1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Căng thẳng, lo âu và trầm cảm ở học sinh lớp 10 tại 4 trường trung học phổ thông công lập ngoại thành hà nội và một số yếu tố liên quan, năm 2020

115 7 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Căng thẳng, lo âu và trầm cảm ở học sinh lớp 10 tại 4 trường trung học phổ thông công lập ngoại thành Hà Nội và một số yếu tố liên quan, năm 2020
Tác giả Trần Thị Minh Phương
Người hướng dẫn PGS.TS.Nguyễn Thanh Hương
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 3,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu “Căng thẳng, lo âu và trầm cảm ở học sinh lớp 10 tại 4 trường Trung học phổ thông công lập ngoại thành Hà Nội và một số yếu tố liên quan, năm 2020” thực hiện thông qua sử dụ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

TRẦN THỊ MINH PHƯƠNG

CĂNG THẲNG, LO ÂU VÀ TRẦM CẢM Ở HỌC SINH LỚP 10 TẠI 4 TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CÔNG LẬP NGOẠI THÀNH HÀ NỘI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701

HÀ NỘI, 2021

HUPH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

TRẦN THỊ MINH PHƯƠNG

CĂNG THẲNG, LO ÂU VÀ TRẦM CẢM Ở HỌC SINH LỚP 10 TẠI 4 TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CÔNG LẬP NGOẠI THÀNH HÀ NỘI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS.Nguyễn Thanh Hương

Hà Nội, 2021 HUPH

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình tham gia chương trình đào tạo Thạc sĩ Y tế công cộng tại Trường Đại học Y tế công cộng, đặc biệt là thời gian thực hiện Luận văn, học viên đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của Nhà trường, quý thầy cô, cơ quan công tác, gia đình

và người thân

Để đạt được kết quả hôm nay, học viên xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới Ban Giám hiệu, tập thể quý thầy, cô của Nhà trường đã tận tình giảng dạy, hỗ trợ học viên trong suốt khóa học Đặc biệt, học viên xin gửi lời tri ân sâu sắc tới PGS.TS.Nguyễn Thanh Hương – Người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để học viên hoàn thành luận văn tốt nghiệp Học viên cũng xin dành lời cảm ơn

sâu sắc tới đề tài “Giải quyết một vấn đề y tế công cộng chưa được nhận thức đúng

mức ở Việt Nam: Thử nghiệm ngẫu nhiên theo cụm có đối chứng chương trình Resourceful Adolescent Program (RAP-V) để nâng cao sức khỏe tâm trí vị thành niên” Nghiên cứu này được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc

gia (NAFOSTED) trong đề tài mã số NHMC.108.01-2018.02 Kiến thức về học thuật,

sự tận tình trong giảng dạy, hướng dẫn của quý thầy, cô đã giúp học viên có được những kiến thức, kinh nghiệm quý báu, một tầm nhìn mới, sự tự tin trong nghiên cứu khoa học

Học viên xin dành tình cảm đặc biệt và sự biết ơn sâu sắc tới Ban Lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình cùng toàn thể các đồng nghiệp tại Trung tâm đã dành những tình cảm, sự hỗ trợ toàn diện, quý báu giúp học viên hoàn thành nghiên cứu này

Sau cùng, học viên xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình và bạn bè, những người đã chia sẻ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Mặc dù đã rất nỗ lực để hoàn thiện tuy nhiên học viên nhận thức được rằng luận văn không tránh khỏi những mặt hạn chế Học viên rất mong nhận được sự chia sẻ, góp ý của quý thầy cô, quý đồng nghiệp Học viên xin được tiếp thu và sẽ tiếp tục cố gắng trau dồi, nâng cao năng lực trong quá trình công tác sau này

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 20 tháng 08 năm 2021

HỌC VIÊN

Trần Thị Minh Phương

HUPH

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i

DANH MỤC CÁC HÌNH ii

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU iii

TÓM TẮT v

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1.Một số khái niệm, thuật ngữ 4

1.2.Thực trạng căng thẳng, lo âu, trầm cảm của vị thành niên trên thế giới 7

1.3.Thực trạng căng thẳng, lo âu, trầm cảm của vị thành niên tại Việt Nam 11

1.4.Một số yếu tố liên quan đến căng thẳng, lo âu và trầm cảm ở vị thành niên 14

1.5.Một số công cụ, thang đo đánh giá dấu hiệu căng thẳng, lo âu, trầm cảm 24

1.6.Một số thông tin về nghiên cứu gốc và địa bàn nghiên cứu 27

1.7.Khung lý thuyết 29

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1.Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của nghiên cứu gốc 30

2.2.Đối tượng nghiên cứu 32

2.3.Thời gian và địa điểm nghiên cứu 32

2.4.Thiết kế nghiên cứu 32

2.5.Cỡ mẫu 32

2.6.Phương pháp chọn mẫu 33

2.7.Phương pháp thu thập số liệu 33

2.8.Các biến số nghiên cứu 33

2.9.Thang đo, tiêu chuẩn đánh giá 34

2.10.Phương pháp phân tích số liệu 35

2.11.Đạo đức của nghiên cứu 36

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37

3.1.Một số thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 37

HUPH

Trang 5

3.2.Thực trạng các dấu hiệu căng thẳng, lo âu và trầm cảm ở học sinh lớp 10 tại 4

trường Trung học phổ thông công lập ngoại thành Hà Nội năm 2020 43

3.3.Một số yếu tố liên quan đến các dấu hiệu căng thẳng, lo âu, trầm cảm ở học sinh lớp 10 tại 4 trường Trung học phổ thông công lập ngoại thành Hà Nội năm 2020 47

Chương 4 BÀN LUẬN 58

4.1.Thực trạng các dấu hiệu căng thẳng, lo âu và trầm cảm ở học sinh lớp 10 tại 4 trường Trung học phổ thông công lập ngoại thành Hà Nội năm 2020 58

4.2.Một số yếu tố liên quan đến dấu hiệu căng thẳng, lo âu, trầm cảm ở học sinh lớp 10 tại 4 trường Trung học phổ thông công lập ngoại thành Hà Nội năm 2020 60

4.3.Hạn chế của nghiên cứu 65

KẾT LUẬN 67

KHUYẾN NGHỊ 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

PHỤ LỤC 73

PHỤ LỤC 1: BẢNG BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 73

PHỤ LỤC 2: PHIẾU PHÁT VẤN KHẢO SÁT THỰC TRẠNG CĂNG THẲNG, LO ÂU, TRẦM CẢM CỦA HỌC SINH LỚP 10 81

PHỤ LỤC 3: VĂN BẢN CHO PHÉP SỬ DỤNG SỐ LIỆU NGHIÊN CỨU GỐC 95

CỘNG HÒA CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 95

HUPH

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DASS-21 Depression Anxiety and Stress Scales-21

ĐTNC Đối tượng nghiên cứu

ESSA Education Stress Scale for Adolescents

UNICEF United Nations International Children's Emergency Fund

(Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc)

WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)

HUPH

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Sơ đồ chọn mẫu của nghiên cứu gốc 30 Hình 2.2: Sơ đồ kế hoạch của nghiên cứu gốc 31

HUPH

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 3.1: Một số đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu (N=543) 37 Bảng 3.2: Một số đặc điểm về tình hình sức khỏe của đối tượng nghiên cứu (N=543)… 37 Bảng 3.3: Một số đặc điểm về hành vi hút thuốc lá và sử dụng rượu của đối tượng nghiên cứu 38 Bảng 3.4: Một số đặc điểm về hành vi liên quan đến sức khỏe của đối tượng nghiên cứu (N=543) 39 Bảng 3.5: Một số đặc điểm về gia đình của đối tượng nghiên cứu (N=543) 41 Bảng 3.6: Điểm áp lực học tập và mối gắn kết với trường học của đối tượng nghiên cứu theo các mức độ 42 Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu phân theo nhóm có áp lực học tập thấp và cao (N=543) 42 Bảng 3.7: Một số đặc điểm về tình hình học tập của đối tượng nghiên cứu 43 Bảng 3.8: Đối tượng nghiên cứu có biểu hiện căng thẳng và được xác định có dấu hiệu căng thẳng theo thang đo của nghiên cứu (N=543) 43 Bảng 3.9: Đối tượng nghiên cứu có biểu hiện lo âu và được xác định có dấu hiệu lo âu theo thang đo của nghiên cứu (N=543) 44 Bảng 3.10: Đối tượng nghiên cứu có biểu hiện trầm cảm và được xác định có dấu hiệu trầm cảm theo thang đo của nghiên cứu (N=543) 45 Bảng 3.11: Phân loại đối tượng nghiên cứu theo các mức độ dấu hiệu căng thẳng, lo

âu, trầm cảm (N=543) 45 Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu phân theo các nhóm dấu hiệu sức khỏe tâm thầm (N=543) 46 Bảng 3.12: Mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học và tình hình sức khỏe với tình trạng căng thẳng của đối tượng nghiên cứu 47 Bảng 3.13: Mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học và tình hình sức khỏe với tình trạng lo âu của đối tượng nghiên cứu 48 Bảng 3.14: Mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học và tình hình sức khỏe với tình trạng trầm cảm của đối tượng nghiên cứu 48 Bảng 3.15: Mối liên quan giữa các hành vi sức khỏe với tình trạng căng thẳng của đối tượng nghiên cứu 49

HUPH

Trang 9

Bảng 3.16: Mối liên quan giữa các hành vi sức khỏe với tình trạng lo âu của đối tượng nghiên cứu 51 Bảng 3.17: Mối liên quan giữa các hành vi sức khỏe với tình trạng trầm cảm của đối tượng nghiên cứu 52 Bảng 3.18: Mối liên quan giữa các đặc điểm gia đình với tình trạng căng thẳng của đối tượng nghiên cứu 53 Bảng 3.19: Mối liên quan giữa các đặc điểm gia đình với tình trạng lo âu của đối tượng nghiên cứu 54 Bảng 3.20: Mối liên quan giữa các đặc điểm gia đình với tình trạng trầm cảm của đối tượng nghiên cứu 54 Bảng 3.21: Mối liên quan giữa tổng điểm áp lực học tập và tình trạng căng thẳng, lo

âu, trầm cảm ở đối tượng nghiên cứu 55 Bảng 3.22: Mối liên quan giữa tổng điểm mối gắn kết với nhà trường và tình trạng căng thẳng, lo âu, trầm cảm ở đối tượng nghiên cứu 56 Bảng 3.23: Mối liên quan giữa các đặc điểm học tập khác với tình trạng căng thẳng của đối tượng nghiên cứu 56 Bảng 3.24: Mối liên quan giữa các đặc điểm học tập khác với tình trạng lo âu của đối tượng nghiên cứu 57 Bảng 3.25: Mối liên quan giữa các đặc điểm học tập khác với tình trạng trầm cảm của đối tượng nghiên cứu 57

HUPH

Trang 10

TÓM TẮT

Sức khỏe tâm thần là vấn đề sức khỏe ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng cuộc sống ở nhiều nhóm tuổi, trong đó, căng thẳng, lo âu và trầm cảm là các dấu hiệu thường được quan tâm đo lường Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện chưa nghiên cứu nào chỉ tập trung vào vấn đề căng thẳng, lo âu, trầm cảm ở nhóm tuổi 15 (lớp 10) Nghiên

cứu “Căng thẳng, lo âu và trầm cảm ở học sinh lớp 10 tại 4 trường Trung học phổ

thông công lập ngoại thành Hà Nội và một số yếu tố liên quan, năm 2020” thực hiện

thông qua sử dụng số liệu của chương trình “Ngôi Nhà Hạnh Phúc (Happy House) để nâng cao sức khỏe tâm thần vị thành niên” nhằm mô tả các dấu hiệu căng thẳng, lo âu, trầm cảm ở học sinh lớp 10 tại 4 trường Trung học phổ thông công lập ngoại thành Hà Nội năm 2020 và phân tích một số yếu tố liên quan đến các dấu hiệu trên

Nghiên cứu cắt ngang phân tích, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng được tiến hành thu thập số liệu từ tháng 10/2020 đến tháng 12/2020 Thông tin được thu thập qua phiếu phát vấn đối với toàn bộ 543 học sinh của 12 lớp 10 tại 4 trường Trung học phổ thông ngoại thành Thành phố Hà Nội trong nghiên cứu gốc Dấu hiệu căng thẳng, lo âu và trầm cảm trong nghiên cứu được xác định bằng Thang đo DASS

21 Số liệu sau khi thu thập được phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0 Trong đó, kiểm định thống kê Chi bình phương được dùng để tìm mối liên quan đơn biến giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc (tình trạng căng thẳng, lo âu, trầm cảm)

Kết quả cho thấy, tỷ lệ học sinh có dấu hiệu căng thẳng, lo âu, trầm cảm lần lượt là 66,9%, 46,8% và 39,8% Có trường hợp được xác định có biểu hiện căng thẳng,

lo âu, trầm cảm ở mức độ rất nặng với tỷ lệ lần lượt là 6,4%, 1,8% và 3,3% Nghiên cứu xác định được một số yếu tố thuộc về cá nhân, gia đình và nhà trường liên quan tới tình trạng căng thẳng, lo âu, trầm cảm cụ thể: Học sinh nữ có nguy cơ căng thẳng,

lo âu, trầm cảm cao hơn nam lần lượt là 2,4 lần, 2,0 lần và 2,0 lần; học sinh có mẹ nội trợ/ở nhà có khả năng căng thẳng gấp 6,1 lần những học sinh mẹ đang đi làm; học sinh

bị áp lực học tập cao có nguy cơ lo âu, trầm cảm gấp lần lượt 2,7 lần và 4,4 lần học sinh khác…

Từ các phát hiện trên, cần có các can thiệp để cải thiện tình trạng căng thẳng, lo

âu, trầm cảm đang tồn tại ở địa bàn nghiên cứu Trước mắt, cần cung cấp và/hoặc kết nối với dịch vụ tư vấn và hỗ trợ các học sinh có dấu hiệu căng thẳng, lo âu, trầm cảm nặng để có biện pháp hỗ trợ cụ thể cho từng trường hợp Về lâu dài, nhà trường và phụ huynh cần phối hợp thực hiện các giải pháp cụ thể nhằm giảm áp lực học tập, quan tâm hơn đến sự phát triển tinh thần của các em đặc biệt là học sinh nữ

HUPH

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sức khỏe tâm thần (SKTT) đang là vấn đề sức khỏe ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng cuộc sống ở nhiều nhóm tuổi, trong đó, căng thẳng, lo âu và trầm cảm là các dấu hiệu thường được quan tâm đo lường trong cộng đồng nói chung và đối với nhóm vị thành niên (VTN) nói riêng Uớc tính, 0,3 – 0,7% dân số thế giới bị mắc bệnh tâm thần phân liệt và 3 – 5% có triệu chứng trầm cảm ở một giai đoạn nào đó trong cuộc đời (1,2) Đặc biệt, một số nghiên cứu chỉ ra, tỷ lệ VTN bị rối loạn trầm cảm (RLTC) rơi vào khoảng từ 4 – 6%, có khi lên đến 14 – 25% (2) Một vài nghiên cứu gần đây thống

kê được tỷ lệ trầm cảm, lo âu – căng thẳng ở học sinh lớp 10 của Ấn độ lần lượt là 13,2% và 14,2% (1,2) Trong khi đó, cuộc điều tra SKTT VTN toàn quốc tại Malaysia,

sử dụng DASS 21 làm công cụ đo lường với lứa tuổi từ 13 – 17 cho thấy tỷ lệ trầm cảm nặng, lo âu và căng thẳng ở học sinh trung học là từ 9% – 11% (3)

Tại Việt Nam, gần 15% dân số (tương đương gần 14 triệu người) có các triệu chứng về rối loạn tâm thần (RLTT) Nhiều nghiên cứu cho thấy, VTN ở Việt Nam có thể gặp phải các vấn đề SKTT như trầm cảm, căng thẳng, lo âu, có suy nghĩ tự tử, hay từng có cảm giác tuyệt vọng… Các vấn đề liên quan đến SKTT làm VTN giảm khả năng tham gia vào các hoạt động xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển của các em và làm tăng nguy cơ các bệnh và RLTT khi trưởng thành (4,5,6) Không những thế, các vấn đề đó còn dẫn đến nhiều hệ lụy về kinh tế, trong đó có giảm năng suất lao động, tăng áp lực cho hệ thống y tế, giáo dục, phúc lợi xã hội và hệ thống tư pháp (5,6) Những học sinh có dấu hiệu hay triệu chứng trầm cảm cũng dễ trở thành nạn nhân của bắt nạt bởi bạn cùng trang lứa, đặc biệt nhiều học sinh đã từng có suy nghĩ/dự định tự

tử Trong khi đó, với đặc thù là một trong các quốc gia có thu nhập trung bình thấp, nhận thức về vấn đề này tại Việt Nam chưa cao và có khá ít chương trình hay dịch vụ chăm sóc SKTT cho VTN, kể cả là ở các trường học

Trên thế giới, một số nghiên cứu đã tìm hiểu về căng thẳng, lo âu, trầm cảm của học sinh lớp 10 cũng như ở lứa tuổi 15 (3) Lớp 10 (14 – 15 tuổi) là một trong những cột mốc quan trọng trong quá trình trưởng thành của mỗi con người, là giai đoạn tâm

lý phức tạp nhất của mỗi đứa trẻ Các em thích tìm kiếm sự độc lập, tách khỏi sự kiểm soát của cha mẹ, tìm kiếm mối quan hệ ngoài gia đình, hướng đến bạn đồng trang lứa,… Đây cũng là giai đoạn chuyển cấp, các em phải làm quen lại từ đầu với trường

HUPH

Trang 12

lớp, bạn bè, kiến thức Trong giai đoạn này, các em rất dễ gặp phải các vấn đề về RLTT (7,8)

Tại Việt Nam, trẻ em và VTN chiếm 1/3 dân số và thường tham gia vào các công việc giúp đỡ gia đình ngoài giờ học, đặc biệt là các em sống ở nông thôn, ngoại thành Năm 2020, tính riêng trên địa bàn thành phố (TP) Hà Nội ước tính có khoảng 67.000 học sinh lớp 10 học tại các trường trung học phổ thông (THPT) công lập So với học sinh tại các trường nội thành, học sinh lớp 10 tại vùng ngoại thành Hà Nội được coi là thiếu những điều kiện hỗ trợ, giao tiếp xã hội hơn, trong khi đó vẫn phải chịu những áp lực trong học tập, kỳ vọng gia đình hay những vấn đề khác trong học tập cũng như đời sống cá nhân,… như những học sinh ở TP Trong khi đó, tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào chỉ tập trung nghiên cứu tình trạng này ở nhóm tuổi 15 (lớp 10) Việc tập trung ưu tiên nghiên cứu thực trạng căng thẳng, lo âu, trầm cảm với nhóm đối tượng này là rất cần thiết để có biện pháp hỗ trợ kịp thời nhằm giúp các em cân bằng trong tâm sinh lý, giảm thiểu những hậu quả nặng nề do các vấn đề RLTT gây nên

Chương trình Happy House (Ngôi nhà Hạnh Phúc) được điều chỉnh từ chương trình gốc Resources Adolescene do nhóm tác giả Ian Schohet và cộng sự phát triển Chương trình đã được áp dụng trên hơn 20 quốc gia từ năm 1997 và đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra chương trình đã góp phần làm giảm các triệu chứng trầm cảm, tăng các kỹ năng ứng phó thúc đẩy các khía cạnh tích cực về SKTT Tại Việt Nam, chương trình đang được triển khai với học sinh lớp 10 tại 8 trường THPT công lập được lựa chọn ngẫu nhiên ở khu vực nội và ngoại thành TP Hà Nội (2019 – 2022) Trong chương trình này, học viên được phép tham gia vào giai đoạn điều tra ban đầu gồm xây dựng công cụ, thu thập số liệu và được phép sử dụng một số dữ liệu đã thu thập được ở điều tra ban đầu để trả lời câu hỏi tình hình dấu hiêu căng thẳng, lo âu và trầm cảm của học sinh lớp 10 ở 4 trường ngoại thành hiện đang thế nào và yếu tố nào liên

quan với tình trạng này? Chính vì vậy, học viên đã thực hiện nghiên cứu “Căng thẳng,

lo âu và trầm cảm ở học sinh lớp 10 tại 4 trường Trung học phổ thông công lập ngoại thành Hà Nội và một số yếu tố liên quan, năm 2020” Kết quả của nghiên cứu giúp

chương trình xây dựng, triển khai và đánh giá can thiệp nhằm nâng cao SKTT ở đối tượng VTN, đặc biệt là học sinh lớp 10 ở vùng ngoại thành Hà Nội

HUPH

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả các dấu hiệu căng thẳng, lo âu và trầm cảm ở học sinh lớp 10 tại 4 trường Trung học phổ thông công lập ngoại thành Hà Nội năm 2020

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến các dấu hiệu căng thẳng, lo âu, trầm cảm ở học sinh lớp 10 tại 4 trường Trung học phổ thông công lập ngoại thành Hà Nội năm 2020

HUPH

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ

1.1.1 Sức khỏe tâm thần

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), SKTT là một bộ phận không thể tách rời của sức khỏe (9) SKTT không chỉ là không mắc các RLTT, mà còn bao hàm trạng thái thoải mái, sự tự tin vào năng lực bản thân, tính tự chủ, năng lực và khả năng nhận biết những tiềm năng của bản thân (9) Ngoài ra, SKTT có thể định nghĩa là khả năng của bộ máy tâm lý hoạt động một cách hoàn toàn hợp lý, có hiệu quả và đương đầu một cách mềm dẻo trước những tình huống khó khăn mà vẫn có thể tìm lại được sự cân bằng cho mình (4,6)

1.1.2 Rối loạn tâm thần

RLTT là trạng thái tâm trí liên quan đến sự rối loạn hoạt động của não bộ do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra như nhiễm khuẩn, nhiễm độc, sang chấn tâm thần, bệnh cơ thể,… làm rối loạn chức năng phản ánh thực tại Các quá trình cảm giác, tri giác, tư duy, ý thức… bị sai lệch cho nên người bị RLTT có những ý nghĩ, cảm xúc, hành vi, tác phong không phù hợp với thực tại, với môi trường xung quanh (2)

Các triệu chứng của RLTT rất đa dạng Từ khi có bảng phân loại quốc tế 9 (1978) và 10 (1987,1992) và tập chẩn đoán thống kê các RLTT DSM.III của Hội Tâm thần học Hoa Kỳ (1980) và DSM.IV (1994) về các bệnh và các rối loạn bệnh tật, trên

300 RLTT và hành vi trong 100 mục bệnh và rối loạn đã được sắp xếp một cách hệ thống và hợp lý Trong 10 chương phần F của bảng phân loại bệnh lần 10 (ICD.10), các RLTT và hành vi đã được mô tả kỹ lưỡng về lâm sàng Nguyên nhân gây nên RLTT là một vấn đề phức tạp Hiện nay có những RLTT nguyên nhân đã rõ ràng, nhưng vẫn còn một số chưa xác định được Tuy nhiên, tâm lý là một trong số những nhóm nguyên nhân chính được nhiều y văn và tài liệu phản ánh liên quan đến RLTT Trong đó, căng thẳng, lo âu và trầm cảm là những rối loạn được đề cập đến (2,4)

1.1.3 Căng thẳng

Theo WHO, căng thẳng (stress) là sự phản ứng thông qua thể chất, tinh thần, hoặc tình cảm của cơ thể con người với các tác nhân gây ra căng thẳng từ bên ngoài

Căng thẳng có thể biểu hiện trên cả 3 mặt: thể chất, tình cảm hay tinh thần (7)

Các nhà khoa học Việt Nam cũng có những ý kiến riêng về căng thẳng Tác giả

Tô Như Khuê đã cho rằng, căng thẳng tâm lý chính là những phản ứng không đặc hiệu

HUPH

Trang 15

xảy ra một cách chung khắp, do các yếu tố có hại về tâm lý xuất hiện trong các tình thế

mà con người chủ quản thấy là bất lợi hoặc rủi ro, ở đây vai trò quyết định không chủ yếu do tác nhân kích thích, mà do sự đánh giá chủ quan về tác nhân đó (10,11)

Căng thẳng gây hậu quả cả về mặt thể chất và tinh thần:

Về mặt thể chất:

Tình trạng stress kéo dài dẫn đến rối loạn chuyển hóa lipid, làm tăng cholesterol trong máu Căng thẳng làm tăng tiết catecholamin mà chủ yếu là adrenalin, gây co mạch máu dẫn đến thiếu ôxy ở tim và thành mạch, thiếu ôxy ở các tổ chức (5)

Tăng catecholamim trong những điều kiện nhất định gây tình trạng thiếu ôxy tổ chức, loạn dưỡng và hoại tử cơ tim, thành mạch Stress có thể gây ra nhiều căn bệnh:

 Bệnh tâm thần kinh: mất ngủ, đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn phiền, cáu gắt, loạn trí nhớ, trầm cảm

 Bệnh tim mạch: tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, loạn nhịp tim, hồi hộp đánh trống ngực

 Bệnh tiêu hóa: viêm loét dạ dày – tá tràng, chảy máu tiêu hóa, thủng dạ dày, tiêu chảy, khô miệng, chán ăn, ăn không tiêu, hơi thở hôi, rối loạn chức năng đại tràng

 Bệnh tình dục: giảm ham muốn, di tinh, mộng tinh, giao hợp đau…

 Bệnh phụ khoa: rối loạn kinh nguyệt, rối loạn nội tiết

 Bệnh cơ khớp: co cứng cơ, đau lưng, đau khớp, cảm giác kiến bò ở ngón tay, máy mắt, chuột rút, run rẩy

 Toàn thân: suy sụp, mệt mỏi, dễ mắc các bệnh dị ứng hay bệnh truyền nhiễm

HUPH

Trang 16

của rối loạn lo âu được cho là sự kết hợp của các yếu tố di truyền và môi trường Các yếu tố nguy cơ bao gồm tiền sử lạm dụng trẻ em, tiền sử gia đình bị RLTT và nghèo đói,… (13)

Dựa vào các biểu hiện mà rối loạn lo âu được chia thành 5 dạng cơ bản sau:

 Rối loạn lo âu lan tỏa hay còn gọi là rối loạn lo âu toàn thể: Đây là dạng rối loạn mà sự lo lắng và căng thẳng lan tỏa hầu hết đến mọi mặt trong cuộc sống như sức khỏe, kinh tế, tài chính, con cái, gia đình Người bệnh luôn luôn ở trong trạng thái lo lắng, căng thẳng, hồi hộp, mất ngủ, không thể tập trung vào công việc hàng ngày;

 Cơn hoảng loạn: Bao trùm lên người bệnh là cảm giác sợ hãi, những cơn kinh hoàng, khiếp sợ dữ dội ập đến bất chợt mà không do bất cứ nguyên nhân nào Người bệnh thường cô lập bản thân mình, né tránh các hoạt động cộng đồng, xã hội;

 Rối loạn stress sau chấn thương: Người bệnh sau khi trải qua một chấn động tâm lý như tai nạn hoặc mất đi người thân yêu nhất thường có những suy nghĩ dai dẳng, những ám ảnh không thoát ra được, ảnh hưởng đến sức khỏe và gia tăng những nguy cơ hành vi tiêu cực;

 Rối loạn ám ảnh cưỡng chế: Người bệnh luôn có những ám ảnh về những vấn

đề vô lý như sợ bẩn, sợ máu…

 Rối loạn lo âu xã hội: Người bệnh luôn có những lo lắng và căng thẳng khi tiếp xúc với đám đông, người lạ Người bệnh thường né tránh giao tiếp, né tránh những hoạt động nhóm, hoạt động xã hội (14,15)

1.1.4 Trầm cảm

Theo định nghĩa của Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ, trầm cảm là tình trạng rối loạn cảm xúc, thường là các cảm xúc lo âu, buồn phiền với nhiều mức độ khác nhau (nhẹ, trung bình, nặng), và có nhiều thể: có các đặc điểm tâm thần điển hình (u sầu, ủ dột,…), không điển hình (các triệu chứng không rõ ràng); có thể kèm theo các tổn thương thực thể (liệt một phần hoặc hoàn toàn) (13)

Theo WHO, trầm cảm được đặc trưng bởi sự buồn bã, mất hứng thú với các hoạt động xã hội, giảm năng lượng Có thể bao gồm: mất sự tự tin và lòng tự trọng, cảm giác tội lỗi không đáng có Ngoài ra còn có suy nghĩ về cái chết và việc tự tử Một số trường hợp bị giảm khả năng tập trung, rối loạn giấc ngủ Trầm cảm thường xảy ra sau chấn thương tâm lý, hoặc người bệnh phải trải qua những thất bại trong cuộc sống vượt quá khả năng chịu đựng Các triệu chứng trên kéo dài ít nhất từ 2 tuần trở lên (9)

HUPH

Trang 17

1.2 Thực trạng căng thẳng, lo âu, trầm cảm của vị thành niên trên thế giới

Trên toàn cầu, tỷ lệ mắc bệnh tâm thần là 10 – 20% ở trẻ em và thanh thiếu niên Tỷ lệ trầm cảm khác nhau từ khu vực địa lý này sang khu vực địa lý khác do các yếu tố khác nhau, như công nghiệp hóa và dân số có trình độ xã hội khác nhau và khả năng tiếp cận của các cơ sở hỗ trợ Thanh thiếu niên bị trầm cảm có nguy cơ bị suy yếu tâm lý xã hội và nhập viện tăng Ngoài ra, trầm cảm có thể ảnh hưởng đến hiệu suất của những thanh thiếu niên này ở trường cũng như xã hội Bởi vì sự chuyển đổi từ thời thơ ấu sang tuổi thiếu niên dẫn đến những thay đổi lớn về tinh thần và sinh học, sự xuất hiện của các vấn đề tâm lý xã hội, chẳng hạn như trầm cảm, là phổ biến trong giai đoạn này của cuộc đời Trầm cảm can thiệp vào cuộc sống và hoạt động bình thường của thanh thiếu niên Thanh thiếu niên bị trầm cảm có nguy cơ hành vi chống đối xã hội và lạm dụng rượu và chất gây nghiện (17)

Được biết, RLTT, bao gồm trầm cảm, là một trong 20 nguyên nhân hàng đầu gây ra khuyết tật trên toàn thế giới Trên toàn cầu, khoảng 400 triệu người bị ảnh hưởng bởi trầm cảm và khoảng 10 – 20% trẻ em và thanh thiếu niên trên thế giới bị RLTT Những rối loạn này có thể dẫn đến suy giảm khả năng học tập và làm việc và thậm chí tự tử trong số những người mắc bệnh nếu không được điều trị Do đó, việc phát hiện sớm các tình trạng này là rất quan trọng (17)

Một nghiên cứu tại Ấn Độ về “Trầm cảm, lo âu, căng thẳng và căng thẳng trong thanh thiếu niên nông thôn học tập tại Pune và một khu vực nông thôn của quận Nanded của Maharashtra, Ấn Độ” cho thấy, trong số các cá nhân tham gia nghiên cứu,

có tới 267 (58%) là nam và 194 (42%) là nữ Tuổi trung bình của người tham gia là 16 tuổi Trong tổng số 461 học sinh, 126 (27,3%) có SKTT bình thường Những người còn lại có một hoặc nhiều tình trạng RLTT, tức là trầm cảm, lo lắng và căng thẳng ở nhiều cấp độ khác nhau (nhẹ, trung bình, nặng và cực kỳ nghiêm trọng) Trong số họ

85 đối tượng (18,4%) có tình trạng đơn lẻ, 110 đối tượng (23,9%) có hai điều kiện và

140 (30,4%) đối tượng có cả ba điều kiện (9) Tuổi VTN là một giai đoạn quan trọng trong cuộc sống và sự hiện diện của các tình trạng như trầm cảm, lo lắng và căng thẳng

ở giai đoạn này của cuộc sống là một vấn đề đáng quan tâm Trầm cảm trong nhóm dân số này đã được chứng minh là có liên quan đến việc tăng nguy cơ hành vi tự tử, ý tưởng giết người, sử dụng thuốc lá và lạm dụng chất gây nghiện khác ở tuổi trưởng thành Người ta đã lưu ý rằng phần lớn các vụ tự tử ở Ấn Độ là do những người dưới

HUPH

Trang 18

30 tuổi và cũng có khoảng 90% những người chết vì tự tử bị RLTT (18) Malaysia có 5,47 triệu thanh thiếu niên, chiếm khoảng 1/5 dân số của đất nước Các vấn đề tâm lý

xã hội trong thanh thiếu niên Malaysia đã báo cáo vào khoảng 10 – 20% Ngoài ra, tỷ

lệ trầm cảm nặng, lo lắng và căng thẳng ở học sinh trung học Malaysia là từ 9% – 11% Theo một thống kê của Bộ Y tế Malaysia, tỷ lệ trầm cảm ở thanh thiếu niên là 18,3% Tỷ lệ trầm cảm cao nhất là ở Selangor (22,6%) và các trường ở thành thị (19,2%) (3)

Trên toàn cầu 26% thanh niên (16 – 24 tuổi) bị RLTT Ngoài ra, một số nghiên cứu khác đã ghi nhận mức độ phổ biến cao của các vấn đề tâm lý xã hội ở thanh thiếu niên (13,14) Được biết, 10% – 25% thanh thiếu niên gặp các vấn đề về tâm lý xã hội và/hoặc suy sụp tinh thần trong thời niên thiếu (19)

Theo WHO (2007), trầm cảm là một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng đứng thứ 7 trong 10 vấn đề sức khỏe toàn cầu do cả hai lý do: tỷ lệ mắc tương đối cao trong cuộc đời và hậu quả khuyết tật nặng nề mà nó gây ra Dự báo trầm cảm sẽ trở thành một trong những nguyên nhân chủ yếu gây chết người và làm mất khả năng duy trì cuộc sống bình thường vào năm 2020 (2) Ngày 4/9/2007 WHO đã khuyến cáo các nước cần đầu tư nhiều hơn cho các cơ sở ngành tâm thần Thế giới hiện tại có khoảng

154 triệu người bị trầm cảm, 25 triệu bệnh nhân tâm thần phân liệt, 91 triệu người nghiện rượu, 15 triệu người lạm dụng các chất gây nghiện Theo WHO, trầm cảm gây tác hại rất lớn, làm ảnh hưởng đến hiệu suất công việc và tệ hơn trầm cảm có thể dẫn đến tự tử Có gần 800.000 người chết hàng năm do tự tử Tự tử là nguyên nhân lớn thứ

2 gây tử vong ở người trẻ từ 15 – 29 tuổi (2) Mặc dù đã có các phương pháp hiệu quả trong điều trị các chứng RLTT nhưng có tới 76% – 85% người dân ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình không được điều trị các RLTT Rào cản đối với vấn đề này là do thiếu nguồn lực, sự kỳ thị xã hội, một số bị chẩn đoán sai hoặc dùng các thuốc điều trị không hiệu quả (6,20) Gánh nặng trầm cảm và các vấn đề về SKTT khác đang gia tăng trên toàn cầu, chính vì thế một nghị quyết của Hội đồng Y tế Thế giới đã được thông qua vào tháng 5/2013 nhằm kêu gọi sự hưởng ứng toàn diện và phối hợp giữa các quốc gia trong điều trị các RLTT

Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra, SKTT đang là vấn đề sức khỏe ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng cuộc sống ở nhiều nhóm tuổi Theo ước tính, trên thế giới có khoảng 0.3 – 0.7% dân số bị mắc bệnh tâm thần phân liệt và có khoảng 3 – 5%

HUPH

Trang 19

có triệu chứng trầm cảm ở một giai đoạn nào đó trong cuộc đời (1,2) Đặc biệt, một số nghiên cứu chỉ ra, tỷ lệ VTN bị RLTC rơi vào khoảng từ 4 – 6%, có khi lên đến 14 –25% (2) Theo số liệu nghiên cứu thu thập được, RLTC ở lứa tuổi VTN ở các nước vùng Caribe năm 2008 dao động từ 24,5 – 25,3%, có nơi lên đến 40,6% (2) Trong một vài nghiên cứu gần đây, người ta thống kê được tỷ lệ trầm cảm, lo âu – căng thẳng

ở học sinh lớp 10 của Ấn độ lần lượt là 13,21% và 14,15% (1,2) 48,4% học sinh tại thanh phố Abha của Ả Rập đã từng trải qua triệu chứng trầm cảm, trong khi triệu chứng lo âu và căng thẳng lần lượt là 47,5% và 37% (2) Và trong cuộc điều tra SKTT VTN toàn quốc mới đây tại Malaysia, sử dụng DASS 21 làm công cụ đo lường với lứa tuổi từ 13 – 17, tỷ lệ này là 17,7%, 39,6% và 10,1%

RLTC ở tuổi VTN phổ biến trên toàn thế giới nhưng thường không được công nhận Tỷ lệ mắc bệnh, đặc biệt là ở trẻ em gái, tăng mạnh sau tuổi dậy thì và đến cuối tuổi VTN, tỷ lệ mắc bệnh 1 năm vượt quá 4% Gánh nặng cao nhất ở các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình Trầm cảm có liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh đáng kể

ở hiện tại và tương lai, và làm tăng nguy cơ tự tử Các yếu tố nguy cơ cao nhất của trầm cảm ở thanh thiếu niên là tiền sử gia đình bị trầm cảm và tiếp xúc với căng thẳng tâm lý xã hội, yếu tố di truyền, các yếu tố phát triển, hormone giới tính,… (21)

Trầm cảm ở tuổi VTN cũng dự báo một loạt các rối loạn SKTT trong cuộc sống của người trưởng thành đặc biệt là rối loạn lo âu, rối loạn liên quan đến chất và rối loạn lưỡng cực cũng như hành vi tự sát và các vấn đề sức khỏe thể chất Một giai đoạn trầm cảm ở tuổi VTN thường báo trước một chứng rối loạn mạn tính hoặc tái phát, và

dự báo một loạt các khó khăn về tâm lý xã hội và sức khỏe kém (22,23)

Rối loạn lo âu: Theo đánh giá chung của nhiều quốc gia trên thế giới, các rối

loạn liên quan đến tâm lý chiếm 20 – 25% dân số, trong đó rối loạn lo âu là rối loạn phổ biến và thường gặp Nghiên cứu của Rieger và cộng sự (1990) cho thấy có khoảng 15% dân số nói chung đã trải nghiệm dấu hiệu đặc trưng của rối loạn lo âu và 2,3 – 8,1% đang có rối loạn lo âu hiện hành Rối loạn lo âu là một trong những rối loạn tâm

lý điển hình, đặc biệt đối với lứa tuổi học sinh Theo thống kê, tỷ lệ mắc phải lo âu ước tính ở thanh thiếu niên và trẻ em khoảng 3 – 20% làm cho rối loạn lo âu trở thành rối loạn phổ biến và thường gặp ở thanh thiếu niên và trẻ em (16) Ở độ tuổi này các em

có các vấn lo âu như: học tập, bạn bè, hình ảnh bản thân hiện tại và tương lai, tình yêu đôi lứa, gia đình, những kỳ vọng từ gia đình và bản thân tự đặt ra Đó cũng là những lo

HUPH

Trang 20

âu bình thường mà người trưởng thành nào cũng từng trải qua Tuy nhiên lo âu quá mức sẽ ảnh hưởng đến SKTT và điều đáng nói ở đây là thường các mức lo âu nhẹ ít

được chú ý tới mà chỉ khi nặng, biểu hiện bất thường mới được đưa đi chữa trị (24)

Căng thẳng: Thống kê của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã cho thấy khoảng

20% dân số thế giới đang bị stress quá mức trong công việc Riêng tại Việt Nam, tỷ lệ bình quân số người bị stress trên cả nước là hơn 52% Con số này cho thấy mức độ phổ biến của tình trạng stress và nó là dấu hiệu của sự suy giảm về chất lượng cuộc sống Tất cả mọi người, từ trẻ em đến người cao tuổi đều có khả năng bị stress Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để tìm hiểu nguồn gốc của stress Nguyên nhân của stress được chia thành các cấp độ cá nhân, gia đình, tổ chức/đơn vị và môi trường (6) Theo báo cáo của WHO, 10 – 20% trẻ em và VTN đang mắc các vấn đề về SKTT, tỷ

lệ này khác biệt ở các quốc gia khác nhau, do những khác biệt về kinh tế xã hội nhưng cũng một phần sử dụng các công cụ đo đạc khác nhau và cách thức lấy mẫu khác nhau Theo thống kê của Hiệp hội Tâm lý học Hòa Kỳ cho thấy tỷ lệ stress ở người trưởng thành không ngừng tăng lên, có 75% người trưởng thành báo cáo trải qua mức độ căng thẳng trung bình đến cao Có tới 80% người lao động cảm thấy căng thẳng trong công việc, gần một nửa nói rằng họ cần giúp đỡ trong việc học cách quản lý căng thẳng và 42% nói rằng đồng nghiệp của họ cũng cần sự giúp đỡ như vậy Tại Úc, có 91% người trưởng thành cảm thấy căng thẳng trong ít nhất một lĩnh vực quan trọng trong cuộc sống, gần 50% cảm thấy rất căng thẳng về một phần cuộc sống Nhân viên tại Úc vắng mặt trung bình 3,2 ngày làm việc mỗi năm do căng thẳng, sự căng thẳng nơi làm việc khiến nền kinh tế Úc mất đi 14,2 tỷ đô la

Một nghiên cứu của P Jayanthi và cộng sự về rối loạn căng thẳng và trầm cảm

ở VTN tại các trường trung học ở Tamil Nadu – phía Nam Ấn Độ trên 2432 học sinh

từ 3 trường tư thục và 1 trường công lập chỉ ra rằng, trong số 612 học sinh được chẩn đoán là trầm cảm có 19,6% bị nặng, 45,7% có mức trung bình, 25,4% bị nhẹ, và 9,3%

có triệu chứng trầm cảm thoáng qua Trong đó mối liên hệ giữa mức độ trầm cảm và căng thẳng trong học tập có ý nghĩa thống kê; trong đó những học sinh có căng thẳng trong học tập có nguy cơ bị trầm cảm cao hơn 2,4 lần so với những học sinh không gặp những căng thẳng trong học tập Những phát hiện này cho thấy thành tích học tập

là tương quan đáng kể với chứng trầm cảm Ngoài ra, kỳ vọng của phụ huynh và giáo viên là nguồn chính của căng thẳng học tập ở thanh thiếu niên (25)

HUPH

Trang 21

1.3 Thực trạng căng thẳng, lo âu, trầm cảm của vị thành niên tại Việt Nam

Học sinh THPT – lứa tuổi được coi là giai đoạn cuối của tuổi dậy thì ở cả nam

và nữ, trong giai đoạn này, học sinh đã trải qua khủng hoảng của tuổi dậy thì và kết thúc giai đoạn phát triển mạnh mẽ về thể chất cũng như tâm lí Tuy nhiên, các em lại bước vào một giai đoạn mới, song hành với việc học tập căng thẳng là quá trình định hướng nghề nghiệp tương lai cho bản thân Thực tế cho thấy có nhiều học sinh phải đối diện với những khó khăn tâm lý nảy sinh trong quá trình học tập và những khó khăn trong các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống, dẫn đến các rối loạn về mặt tâm thể như: rối loạn lo âu, trầm cảm, stress… Những rối loạn tâm thể sẽ ảnh hưởng đến kết quả học tập trong nhà trường, ảnh hưởng đến đời sống hiện tại và tương lai sau này của các em, đồng thời, đây cũng là vấn đề gây trở ngại cho giáo dục Lo âu của học sinh THPT chủ yếu là những lo âu liên quan đến bối cảnh học đường được biểu hiện ở các mức độ khác nhau Những yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng lo âu ở học sinh được biết đến như: Áp lực về thành tích học tập; áp lực thi cử; những lo lắng căng thẳng trong việc định hướng nghề nghiệp sau này; sự kì vọng quá cao của cha mẹ… Nếu được can thiệp bằng các liệu pháp tâm lý sẽ làm giảm mức độ lo âu ở các em

Tại Việt Nam, gần 15% dân số Việt Nam (tương đương gần 14 triệu người) có các bệnh lý về RLTT, trong đó khoảng 3 triệu người mắc rối loạn tâm thần nặng như tâm thần phân liệt, sa sút trí tuệ hay chậm phát triển (26) Nhiều nghiên cứu cho thấy, VTN ở Việt Nam có thể gặp phải các vấn đề SKTT như trầm cảm, căng thẳng, lo âu,

có suy nghĩ tự tử, hay từng có cảm giác tuyệt vọng… (27) Các vấn đề liên quan đến RLTT làm VTN giảm khả năng tham gia vào các hoạt động xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển của các em và làm tăng nguy cơ các bệnh và RLTT khi trưởng thành Không những thế, các vấn đề đó còn dẫn đến nhiều hệ lụy về kinh tế, trong đó có giảm năng suất lao động, tăng áp lực cho hệ thống y tế, giáo dục, phúc lợi xã hội và hệ thống tư pháp Những học sinh có dấu hiệu hay triệu chứng trầm cảm cũng dễ trở thành nạn nhân của bắt nạt bởi bạn cùng trang lứa, đặc biệt nhiều học sinh đã từng có suy nghĩ/dự định tự tử (12,28) Hiện nay các vấn đề này đang có xu hướng tăng lên Việt Nam là một trong các quốc gia có thu nhập trung bình thấp và hiện chưa có nhận thức cao về SKTT trong khi đó có khá ít chương trình hay dịch vụ chăm sóc SKTT cho VTN, kể cả là ở các trường học (27)

HUPH

Trang 22

Theo nghiên cứu của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), khoảng 8 – 29% trẻ em trong độ tuổi VTN ở Việt Nam mắc các bệnh về SKTT Tuy nhiên chỉ khoảng 20% trong số đó nhận được sự hỗ trợ kịp thời Cũng theo khảo sát vừa được UNICEF công bố, ước tính số thanh thiếu niên cần dịch vụ chăm sóc và điều trị về SKTT lên tới 12%, tương đương khoảng 3 triệu em Theo các tác giả, khảo sát này được thực hiện trên mẫu đại diện quốc gia của 10/63 tỉnh thành Các dấu hiệu bệnh lý phổ biến nhất

là lo âu, thấy buồn về cuộc sống, thiếu tự tin, trầm cảm, có ý định tự tử và tự tử… Các khảo sát kéo dài từ năm 2003 đến nay cho thấy tỉ lệ thanh thiếu niên được hỏi và cho biết từng có ý định tự tử lên tới 3,4 – 6,1%

Tại Việt Nam, đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề RLTT ở trẻ VTN nhưng chưa có nghiên cứu nào chỉ nghiên cứu về căng thẳng, lo âu, trầm cảm của học sinh lớp 10 mặc dù đây là vấn đề rất đáng lưu tâm Nghiên cứu gần đây của nhóm tác giả Thái Thanh Trúc, Vũ Thị Ly Ly Ngọc được thực hiện trong năm 2018 tại 3 trường trên địa bàn TP Hồ Chí Minh gồm: Nguyễn Khuyến; Nam Kỳ Khởi Nghĩa; Nguyễn Thái Bình với 1.114 học sinh tham gia ở quy mô 27 lớp gồm cả 3 khối, trên cơ sở đánh giá

cả 3 khía cạnh trầm cảm, lo âu, căng thẳng đã cho thấy những con số đáng báo động, lần lượt là 38,7 %, 59% % và 35,1% Lớp 10 (14 – 15 tuổi) là một trong những cột mốc quan trọng trong quá trình trưởng thành của mỗi con người, là giai đoạn giữa VTN Đây có thể được coi là giai đoạn tâm lý phức tạp nhất của mỗi đứa trẻ Các em thích tìm kiếm sự độc lập, tách khỏi sự kiểm soát của cha mẹ, tìm kiếm mối quan hệ ngoài gia đình, hướng đến bạn đồng trang lứa,… Đây cũng là giai đoạn các em phải làm quen lại từ đầu với trường lớp, bạn bè, kiến thức Tại giai đoạn này, các em rất dễ gặp phải các vấn đề về RLTT Chỉ cần một lời nói, hành động cũng làm cho các em cảm thấy căng thẳng (7,8) Trên thế giới, một số nghiên cứu đã tìm hiểu về chứng RLTC của học sinh lớp 10 cũng như ở lứa tuổi 15 Những nghiên cứu này đã cung cấp thêm cho ta hiểu thêm về những yếu tố liên quan làm gia tăng cũng như cải thiện vấn

đề RLTT ở VTN Chính vì vậy, việc tiến hành nghiên cứu trên đối tượng học sinh lớp

10 là vô cùng cần thiết

Theo kết quả điều tra dịch tễ học của ngành tâm thần (2000), điều tra tập trung vào 10 RLTT chủ yếu thì tỷ lệ RLTT chung chiếm 10 – 15%, trong đó bệnh trầm cảm chiếm 3 – 5%, rối loạn liên quan đến stress 4 – 6%, rối loạn hành vi ở thanh thiếu niên 3,7%

HUPH

Trang 23

Việt Nam là một nước có thu nhập trung bình thấp ở Đông Nam Á, với tốc độ phát triển nhanh Phần lớn (khoảng 70%) trong tổng số hơn 92 triệu dân sống ở vùng nông thôn và dựa vào canh tác nông nghiệp để sinh sống Trẻ em và VTN chiếm một phần ba dân số và thường tham gia vào các công việc giúp đỡ gia đình ngoài giờ học, đặc biệt là các em sống ở nông thôn Hà Nội là thủ đô của Việt Nam với dân số khoảng 7 triệu người; với 12 quận nội thành và 18 huyện ngoại thành Năm 2019, Hà Nội ước tính sẽ có khoảng 67.235 học sinh lớp 10 học tại các trường THPT công lập

và công lập tự chủ Trong nghiên cứu này, đối tượng tác giả muốn nghiên cứu là các

em học sinh lớp 10 tại vùng ngoại thành Hà Nội Với sự nhận thức chưa đúng tầm về SKTT và vẫn còn tồn tại sự kỳ thị lớn với các vấn đề về SKTT, nếu không tiến hành

mô tả thực trạng để có giải pháp hỗ trợ và can thiệp kịp thời thì gần 2/3 trẻ VTN này

sẽ vô cùng khó khăn để lấy được cân bằng trong tâm sinh lý, đôi khi phải chịu những hậu quả nặng nề do các vấn đề RLTT gây nên (29)

Căng thẳng: Theo thống kê của Bệnh viện Tâm thần TP Hồ Chí Minh cho thấy

tỷ lệ bệnh nhân thăm khám tình trạng mất ngủ, lo âu, căng thẳng chiếm tới 35% (30) Trong vô vàn những căng thẳng trong cuộc sống, căng thẳng trong công việc, học tập

là loại căng thẳng điển hình Ở Việt Nam, vấn đề căng thẳng học đường đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm bởi những hậu quả do căng thẳng gây ra cho học sinh như bị trầm cảm, gây hấn hay có hành vi tự sát Một số nghiên cứu như nghiên cứu của Bệnh viện Tâm thần Mai Hương năm 2005 cho thấy tỷ lệ mắc các vấn đề về SKTT của học sinh các quận nội thành là 19,45% Nghiên cứu của Amstadter A.B tại Việt Nam (2011) cho kết quả 9,1% thanh thiếu niên được cho là mắc phải các vấn đề

về tâm thần Một nghiên cứu được thực hiện tại các tỉnh miền Bắc trên trẻ VTN sử dụng thang đo Youth Self Report (YSR) cho kết quả đáng báo động khi so sánh kết quả nghiên cứu với các quốc gia khác, thấy rằng Việt Nam xếp cao nhất trong số các quốc gia được nghiên cứu Nghiên cứu kết luận được 18% trẻ trong nghiên cứu gặp ít nhất một trong 8 triệu chứng về rối nhiễu tâm lý được đề cập trong thang đo YSR: Lo âu/trầm cảm, thu mình/trầm cảm, bệnh tâm thể, vấn đề xã hội, vấn đề suy nghĩ, vấn đề chú ý, hành vi hung tính, phá bỏ quy tắc Nghiên cứu của Hồ Hữu Tĩnh và Nguyễn Doãn Thành (2009) ở trường THPT Phan Bội Châu, Phan Thiết, Bình Thuận trên học sinh lớp 12 cho kết quả 38% học sinh có biểu hiện stress Hoàng Cẩm Tú và Đặng

HUPH

Trang 24

Hoàng Minh (2010) nghiên cứu trên học sinh ở 2 trường THPT Nguyễn Trãi và Vân Tảo cho thấy các trường hợp mắc các vấn đề về SKTT chiếm 22,55%

Một nghiên cứu về tình trạng bắt nạt học đường ở trường phổ thông tại Đà Nẵng cho kết quả, học sinh THPT ở Đà Nẵng cho thấy có nhiều biểu hiện về căng thẳng xã hội, lo âu, rối loạn dạng cơ thể, vấn đề tập trung chú ý Trong đó, học sinh nữ

có xu hướng có nhiều biểu hiện về lo âu hơn học sinh nam Học sinh khối lớp 10 cho thấy có biểu hiện về rối loạn dạng cơ thể cao nhất trong khi học sinh khối lớp 12 lại có nhiều biểu hiện nhất về tính bất thường Những sự khác biệt này đều có ý nghĩa thống

kê Việc học sinh THPT có những hành vi bắt nạt người khác trên mạng có mối liên hệ với những vấn đề SKTT như stress, lo âu, tính tăng động, khả năng kiểm soát kém và tính bất thường (30)

Một số nghiên cứu khác cho thấy tỷ lệ trẻ em Việt nam có rối loạn lo âu cao Điển hình như nghiên cứu của bác sỹ Hoàng Cẩm Tú và cộng sự trên hơn 1500 trẻ ở phường Kim Liên và Trung Tự quận Đống đa, TP Hà Nội (2000), cho thấy có tới 1,9 – 3% trẻ có biểu hiện rối loạn lo âu – trầm cảm Nghiên cứu của nhà nghiên cứu Nguyễn Công Khanh (năm 2000) trên 503 học sinh trung học cơ sở cho thấy tỷ lệ trẻ đã từng trải qua rối loạn lo âu là rất cao 17,6% – 19,2% Nghiên cứu xây dựng mô hình chăm sóc sức khỏe tâm lý – tâm thần cho học sinh phổ thong ở Đồng Nai do bác sỹ Nguyễn Văn Thọ thực hiện (2000) cho thấy lo âu trầm cảm chiếm tỷ lệ từ 10% – 21% trong số các học sinh có vấn đề SKTT

Một nghiên cứu thực hiện ở trường THPT chuyên Quảng Bình trên 600 học sinh THPT, sử dụng thang đo DASS và Zung, có kết quả: 4 nhóm nguyên nhân chính dẫn đến lo âu cho học sịnh trườn THPT chuyên Quảng Bình là: liên quan đến học tập, liên quan đến bản thân học sinh, liên quan đến gia đình, liên quan đến các mối quan hệ

HUPH

Trang 25

trạng lo lắng và trầm cảm Xu hướng chung cho thấy mức độ căng thẳng tăng theo tuổi Trong trường hợp trầm cảm và lo lắng, tuổi cao nhất là 18 tuổi (32)

Các bất ổn về tâm lý, căng thẳng, lo âu, trầm cảm có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng tuổi dễ mắc các bất ổn về tâm lý và các bệnh về tâm thần là từ 16 – 44 (tuổi), khoảng 24% những người ở lứa tuổi 18 ít nhất mắc một giai đoạn trầm cảm trong cuộc đời Những người từ 65 tuổi trở lên thì tỷ lệ trầm cảm khoảng 10 – 15% (28)

 Giới

Mỗi giới có sự tác động khác nhau của các yếu tố, những yếu tố thường là nguy

cơ ở giới này nhưng không phải là nguy cơ cao ở giới kia Ở nữ thường nhạy cảm và chịu đựng áp lực kém hơn so với nam giới Các em trai có xu hướng nghiện các trò chơi điện tử, các em gái có xu hướng bị rình rập và bắt nạt trên mạng nhiều hơn (28) Một nghiên cứu tại Malaysia cho thấy, có sự khác nhau về tỷ lệ trầm cảm ở nam

và nữ, tỷ lệ trầm cảm ở nam là 18,9%, trong khi tỷ lệ này chỉ là 17,7% ở nữ Tuy nhiên, tỷ lệ lo lắng ở nữ (42,3%) lại cao hơn nam (37,1%); và tỷ lệ căng thẳng ở nữ (10,3%) cũng cao hơn ở nam (8,9%) Có thể là do lý do nam giới không mạnh mẽ về mặt cảm xúc so với nữ giới và chia sẻ ít vấn đề hơn so với nữ giới (3) Nghiên cứu của Betty Van Roy và cộng sự ở Na Uy, nghiên cứu của Catherine Panter-Brick và cộng

sự ở Afganistan cũng cho thấy, nhìn chung tỉ lệ nữ có vấn để về SKTT cao hơn nam (52) Trong khi đó, nghiên cứu của Howard Meltzer tại Anh cho thấy tỉ lệ VTN có vấn

đề về SKTT chung ở nam là 11,4% so với 7,5% ở nữ (52)

Tại Việt Nam, mặc dù sự khác biệt về giới tính đối với vấn đề SKTT ở VTN không tương đồng ở các nghiên cứu khác nhau nhưng nhìn chung nhiều nghiên cứu đưa ra kết luận về mối liên quan giữa đặc điểm này với vấn đề SKTT ở VTN Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thuý Anh ở Hà Nội cho thấy, tỉ lệ học sinh nữ có vấn đề về SKTT cao hơn 2 lần so với nam (52) Tương tự, nghiên cứu về stress trên học sinh THPT của tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo năm 2018 ghi nhận stress không giống nhau ở học sinh nam và nữ, nữ thường stress nhiều hơn nam 2,28 lần (50) Trong khi

đó, kết quả của các nghiên cứu của Nguyễn Cao Minh ở 4 tỉnh miền Bắc, Nguyễn Đình Chất ở Lâm Đồng, Lê Thu Phương và Đào Thanh Thuỷ ở Hà Nội đều cho thấy tỉ

lệ nam có vấn đề SKTT cao hơn nữ (52)

HUPH

Trang 26

 Dân tộc

Một nghiên cứu tại Ấn Độ trên 27.497 thanh thiếu niên đi học cho thấy, tỷ lệ trầm cảm, lo lắng và căng thẳng lần lượt là 18,3%, 39,7% và 9,6% Tỷ lệ trầm cảm cao hơn ở nam giới (18,9%), người dân tộc Ấn Độ (33,1%) và người trả lời từ bang Selangor (22,6%) Tỷ lệ lo lắng cao hơn ở nữ giới (42,3%), người dân tộc Bumiputera Sabah (47,3%) và người trả lời từ bang Sabah (46,8%) Tỷ lệ căng thẳng cao hơn ở những học sinh học ở thành thị (10,3%), nữ (10,3%), dân tộc Ấn Độ (15,3%) và người trả lời từ bang Selangor (12,5%)

Sự cô lập hay tự cô lập bản thân về cảm xúc chính là căn nguyên quan trọng đối với thanh thiếu niên lựa chọn không chia sẻ cảm xúc với ai Đối với những VTN ở cùng gia đình, các em quyết định không chia sẻ cảm xúc với bố mẹ thường là do không muốn bố mẹ lo âu (7,28)

 Các hành vi cá nhân

Kết quả SAVY năm 2009 chỉ ra rằng những yếu tố liên quan đến hành vi của cá nhân như uống rượu, bia, sử dụng chất gây nghiện, hút thuốc ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của VTN (28) Nghiên cứu của Đào Thị Tuyết ở học sinh THCS tại Hà Nội cũng cho kết quá cùng quan điểm với SAVY (52)

Bên cạnh đó, sự phát triển khoa học công nghệ với các sản phẩm điện thoại, máy tính, các thiết bị smartphone, laptop ngày càng hiện đại và có giá thành rẻ hơn dẫn đến việc VTN có thể tiếp cận chúng dễ dàng hơn Đồng thời việc lạm dụng các thiết bị công nghệ, dễ trở thành nghiện, ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý, tâm thần của người sử dụng (28)

HUPH

Trang 27

 Bệnh tật

Mắc các bệnh bẩm sinh như khiếm thính, các tật bẩm sinh ảnh hưởng đến thẩm

mỹ, thể hình thấp bé, những em được coi là thừa cân dễ gây tâm lý tự ti cho VTN Ngoài ra, ở độ tuổi này có thể xuất hiện quan niệm tiêu cực về đặc điểm thể chất của VTN, độ tuổi này đang có sự thay đổi về tâm sinh lý, đặc biệt là ở những em gái lo lắng về chu kỳ kinh nguyệt (28)

1.4.2 Mối quan hệ

1.4.2.1 Gia đình

 Tình trạng hôn nhân của bố mẹ

Theo một nghiên cứu tại Malaysia, tình trạng hôn nhân của bố mẹ có ảnh hưởng nhiều đến tâm lý của con cái Tỷ lệ thanh thiếu niên mắc trầm cảm cao hơn nhiều ở những gia đình có bố mẹ ly hôn (21,8%), bố mẹ ly thân (30,1%), trong khi đó tỷ lệ trầm cảm chỉ là 17% ở những gia đình có cả bố và mẹ sống cùng các con (3)

Hơn nữa, các yếu tố nhân khẩu học của cha mẹ là các yếu tố ảnh hưởng đến thanh thiếu niên Có mối liên quan đáng kể giữa tình trạng tâm lý xã hội với tình trạng hôn nhân và nghề nghiệp, và trình độ học vấn của cha mẹ Theo Bradshaw (2013), mức độ căng thẳng cao hơn ở thanh thiếu niên, những người mẹ có trình độ học vấn rất cao hoặc rất thấp Họ báo cáo rằng mức độ căng thẳng ít hơn ở thanh thiếu niên từ các gia đình có trình độ học vấn trung bình của cha mẹ (19)

Bố mẹ bất hòa, sống ly thân, ly hôn, không có điều kiện để quan tâm con cái Khi cha mẹ ly hôn, trẻ rơi vào tình trạng hoảng loạn, lo sợ bị bỏ rơi Một số em sẽ phải sống với bố mà thiếu mẹ, hoặc ngược lại Với những gia đình chỉ còn một bố hoặc một

mẹ thì sự kiểm soát, uốn nắn này sẽ trở nên khó khăn hơn Từ đó dẫn đến sự mất cân đối trong tiến trình phát triển tâm lý của con cái Hệ quả dễ thấy là có những bé trở nên hung hăng, hiếu chiến trong khi những trẻ khác có thể rụt rè và tự ti trước cuộc sống (7,28) Khi bố mẹ ly dị, đứa trẻ buộc phải sống với một trong hai người Dù ở vào lứa tuổi nào, đứa con cũng sẽ có cảm giác mất mát và thiếu thốn về mặt chăm sóc tinh thần Tệ hơn, bé có thể cảm thấy bị ruồng bỏ nếu người bố hoặc mẹ còn lại không thường xuyên ghé thăm, hỏi han Những trò chơi hay thói quen trước đây với bố hoặc

mẹ sẽ không còn nữa, thay vào đó sẽ là một cảm giác trống vắng và hụt hẫng trong tâm hồn non nớt của trẻ Theo thống kê của Hội Nghiên cứu Trẻ em Quốc gia của Mỹ (National Survey of Children) đối với trẻ trong các gia đình ly dị, trung bình 15% trẻ

HUPH

Trang 28

bị ức hiếp ở trường; 13% bé sẽ bỏ học giữa chừng và có đến 60% các trẻ sẽ học hành

sa sút so với khả năng học vấn của bố mẹ chúng (34)

Nghiên cứu của tác giả Phan Đăng Thân ở Hưng Yên năm 2010 về trầm cảm ở học sinh cấp 3 cho thấy tỷ lệ trầm cảm là 31,7% và tình trạng này liên quan đến các yếu tố thuộc về bản thân các em, các yếu tố liên quan môi trường học tập và gia đình của các em Cụ thể các nguyên nhân từ phía gia đình như tình trạng hôn nhân của cha

mẹ, gia đình không hạnh phúc hay nguyên nhân do xếp loại hạnh kiếm không tốt sẽ làm tăng trầm cảm Các yếu tố như học sinh cảm thấy thích, vừa ý về sức khỏe, ngoại hình của bản thân hay được gia đình quan tâm sẽ là giảm nguy cơ trầm cảm (52)

 Sự gắn kết của gia đình

Gắn kết gia đình là điều kiện cần thiết giúp trẻ học hỏi, hòa nhập và sống tốt trong xã hội Các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý học đã chỉ ra rằng sự gắn kết gia đình đem lại cho trẻ VTN sự tin tưởng, cảm giác an toàn và hạnh phúc Sự gắn kết giữa cha mẹ và con cái giúp giảm nguy cơ trẻ VTN có những hành vi lệch chuẩn ở trường học Sự gắn bó cha mẹ và con cái càng chặt chẽ sẽ giúp trẻ VTN định hướng các giá trị bản thân cao hơn Không những thế, trẻ có khả năng kiểm soát tốt hơn các cảm xúc buồn bã, hay xung đột tâm lý Tình cảm và sự an toàn là những yếu tố cần thiết cho sự phát triển thể chất, tinh thần, tình cảm và trí tuệ của bất cứ trẻ em nào Như thế, “làm cha mẹ” là thực hiện những hành động che chở, chăm sóc và dạy dỗ trẻ

em Mẫu hình cha mẹ dân chủ tỏ ra nhiều ưu thế và được các cha mẹ áp dụng nhiều hơn (8,36) Theo kết quả điều tra SAVY 2, 80% VTN được hỏi cho biết mối quan hệ cha - con ở mức rất tốt và tốt, tương tự ở quan hệ mẹ - con là 87,1% 19% ý kiến trả lời rằng mối quan hệ cha - con ở mức bình thường, tương tự ở quan hệ mẹ - con là 12,7% Có 1% VTN cho biết mối quan hệ cha - con ở mức tồi và rất tồi, so với 0,3% ở quan hệ mẹ - con với cùng mức này Từ kinh nghiệm thực tế của mình, nhiều bậc cha

mẹ hiểu rằng tương lai con mình sẽ đảm bảo hơn nếu được học hành thật tốt Tới năm

2009, kết quả SAVY2 chỉ ra phần lớn các cha mẹ mong muốn con ở tuổi VTN tập trung vào học tập và có kết quả tốt Có 40% trẻ VTN cảm thấy bị áp lực từ cha mẹ Đó chủ yếu là mong con học tốt và đỗ đạt Khoảng 9,5% các cha mẹ buộc trẻ VTN phải

có việc làm tạo thu nhập và còn 2,8% muốn con phải kết hôn ngay sau khi rời trường phổ thông Con số này chủ yếu rơi vào các gia đình sống ở nông thôn do cuộc sống khó khăn mà họ muốn con sớm có cuộc sống độc lập Các bậc cha mẹ hiện đại thường

HUPH

Trang 29

tôn trọng những lựa chọn và quyết định của con mình Trên bình diện cả nước, cha mẹ mong muốn trẻ VTN tập trung học tập vẫn là xu thế chủ đạo Có thể thấy, vai trò của giáo dục ngày càng được các gia đình quan tâm (7,36)

 Sự kỳ vọng của gia đình

Mức độ căng thẳng cao hơn trong số những người tham gia không tự hài lòng với kết quả học tập và cha mẹ không hài lòng (32) Kỳ vọng quá lớn từ bố mẹ thầy cô, trẻ đặt kỳ vọng mục tiêu cao cho bản thân, phải vượt trội so với bạn bè Khi không hoàn thành được mục tiêu như kỳ vọng, hay khi đạt điểm thấp ở trường trẻ sẽ cảm thấy buồn, áp lực, lo sợ bố mẹ buồn hoặc la mắng, điều này ảnh hưởng xấu tới SKTT của trẻ (28)

 Bạo lực gia đình

Trải qua thường xuyên hoặc hầu như luôn luôn la mắng, lạm dụng bằng lời nói, đánh đập, tấn công thể xác bởi cha hoặc mẹ hoặc cả cha mẹ hoặc người giám hộ là những yếu tố nguy cơ làm gia tăng các vấn đề SKTT (9) Tỷ lệ trầm cảm ở những người bị bắt nạt, lạm dụng thể chất và lạm dụng bằng lời nói là 35,0% (3) Những người có sự gắn bó của người cha không an toàn cao gấp 1,5 lần (hoặc 50%) khả năng

có triệu chứng căng thẳng (trung bình và nặng) Những người có cha không an toàn có nhiều khả năng gặp vấn đề về tâm lý xã hội (19) Trẻ em phải chứng kiến cảnh bạo lực gia đình làm tâm lí trẻ lo sợ, buồn chán không muốn ăn uống, vận động, mọi sinh hoạt của trẻ bị ảnh hưởng Đồng thời sự căng thẳng tinh thần làm cho các cơ quan trên cơ thể trẻ cũng có những rối loạn trong hoạt động như vậy ảnh hưởng lớn đến sự phát triển thể chất ở trẻ Con cái thường học theo tấm gương của cha mẹ, ảnh hưởng của cha mẹ đối với trẻ là rất lớn, muốn giáo dục trẻ thì cha mẹ phải luôn là tấm gương sáng

về phẩm chất và hành vi với trẻ, những hành vi sai trái, những hành động bạo lực hay những lời mắng chửi thậm tệ đều có ảnh hưởng lớn đến việc giáo dục trẻ, trẻ có thể học theo những hành vi đó của cha mẹ hoặc cha mẹ đã làm mất uy tín của mình với trẻ khi trẻ chứng kiến hành vi bạo lực của cha mẹ Như vậy cha mẹ sẽ không giáo dục được cho con những phẩm chất tốt khi trẻ phải chứng kiến cảnh bạo lực từ chính cha

mẹ (8)

 Sự quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ của bố mẹ

Khi tình yêu của cha mẹ giảm xuống, mức độ trầm cảm và căng thẳng ở những người chịu ảnh hưởng tăng lên Điểm DASS cao hơn trong số những học sinh có mẹ

HUPH

Trang 30

không còn sống (32) Tỷ lệ mắc bệnh các bệnh về tâm thần và các vấn đề về tâm lý tăng lên khi tình yêu của cha mẹ giảm xuống, sự thiếu thốn tình cảm của cha mẹ làm mất đi sự bình yên về tinh thần của con cái Trong một đánh giá được thực hiện bởi Zgambo và cộng sự vào năm 2012, người ta thấy rằng trẻ em và thanh thiếu niên sống không có cha mẹ biểu hiện các triệu chứng trầm cảm cao hơn so với những người sống với cha mẹ xung quanh họ Trầm cảm giảm do mức độ chăm sóc của cha mẹ cao hơn

và mức độ thờ ơ của cha mẹ thấp hơn Thiếu sự quan tâm, chia sẻ từ bố mẹ đặc biệt là những trẻ có tính cách hướng nội, ngại chia sẻ Ngoài ra, những trẻ sống trong gia đình quá quy tắc, trẻ sẽ càng cảm thấy bị cô lập, ngại chia sẻ cảm xúc, ý kiến của mình với

bố mẹ từ đó tác động lớn đến SKTT và tâm lý xã hội của thanh thiếu niên (8)

 Gia đình quá quy tắc

Trẻ lo lắng sẽ bị bố mẹ la mắng khi không hoàn thành hết các công việc, ngoài

ra cũng sợ bố mẹ chỉ trích nếu đạt điểm kém khi ở trường Đối với những em thuộc giai đoạn giữa của lứa tuổi VTN (trong khoảng từ 15-16 tuổi), “sự kiểm soát” của cha

mẹ ví dụ như hạn chế trẻ ra ngoài với bạn, không chấp thuận các mối quan hệ tình cảm, kiểm soát việc sử dụng điện thoại di động, bắt trẻ ở nhà làm việc nhà, v.v… được xem là căn nguyên chính dẫn đến tình trạng căng thẳng ở trẻ Giáo dục của gia đình liên quan đến những nguyên tắc trong nhà mà con cái phải tuân thủ, cách ăn mặc, giờ giấc đi chơi, học hành và làm việc nhà (7) Khi trẻ ở tuổi VTN, quan hệ cha, mẹ – con bắt đầu trở nên căng thẳng, thậm chí xung đột Những bất đồng giữa họ cũng chủ yếu liên quan đến học tập, làm việc nhà và vui chơi ngoài nhà Đôi khi, các em tỏ ra không hài lòng về cha mẹ của mình, “ ấm ức nhưng không làm gì được”, “cãi không được lại lên giường ngồi”, “muốn bố mẹ hiểu mình, nhưng bố mẹ không nghe, mình chẳng biết làm thế nào” (45,51)

 Gia đình kinh tế quá nghèo hoặc kinh tế sa sút

Điều kiện kinh tế xã hội kém và nghề nghiệp của cha (không làm việc) có liên quan trực tiếp với mức độ DASS (điểm DASS) cao hơn Với sự gia tăng trình độ học vấn của cha mẹ, mức độ DASS ở con cái họ giảm đi (32)

Trầm cảm và căng thẳng là phổ biến ở những người tham gia thuộc gia đình nghèo Tác động trực tiếp và gián tiếp của nghèo đói tương đối có ảnh hưởng xấu đến

sự phát triển của các vấn đề về cảm xúc, hành vi và tâm thần Nghèo đói có hiện tượng

đa chiều, bao gồm không có khả năng đáp ứng các nhu cầu cơ bản, thiếu kiểm soát tài

HUPH

Trang 31

nguyên, thiếu giáo dục và sức khỏe kém Tỷ lệ trầm cảm ở thanh thiếu niên trong gia đình có thu nhập thấp là 45,1%, trong khi đó tỷ lệ này thanh thiếu niên ở những gia đình thu nhập khá 41,9% (16)

1.4.2.2 Nhà trường

 Áp lực học tập

Có bốn nhóm nguyên nhân gây ra tâm lý lo âu ở học sinh: học tập, gia đình, quan hệ xã hội, bản thân học sinh Trong đó vấn đề liên quan đến học tập gây ra tâm lý

lo âu ở các em học sinh nhiều nhất

Nghiên cứu của Phạm Thanh Bình ở học sinh THPT tại Ninh Bình cho thấy việc chưa phân bổ thời gian học tập hợp lý là nguyên nhân dẫn tới stress trong học tập Tác giả Hồ Hữu Tính và Nguyễn Doãn Thành cũng đưa ra kết quả từ nghiên cứu của mình tại Bình Thuận cho rằng áp lực học tập, thi cử và suy nghĩ học thua kém bạn bè ảnh hưởng đến SKTT của VTN Nghiên cứu định tính ở học sinh lớp 12 của Lê Thị Thanh Thuỷ cũng cho thấy các em học sinh cảm thấy căng thẳng vì thời gian học quá nhiều và luôn lo lắng vì thời gian hạn hẹp với lịch học dày đặc (52)

Theo một nghiên cứu của Nguyễn Thị Vân năm 2018 trên 923 học sinh THPT

từ khối 10 đến khối 12 ở 6 trường THPT tại TP Hồ Chí Minh, các biểu hiện của rối loạn lo âu xếp thứ tự đầu tiên là hiện tượng “Tinh thần suy sụp” (37 em, chiếm 74%), thứ 2 là hiện tượng “Lo lắng về những điều bất hạnh rủi ro” (30 em, chiếm 60%), thứ 3

là “Do dự, khó khăn khi đưa ra những quyết định” (24 em, chiếm 48%), thứ 4 là “Thất vọng về bản thân, cảm giác bất lực” (23 em, chiếm 46%), thứ 5 là “Lo sợ bị thất bại, thua kém bạn bè” (21 em, chiếm 42%) Ngoài ra còn một số các biểu hiện khác nhưng

ở mức độ thỉnh thoảng là phần nhiều (35) Có thể nói, những biểu hiện về tâm lí của học sinh khác với người lớn ở chỗ những biểu hiện này thường gắn liền với áp lực của việc học tập, những lo lắng cho tương lai cũng như sự thiếu hụt về quan hệ tình cảm tích cực với người khác Biểu hiện bất thường về tâm lí cùng và sức khỏe sẽ gây ảnh hưởng lớn đến việc học tập và cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của học sinh (35)

Có thể nhận định học tập là nguyên nhân quan trọng và thường xuyên tác động gây nhiều áp lực, căng thẳng cho các em học sinh Kế đến là các nhóm nguyên nhân khác, như: nguyên nhân từ gia đình, bản thân học sinh và các mối quan hệ xã hội Vì thế, việc cải thiện vấn đề học tập của học sinh để các em không còn gặp nhiều khó khăn về áp lực học tập cần được quan tâm (35)

HUPH

Trang 32

 Tệ nạn bắt nạt học đường

Tỷ lệ trầm cảm và căng thẳng là nhiều hơn trong số những người tham gia bị bắt nạt bởi bạn bè hoặc người cao niên của họ Theo nghiên cứu được thực hiện bởi Khawaja et al năm 2015 tại Pakistan cho thấy lạm dụng thể chất (P = 0,05), lạm dụng bằng lời nói (P = 0,003), chấn thương (P = 0,02) và bắt nạt (P <0,001) có liên quan đáng kể đến căng thẳng tâm lý (32)

 Sự quan tâm, chia sẻ giữa nhà trường và học sinh

Do áp lực thành tích, cả học sinh và giáo viên luôn bận rộn với lịch dạy và lịch học Các buổi sinh hoạt ngoại khóa, sinh hoạt lớn được rút ngắn, hoặc cắt bỏ, thay vào

đó là các buổi học thêm Lịch học, lịch dạy bận rộn, tạo nên không khí trường học vội

vã, căng thẳng Sự trao đổi, chia sẻ giữa giáo viên, học sinh, nhà trường đương nhiên

là không còn chỗ trống Nếu một trẻ VTN trải qua nhiều trải nghiệm khó khăn, gặp nhiều sự kiện âm tính trong trường: điểm kém, xích mích với bạn bè, nếu không có điểm tựa, nơi để chia sẻ thì trẻ dễ có các phản ứng tiêu cực: phá phách, bỏ học, gây gổ với bạn bè,… (7,28)

 Tham gia các hoạt động ngoại khóa

Việc tham gia các hoạt động ngoại khóa không những nâng cao được kỹ năng mềm của bản thân mỗi học sinh mà còn tăng cường sự kết nối, chia sẻ giữa các học sinh, giữa học sinh với thầy cô Điều này có tác động tích cực đến SKTT của VTN, giúp các em giải tỏa căng thẳng, lo âu (36)

1.4.2.3 Bạn bè

 Mối quan hệ với bạn bè

Tình cảm yêu đương giữa bạn bè đồng trang lứa, sự đổ vỡ trong tình cảm, sự ngăn cấm từ gia đình là những yếu tố khiến tác động lớn đến tâm lý VTN Trẻ VTN thường tìm kiếm chỗ dựa tình cảm khi gặp khó khăn trong học tập, trong quan hệ với gia đình, với bạn bè và trong những tình huống bất thường (chia sẻ với bạn bè, cha mẹ,…) Vì lứa tuổi này còn đang ngồi trên ghế nhà trường, bạn bè chính là người mà các em tiếp xúc nhiều nhất Chính vì thế sự chia sẻ, điểm tựa bạn bè là điều vô cùng quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách (9,28)

 Sự quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ giữa học sinh và bạn bè

Cũng quan trọng như việc quan tâm chia sẻ với gia đình, người thân, việc chia

sẻ, giúp đỡ giữa bạn bè đồng trang lứa dễ dàng hơn vì là các đối tượng có cùng lứa

HUPH

Trang 33

tuổi có tâm tư tình cảm giống nhau sẽ dễ dàng trong chia sẻ và hiểu nhau hơn (28) Điều này đặc biệt có ý nghĩa ở chỗ nếu như trẻ có được những chỗ dựa vững chắc, có nơi đáng tin cậy để thổ lộ tâm tình, chia sẻ những suy nghĩ của mình thì khi gặp khó khăn sẽ tìm kiếm ở những nơi này sự đồng cảm, cảm thông và an ủi Đây là cách ứng phó cần thiết cho trẻ ở lứa tuổi VTN khi chúng còn chưa có đủ kinh nghiệm sống và sống nặng về tình cảm Nếu như trẻ không có được chỗ dựa tin cậy này thì với đặc điểm phát triển tâm lý còn non nớt của trẻ dễ có những phản ứng bất lợi (7)

Theo tác giả Đặng Thùy Linh ghi nhận trong nghiên cứu của mình năm 2016 thì việc học sinh THPT mắc các vấn đề SKTT có mối liên quan đến mức độ chơi game online, hạnh kiểm ở học kỳ trước không tốt và sức ép học tập quá lớn (52) Một nghiên cứu khác được thực hiện ở 6 trường THPT trên đại bàn TP Hồ Chí Minh vào năm

2018 bởi Nguyễn Thị Vân dùng phương pháp bảng hỏi đo lường lo lắng của học sinh

và kết hợp với phỏng vấn trực tiếp các em, thầy cô và cha mẹ của các em có biểu hiện rối loạn lo âu chỉ ra các nhóm yếu tố nguy cơ chính tạo lo âu của học sinh là việc học tập, yếu tố gia đình, các mối quan hệ xã hội và các yếu tố thuộc về cá nhân các em như

sử dụng mạng xã hội Trong đó, nguyên nhân thuộc phóm sức ép học hành có tác động nhiều nhất đến tình trạng rối loạn lo âu của học sinh Tiếp theo là các nguyên nhân thuộc nhóm gia đình (35)

 Các chuẩn mực xã hội

Đặc biệt là ở khu vực vùng sâu vùng xa, vùng kinh tế khó khăn: con gái không cần học nhiều, lấy chồng sớm,… cũng là những yếu tố tác động lớn tâm lý tuổi VTN (28) Cùng sự phát triển không ngừng của mạng xã hội, các trào lưu, chuẩn mực mang

HUPH

Trang 34

tính tiêu cực lan truyền nhanh chóng đến thế hệ trẻ, làm lệch lạc tư tưởng và để lại những hậu quả mà chúng ta có thể thấy trên báo đài, truyền thông thời gian qua (37) Như vậy, sau khi tổng quan về thực trạng căng thẳng, lo âu, trầm cảm và các yếu tố liên quan ở học sinh ở các nước trên thế giới và Việt Nam, chúng tôi nhận thấy

tỷ lệ stress, lo âu, trầm cảm của học sinh có sự khác biệt do đặc thù của mỗi nơi Tuy nhiên, các yếu tố liên quan đến thực trạng này thì khá tương đồng khi tập trung chủ yếu ở bốn nhóm yếu tố gồm: những yếu tố về cá nhân học sinh, những yếu tố về gia đình học sinh, những yếu tố về nhà trường và những yếu tố xã hội

1.5 Một số công cụ, thang đo đánh giá dấu hiệu căng thẳng, lo âu, trầm cảm

1.5.1 Thang đo trầm cảm Beck

Thang tự đánh giá trầm cảm của Beck (Beck Depression Inventory) được Beck

AT (Mỹ) và cộng sự xây dựng vào năm 1974, gợi ý từ những quan sát lâm sàng bệnh nhân trầm cảm nhất là từ liệu pháp tâm thần Test này được WHO công nhận để đánh giá trạng thái trầm cảm và hiệu quả của các biện pháp điều trị và là test được dùng phổ biến tại Viện SKTT Quốc gia từ năm 1989 (38)

Test Beck bao gồm 21 câu hỏi đánh số thứ tự từ 1 đến 21, mỗi câu có 4 đến 6 mục nhỏ, tổng cộng 95 mục nhỏ Mỗi mục đi sâu khảo sát từng đặc điểm của trầm cảm

ở các mức điểm 0, 1, 2, 3 Kết quả được phân tích theo các mức độ:

 0 điểm: không bao giờ hoặc hiếm khi (<1 ngày/tuần)

 1 điểm: đôi khi (1-2 ngày/tuần)

 2 điểm: thỉnh thoảng (3-4 ngày/tuần)

HUPH

Trang 35

 3 điểm: rất hay xảy ra hoặc xảy ra hầu hết thời gian (5-7 ngày/tuần)

Thang CES – D được thiết kế bao gồm các triệu chứng chính của bệnh trầm cảm được xác định với sự nhấn mạnh vào các thành phần tình cảm: trầm cảm tâm trạng, cảm giác tội lỗi và vô dụng, cảm giác bất lực và tuyệt vọng, chậm phát triển tâm thần, mất cảm giác ngon miệng và rối loạn giấc ngủ (39)

1.5.3 Thang đánh giá trầm cảm của Halminton

Ra đời năm 1960 là một phương pháp đơn giản để đánh giá mức độ nghiêm trọng của tình trạng trầm cảm và để chứng minh những chuyển biến của rối loạn này trong quá trình điều trị Thang điểm được xây dựng dựa trên bộ câu hỏi gồm 14 câu trong đó có 7 câu để đánh giá mức độ trầm cảm và 7 câu đánh giá mức độ lo âu (40) Mỗi câu được đánh giá ở các mức điểm 0, 1, 2, 3 Kết quả được phân tích theo các mức độ

 7 điểm: Bình thường

8 – 10 điểm: Dấu hiệu trầm cảm hoặc lo âu

 21 điểm: Trầm cảm hoặc lo âu thực sự

1.5.4 Thang đo DASS 21

Một trong những thang đo thường được sử dụng để phát hiện các vấn đề về SKTT là thang đo DASS Năm 1995, Lovibond B H và Lovibond P F tại khoa tâm lý học Đại bọc New South Wales, Australia đã kây dựng nên thang đo đánh giá stress, lo

âu và trầm cảm ký hiệu là DASS 42 Đến năm 1997, thang đo này có phiên bản rút gọn là DASS 21

Kể từ khi được giới thiệu vào năm 1995, DASS và mẫu ngắn DASS 21 của nó

đã được sử dụng rộng rãi để đánh giá trầm cảm, lo âu và căng thẳng ở người lớn Phân tích dữ liệu giữa những người trưởng thành sử dụng biện pháp này mang lại kết quả nhất quán về các thuộc tính tâm lý của nó Nó đã được chứng minh là đáng tin cậy và hợp lệ với cấu trúc ba yếu tố Độ tin cậy và giá trị của cả DASS và DASS 21 đã được nhân rộng trong các mẫu lâm sàng, cũng như các mẫu người lớn không lâm sàng Cấu trúc ba yếu tố tương tự đã được nhìn thấy khi biện pháp được sử dụng giữa các nhóm văn hóa và dân tộc đa dạng DASS 21 cũng đã được chứng minh là có hiệu lực đồng thời mạnh mẽ với các biện pháp khác về trầm cảm, lo âu và căng thẳng bao gồm Kiểm

kê Trầm cảm Beck, Kiểm kê Anxiety Beck và Kiểm kê Anxiety Inventory Trait

HUPH

Trang 36

Kết quả đánh giá tính chuẩn phân phối điểm của thang DASS cho thấy điểm trung bình của các đối tượng điều tra có sự cân xứng, các thanh của biểu đồ nằm rất

gần đường cong chuẩn chứng tỏ rằng phân phối là chuẩn Điểm trung bình của thang

DASS được xác định là 22,7 và độ lệch chuẩn là 39,16 chứng tỏ sự phân tán điểm số của HS ở thang DASS xoay quanh điểm trung bình cộng ở mức độ cao; vì vậy, giá trị trung bình điểm của HS có độ tin cậy cao (41) Tính phù hợp của các tiểu mục trong mỗi phần ở cả 2 phiên bản DASS 42 và DASS 21 đều cao (25) Đặc biệt, ở Việt Nam, thang đo DASS 21 đã được chuẩn hóa trên đối tượng là những phụ nữ ở miền Bắc với

hệ số Cronbach’s Alpha khá cao (41)

DASS 21 gồm 21 nhận định chia thành 3 nhóm stress, lo âu, trầm cảm Mỗi

nhóm gồm 7 nhận định Điểm cho mỗi nhận định là từ 0 đến 3 Cụ thể:

 0 Điều này hoàn toàn không xảy ra cho Tôi

 1 Xảy ra cho tôi một phần nào, hay thỉnh thoảng

 2 Thường xảy ra cho Tôi, hay nhiều lần

3 Rất thường xảy ra, hay hầu hết lúc nào cũng có

Sau khi trả lời và cho điểm hết 21 câu hỏi, tổng điểm 21 câu hỏi sẽ được cộng lai và được đánh giá như sau:

Trong nghiên cứu này, thang đo DASS 21 – BẢNG ĐO LƯỜNG MỨC ĐỘ

ƯU SẦU, LO SỢ, CĂNG THẲNG TINH THẦN của Lovibond được sử dụng để xác định tình trạng và mức độ stress của đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) Học viên lựa chọn thang đánh giá DASS 21 bởi vì thang đo này có những ưu điểm:

 Thang đo DASS 21 là thang đo được dịch sang tiếng Việt, đã được xem xét bởi một nhóm các chuyên gia y tế , đã được chuẩn hóa và đáng tin cậy

 Có những bằng chứng chỉ ra rằng DASS 21 có thể sử dụng trong cả lâm sàng

và cộng đồng như ở các quốc gia nói tiếng Anh như Anh, Úc, Hoa Kỳ, Canada Cả hai phiên bản tiếng Anh và không phải tiếng Anh đều có tính nhất quán cao (41)

HUPH

Trang 37

 Tính khách quan: Kết quả đo của trắc nghiệm không phụ thuộc vào mối quan

hệ riêng tư giữa nhà lâm sàng và nghiệm thể

 Độ tin cậy: Trắc nghiệm đo cho những kết quả giống nhau qua nhiều lần thực hiện trên cùng một nghiệm thể

 Tính quy chuẩn: Cách tiến hành xử lý kết quả, các bước thực hiện, các cách cho điểm và kết luận đều được quy định chặt chẽ (42)

1.6 Một số thông tin về nghiên cứu gốc và địa bàn nghiên cứu

Hà Nội có dân số khoảng 7 triệu người; với 12 quận nội thành và 18 huyện ngoại thành Theo chỉ tiêu kế hoạch tuyển sinh lớp 10 năm học 2019 – 2020 của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, năm 2019, Hà Nội ước tính có khoảng 67.235 học sinh lớp 10 học tại các trường THPT công lập và công lập tự chủ

Chương trình Happy House (Ngôi nhà Hạnh Phúc - HH) được điều chỉnh từ chương trình gốc Resources Adolescene do nhóm tác giả Ian Schohet và cộng sự phát triển Chương trình đã được áp dụng trên hơn 20 quốc gia từ năm 1997 và đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra chương trình đã đóng vai trò quan trọng làm giảm các triệu chứng trầm cảm, tăng các kỹ năng ứng phó thúc đẩy các khía cạnh tích cực về SKTT Chương trình Happy House là một chương trình trải nghiệm, xây dựng và nâng cao khả năng ứng phó, phục hồi, đương đầu hiệu quả với những tình huống căng thẳng và khó khăn Liệu pháp hành vi nhận thức (CBT) và Liệu pháp Liên cá nhân (IPT) là hai

cơ sở lý thuyết nền tảng chính để xây dựng chương trình Đây là 2 trong số những can thiệp tâm lý xã hội tốt nhất cho trầm cảm và một số vấn đề về SKTT ở VTN Chương trình tập trung vào các kỹ năng giữ bình tĩnh, tái cấu trúc nhận thức, và giải quyết vấn

đề để tăng khả năng ứng phó, nhấn mạnh tầm quan trọng của thúc đẩy sự hòa hợp, giải quyết các xung đột và những tranh chấp bằng cách phát triển khả năng hiểu biết quan điểm của người khác

Chương trình được thiết kế là thử nghiệm ngẫu nhiên có nhóm chứng được triển khai tại 8 trường THPT công lập được lựa chọn ngẫu nhiên trên địa bàn TP Hà Nội (trong đó có 4 trường được tiến hành can thiệp và 4 trường chứng) Mục tiêu của nghiên cứu gốc là thích ứng nội dung chương trình can thiệp, triển khai can thiệp và đánh giá kết quả can thiệp đối với việc cải thiện SKTT của học sinh lớp 10 Nghiên cứu gốc dự kiến diễn ra trong vòng 3 năm và chia làm 4 giai đoạn: điều tra ban đầu, can thiệp và điều tra sau can thiệp 2 lần (lần 1 trong vòng 2 tuần đầu sau khi chương

HUPH

Trang 38

trình can thiệp kết thúc và lần 2 diễn ra sau đó khoảng 6 tháng) Đối tượng của nghiên cứu là học sinh lớp 10 và cỡ mẫu dự kiến của nghiên cứu gốc khoảng 540 học sinh cho nhóm chứng (từ 4 trường THPT trong đó có 2 trường nội thành và 2 trường ngoài thành) và 540 học sinh cho nhóm can thiệp (cũng từ 4 trường THPT trong đó có 2 trường nội thành và 2 trường ngoài thành)

Trong nghiên cứu gốc này, học viên được phép tham gia vào giai đoạn 1, tức giai đoạn điều tra ban đầu Nhiệm vụ của học viên trong giai đoạn này là: tham gia thu

thập số liệu, làm sạch, nhâp số liệu Học viên đã được phép của chủ nhiệm đề tài (Phụ

lục 3) sử dụng các số liệu thu thập được trong vòng điều tra ban đầu từ 4 trường THPT

khu vực ngoại thành của dự án để làm luận văn tốt nghiệp với mục tiêu mô tả thực trạng stress, lo âu, trầm cảm và một số yếu tố liên quan Nội dung nghiên cứu này của học viên không trùng với nội dung nghiên cứu của dự án gốc

Trong nghiên cứu gốc cũng như nghiên cứu của học viên, 4 trường THPT công lập ngoại thành Hà Nội được lựa chọn là các trường nằm trên địa bàn hai huyện Đông Anh và huyện Sóc Sơn Cụ thể huyện Đông Anh gồm 2 trường THPT Liên Hà và Vân Nội; Huyện Sóc Sơn gồm 2 trường THPT Kim Anh và Đa Phúc

Đông Anh và Sóc Sơn là hai huyện ngoại thành nằm ở vị trí cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, giáp các tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh Huyện Đông Anh có diện tích đất tự nhiên là 18.230 ha, trong đó 50% là diện tích đất nông nghiệp Trên địa bàn huyện có 23 xã, 1 thị trấn với dân số khoảng trên 331.000 người Trong khi đó, tuy có dân số ít hơn (chưa đến 300.000 người) nhưng huyện Sóc Sơn lại có diện tích lớn hơn nhiều so với huyện Đông Anh (hơn 30.000 ha) Huyện Sóc Sơn được chia thành 26 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Sóc Sơn và 25 xã

Trường THPT Liên Hà và Vân Nội lần lượt nằm trên địa bàn hai xã Liên Hà và

xã Vân Nội, huyện Đông Anh Theo số liệu ban đầu từ các trường, năm học 2019 –

2020, khối lớp 10 của trường THPT Liên Hà có 15 lớp với tổng số học sinh là 681; khối lớp 10 của trường THPT Vân Nội có 13 lớp với tổng số học sinh là 675 Trong khi đó, trường THPT Kim Anh và Đa Phúc là hai trường thuộc địa bàn các xã Thanh Xuân và thị trấn Sóc Sơn, huyện Sóc Sơn Năm học 2019 – 2020, trường THPT Kim Anh có 11 lớp thuộc khối lớp 10 với tổng số học sinh là 500 em; trường THPT Đa Phúc có 13 lớp thuộc khối lớp 10 với tổng số 596 học sinh

HUPH

Trang 39

1.7 Khung lý thuyết

Khung lý thuyết của nghiên cứu được xây dựng dựa trên việc tổng quan một số nghiên cứu đã được tiến hành liên quan tới chủ đề, các tiêu chí xác định tình trạng căng thẳng, lo âu, trầm cảm theo bộ câu hỏi DASS 21 và lý thuyết mô hình sinh thái

3 nhóm yếu tố liên quan được lựa chọn để đo lường và đưa vào phân tích được thể hiện và bôi đậm trong khung lý thuyết bao gồm: các yếu tố cá nhân (đặc điểm nhân khẩu học, tình hình sức khỏe, các hành vi liên quan đến sức khỏe); các yếu tố gia đình (đối tượng cùng sinh sống, số anh chị em, trình độ học vấn cao nhất của bố mẹ, nghề nghiệp chính của bố mẹ, tài sản sở hữu của gia đình) và các yếu tố nhà trường (áp lực học tập, tiền sử bị phạt do vi phạm nội quy của nhà trường, các hình thức xử phạt đã từng phải nhận do vi phạm nội quy của nhà trường, mối gắn kết với nhà trường)

- Các hình thức xử phạt đã từng phải nhận do vi phạm nội quy của nhà trường

- Mối gắn kết với nhà trường

Căng thẳng, lo âu và trầm cảm ở học sinh lớp

10 tại 4 trường Trung học phổ thông công lập ngoại thành Hà Nội

Trang 40

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của nghiên cứu gốc

Luận văn của học viên dựa trên một phần số liệu thu thập được từ vòng thu thập

số liệu ban đầu của nghiên cứu gốc được thu thập từ tháng 10/2020 đến tháng 11/2020

Đối tượng nghiên cứu của nghiên cứu gốc là học sinh lớp 10 tại 8 trường

THPT công lập nội và ngoại thành của TP Hà Nội, năm học 2019 – 2020

 Tiêu chí lựa chọn:

 Các em học sinh tuổi từ 15 đến 18, học tại các lớp được chọn

 Đối tượng đồng ý và được cha/mẹ đồng ý cho phép tham gia nghiên cứu

 Tiêu chí loại trừ: Đối tượng không có mặt tại trường vào thời điểm tiến hành thu thập số liệu

Thời gian thu thập số liệu của nghiên cứu gốc diễn ra từ tháng 10/2020 đến

tháng 11/2020

Địa điểm nghiên cứu của nghiên cứu gốc là 8 trường THPT công lập của TP

Hà Nội Cụ thể gồm các trường: Liên Hà, Kim Anh, Hoàng Văn Thụ, Quang Trung, Vân Nội, Đa Phúc, Việt Nam - Ba Lan, Kim Liên

Thiết kế của nghiên cứu gốc: Thử nghiệm ngẫu nghiên có nhóm chứng

Cỡ mẫu của nghiên cứu gốc: 1084 học sinh của 24 lớp 10 thuộc 8 trường

THPT Trong đó có 541 học sinh thuộc 4 trường THPT nội thành và 543 học sinh thuộc 4 trường THPT ngoại thành TP Hà Nội

Chọn mẫu của nghiên cứu gốc: chọn ngẫu nhiên 2 quận nội thành và 2 huyện

ngoại thành của TP Hà Nội Tại mỗi quận/huyện, chọn ngẫu nhiên 1 trường đưa vào nhóm chứng, 1 trường đưa vào nhóm can thiệp Mỗi trường, lựa chọn ngẫu nhiên 3 lớp thuộc Khối 10 Toàn bộ học sinh của 3 lớp được lựa chọn tham gia nghiên cứu

Hình 2.1: Sơ đồ chọn mẫu của nghiên cứu gốc

HUPH

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm