh viện Tim Hà Nội: 29 giảng viên

Chọn 02 Lãnh đạo (Giám đốc/Phó giám đốc) phụ trách chuyên môn đang làm việc tại bệnh viện tuyến quận/huyện trên địa bàn thành phố Hà Nội (1 bệnh viện tuyến quận/huyện, 1 trung tâm y tế có khả năng cung cấp thông tin tốt)

Chọn 02 Bác sĩ đang công tác tại các bệnh viện tuyến quận/huyện trực thuộc

Sở Y tế Hà Nội thực hiện công việc tại các Khoa Nội, Khoa Tim mạch, Khoa Hồi sức cấp cứu và Khoa Khám bệnh, bao gồm một bệnh viện tuyến quận/huyện và một trung tâm y tế có khả năng cung cấp thông tin hiệu quả.

Bệnh viện Tim Hà Nội đã tuyển chọn 04 cán bộ, bao gồm 01 Giám đốc Trung tâm đào tạo và Chỉ đạo tuyến, 01 Trưởng phòng đào tạo, cùng với 02 cán bộ phụ trách triển khai Đào tạo liên tục tại bệnh viện.

Chọn 06 Giảng viên tham gia giảng dạy cho các khóa đào tạo, giảng viên tham gia xây dựng chương trình tại bệnh viện Tim Hà Nội

Chọn 04 điều phối viên các lớp đào tạo liên tục, nhân viên hành chính phục vụ khóa học: phụ trách công nghệ thông tin, đóng mở hội trường

Phương pháp chọn mẫu

Mẫu nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích, trong đó phiếu tự điền sẽ được gửi đến tất cả bác sĩ làm việc tại các cơ sở y tế tuyến quận/huyện, đặc biệt là tại các Khoa Nội, Khoa Tim mạch, Khoa Hồi sức cấp cứu và Khoa Khám bệnh của 45 cơ sở y tế.

Mẫu phiếu tự điền (Phụ lục 6) sẽ được gửi đến các bác sĩ giảng viên tham gia đào tạo liên tục tại bệnh viện Tim Hà Nội.

Chọn 02 Lãnh đạo (Giám đốc/Phó giám đốc) phụ trách chuyên môn từ một bệnh viện và một trung tâm y tế đang hoạt động tại các quận/huyện trong thành phố Hà Nội.

Chọn 02 bác sĩ đang làm việc tại các bệnh viện tuyến quận/huyện thuộc Sở Y tế Hà Nội, chuyên môn tại các Khoa Nội, Khoa Tim mạch, Khoa Hồi sức cấp cứu và Khoa Khám bệnh, bao gồm 1 bệnh viện và 1 trung tâm y tế.

Chọn chủ đích 04 cán bộ (01 Giám đốc Trung tâm đào tạo và Chỉ đạo tuyến,

01 Trưởng phòng đào tạo, 02 Cán bộ phụ trách triển khai Đào tạo liên tục tại bệnh viện Tim phố Hà Nội)

Chọn chủ đích 06 Giảng viên tham gia xây dựng chương trình và trực tiếp đào tạo tại bệnh viện Tim Hà Nội năm 2017

Chọn 04 điều phối viên cho các lớp đào tạo liên tục và nhân viên hành chính hỗ trợ khóa học, bao gồm phụ trách công nghệ thông tin và quản lý hội trường.

Phương pháp thu thập số liệu

Kỹ thuật phát vấn tự điền sử dụng bộ câu hỏi thiết kế sẵn, bao gồm hai bộ câu hỏi: một dành cho bác sĩ tại y tế tuyến cơ sở và một cho giảng viên tham gia đào tạo liên tục tại bệnh viện Tim Hà Nội Đối với việc phát vấn tại tuyến quận/huyện, nghiên cứu viên sẽ liên hệ với lãnh đạo bệnh viện huyện và trung tâm y tế quận/huyện, gửi thư mời tham gia nghiên cứu cùng với giấy tờ cần thiết.

HUPH đã đồng ý tham gia nghiên cứu, bao gồm việc hướng dẫn điền phiếu, lập lịch cụ thể và tiến hành thu thập số liệu tại cơ sở y tế của quận/huyện được nghiên cứu.

Lập danh sách bác sĩ làm việc tại các bệnh viện quận/huyện, đặc biệt tại các Khoa Nội, Khoa Tim mạch, Khoa Hồi sức cấp cứu và Khoa Khám bệnh, tại 45 cơ sở y tế.

Trước khi bộ công cụ chính thức được áp dụng cho công tác nghiên cứu, học viên sẽ tiến hành thử nghiệm với một số bác sĩ tại các cơ sở y tế quận/huyện.

Trưởng Khoa Nội, Khoa Tim mạch, Khoa Hồi sức cấp cứu và Khoa Khám bệnh sẽ tổ chức buổi giao ban cho các bác sĩ vào đầu giờ làm việc trước khi bắt đầu nhiệm vụ Nghiên cứu viên sẽ mời các bác sĩ tham gia khảo sát bằng cách điền vào bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn Họ sẽ thông báo mục đích nghiên cứu và hướng dẫn cách trả lời phiếu khảo sát, đồng thời nhắc nhở các bác sĩ không trao đổi thông tin trong quá trình điền phiếu.

Ngay sau khi phiếu tự điền được hoàn thành, nghiên cứu viên sẽ rà soát và hỏi lại những thông tin chưa hợp lý để ĐTNC bổ sung hoặc điều chỉnh Mỗi ngày, nghiên cứu viên tập hợp và kiểm tra số lượng, chất lượng phiếu phát vấn, đảm bảo không có phiếu nào không đạt yêu cầu Đối với việc phỏng vấn giảng viên tại bệnh viện Tim Hà Nội, nghiên cứu viên sẽ liên hệ và gửi phiếu phát vấn, có thể ghi tên hoặc khuyết danh Kèm theo phiếu phát vấn là tờ giới thiệu nghiên cứu, đề nghị hợp tác và giấy đồng ý tham gia Phiếu phát vấn được gửi đến từng cá nhân giảng viên.

Bộ công cụ thu thập số liệu bao gồm phiếu hướng dẫn phỏng vấn sâu dành cho các đối tượng như Lãnh đạo (Giám đốc/Phó giám đốc) phụ trách chuyên môn tại bệnh viện tuyến quận/huyện ở Hà Nội, bác sĩ làm việc tại các bệnh viện này, cán bộ quản lý đào tạo tại bệnh viện Tim Hà Nội, giảng viên đào tạo tại bệnh viện Tim Hà Nội, và điều phối viên khóa học.

Nghiên cứu viên sẽ lên lịch hẹn với người được phỏng vấn theo hướng dẫn chi tiết Các cuộc phỏng vấn sẽ diễn ra tại phòng làm việc hoặc nơi yên tĩnh, kéo dài từ 45 đến 60 phút và được ghi âm Học viên sẽ trực tiếp thực hiện phỏng vấn, trong khi một thư ký sẽ ghi biên bản và hỗ trợ ghi âm.

Biến số nghiên cứu

2.7.1 Cấu phần định lượng Đối với nghiên cứu định lượng, dựa trên khung lý thuyết và các tài liệu tổng quan, học viên tiến hành lập bảng biến số nghiên cứu (Phụ lục 3) Các nhóm biến chính được sử dụng trong nghiên cứu gồm:

Nhóm biến đánh giá nhu cầu đào tạo bao gồm các yếu tố như: sự tham gia vào các chương trình đào tạo liên tục, các khóa đào tạo đã hoàn thành, những khóa học cần thiết cho sự phát triển, và hình thức đào tạo phù hợp.

Nhóm biến khả năng đáp ứng về đào tạo liên tục của Bệnh viện Tim Hà Nội bao gồm các yếu tố quan trọng như điều kiện đào tạo, xây dựng chương trình giảng dạy, tổ chức giảng dạy, chế độ chi trả và thù lao giảng dạy, thời gian giảng dạy, công tác đánh giá kết quả giảng dạy, cùng với cơ sở vật chất.

Nội dung nghiên cứu định tính cần đáp ứng các quy định về nhân lực, bao gồm vai trò của người giảng lý thuyết, người giảng thực hành, và người giảng tại các tuyến Đồng thời, cũng cần xem xét sự tham gia của bác sĩ chuyên môn ở các khoa phòng để đảm bảo chất lượng giảng dạy và đào tạo.

Xây dựng chương trình đào tạo theo Thông tư số 22/2013/TT-BYT và Thông tư 35/2016/TT-BYT, cần xác định tên bài học, số tiết học, và đảm bảo sự cân đối giữa lý thuyết và thực hành Quy trình này phải được thông qua tại hội đồng khoa học của bệnh viện cấp Sở Y tế và Bộ Y tế.

Công tác tổ chức giảng dạy: có bao nhiêu người điều phối, giờ giấc, phân công bác sĩ tại các khoa phòng, ai là người đứng ra phân công

Chế độ chi trả, thù lao giảng dạy Công tác đánh giá kết quả giảng dạy

Quản lý chứng chỉ, giấy chứng nhận hiện nay như thế nào

Khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá

Danh sách các khóa học khảo sát trong mục tiêu 1 dựa trên thông tư số 43/2013/TT-BYT, nhằm xây dựng các khóa đào tạo chuyên khoa về tim mạch tại bệnh viện Tim Hà Nội Mức độ cần thiết của các khóa học được đo lường theo thang 5 mức độ từ 1 đến 5, trong đó 1 là Rất cần thiết, 2 là Cần thiết, 3 là Cần thiết vừa, 4 là Không cần thiết và 5 là Rất không cần thiết.

Thông tư số 43/2013/TT-BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế quy định chi tiết về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật trong hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, bao gồm các kỹ thuật tim mạch áp dụng cho các tuyến Phân tuyến chuyên môn kỹ thuật được thực hiện dựa trên các tiêu chí như phạm vi hoạt động chuyên môn, quy mô, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực và năng lực thực hiện kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, theo quy định tại điều 81 của Luật khám bệnh, chữa bệnh.

Danh mục kỹ thuật phân theo tuyến chuyên môn kỹ thuật phản ánh trình độ kỹ thuật y tế tại mỗi tuyến Cơ sở khám chữa bệnh quận/huyện cần thực hiện hầu hết các kỹ thuật tim mạch như chọc dò và dẫn lưu màng ngoài tim, điện tim thường, holter điện tâm đồ, holter huyết áp, hồi phục nhịp xoang cho bệnh nhân loạn nhịp, nghiệm pháp atropin, siêu âm Doppler mạch máu, siêu âm Doppler tim, siêu âm cấp cứu tại giường, và sốc điện điều trị rối loạn nhịp nhanh.

Phương pháp phân tích số liệu

Dữ liệu sau khi thu thập được làm sạch và nhập vào phần mềm Epi Data 3.1, sau đó được phân tích bằng SPSS 22.0 Phương pháp tính tần số, điểm trung bình và trung vị theo thang đo Likert được sử dụng để so sánh và đánh giá mức độ cần thiết.

Kết quả phỏng vấn sâu sẽ được gỡ băng, phân tích theo chủ đề nghiên cứu.

Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế Công Cộng phê duyệt Trước khi tiến hành phỏng vấn, đối tượng nghiên cứu được thông báo rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu, và chỉ thực hiện khi có sự đồng ý tham gia của họ.

Tất cả thông tin cá nhân liên quan đến ĐTNC được bảo mật hoàn toàn Các số liệu và thông tin thu thập chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu và không phục vụ cho bất kỳ mục đích nào khác.

Nội dung nghiên cứu phù hợp, được lãnh đạo bệnh viện Tim Hà Nội quan tâm và ủng hộ.

Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số

2.11.1 Hạn chế của nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, học viên gặp khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu tham khảo về đào tạo liên tục chuyên ngành tim mạch cho cán bộ y tế tại Việt Nam, do số lượng nghiên cứu trong nước rất hạn chế và các tài liệu nước ngoài không thể so sánh do sự khác biệt trong tổ chức ngành y tế Mặc dù vậy, học viên vẫn quyết tâm thực hiện nghiên cứu này vì nó liên quan trực tiếp đến công tác đào tạo liên tục cho cán bộ y tế, mặc dù việc so sánh kết quả nghiên cứu với các nghiên cứu khác bị hạn chế.

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng các kỹ thuật tim mạch ở bác sĩ tuyến quận/huyện cần được phân tích sâu hơn từ góc độ của nhà quản lý, người có vai trò quyết định trong việc cử bác sĩ đi đào tạo Hơn nữa, nghiên cứu mới chỉ đề cập đến nhu cầu tương tác với quy định của bảo hiểm y tế mà chưa làm rõ mối liên quan định lượng giữa tần suất sử dụng và các yếu tố khác.

HUPH suất đáp ứng công việc khám bệnh nhân hàng ngày của bác sĩ để đưa ra được một nhu cầu khách quan hơn

Nghiên cứu này sử dụng bộ câu hỏi để đánh giá kỹ năng chuyên khoa tim mạch của bác sĩ tại các cơ sở y tế quận/huyện Kết quả thu thập thông qua phỏng vấn chỉ mô tả được kỹ năng mà bác sĩ thực hiện, mà không quan sát thực hành kỹ thuật tim mạch của họ, điều này hạn chế một phần kết quả nghiên cứu Ngoài ra, địa bàn nghiên cứu rộng cũng dẫn đến việc mất nhiều thời gian trong quá trình tiếp cận và thu thập dữ liệu.

2.11.2 Sai số và biện pháp khắc phục sai số

Việc thu thập thông tin qua bộ câu hỏi phát vấn có thể gặp sai số do thái độ hợp tác và hiểu chưa chính xác nội dung câu hỏi Do đó, trước khi tiến hành điều tra, cần xây dựng công cụ nghiên cứu phù hợp và hướng dẫn kỹ lưỡng cho nghiên cứu viên Họ phải giải thích rõ bảng câu hỏi và các biến số, đồng thời yêu cầu tính tự nguyện và hợp tác từ đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu viên cần có mặt trong suốt quá trình thu thập số liệu để hỗ trợ và giải thích cho đối tượng Sau khi hoàn thành phát vấn, các phiếu điều tra sẽ được kiểm tra ngay, và những phiếu thông tin chưa đầy đủ hoặc không hợp lý phải được bổ sung kịp thời.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Một số đặc điểm của bệnh viện, trung tâm y tế tuyến quận/huyện và bác sĩ

sĩ tham gia nghiên cứu

3.1.1 Một số đặc điểm của bệnh viện, trung tâm y tế tuyến quận/huyện

Bảng 3.1 Thông tin về bệnh viện tuyến quận/huyện, trung tâm y tế

Bệnh viện (15) Trung tâm y tế (30) Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ %

Khoa Hồi sức cấp cứu 24 16,6 0 0

Nghiên cứu đã triển khai 45 cơ sở y tế với tổng cộng 450 bác sĩ, trong đó có 15 bệnh viện tuyến quận/huyện với 145 bác sĩ, chiếm 32,2%, và 30 trung tâm y tế với 305 bác sĩ, chiếm 67,8% Tại nhóm bệnh viện đa khoa, 84 bác sĩ công tác tại Khoa Nội, chiếm 57,9%, trong khi Khoa Tim mạch có 17,2%, Khoa Hồi sức cấp cứu 16,6%, và Khoa Khám bệnh 8,3% Đối với nhóm trung tâm y tế, tất cả 305 bác sĩ tham gia nghiên cứu đều công tác tại Khoa Nội, chiếm 100%.

3.1.2 Một số đặc điểm của bác sĩ tham gia nghiên cứu

Bảng 3.2 Thông tin chung về cán bộ y tế tham gia nghiên cứu

Thông tin Tần số (450) Tỷ lệ %

Tuổi trung bình: 41,2 ± 9,5 (Nhỏ nhất: 25; Lớn nhất: 58)

Trình độ học vấn Đại học 350 77,8

Cơ quan công tác Bệnh viện tuyến quận/huyện 145 32,2

Thâm niên công tác tại cơ sở y tế

Tham gia ĐTLT chuyên khoa TM Đã từng tham gia 235 52,2

Kết quả nghiên cứu cho thấy bác sĩ tuyến quận/huyện tại Hà Nội có tuổi trung bình là 41,2, với độ tuổi từ 25 đến 58 Tỷ lệ nữ bác sĩ chiếm 53,6%, trong khi nam giới chiếm 46,4% Hầu hết bác sĩ có trình độ học vấn đại học (77,8%), và 22,2% có trình độ sau đại học Thời gian công tác tại cơ sở y tế chủ yếu dưới 10 năm (66,9%) và dưới 20 năm (21,3%) Đặc biệt, 52,2% bác sĩ đã tham gia đào tạo liên tục chuyên khoa tim mạch.

Biểu đồ 3.1 Khóa đào tạo bác sĩ đã tham gia tại bệnh viện Tim Hà Nội

Kết quả nghiên cứu cho thấy tham gia đào tạo liên tục tại Bệnh viện Tim Hà Nội còn hạn chế Khóa học có số lượng bác sĩ tuyến quận/huyện tham gia nhiều nhất là Điện tâm đồ với 137 bác sĩ (30,4%), tiếp theo là khóa Tăng huyết áp và rối loạn chuyển hóa Lipid và xơ vữa động mạch với 85 bác sĩ (18,9%) Các khóa học khác bao gồm Tim mạch cơ bản với 47 bác sĩ (10,4%), Cấp cứu tim mạch với 35 bác sĩ (7,8%), và Siêu âm tim cơ bản với 12 bác sĩ (2,7%) Những khóa học này đều nằm trong danh mục kỹ thuật chuyên môn cần thiết cho bác sĩ tuyến quận/huyện.

Bảng 3.3 Thực trạng đào tạo liên tục đã từng tham gia

STT Nội dung Tần số Tỷ lệ

1 Được đào tạo chính thức (có chứng chỉ/giấy chứng nhận) về đào tạo liên tục nói chung 163 36,2

2 Được đào tạo chính thức (có chứng chỉ/giấy chứng nhận) về đào tạo liên tục chuyên khoa tim mạch bệnh viện

3 Tham gia khóa đào tạo ngắn hạn về chuyên khoa tim mạch 124 27,6

Nơi tổ chức các khóa đào tạo liên tục

- Do bệnh viện tổ chức

- Do bộ/ ngành y tế (MOH, các cơ quan, hoặc các cơ quan y tế địa phương)

- Khoa đào tạo về tim mạch (Bệnh viện Tim Hà

- Các khóa học của một dự án

- Các khóa đào tạo của bệnh viện khác

Mức độ hài lòng của anh/chị về các khóa đào tạo gần đây nhất

Lý do chưa hài lòng

- Thời gian: Ngắn, không phù hợp

- Nội dung: Chưa sát nhu cầu tuyến cơ sở

- Giảng viên và phương pháp: giảng nhanh, không chi tiết, chưa sát với thực hành

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bác sĩ tuyến quận/huyện được đào tạo chính thức về đào tạo liên tục, với chứng chỉ hoặc giấy chứng nhận, là rất thấp.

(36,2%), các bác sĩ về chuyên khoa tim mạch thấp hơn (18,2%) Tham gia khóa đào tạo ngắn hạn về chuyên khoa tim mạch chỉ đạt 27,6%

Tại cơ sở tuyến quận/huyện, tỷ lệ bác sĩ tham gia đào tạo liên tục đạt 23,6%, trong khi tại bệnh viện Tim Hà Nội con số này là 23,8% Ngoài ra, bệnh viện Bạch Mai cũng có tỷ lệ tham gia đào tạo liên tục là 14,4%.

Trong các khóa đào tạo liên tục gần đây, bác sĩ tuyến quận/huyện gặp một số vấn đề Thời gian học ngắn (7,1%) khiến 32 bác sĩ đánh giá không đủ, với khóa học ngắn hạn và ít thời gian thực hành lâm sàng Nội dung giảng dạy cũng chưa đáp ứng nhu cầu, khi 24 bác sĩ (5,3%) cho rằng nội dung không sát với tuyến y tế cơ sở, thiếu hướng dẫn thực hành và kiến thức quá chuyên sâu Về giảng viên, chỉ có 5 học viên (1,1%) không hài lòng do giảng viên giảng nhanh và không chi tiết Ngoài ra, học viên còn phàn nàn về thời gian thực hành ngắn, thiếu bệnh nhân thực hành, phải đóng kinh phí và khối lượng công việc lớn trong quá trình học.

Nhu cầu đào tạo liên tục chuyên khoa tim mạch của bác sĩ tại bệnh viện quận/huyện Hà Nội

3.2.1 Nhu cầu về các khóa học của bác sĩ tuyến quận/huyện

Bảng 3.4 Thực trạng kiến thức về kỹ thuật tim mạch của bác sĩ

Một chút Đủ, vẫn cần cải thiện Khá Tốt

1 Chọc dò và dẫn lưu màng ngoài tim 80,9 12,0 6,7 0,4 0

2 Chọc dò màng ngoài tim 81,6 12,4 5,6 0,4 0

3 Dẫn lưu màng ngoài tim 82,2 11,8 5,6 0,4 0

Hồi phục nhịp xoang cho người bệnh loạn nhịp bằng thuốc

9 Siêu âm Doppler mạch máu 86,0 7,8 4,9 0,9 0,4

11 Siêu âm tim cấp cứu tại giường 86,2 8,2 3,6 1,6 0,4

12 Sốc điện điều trị các rối loạn nhịp nhanh 79,8 15,1 4,0 1,1 0

Nghiên cứu cho thấy bác sĩ tại cơ sở y tế tuyến quận/huyện có kiến thức tốt về điện tim, tiếp theo là khả năng hồi phục nhịp xoang cho bệnh nhân loạn nhịp bằng thuốc và nghiệm pháp atropin Ngoài ra, siêu âm Doppler mạch máu, siêu âm Doppler tim và siêu âm tim cấp cứu tại giường cũng được đánh giá cao.

Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy, kiến thức về chuyên môn tim mạch, đối với bác sĩ công tác tại trung tâm y tế, chuyên môn tim mạch yếu:

Bác sĩ tại các cơ sở y tế tuyến quận/huyện chỉ được đào tạo về bác sĩ đa khoa cơ bản, với thời gian đào tạo chuyên môn về tim mạch rất ngắn Theo đánh giá của lãnh đạo bệnh viện Tim Hà Nội, kiến thức của bác sĩ ở các cơ sở này còn hạn chế, không chuyên sâu như ở tuyến tỉnh hay trung ương.

Các bác sĩ thường chỉ được đào tạo cơ bản về y khoa và nội khoa, trong khi đó, tim mạch lại là một chuyên khoa sâu.

Nhân viên y tế trong lĩnh vực tim mạch tại quận/huyện cần bổ sung nhiều kiến thức, vì chương trình đào tạo cơ bản tại trường đại học, đặc biệt là cho bác sĩ đa khoa, chỉ cung cấp kiến thức sơ đẳng về tim mạch.

Nhiều người vẫn thiếu kiến thức cần thiết, một phần do họ chưa xác định được những gì cần học và những kỹ năng còn thiếu Việc không nhận thức được những thiếu sót này gây khó khăn trong quá trình phát triển bản thân.

Bảng 3.5 Thực trạng kỹ năng thực hiện kỹ thuật tim mạch của bác sĩ

Khả năng thực hành Thiếu nhiều

Một chút Đủ, vẫn cần cải thiện Khá Tốt

1 Chọc dò và dẫn lưu màng ngoài tim 87,1 9,6 3,1 0,2 0

2 Chọc dò màng ngoài tim 87,8 9,3 2,7 0,2 0

3 Dẫn lưu màng ngoài tim 87,6 9,1 2,7 0,7 0

Hồi phục nhịp xoang cho người bệnh loạn nhịp bằng thuốc

9 Siêu âm Doppler mạch máu 88,2 5,6 3,8 1,6 0,9

11 Siêu âm tim cấp cứu tại giường 88,2 6,7 3,1 0,7 1,3

12 Sốc điện điều trị các rối loạn nhịp nhanh 81,8 12,0 5,3 0,9 0

Nghiên cứu cho thấy bác sĩ tại cơ sở y tế tuyến quận/huyện có kiến thức về điện tim thường tốt nhất, dẫn đến khả năng thực hành điện tim thường cao nhất Tiếp theo là khả năng thực hành Nghiệm pháp atropin, hồi phục nhịp xoang cho bệnh nhân loạn nhịp bằng thuốc, và siêu âm tim cấp cứu tại giường Sau đó là khả năng thực hành siêu âm Doppler mạch máu và siêu âm Doppler tim Kết quả khả năng thực hành gần giống với kiến thức của bác sĩ trong lĩnh vực tim mạch.

Kết quả phỏng vấn sâu với bác sĩ tại trung tâm y tế cho thấy họ không thể thực hành chuyên khoa tim mạch do thiếu trang thiết bị Dù có cơ hội quan sát thực hành, nhưng trên thực tế, việc áp dụng vào bệnh nhân lại không khả thi.

"Công việc hồi sức không sử dụng máy rung hay máy sốc điện, vì không có thiết bị tại đây Siêu âm chọc dò màng tim cũng được thực hiện và nhìn thấy ngay tại phòng bệnh, nhưng vẫn không thể làm được."

Bảng 3.6 Mức độ tự tin về thực hiện kỹ thuật tim mạch

STT Nội dung Mức độ tự tin của bác sĩ

Không Ít tự tin Tự tin

1 Chọc dò và dẫn lưu màng ngoài tim 84,7 14,0 1,3

2 Chọc dò màng ngoài tim 84,0 14,7 1,3

3 Dẫn lưu màng ngoài tim 84,7 13,3 2,0

7 Hồi phục nhịp xoang cho người bệnh loạn nhịp bằng thuốc 65,8 26,0 8,2

9 Siêu âm Doppler mạch máu 84,2 10,9 4,9

11 Siêu âm tim cấp cứu tại giường 85,1 10,0 4,9

Kết quả nghiên cứu cho thấy 12 sốc điện điều trị các rối loạn nhịp nhanh đạt tỷ lệ thành công 78,9% Kỹ thuật điện tim được đánh giá là tự tin nhất, trong khi kỹ thuật hồi phục nhịp xoang cho bệnh nhân loạn nhịp bằng thuốc và nghiệm pháp atropin cũng được đánh giá khá tự tin Tuy nhiên, các kỹ thuật khác chỉ nhận được mức độ tự tin từ 76,4% đến 85,1% Đặc biệt, các bác sĩ tại các cơ sở y tế có khoa Tim mạch hoặc khoa Nội có sự tự tin cao hơn trong khả năng khám chữa bệnh chuyên khoa tim mạch so với các cơ sở khác.

Các bệnh viện có khoa Nội thường tiếp nhận nhiều bệnh nhân mắc bệnh tim mạch, điều này giúp bác sĩ tự tin hơn trong việc điều trị các bệnh lý phổ biến ở nhóm bệnh nhân này.

Nhiều học viên chỉ có ít người tự tin, đặc biệt là ở các bệnh viện lớn, nơi họ có điều kiện tốt hơn với trang thiết bị hiện đại và cơ hội tiếp cận bệnh nhân cũng như tham gia hội thảo Ngược lại, những học viên ở vùng sâu vùng xa thường có mức độ tự tin thấp hơn.

Bác sĩ tham gia khóa đào tạo liên tục tại bệnh viện Tim Hà Nội đã ghi nhận sự gia tăng đáng kể về mức độ tự tin so với trước khi tham gia khóa học.

“Tự tin hoạt động được” (BS_TTYT_Chị A_36 tuổi)

“Em thì 70% tin tưởng” (BS_BV_Chị A_27 tuổi)

Bảng 3.7 Nhu cầu đào tạo chuyên khoa tim mạch

STT Các chương trình chủ yếu

Tỷ lệ (%) Ít nhu cầu

1 Chọc dò và dẫn lưu màng ngoài tim 69,1 26,0 4,9

2 Chọc dò màng ngoài tim 68,0 27,6 4,4

3 Dẫn lưu màng ngoài tim 67,8 27,3 4,9

7 Hồi phục nhịp xoang cho người bệnh loạn nhịp bằng thuốc 38,0 26,0 36,0

9 Siêu âm Doppler mạch máu 49,3 30,7 20,0

11 Siêu âm tim cấp cứu tại giường 52,0 27,1 20,9

12 Sốc điện điều trị các rối loạn nhịp nhanh 51,8 25,6 22,7

Nghiên cứu cho thấy bác sĩ tuyến quận/huyện có nhu cầu học cao nhất về điện tim thường (65,8%), tiếp theo là khóa học Hồi phục nhịp xoang cho bệnh nhân loạn nhịp bằng thuốc (36%) và Nghiệm pháp atropin (30,9%) Ngoài ra, khóa học Holter huyết áp (29,1%) và Holter điện tâm đồ (26,7%) cũng cần được ưu tiên, với gần 1/3 bác sĩ bày tỏ nhu cầu.

Phỏng vấn lãnh đạo bệnh viện huyện cho thấy rằng mặc dù có khoa tim mạch, nhưng số lượng bác sĩ chuyên trách tại các bệnh viện tuyến quận/huyện rất hạn chế Do đó, nhu cầu đào tạo liên tục cho các bác sĩ tại đây là rất cao.

Trong khoa, tôi là bác sĩ duy nhất chuyên về tim mạch Các bác sĩ khác đang được đào tạo định hướng và cử đi học về siêu âm, holter, và điện tim Tuy nhiên, vấn đề chuyên khoa định hướng vẫn còn cần được giải quyết.

“Em làm tại khoa tim mạch 1 năm, khoa chỉ có 4 bác sĩ” (BS_BV_Chị A_27 tuổi)

Khả năng đáp ứng về đào tạo liên tục về chuyên ngành tim mạch của bệnh viện Tim Hà Nội

bệnh viện Tim Hà Nội

3.3.1 Công tác tổ chức, quản lý

Bệnh viện Tim Hà Nội, trực thuộc Sở Y tế Hà Nội, là bệnh viện chuyên khoa hạng I hàng đầu về tim mạch tại Hà Nội và cả nước Năm 2012, bệnh viện được Bộ Y tế Hà Nội cấp mã đào tạo C26.

Sở Y tế chịu trách nhiệm quản lý và giám sát công tác đào tạo liên tục tại bệnh viện Từ năm 2015, bệnh viện Tim đã trở thành bệnh viện hạt nhân của Bộ Y tế, xây dựng mô hình hoàn chỉnh với các chuyên ngành nội khoa, ngoại khoa và tim mạch can thiệp Các chuyên ngành tim mạch chuyên sâu này hỗ trợ hiệu quả cho quá trình khám chữa bệnh, điều trị và cấp cứu, đặc biệt trong các ca phẫu thuật và can thiệp cho bệnh nhân nặng Một trong những sứ mệnh quan trọng của bệnh viện là đào tạo và chuyển giao kỹ thuật tim mạch, tập trung vào 5 lĩnh vực chính: tim mạch nội khoa, tim mạch nhi khoa, tim mạch can thiệp, phẫu thuật tim mạch và tim mạch chuyển hóa.

3.3.1.2 Quy chế bệnh viện Tim Hà Nội

Bệnh viện Tim Hà Nội, một bệnh viện chuyên khoa hạng I trực thuộc Sở Y tế Hà Nội, được thành lập theo Quyết định số 6863/QĐ-UB ngày 15/11/2001 Là đơn vị sự nghiệp có thu, bệnh viện tự hạch toán toàn bộ chi phí hoạt động và hoạt động theo Quy chế được ban hành theo Quyết định số 3251/QĐ-UBND ngày 20/5/2005.

UNND Thành phố Hà Nội đã ban hành quyết định số 6438/QĐ-UBND, quy định việc tổ chức lại Bệnh viện Tim Hà Nội thông qua việc sáp nhập Trung tâm Y tế công nghiệp Hà Nội vào Bệnh viện Tim Hà Nội.

Bệnh viện Tim Hà Nội sẽ tiếp tục thực hiện khảo sát và đánh giá tình hình các đơn vị y tế nhằm củng cố mạng lưới tim mạch, từ bệnh viện đa khoa thành phố đến các bệnh viện đa khoa huyện, trung tâm y tế quận huyện, phòng khám đa khoa khu vực và trạm y tế.

Bệnh viện Tim Hà Nội không ngừng phát triển các kỹ thuật chuyên sâu và thực hiện các danh mục kỹ thuật hàng đầu, đồng thời bổ sung và hoàn thiện những kỹ thuật mới, phức tạp hơn để đáp ứng nhu cầu điều trị ngày càng cao của bệnh nhân Bệnh viện cũng hỗ trợ các đơn vị đủ điều kiện thực hiện các kỹ thuật chuyên sâu.

Bệnh viện Tim Hà Nội chuyên đào tạo và tập huấn nhằm nâng cao trình độ chuyên môn trong cấp cứu ban đầu, chẩn đoán và điều trị các bệnh lý tim mạch phổ biến Đồng thời, bệnh viện cũng phát triển các kỹ thuật chuyên sâu cho bác sĩ và điều dưỡng tại các đơn vị.

Trong tương lai gần, Bệnh viện Tim Hà Nội sẽ chuyển giao kỹ thuật trong lĩnh vực Tim mạch, bao gồm siêu âm tim, điện tâm đồ và nghiệm pháp gắng sức cho các đơn vị y tế.

3.3.2 Tổ chức, quản lý và triển khai đào tạo liên tục

Bệnh viện Tim Hà Nội đã tổ chức các khóa tập huấn chuyên ngành tim mạch nhằm nâng cao năng lực chuyên môn cho các bác sĩ Các lớp đào tạo bao gồm lớp cấp chứng chỉ về Điện tâm đồ tại Trung tâm y tế huyện Sóc Sơn từ ngày 12/5/2016 đến 23/5/2016 cho 31 bác sĩ, lớp tập huấn về Điện tâm đồ tại Trung tâm Y tế quận Thanh Xuân cho 20 bác sĩ, và lớp về Bệnh mạch vành ổn định cùng lớp Quản lý và điều trị tăng huyết áp tại Bệnh viện đa khoa huyện Gia Lâm cho 20 bác sĩ.

Bệnh viện Tim Hà Nội thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo chuyên sâu như Holter huyết áp, điều dưỡng nội khoa tim mạch và cấp cứu tim mạch Những khóa học này dành cho bác sĩ và điều dưỡng tại các đơn vị trong mạng lưới tim mạch, bao gồm Bệnh viện TTYT quận Đống Đa, BVĐK huyện Thanh Oai, BVĐK huyện Phú Xuyên, BVĐK huyện Gia Lâm và BVĐK huyện Đan Phượng.

Bệnh viện Tim Hà Nội hiện có hai trụ sở, một tại 92 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội và một tại Đường Võ Chí Công, Tây Hồ, Hà Nội Vào ngày 03/12/2014, UBND Thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 6438/QĐ - UBND về việc sáp nhập Trung tâm Y tế Công nghiệp Hà Nội vào Bệnh viện Tim Hà Nội.

Tại bệnh viện, có 25 giảng đường được bố trí tại các Trung tâm, Khoa, Phòng và Đơn nguyên, phục vụ cho việc học tập, sinh hoạt khoa học và hội chẩn chuyên môn.

Khu nhà tạm trú cho học viên sẽ được xây dựng tại Trung tâm phức hợp y học của bệnh viện cơ sở 2, nhằm đáp ứng nhu cầu về chỗ ở cho học viên và đảm bảo an toàn cho những học viên ở xa.

Bảng 3.9 Đánh giá khả năng đáp ứng cơ sở vật chất của giảng viên

Thông tin Tần số Tỷ lệ % Đánh giá về số lượng thiết bị máy móc dành cho giảng dạy thực hành

Các thiết bị máy móc cần cho công tác đào tạo

Nghiên cứu chỉ ra rằng công tác giảng dạy hiện nay đang gặp khó khăn do thiếu trang thiết bị, với 27,6% giảng viên cho rằng sự thiếu hụt này là nghiêm trọng Hơn nữa, 48,3% giảng viên đề xuất cần bổ sung các thiết bị và máy móc thiết yếu cho đào tạo, bao gồm bảng trắng, mô hình trực quan, phòng học, máy siêu âm tim, dụng cụ trực quan, tài liệu nước ngoài, tranh nổi minh họa, máy photocopy, máy fax, thư viện, sách giáo khoa nước ngoài và phòng thực tập.

Kết quả phỏng vấn cho thấy cơ sở vật chất phục vụ đào tạo còn nhiều hạn chế, thiếu trang thiết bị cần thiết Số lượng bệnh nhân đông, trong khi các giảng viên phải vừa làm việc vừa giảng dạy lâm sàng, dẫn đến việc học viên ít có cơ hội thực hành.

“Công tác tổ chức lớp học chưa tốt, trang thiết bị có thể họ có nhưng không dùng được, có lúc thì không có” (GV_BVT_Anh T_37 tuổi)

Triển khai công tác đào tạo liên tục trong thời gian tới

Đánh giá nhu cầu học viên sát hơn trước khi tổ chức lớp học:

Công tác đào tạo liên tục cần phải được đánh giá nhu cầu một cách chính xác hơn Việc chọn thời điểm không phù hợp có thể dẫn đến việc đào tạo những kỹ năng không cần thiết Hơn nữa, tổ chức khóa đào tạo kém chất lượng và không phù hợp với thực tế sẽ gây lãng phí và bỏ lỡ nhiều cơ hội cho bệnh nhân ở tuyến dưới.

“Tăng cường chất lượng học viên đầu vào cho các khóa đào tạo, chất lượng học viên đầu vào rất quan trọng” (LĐ_BVT_Chị H_39 tuổi)

Để đạt hiệu quả trong việc giảng dạy, điều quan trọng nhất là cung cấp đúng những gì học viên cần Nếu không đáp ứng đúng nhu cầu, sẽ chỉ tốn thời gian của họ Do đó, khảo sát nhu cầu của học viên là rất cần thiết.

Nâng cao năng lực giảng viên về phương pháp giảng dạy sư phạm, kỹ năng truyền đạt:

Cần nâng cao năng lực chuyên môn và giảng dạy cho nhân viên, đồng thời tăng cường cam kết của họ thông qua việc khuyến khích, động viên và áp dụng các chế tài phù hợp.

Khi tham gia biên soạn và giảng dạy, tôi sắp xếp kiến thức một cách hợp lý, giúp tư duy trở nên logic hơn Thời gian đọc lại, nghiên cứu và tham khảo ý kiến từ người khác giúp tôi tích lũy kinh nghiệm Điều này yêu cầu tôi nâng cao trình độ để giảng dạy hiệu quả trước mặt học viên.

Kỹ năng nghiên cứu trong lĩnh vực y học hiện vẫn còn thiếu và yếu Do đó, cần thiết phải tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về nghiên cứu y học Điều này sẽ giúp theo dõi và đánh giá hiệu quả của các phương pháp chẩn đoán và điều trị sau khi thực hành.

Tăng cường thời gian thực hành lâm sàng cho học viên, tăng cơ hội được thực hành trên bệnh nhân nhằm nâng cao chất lượng đào tạo liên tục:

Khóa đào tạo sẽ bao gồm các chương trình lý thuyết nhằm cung cấp kiến thức cơ bản, đồng thời cũng cần có các khóa học tập trung vào kỹ năng thực hành, như kỹ năng giao tiếp và thực hiện các thủ thuật.

“Chỉ cần tăng thời gian thực hành lên” (GV_BVT_Anh H_35 tuổi)

Tài liệu học tập nên ghi lại những trường hợp ít gặp để học viên được theo dõi, có cơ hội cọ xát với nội dung học tập:

Mặc dù là một trung tâm hoàn chỉnh, bệnh nhân không phải lúc nào cũng có sẵn những trường hợp điển hình Do đó, việc lưu lại những hình ảnh kinh điển để chia sẻ trong giảng dạy là rất quan trọng Trong thực tế lâm sàng, việc gặp gỡ những trường hợp này sẽ mang lại hiệu quả cao hơn nhiều.

Mở thêm khóa đào tạo liên tục về tiếng Anh chuyên ngành cho bác sĩ nhằm giúp học viên nâng cao khả năng tự tìm hiểu và cập nhật kiến thức y khoa mới nhất trên thế giới.

Các bác sĩ cần học ngoại ngữ không chỉ để tiếp thu kiến thức y học mới mà còn để đọc tài liệu chuyên ngành Hướng dẫn điều trị được cập nhật mỗi 4 năm, và nhiều thông tin y học hiện nay có sẵn miễn phí trên internet Việc nắm vững ngoại ngữ giúp bác sĩ tiếp cận và áp dụng những kiến thức mới nhất trong lĩnh vực của họ.

Đọc và tìm kiếm tài liệu là một phương thức đào tạo liên tục quan trọng Việc hiểu và áp dụng kiến thức từ các tài liệu này giúp nâng cao kỹ năng và phát triển bản thân.

Bệnh viện Tim dự định củng cố khả năng ngoại ngữ cho nhân viên, với kế hoạch tổ chức các khóa học tiếng Anh chuyên ngành y trong tương lai.

Triển khai mô hình giảng dạy trực tuyến để hỗ trợ học viên có nhu cầu nhưng không có thời gian đi học:

Học trực tuyến mang lại lợi ích lớn về khả năng tiếp cận, giúp tiết kiệm thời gian di chuyển cho cả học viên và giảng viên Điều này cho phép giảng viên có thể giảng dạy từ xa, bao phủ rộng rãi hơn, như việc giảng dạy từ bệnh viện tim đến tất cả các tỉnh.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức và đào tạo cho cán bộ tại các cơ sở quận/huyện, đặc biệt chú trọng vào mô hình giảng dạy trực tuyến.

Quản lý tốt công tác tổ chức đào tạo qua các điều phối viên:

Kiểm soát quá trình đào tạo bao gồm quy định về mức độ tham gia, tác phong và thái độ trong học tập, cũng như đánh giá quá trình học Đánh giá học viên sẽ được thực hiện dựa trên khả năng thực hành sau khi hoàn thành khóa học.

Hỗ trợ người học sau khi họ trở về cơ sở làm việc là một phần quan trọng trong quá trình đào tạo, bao gồm việc thực hành, đầu ra và công tác hậu đào tạo.

BÀN LUẬN

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bệnh viện Tim Hà Nội (2016), 18 chương trình, tài liệu đã được Sở Y tế thẩm định, phê duyệt, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 18 chương trình, tài liệu đã được Sở Y tế thẩm định, phê duyệt
Tác giả: Bệnh viện Tim Hà Nội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2016
2. Bệnh viện Tim Hà Nội (2017), Hội nghị chỉ đạo tuyến và đề án bệnh viện vệ tinh của bệnh viện Tim Hà Nội, Hội thảo khoa học tim mạch, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị chỉ đạo tuyến và đề án bệnh viện vệ tinh của bệnh viện Tim Hà Nội
Tác giả: Bệnh viện Tim Hà Nội
Nhà XB: Hội thảo khoa học tim mạch
Năm: 2017
3. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết của Bộ Chính trị số 46-NG/TW ngày 23 tháng 02 năm 2005 về Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Bộ Chính trị số 46-NG/TW ngày 23 tháng 02 năm 2005 về Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới
Tác giả: Bộ Chính trị
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
4. Bộ Y tế (2008), Thông tư số 07/2008/TT-BYT ngày 28/05/2008 về việc Hướng dẫn công tác đào tạo liên tục đối với cán bộ y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 07/2008/TT-BYT ngày 28/05/2008 về việc Hướng dẫn công tác đào tạo liên tục đối với cán bộ y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2008
5. Bộ Y tế (2009), Công văn số 1853/BYT-K2ĐT ngày 07 tháng 4 năm 2009 về việc Xây dựng chương trình và tài liệu đào tạo liên tục theo thông tư 07/2008/TT-BYT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 1853/BYT-K2ĐT ngày 07 tháng 4 năm 2009 về việc Xây dựng chương trình và tài liệu đào tạo liên tục theo thông tư 07/2008/TT-BYT
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
6. Bộ Y tế (2011), Đánh giá nhu cầu đào tạo nâng cao năng lực quản lý bệnh viện tại tuyến tỉnh và huyện, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nhu cầu đào tạo nâng cao năng lực quản lý bệnh viện tại tuyến tỉnh và huyện
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
7. Bộ Y tế (2013), Thông tư số 22/2013/TT-BYT ngày 09/08/2013 của Bộ Y tế Hướng dẫn đào tạo liên tục trong lĩnh vực y tế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 22/2013/TT-BYT ngày 09/08/2013 của Bộ Y tế Hướng dẫn đào tạo liên tục trong lĩnh vực y tế
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
8. Bộ Y tế (2013), Thông tư số 43/2013/TT-BYT ngày 11/12/2013 về việc Phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đối với hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 43/2013/TT-BYT ngày 11/12/2013 về việc Phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đối với hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2013
9. Bộ Y tế (2014), Quyết định 752/QĐ-BYT ngày 05/03/2014 về việc giao nhiệm vụ đào tạo, chuyển giao kỹ thuật theo Dự án Hỗ trợ y tế các tỉnh Đông Bắc Bộ và Đồng bằng sông Hồng sử dụng vốn vay Ngân hàng thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 752/QĐ-BYT ngày 05/03/2014 về việc giao nhiệm vụ đào tạo, chuyển giao kỹ thuật theo Dự án Hỗ trợ y tế các tỉnh Đông Bắc Bộ và Đồng bằng sông Hồng sử dụng vốn vay Ngân hàng thế giới
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2014
10. Bộ Y tế (2015), Thông tư liên tịch số 10/2015/TTLT-BYT-BNV ngày 27 tháng 5 năm 2015 về việc quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp bác sĩ, bác sĩ y học dự phòng, y sĩ, Hà Nội.HUPH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 10/2015/TTLT-BYT-BNV
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: HUPH
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm