TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO CỦA NGƯỜI CAO TUỔI MẮC TĂNG HUYẾT ÁP TẠI XÃ THANH TÙNG, HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI HUPH... Một số yếu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
LÊ CÔNG PHƯỚC
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO CỦA NGƯỜI CAO TUỔI MẮC TĂNG HUYẾT ÁP TẠI
XÃ ĐOÀN TÙNG, HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƯƠNG
NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2015HUPH
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG TAI BIẾN MẠCH MÁU
NÃO CỦA NGƯỜI CAO TUỔI MẮC TĂNG HUYẾT ÁP TẠI
XÃ THANH TÙNG, HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI
HUPH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành đề tài nghiên cứu này, em đã nhận được sự dậy bảo quý báu của quý thầy cô giáo và sự giúp đỡ của gia đình và bạn bè đồng nghiệp và nhân dân trên địa bàn nghiên cứu
Trước hết em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến tiến sĩ Nguyễn Văn Triệu và thạc sĩ Trần Khánh Long là những người thầy đã tận tình dậy bảo, hướng dẫn, giúp đỡ và động viên em hoàn thành đề tài này
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng đào tạo sau đại học, các thầy cô trong trường Đại học y tế công cộng đã có nhiều công sức đào tạo, giúp
đỡ em trong trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Em xin chân thành cảm ơn trung tâm y tế huyện Thanh Miện, Trạm y tế và UBND xã Thanh Tùng đã tạo điều kiện và giúp đỡ nhiệt tình em trong quá trình làm nghiên cứu tại địa phương
Sau cùng, em xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, những người bạn thân thiết đã luôn động viên và giúp đỡ em trong quá trình học tập và hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Học viên
Lê Công Phước
HUPH
Trang 4DANH MỤC VIẾT TẮT
TBMMN Tai biến mạch máu não
ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 8
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 10
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 11
1.1 Một số thông tin về người cao tuổi 4
1.2 Một số khái niệm về tăng huyết áp và phân loại tăng huyết áp 5
1.3 Một số thông tin về TBMMN 8
1.4 Tình hình tai biến mạch máu não trên thế giới và tại Việt Nam 21
1.5 Tổng hợp các nghiên cứu về kiến thức, thực hành phòng tai biến mạch máu não 23
1.6 Một số thông tin về địa bàn nghiên cứu và chương trình phòng chống tăng huyết áp 21
1.7 Khung lý thuyết 23
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tương nghiên cứu 29
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 29
2.3 Thiết kế nghiên cứu 29
2.4 Mẫu và cách chọn mẫu nghiên cứu 29
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 30
2.6 Phương pháp nhập và phân tích số liệu 30
2.7 Các biến số của nghiên cứu 31
2.8 Thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 37
2.9 Phương pháp phân tích số liệu 37
2.10 Đạo đức nghiên cứu 38
2.11 Hạn chế trong nghiên cứu, sai số và các biện pháp khắc phục 38
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 40
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 40
3.2 Thực trạng kiến thức, thực hành phòng tai biến mạch máu não của đối tượng nghiên cứu 39
3.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng tai biến mạch máu não của đối tượng nghiên cứu 53
HUPH
Trang 63.4 Phân tích đa biến……… 57
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN……… 61
4.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu… 61
4.2 Kiến thức phòng tai biến mạch máu não 63
4 3 Thực hành phòng tai biến mạch máu não……… 67
4.4 Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng tai biến mạch máu não…… … 69
4.5 Bàn luận về một số điểm mạch và hạn chế trong nghiên cứu … 70
KẾT LUẬN 72
KHUYẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
PHỤ LỤC 80
HUPH
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 40
Bảng 3.2 Thông tin chung về bệnh tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu 41
Bảng 3.3 Sự quan tâm, hỗ trợ của gia đình với việc điều trị phòng biến chứng tai biến mạch máu não 42
Bảng 3.4 Kiến thức chung về phòng tai biến mạch máu não của đối tượng nghiên cứu 39
Bảng 3.5 Kiến thức về thói quen làm tăng nguy cơ bị tai biến mạch máu não 40
Bảng 3.6 Kiến thức về cách thức phòng tai biến mạch máu não 42
Bảng 3.7 Kiến thức chung về phòng biến chứng tai biến mạch máu não 44
Bảng 3.8.Thực hành điều trị tăng huyết áp và khám sức khỏe định kỳ của ĐTNC 48
Bảng 3.9: Thực hành kiểm tra huyết áp của ĐTNC có tiến hành điều trị…… 47
Bảng 3.10 Đánh giá thực hành các biện pháp tích cực thay đổi lối sống 51
Bảng 3.11 Có cơn tăng huyết áp kịch phát 49
Bảng 3.12.Thực hành phong TBMMN bằng thay đổi tư thế 50
Bảng 3.13 Thực hành chung về phòng biến chứng TBMMN 50
Bảng 3.14 Nhu cầu tiếp cận thông tin về TBMMN của đối tượng nghiên cứu 52
Bảng 3.15: Các yếu tố liên quan đến kiến thức phòng tai biến mạch máu não 53
Bảng 3.16 Các yếu tố liên quan đến thực hành phòng tai biến mạch máu não 55
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành phòng TBMMN 56
Bảng 3.18: Mô hình hồi quy Logistic và mối liên quan giữa một số yếu tố và kiến thức phòng TBMMN……… ……57
Bảng 3.19: Mô hình hồi quy Logistic và mối liên quan giữa một số yếu tố và thực hành phòng TBMMN 59
HUPH
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1 Kiến thức của ĐTNC về dấu hiệu báo trước của TBMMN…… 41
Biểu đồ 2 Kiến thức của ĐTNC về yếu tố nguy cơ TBMMN 447
Biểu đồ 3 Thực hành về nguyên tắc điều trị tăng huyết áp……… 46
Biểu đồ 4 Thực hành xử trí khi gặp cơn tăng huyết áp kịch phát……… 49
Biểu đồ 5 Nội dung thông tin về TBMMN 51
HUPH
Trang 9TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Xã Thanh Tùng nằm ở phía Tây Bắc của huyện Thanh Miện, chương trình phòng chống tăng huyết áp (THA) được triển khai trên địa bàn xã từ năm 2013, với mục tiêu là phát hiện sớm bệnh nhân THA để có chiến lược theo dõi và điều trị kịp thời Đối tượng khám sàng lọc THA là người từ 40 trở lên Năm 2010 huyện Thanh Miện phát hiện 3.083 người bị THA Theo thống kê bệnh tật và tử vong, trong 3 năm gần đây tại xã thì TBMMN luôn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở NCT đặc biệt
ở những người bị THA, tỷ lệ tử vong do TBMMN có xu hướng gia tăng qua các năm trên địa bàn xã, trước thực trạng trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu:
"Kiến thức, thực hành phòng tai biến mạch máu não của người cao tuổi mắc tăng huyết áp tại xã Thanh Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương năm 2015”
Nghiên cứu có 2 mục tiêu chính: 1 Mô tả kiến thức, thực hành phòng tai biến mạch
máu não của người cao tuổi mắc tăng huyết áp tại xã Thanh Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương năm 2015; 2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng tai biến mạch máu não của người cao tuổi mắc tăng huyết áp tại xã Thanh Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương năm 2015
Nghiên cứu cắt ngang có phân tích được tiến hành từ tháng 11/2014 đến 10/2015 trên 195 đối tượng là người cao tuổi mắc tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại TYT xã Thanh Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn được thiết kế sẵn, các phiếu trả lời phỏng vấn được mã hóa, nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ người bị THA tại xã Thanh Tùng có kiến
thức đạt về phòng biến chứng TBMMN là 62,1% Tỷ lệ người bị THA tại xã Thanh Tùng có thực hành đạt về phòng biến chứng TBMMN là 64,6% Các yếu tố liên quan
có ý nghĩa thống kê đến kiến thức phòng TBMMN của NCT mắc THA là: Trình độ học vấn và nhóm tuổi (p < 0,05) Các mối liên quan có ý nghĩa thống kê đến thực hành phòng TBMMN là: Cơ cấu gia đình và gia đình có người bị THA (p < 0,05)
Khuyến nghị: Từ những kết quả trên, chúng tôi đưa ra một số khuyến nghị như:
Ngành y tế cần tăng cường công tác truyền thông, tư vấn cho bệnh nhân THA nhằm nâng cao kiến thức, thực hành của bệnh nhân về bệnh THA và phòng biến chứng của
HUPH
Trang 10THA Hình thức tuyên truyền sâu rộng trên toàn địa bàn xã: Hội NCT, hội cựu chiến binh, hội phụ nữ, CBYT của chương trình phòng chống THA cần chủ động hơn trong
tư vấn cho các đối tượng bệnh nhân mới mắc bệnh, bệnh nhân chưa từng gặp biến chứng của THA Bệnh nhân cần chủ động hơn nữa trong việc nâng cao kiến thức, thực hành về phòng biến chứng của THA, cần tiến hành thêm các nghiên cứu trên cộng đồng để tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này
HUPH
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai biến mạch máu não (TBMMN) hay đột quỵ là bệnh có căn nguyên từ mạch máu não, là nguyên nhân hàng đầu gây nên tàn tật và tử vong trên thế giới.TBMMN thường xảy ra ở người cao tuổi đặc biệt là người mắc THA [7], [8], TBMMN ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, công việc, sinh hoạt của người bệnh, là một gánh nặng về y
tế, kinh tế cho gia đình, cộng đồng và toàn xã hội [27], [34], [45]
Trên thế giới, TBMMN hiện nay tiếp tục gia tăng, theo Giáo sư Stephen Davis, mỗi năm ước tính có khoảng 16,9 triệu người bị TBMMN trong đó có 5,9 triệu người tử vong
và trên 80% trường hợp sống để lại tàn tật suốt cuộc đời [9], [13] TBMMN trước đây thường phổ biến ở các nước phát triển Tuy nhiên, theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), tỷ
lệ mắc và tử vong do TBMMN ở các nước đang phát triển đang tăng lên đáng kể Ước tính 86% các ca tử vong do TBMMN ở các nước có thu nhập thấp và trung bình Gánh nặng bệnh tật do TBMMN ở các nước có thu nhập thấp và trung bình cao hơn 7 lần so với nước có thu nhập cao [59] TBMMN tiếp tục gia tăng, theo WHO, dự kiến đến năm
2030 trên toàn thế giới mỗi năm có 12 triệu người tử vong do TBMMN [54]
Ở Việt Nam, theo GS.TS Lê Văn Thành, mỗi năm có 200.000 người mắc TBMMN, trong đó 104.800 người tử vong [9] Theo GS.TS Lê Đức Hinh, Chủ tịch Hội Thần kinh học Việt Nam, tỷ lệ mới phát hiện hàng năm là 200/100.000 dân, ở lứa tuổi 30 đến 40 tỷ
lệ đó là 30/100.000, trên 85 tỷ lệ là 3.000/100.000 Thống kê một số bệnh viện Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cho thấy khoảng 6,6% đến 18% bệnh nhân tử vong trong giai đoạn cấp [13], [21] Trong khi đó, việc phát hiện ra TBMMN sớm từ những dấu hiệu cảnh báo góp phần cứu chữa kịp thời cho người bị TBMMN [12] Điều tra dịch tễ một số tỉnh, thành phố trong thập kỷ gần đây cho thấy TBMMN đang tăng lên nhanh chóng NCT là đối tượng có nguy cơ cao bị TBMMN Vì vậy, nâng cao hiểu biết của nhóm đối tượng này là việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc phòng, kiểm soát yếu tố nguy cơ và hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra do TBMMN [6], [8], [14] Thanh Miện là huyện thuần nông, dân số là 126.819 người, trong đó NCT trong toàn huyện là 13.867 người Chương trình mục tiêu quốc gia về phòng chống THA trên địa bàn huyện triển khai từ 2013 [2] Thanh Tùng là xã được triển khai đầu tiên về dự án
HUPH
Trang 12phòng chống THA từ năm 2013 Trong 3 năm gần đây, tỷ lệ tử vong do TBMMN luôn đứng hàng đầu trong các nguyên nhân tử vong của NCT tại xã Theo báo cáo quý IV năm
2014, trên địa bàn xã có dân số là 6.364 người, có 780 NCT chiếm tỷ lệ 12,3% dân số, trong đó có 275 người mắc THA, 13 người có di chứng do TBMMN [3] Thông tin tuyên truyền phòng chống THA đến mọi người trong toàn xã thường thông qua những hoạt động khám sức khỏe định kỳ cho NCT, nội dung tuyên truyền chủ yếu là về các biến chứng nguy hiểm của THA, trong khi đó những thông tin quan trọng, trong việc phòng TBMMN như các dấu hiệu cảnh báo, các yếu tố nguy cơ, cách phòng bệnh cũng như xử trí ban đầu TBMMN, lại ít được đề cấp đến TBMMN vẫn luôn là vấn đề lớn của y tế công cộng, người có tiền sử THA là đối tượng có nguy cơ cao bị TBMMN Hiểu biết về phòng, điều trị TBMMN ở đại bộ phận người THA vẫn còn rất hạn chế, vì vậy việc nâng cao hiểu biết về dự phòng TBMMN cho nhóm đối tượng này là việc làm rất cần thiết và
có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc dự phòng TBMMN tại cộng đồng Do vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu:
“ Kiến thức, thực hành phòng tai biến mạch máu não của người cao tuổi mắc tăng
huyết áp tại xã Thanh Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương năm 2015”
HUPH
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả kiến thức, thực hành phòng tai biến mạch máu não của người cao tuổi mắc
tăng huyết áp tại xã Thanh Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương năm 2015
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng tai biến mạch máu não của người cao tuổi mắc tăng huyết áp tại xã Thanh Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương năm 2015
HUPH
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số thông tin về người cao tuổi
1.1.1 Khái niệm về người cao tuổi
Theo WHO toàn bộ người có độ tuổi đủ từ 60 tuổi trở lên, không phân giới tính được coi là người cao tuổi và phân chia thành các nhóm tuổi sau [60]:
+ 60 – 74 tuổi: Người cao tuổi
+ 75 – 90 tuổi: Người già
+ > 90 tuổi: Người già sống lâu
Ở Việt Nam, theo pháp lệnh NCT của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 28/4/2000, số 23/200/PL-UBTVQH quy định NCT là người có quốc tịch Việt Nam từ 60 tuổi trở lên không phân biệt giới tính [25]
1.1.2 Người cao tuổi trên thế giới và Việt Nam
Trên thế giới
WHO và hội nghị thế giới lần thứ II về NCT tại Madrid, Tây Ban Nha, ngày 8/12/2002 nhận định rằng, thế giới sẽ có một sự chuyển đổi nhân khẩu học chưa từng có
và đến năm 2025 số NCT sẽ tăng từ 600 triệu lên khoảng 1, 2 tỷ, dự kiến đến năm 2050
sẽ tăng lên 2 tỷ Mức tăng cao nhất và nhanh nhất sẽ diễn ra ở các nước đang phát triển
và 80% NCT trên thế giới sẽ sống tại các nước đó [60]
Tại Việt Nam
Theo dự báo của Liên hiệp quốc (2008) mô tả biến động về dân số Việt Nam theo
cơ cấu tuổi giai đoạn 2010 – 2050, tỷ lệ NCT sẽ tăng mạnh từ năm 2015 và đạt mức 26,1% tổng dân số vào năm 2050 Ở nước ta, với những nét đặc thù của những nước đang phát triển, cùng với sự phát triển về kinh tế - xã hội thì tuổi thọ của con người ngày càng đươc nâng cao và số NCT ngày càng tăng, cơ cấu dân số nước ta đang bước vào cơ cấu
dân số già Theo điều tra dân số năm 2011, tỷ lệ người cao tuổi (trên 60 tuổi) của Việt
Nam đã hơn 8,6 triệu người, chiếm gần 10% dân số, tỷ lệ NCT trên 65 tuổi chiếm 7% dân
số [25]
HUPH
Trang 151.1.3 Những thay đổi về tâm sinh lý và bệnh lý ở người già
Già là quá trình sinh học và quá trình hóa già xảy ra trong cơ thể với các mức độ khác nhau làm giảm hiệu lực các cơ chế tự điều chỉnh của cơ thể, giảm khả năng thích nghi bù trừ, do đó khó đáp ứng được đòi hỏi của sự sống Trong quá trình già hóa, khả
năng thích nghi với mọi biến đổi của môi trường xung quanh ngày càng bị rối loạn (thích nghi với nóng, lạnh, các tác nhân tâm lý ), không phù hợp và không kịp thời Ở NCT có
nhiều biến đổi và thường thấy những khác biệt giữa những người trong cùng lứa tuổi
(cùng đội tuổi có người huyết áp thấp, có người huyết áp cao, có người mắt đã mờ, có người mắt vẫn còn tinh ), mặc dù có những điều khác biệt đó nhưng tất cả những người
cao tuổi đều có đặc điểm chung là sự giảm sút khả năng thích nghi với những thay đổi của môi trường xung quanh, đó là dấu hiệu bao giờ cũng có ở NCT
1.2 Một số khái niệm về tăng huyết áp và phân loại tăng huyết áp
1.2.1 Khái niệm về huyết áp
Huyết áp (HA) là áp lực máu động mạch do tim co bóp đẩy máu từ thất trái vào hệ động mạch, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng từ lực cản của thành động mạch Kết quả làm cho máu được lưu thông đến các tế bào để cung cấp oxy và các chất dinh dưỡng cho nhu cầu cơ thể
Khi tim co bóp tống máu, áp lực động mạch tăng lên đạt mức cao nhất gọi là huyết
áp tâm thu (HATT) hay HA tối đa
Khi tim nghỉ, áp lực đó xuống đến mức thấp nhất gọi là huyết áp tâm trương (HATTr) hay HA tối thiểu [15]
1.2.2 Tăng huyết áp và phân loại tăng huyết áp
Khái niệm về tăng huyết áp
Theo WHO, một người lớn bị THA thực sự khi HA tối đa, HA tâm thu (HATT) ≥
140 mmHg và/ hoặc HA tối thiểu, HA tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ áp hàng ngày hoặc có ít nhất 2 lần được bác sĩ chẩn đoán là THA [59] THA
là một triệu chứng của nhiều bệnh, nhiều nguyên nhân, nhưng cũng có thể là bệnh THA nếu không tìm ra nguyên nhân Đây không phải là tình trạng bệnh lý độc lập mà là một
HUPH
Trang 16rối loạn với nhiều nguyên nhân, các triệu chứng đa dạng và do đó đáp ứng với điều trị
cũng rất khác nhau
Phân loại tăng huyết áp
Trong những năm gần đây, phân loại THA cũng có nhiều thay đổi Năm 2003, theo Liên ủy quốc gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá và điều trị THA (JNC – Join National committee) lần thứ VII, THA được chia như sau: Chỉ số HA bình thường ở JNC
VI là < 140/90 mmHg, ở JNC VII hạ xuống còn 120/80 mmHg Các chỉ số HA 120 – 139/80 – 89 không còn được coi là HA bình thường mà gọi là tiền THA [58]
- Tăng huyết áp giai đoạn I vẫn được giữ nguyên là 140 – 159/90 – 99 mmHg JNC VII bỏ qua khái niệm HA bình thường cao
- Tăng huyết áp giai đoạn II, III nay được JNC VII gộp lại thành THA giai đoạn
II, HATT ≥ 160 mmHg hoặc HATTr ≥ 100 mmHg, vì tỷ lệ biến chứng không khác nhau
rõ ràng và thái độ xử trí giống nhau [58]
Năm 2010, Bộ Y tế ban hành “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị THA” Theo đó,
THA được phân loại như sau [4] ( phụ lục 3)
Như vậy, phân độ HA của Bộ Y tế Việt Nam (2010) gần giống với JNC VI (1997) Chỉ khác là: Ở phân độ của Bộ Y tế thay tên HA bình thường cao bằng tiền THA, nhưng chỉ số thì vẫn không đổi 120 - 139 mmHg hoặc 85 - 89 mmHg Và ở phân độ HA của Bộ Y tế có thêm khái niệm THA tâm thu đơn độc HATT ≥ 140 mmHg, HATTr < 90 mmHg
Tăng huyết áp là một bệnh không phải lúc nào cũng tìm ra nguyên nhân Vì vậy người ta phân ra làm 2 loại:
Tăng huyết áp nguyên phát: Là các trường hợp THA không tìm thấy nguyên nhân,
gọi là bệnh THA Bệnh THA chiếm tới 90% - 95% trong tổng số người bị THA Các nhà khoa học nhận thấy, có một số yếu tố tác động, phối hợp gây bệnh và liên quan đến sự hình thành, tiến triển của THA nguyên phát, còn được gọi là yếu tố nguy cơ như: ăn mặn, béo phì, uống nhiều rượu/ bia, hút thuốc lá/ thuốc lào, ít hoạt động thể lực Các yếu tố trên có thể phối hợp với nhau ngay trên cùng một bệnh nhân, càng nhiều yếu tố tác động
HUPH
Trang 17phối hợp với nhau thì tiến triển của bệnh và nguy cơ TBMMN do THA càng nhiều, tiên lượng của bệnh càng xấu
Tăng huyết thứ phát: Là các trường hợp THA xảy ra do một bệnh khác, gọi là
THA triệu chứng Trong các trường hợp THA thứ phát, người ta tìm thấy nguyên nhân làm cho HA tăng cao, nếu được điều trị bệnh chính thì HA sẽ trở lại bình thường
Bảng phân loại THA theo (JNC – Join National committee) lần thứ VI (1997),
JNC (2003) và phân độ THA của Bộ Y tế (2010) [54], [58, [4] (phụ lục 3)
1.2.3 Tình hình tăng huyết áp trên thế giới và Việt Nam
Trên thế giới
Tăng huyết áp là một bệnh mạn tính phổ biến trên thế giới Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO), THA là một trong sáu yếu tố nguy cơ chính ảnh hưởng tới phân bố gánh nặng bệnh tật toàn cầu [59] Trên thế giới, khoảng 62% các bệnh mạch máu não và 49% bệnh thiếu máu cục bộ là do THA [61] Theo báo cáo của WHO (2002), THA ước tính là nguyên nhân gây tử vong cho 7,1 triệu người trẻ tuổi và chiếm 4,5% gánh nặng bệnh tât trên toàn cầu (64 triệu người sống trong tàn phế) [61]
THA là bệnh mạn tính phổ biến và là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn cầu Ước tính, mỗi năm trên thế giới có khoảng 9,4 triệu trường hợp
tử vong do các biến chứng của THA [62] Cùng với sự gia tăng và già hoá dân số, số người bị THA không kiểm soát tăng lên từ 600 triệu năm 1980 đến gần 1 tỷ năm 2008 Con số này được dự đoán sẽ tiếp tục tăng và đạt khoảng 1,56 tỷ người vào năm 2025 [56], [58]
Tại Việt Nam
Tỷ lệ THA cũng có xu hướng ngày càng gia tăng Theo điều tra dịch tễ học bệnh THA của Giáo sư Trần Đỗ Trinh và cộng sự (1993), tỷ lệ THA là 11,7%, tỷ lệ THA tăng lên theo nhóm tuổi, THA ở nam cao hơn ở nữ (12,2% so với 11,2%) [18] Nghiên cứu của Nguyễn Văn Triệu (2008) tiến hành trên 1226 đối tượng là người dân tại tỉnh Hải Dương cho thấy có 16,6% mắc THA [19] Như vậy, để quản lý và giám sát bệnh THA hiệu quả ở cộng đồng, cần phối hợp việc điều trị thuốc hạ áp với những biện pháp can thiệp các yếu tố nguy cơ THA nhằm thay đổi các hành vi lối sống theo chiều hướng có
HUPH
Trang 18lợi cho người THA Điều kiện quyết định là phải nâng cao nhận thức, tìm hiểu các rào cản trong suy nghĩ và thực hành của người dân để có thể xây dựng, thay đổi và điều chỉnh các biện pháp giáo dục sức khoẻ phù hợp và có hiệu quả với từng địa phương
1.3 Một số thông tin về TBMMN
1.3.1 Khái niệm về tai biến mạch máu não
Theo định nghĩa của WHO: TBMMN là dấu hiệu lâm sàng có tính chất khu trú hoặc lan tỏa của rối loạn chức năng của não, phát triển một cách đột ngột, kéo dài trên 24 giờ hoặc lâu hơn hoặc dẫn đến tử vong, không có căn nguyên nào khác ngoài căn nguyên
từ mạch máu não [16], [23], [49]
Như vậy theo định nghĩa này những cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua với các triệu chứng tồn tại dưới 24 giờ và những bệnh nhân có triệu chứng của TBMMN có nguyên nhân từ chảy máu dưới màng cứng, u não, ung thư não, nhiễm độc hoặc chấn thương bị loại trừ [49]
1.3.2 Phân loại tai biến mạch máu não
Tai biến mạch máu não do nhồi máu
Nhồi máu não hay còn gọi là thiếu máu não cục bộ chiếm 80% - 85% các trường hợp TBMMN, TBMMN thường gặp các bệnh lý về THA, tim mạch, cholesterol máu cao, đái tháo đường…
Nhồi máu não xảy ra khi một mạch máu bị hẹp nặng hoặc bị tắc nghẽn làm giảm lưu lượng máu lên não, hậu quả là khu vực được tưới máu bởi mạch máu đó bị thiếu máu dẫn đến hoại tử
Tai biến mạch máu não do tắc động mạch não thường được cảnh báo bởi những cơn thiếu máu thoáng qua với các triệu chứng giống như triệu chứng của TMMMN Tuy nhiên do cục máu tắc không bền chắc và có thể tan ra nên bệnh nhân có thể hồi phục hoàn toàn trong 24 giờ [20]
Tai biến mạch máu não do chảy máu não
Chảy máu não chiếm 15% - 20% các trường hợp TBMMN Nguyên nhân chủ yếu
là do THA và xơ vữa, xơ cứng động mạch, dù là TBMMN do nhồi máu não hay chảy máu não đều xảy ra tình trạng thiếu oxy cho tế bào não tại nơi bị tổn thương dẫn đến rối
HUPH
Trang 19loạn chuyển hóa, tạo nên một vòng xoắn bệnh lý, làm tình trạng thiếu oxy ngày trở nên trầm trọng [7]
1.3.3 Các dấu hiệu cảnh báo tai biến mạch máu não
Các báo cáo chỉ ra rằng kiến thức về dấu hiệu cảnh báo TBMMN có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong phát hiện sớm và tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế trong “Thời gian vàng” của bệnh Theo khuyến cáo của hội Đột quỵ thế giới, nếu một người bình thường khi thấy một hoặc nhiều triệu chứng sau thì cần cảnh giác về khả năng bị TBMMN [48]:
- Đột ngột lú lẫn, rối loạn lời nói hoặc hiểu biết
- Đột ngột yếu liệt hoặc tê rần ở vùng mặt, tay hoặc chân đặc biệt một bên cơ thể
- Đột ngột mất thị lực đặc biệt xuất hiện một bên mắt, chóng mặt, nhìn đôi, đau đầu,
sợ ánh sáng, sợ âm thanh
- Khó khăn khi bước đi hoặc khó phối hợp động tác, mất thăng bằng
- Đau đầu dữ dội mà không rõ nguyên nhân
1.3.4 Triệu chứng của tai biến mạch máu não
Các triệu chứng của tai biến mạch máu não
- Triệu chứng về vận động: Nặng nề một bên cơ thể, liệt đối xứng với bên tổn thương, nuốt khó
- Rối loạn ngôn ngữ: Khó khăn trong việc hiểu và diễn đạt lời nói, khó khăn khi đọc
và viết, khó khăn trong tính toán
- Rối loạn cảm giác: Rối loạn cảm giác thân thể nửa người hoặc một phần của thân thể
- Rối loạn thị giác: Mất thị trường một bên hoặc cả hai bên mắt, mù hoàn toàn, nhìn đôi hoặc nhìn ảnh bị nghiêng đi
- Các triệu chứng về tiền đình/ tiểu não: Cảm giác chóng mặt, cảm giác mất thăng bằng, ngã về một hướng
- Các triệu chứng về hành vi và nhận thức, các triệu chứng thần kinh khác như rối loạn cơ vòng, rối loạn tâm thần [9], [20]
HUPH
Trang 20Theo các nghiên cứu lâm sàng gần đây, ở nước ta các triệu chứng điển hình thường gặp ở bệnh nhân TBMMN bao gồm: Yếu hoặc liệt 1/2 người, rối loạn về nuốt, rối loạn ngôn ngữ, rối loạn và mất cảm giác 1/2 người, rối loạn thị giác [7], [11], [16], [21]
1.3.5 Hậu quả của tai biến mạch máu não
TBMMN có thể gây tử vong ngay từ những ngày đầu tiên Trường hợp không tử vong cũng để lại những di chứng ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào mức độ tổn thương Các tổn thương bao gồm liệt 1/2 người, thất ngôn, rối loạn ý thức, co cứng cơ, mất khả năng vận động của 1 chi … Ngoài ra, do bị liệt người bệnh phải năm lâu dễ gây loét, bị các bệnh về hô hấp như viêm phổi do ứ dịch, trầm cảm, viêm đường tiết niệu…
và đặc biệt là rất dễ tái phát TBMMN và hậu quả thì nặng nề hơn lần TBMMN trước [28]
Tai biến mạch máu não là nguyên nhân gây tàn tật hàng đầu và nguyên nhân gây
tử vong hàng thứ 2 trên thế giới Khi xảy ra tai TBMMN, chi phí điều trị và phục hồi chức năng rất tốn kém Bên cạnh đó còn chi phí gián tiếp là mất thu nhập cá nhân (do tàn tật, tử vong sớm, mất lao động phụ chăm sóc ) thiệt hại cho gia đình xã hội và tăng gánh nặng cho kinh phí về y tế Các nước phát triển như Mỹ, Anh,… chi phí ước tính trung bình mỗi bệnh nhân TBMMN khoảng 90.000 USD – 105.000 USD [28], [54] Ở các nước đang phát triển không có nhiều nghiên cứu về chi phí về điều trị TBMMN Tuy nhiên, theo một khảo sát quy mô lớn ở Trung Quốc của Heeley và cộng sự (2009), chi phí cho điều trị và chăm sóc người bệnh TBMMN chiếm một phần lớn thu nhập của hộ gia đình, góp phần tăng nguy cơ nghèo đói ở hộ gia đình có người bị TBMMN [36]
1.3.6 Những yếu tố nguy cơ gây tai biến mạch mạch máu não
Theo thống kê của hội Đột quỵ quốc tế có trên 20 yếu tố nguy cơ gây TBMMN và được chia thành 2 loại: Yếu tố nguy cơ không kiểm soát được và yếu tố nguy cơ có thể
kiểm soát được [47]
Yếu tố nguy cơ kiểm soát được
Tăng huyết áp
Tăng huyết áp có mối liên hệ dịch tễ học và căn nguyên với tất cả các thể của TBMMN Nếu hạ huyết áp tâm trương xuống 5 - 6 mmHg và hạ huyết áp tâm thu xuống
HUPH
Trang 2110 - 12 mmHg thì sau 2 - 3 năm nguy cơ TBMMN hàng năm sẽ giảm từ 7% xuống còn 4,8% [22]
Đái tháo đường
Nghiên cứu từ các nước phát triển cho thấy nguy cơ TBMMN ở người bị đái tháo đường (ĐTĐ) tăng từ 2 – 6,5 lần Ngoài ra ĐTĐ cũng làm tăng tỷ lệ tử vong do TBMMN lên 2 lần [47]
Cholesterol máu cao
Cholesterol trong máu cao sẽ tích tụ ở mặt trong của thành các động mạch Sự tích
tụ này cùng với các chất lắng đọng khác tạo nên là mảng xơ vữa lâu ngày gây TBMMN Vậy việc điều trị và kiểm soát cholesterol máu sẽ làm giảm được 30% nguy cơ nhồi máu não [5]
Bệnh lý tim mạch
Các cơn đau thắt ngực, các bệnh lý mạch vành có nhồi máu cơ tim, loạn nhịp, suy tim xung huyết tăng nguy cơ TBMMN Tỷ lệ bệnh tim mạch gặp trên bệnh nhân TBMMN chiếm khoảng 20 – 30% Ngoài ra, nghiên cứu từ các nước phát triển cho thấy rối loạn nhịp tim làm tăng nguy cơ TBMMN lên đến 6 lần [21], [46]
Thuốc lá
Trong thuốc lá có chứa chất Nicotin làm tăng nồng độ fibrinogen làm tăng kết dính tiểu cầu, tăng hematocrit và làm giảm lưu lượng mạch máu gây co mạch từ đó gây TBMMN Các nghiên cứu cho thấy người sử dụng thuốc lá tăng gấp đôi nguy cơ TBMMN [37]
HUPH
Trang 22Stress
Khi căng thẳng tâm thần kinh, hệ thần kinh giao cảm tăng cường hoạt động giải phóng ra Adrenalin và nonadrenalin làm cho tim tăng co bóp, nhịp tim đập nhanh hơn, động mạch nhỏ co lại và làm HA tăng Stress thường xuyên dễ gây nên bệnh THA, trên nền bệnh nhân THA thì gây cơn THA kịch phát nguy hiểm Tuy nhiên mức độ stress khó đánh giá và thay đổi theo từng người
Thay đổi tư thế đột ngột
Qua nghiên cứu của David Brinn trên 150 bệnh nhân đột quỵ, trung bình là 68 tuổi, nghiên cứu đã xác định được yếu tố nguy cơ ở 67 bệnh nhân (gần 45%) Trong số này, thay đổi tư thế đột ngột đứng hàng đầu với 33 người (22% tổng số bệnh nhân) Hai nguyên nhân tiếp theo là stress tâm lý tiêu cực với 20 người (hơn 13%) và cơn giận dữ
Cơn thiếu máu não thoáng qua
Cơn thiếu máu não thoáng qua được coi là một nguy cơ, dấu hiệu cảnh báo mạnh
mẽ nguy cơ TBMMN Ở những người có cơn thiếu máu não thoáng qua, tỷ lệ TBMMN trong năm đầu là 10% và sau mỗi năm tăng thêm 5% Nguy cơ đột quỵ của người có tiền
sử bị cơn thiếu máu thoáng qua cao hơn 12 lần so với người bình thường ở cùng độ tuổi Nhận biết và điều trị cơn thiếu máu thoáng qua có ý nghĩa quan trọng trong giảm nguy cơ TBMMN [5]
Tiền sử TBMMN
Trải qua một cơn TBMMN ban đầu làm tăng đáng kể nguy cơ các cơn TBMMN tiếp theo Tỷ lệ tử vong do TBMMN lần thứ hai cao hơn đáng kể so với những người đột quỵ lần đầu [53]
HUPH
Trang 231.3.7 Hoàn cảnh xảy ra tai biến mạch máu não
Thời tiết lạnh là yếu tố nguy cơ gây tai biến mạch máu não
Khi thời tiết ngoài trời lạnh đột ngột tác động nên hệ thống thần kinh giao cảm gây phản xạ co mạch Đối với NCT mà có tiền sử THA thì rất dễ bị THA đột ngột và dễ gây TBMMN
Nghiên cứu của Đào Ngọc Phong chỉ ra mối liên quan giữa TBMMN và môi trường Trong đó, TBMMN xảy ra nhiều nhất vào tháng 1, ít nhất vào tháng 8, ban đêm cao hơn ban ngày (nhất là nửa đêm và gần sáng) Thiếu máu não thường xảy ra vào nửa đêm và gần sáng còn xuất huyết não thường xảy ra lúc đang làm việc, sau khi tắm lạnh, sau khi uống nhiều rượu bia, ăn quá no và stress [12] Theo nghiên cứu Nguyễn Văn Đăng tại Hà Nội, thời tiết thay đổi là thời điểm dễ xảy ra TBMMN TBMMN thường xảy
ra vào tháng 1 tháng 2, là những tháng chuyển mùa tại miền Bắc [7]
Khuyến cáo duy trì huyết áp mức ổn định hợp lý
Người bình thường lên kiểm tra định kỳ huyết áp và kiểm tra thường xuyên với
người có THA, NCT, béo phì…đưa huyết áp về mức nhỏ hơn 140/90 mmHg, đối với bệnh nhân suy thận, ĐTĐ đưa huyết áp về mức thấp hơn 130/80 mmHg
Khuyến cáo kiểm soát đái tháo đường
Thường xuyên kiểm tra đường máu, đưa đường máu về mức bình thường (110mg/dl) Khuyến cáo kiểm soát ĐTĐ bằng cách thay đổi lối sống như chế độ ăn uống, tập thể dục…và dùng thuốc theo đơn của thầy thuốc
HUPH
Trang 24Điều trị rung nhĩ
Các loạn nhịp tim cần theo dõi bằng điện tim và điều trị cần dưạ theo bệnh lý cụ
thể Bệnh nhân rung nhĩ có chỉ định chống kết tập tiểu cầu (Aspirin 325 mg/ ngày) Người
trên 65 tuổi trở lên dù không có yếu tố nguy cơ vẫn có thể dùng Aspirin để dự phòng
Dùng Aspirin
Không dùng cho bệnh nhân có bệnh viêm loét dạ dày hành tá tràng, bệnh nhân không dung nạp thuốc, người bệnh có yếu tố nguy cơ lên dùng liều thấp từ 75 – 160 mg/ ngày
Khuyến cáo điều trị rối loạn lipid máu
Các bệnh nhân có thể tích khối cơ thể cao được khuyến cáo giảm cân bằng cách kiểm soát lượng calories trong khẩu phần ăn kết hợp với tập thể dục phù hợp
Khuyến cáo về chế độ ăn
Ăn nhiều rau quả, những thực phẩm ít hoặc không có chất béo, giảm lượng muối
<6 g/ngày), hạn chế uống rượu (Nam ≤ 2 ly rượu / ngày, hoặc <120 ml rượu vang, hoặc
<330 ml bia, nữ ≤ 1 ly rượu / ngày)
Tránh stress
Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh, cần chú ý đến việc thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý
Tránh thay đổi tư thế đột ngột bị lạnh đột ngột
Trong chế độ sinh hoạt và nghỉ ngơi hàng ngày cần chú ý đến những thay đổi tư thế đột ngột, tiếng động mạnh, rèn thói quen mỗi khi thức dậy phải tập luyện, vận động rồi mới ngồi dậy, từ ngồi đứng dậy rồi mới bước đi, nhất là ban đêm, từ trong phòng bước ra ngoài trời khi trời lạnh
1.4 Tình hình tai biến mạch máu não trên thế giới và tại Việt Nam
1.4.1 Tình hình tai biến mạch máu não trên Thế giới
Theo Giáo sư Stephen Davis Chủ tịch Hội đột quỵ thế giới, trên toàn cầu TBMMN hiện nay tiếp tục gia tăng, mỗi năm ước tính có khoảng 16,9 triệu người bị TBMMN trong đó 5,9 triệu người tử vong và trên 80% trường hợp sống để lại tàn tật suốt cuộc đời [9] Theo, Hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ, trên thế giới, cứ 6 người thì có 1 người sẽ bị TBMMN ít nhất một lần trong đời TBMMN là nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật Theo
HUPH
Trang 25WHO (2007), đột quỵ ngày càng gia tăng từ 38 triệu năm 1990 lên 61 triệu người mắc năm 2020 [49]
TBMMN trước đây thường phổ biến ở các nước phát triển, tỷ lệ mắc và tử vong của các nước, dân tộc, mầu da có khác nhau, tuy nhiên theo WHO thì tỷ lệ mắc và tử vong do TBMMN ở các nước đang phát triển đang tăng lên đáng kể Ước tính, 86% các
ca tử vong do TBMMN ở các nước có thu nhập thấp và trung bình Gánh nặng bệnh tật
do TBMMN ở các nước có thu nhập thấp và trung bình cao hơn 7 lần so với nước có thu nhập thấp cao [54] TBMMN ngày càng trẻ hóa, trên thế giới cứ 5 người đột quỵ thì có 1 người dưới 45 tuổi [8]
Tại Mỹ, TBMMN đứng hàng thứ 3 trong các nguyên nhân gây tử vong cho người dân và là nguyên nhân hàng thứ 2 ở người trên 60 tuổi Theo Hiệp hội tim mạch Hoa Kỳ, mỗi năm có khoảng 700.000 người bị TBMMN trong đó 500.000 người bị TBMMN lần đầu và 200.000 người tái phát TBMMN, trung bình 4 phút lại có hơn 1 người bị tử vong
do TBMMN và từ 15% – 30% người bị TBMMN để lại di chứng tàn tật [35] Tại Canada, mỗi năm có khoảng 50.000 người bị TBMMN và cơn thiếu máu thoáng qua được điều trị tại bệnh viện và TBMMN là nguyên nhân tử vong hàng thứ 3 Chi phí điều trị cho điều trị TBMMN là khoảng 3,6 tỷ USD, tính cả chi phí chăm sóc và sản lượng kinh tế bị mất [34] Tại Thụy Điển TBMMN là nguyên nhân tử vong hàng thứ 3 Số ngày nằm viện điều trị lên tới 1 triệu ngày mỗi năm cao hơn nhiều so với các nguyên nhân khác Mỗi năm có khoảng 30.000 bệnh nhân bị TBMMN và 8.000 bị cơn thiếu máu thoáng qua Tuổi trung bình của bệnh nhân TBMMN là 65 (63 tuổi với nam và 67 tuổi với nữ) [32] Tại Ấn Độ, mỗi năm khoảng 1,8 triệu người bị TBMMN (150/100.000 người bị TBMMN) và khoảng 41,08% số người mắc TBMMN tử vong Nghiên cứu của Tapas Kumar Banerjee năm 2006 cho thấy có sự khác nhau tỷ lệ mới mắc TBMMN ở các vùng Ấn Độ Trong khi, vùng thành thị Kolkata chỉ là 106/100.000 dân thì vùng nông thôn Tây Bengal tỷ lệ này cao hơn nhiều ( 262/100.000 dân) [33] Tại Trung Quốc có 2,5 triệu người mới mắc TBMMN và 7,5 triệu tái phát TBMMN Theo nghiên cứu của Bin jiang năm 2006 cho thấy tỷ lệ mới mắc ở Bắc Kinh là 329/100.000 dân, Quảng Châu là 147/100.000 dân, tỷ lệ tử vong chung là 60 – 80 / 100.000 dân [41]
HUPH
Trang 261.4.2 Tình hình tai biến mạch máu não ở Việt Nam
GS Lê Văn Thành Chủ tịch Hội Phòng chống TBMMN Việt Nam, cho biết hiện nay ở Việt Nam, mỗi năm có 200.000 người bị mắc TBMMN, trong đó 104.000 người tử vong [13]
Theo GS Lê Đức Hinh, Chủ tịch Hội Thần kinh học Việt Nam, tỷ lệ mới phát hiện hàng năm là 200/100.000 dân Trong đó, ở lứa tuổi 30 đến 40 tỷ lệ đó là 30/100.000, trên 85 là 3.000/100.000 Theo thống kê một số bệnh viện Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 6,6 % đến 18% bệnh nhân TBMMN tử vong trong giai đoạn cấp [8]
Một số điều tra dịch tễ ở một số tỉnh, thành phố trong những năm gần đây cho thấy, TBMMN vẫn là vấn đề lớn của y tế nước nhà Mỗi năm, TBMMN cướp đi 104.800 sinh mạng, để lại di chứng rất nặng nề cho những người sống sót và là nguyên nhân hàng đầu gây tàn tật Nghiên cứu của Dương Đình Chỉnh (2008) tại Nghệ An cho thấy, tỷ lệ mắc TBMMN là 355,9/100.000 dân, trong đó tỷ lệ hiện mắc ở nông thôn là 342,5/100.000 dân, thành thị là 436/100.000 dân, tử vong năm 2007- 2008 là 65,1/100.000 dân [6] Nghiên cứu của Trần Văn Tuấn tại Thái Nguyên năm 2007 cho thấy, tỷ lệ hiện mắc đột quỵ là 100,4/100.000 dân [14]
Theo GS Lê Đức Hinh, chủ tịch Hội thần kinh học Việt Nam, ở nước ta 90% trường hợp TBMMN để lại di chứng do không được cấp cứu y tế đúng và kịp thời Theo ước tính, tại nước ta chỉ có 1% bệnh nhân TBMMN được phát hiện và điều trị trong “giờ vàng” TBMMN là một bệnh nguy hiểm, tiến triển nhanh chóng, mức độ di chứng phụ thuộc rất nhiều vào thời điểm phát hiện và cách thức xử lý khi phát hiện ra biểu hiện của bệnh, như cơn thiếu máu thoáng qua, tự nhiên nói khó, yếu một phần chi thể do sự hiểu biết của người bệnh và người nhà bệnh nhân kém làm trì hoãn thời gian đưa người bệnh đến viện [9] TBMMN ngày càng trẻ hóa theo nghiên cứu của Nguyễn Duy Bách và cộng
sự tại bệnh viện đa khoa Việt Nam Cu Ba Đồng Hới thì tỷ lệ TBMMN của người từ 41 -
70 tuổi chiếm 80,77% [1] Đặc biệt người bệnh có tiền sử THA là đối tượng có nguy cơ cao TBMMN (chiếm 44,23%) [1] Do đó, để nâng cao hiểu biết của nhóm đối tượng này
là việc làm hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong việc hạn chế tỷ lệ mắc và tử vong do TBMMN
HUPH
Trang 271.5 Tổng hợp các nghiên cứu về kiến thức, thực hành phòng tai biến mạch máu não
1.5.1 Thực trạng kiến thức, thực hành phòng tai biến mạch máu não
Thực trạng kiến thức, thực hành phòng tai biến mạch máu não ở công đồng
Kiến thức về yếu tố nguy cơ tai biến mạch máu não
Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trả lời đúng các yếu tố nguy cơ TBMMN ở nghiên cứu
sử dụng bộ câu hỏi đúng sai có kết quả trả lời cao hơn các nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi
có nhiều lựa chọn không đọc đáp án [26], [43], [46], [48] Trong đó THA là yếu tố nguy
cơ được nhiều người biết đến nhất với tỷ lệ từ 93,6% đến 96%, ở nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi đúng sai và từ 32% đến 51% ở nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi có nhiều lựa chọn Tiếp đến, nhóm nguy cơ được nhắc đến là béo phì, trong nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi đúng sai thì tỷ lệ trả lời đúng từ 92% đến 93 %, trong khi đó, tỷ lệ này chỉ từ 18% đến 56% ở nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi có nhiều lựa chọn Đứng thứ 3 là nguy cơ về Cholesterol máu cao tỷ lệ trả lời đúng là 90% - 92,8% đối với nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi đúng sai và chỉ 18% - 21% với nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi có nhiều lựa chọn Nguy cơ do hút thuốc lá thì tỷ lệ trả lời đúng từ 89% - 93,1% ở bộ câu hỏi đúng sai và chỉ 22% - 50% ở nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi có nhiều lựa chọn [27], [29], [31], [43], [44], [48] Nhóm nguy cơ được nhắc đến ít nhất bao gồm: tiền sử bị tai biến là 0% -1%; bệnh lý tim mạch là 0% - 5%; đái tháo đường là 2% - 7%; sử dụng rượu là 5% - 13% [27], [45] Trong nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi đúng sai các yếu tố nguy cơ như tiền sử TBMMN, bệnh lý tim mạch, sử dụng rượu chiếm khá cao > 80% [27], [43] Thống kê từ các nghiên cứu sử dụng bộ câu hỏi đúng sai, đối tượng tham gia nghiên cứu trả lời ít nhất
1 yếu tố nguy cơ chiếm tỷ lệ khá cao từ 80% - 86,9% Tuy nhiên, chỉ có 45% – 70,2% đối tượng trả lời được ít nhất 2 yếu tố nguy cơ: 28% - 53% đối tượng trả lời được 3 yếu tố nguy cơ trở lên và 10% đối tượng trả lời đúng ít nhất 5 yếu tố nguy cơ và 13,6% - 20% không trả lời được bất cứ nguy cơ nào khác [43], [46, [48]
Kiến thức về dấu hiệu cảnh báo
Những dấu hiệu cảnh báo TBMMN được nhiều người biết đến nhất là: Yếu, tê liệt mặt, chân, tay với tỷ lệ 24% - 60%, tiếp đến là lú lẫn trong lời nói 14% - 41% Một số dấu hiệu khác được xác định với tỷ lệ thấp bao gồm: mất thị lực 5% - 22,9%, mất thăng
HUPH
Trang 28bằng 10% - 24%, đau đầu 8% - 29,3% [29], [31], [43], [46], [48] Trong nghiên cứu của Borhani Haghighi và cộng sự tiến hành ở người dân sống tại Shiraz, Iran (2007), phần lớn đối tượng đều nhầm đau bụng và đau ngực là dấu hiệu nguy cơ phổ biến TBMMN với tỷ lệ tương ứng là 96,1% và 88,7% [26]
Thực trạng kiến thức, thực hành phòng tai biến mạch máu não của NCT
Nhiều nghiên cứu trên thế giới chứng minh rằng, NCT là đối tượng có nguy cơ cao bị TBMMN tuy nhiên nhóm tuổi này lại có ít kiến thức về dấu hiệu cảnh báo, nguy
cơ, triệu chứng TBMMN nhất so với các nhóm tuổi còn lại Nghiên cứu của Anne Hickey
và cộng sự tìm hiểu kiến thức về TBMMN của 2033 NCT (trên 65 tuổi) tại hộ gia đình ở
Ai - Len (2009), bằng bộ câu hỏi đánh giá kiến thức về dấu hiệu cảnh báo TBMMN, các yếu tố nguy cơ, rủi ro cá nhân khi bị TBMMN Kết quả cho thấy, 6% trước đó đã trải qua một cơn TBMMN Khi được hỏi về các yếu tố nguy cơ của đột quỵ, 74% NCT biết THA
có thể gây TBMMN Tuy nhiên chưa đến 50% NCT biết stress [36] Nghiên cứu của Lynda L.Blades và cộng sự (2005) tại Montana - Mỹ cho thấy, lần lượt 45% và 38% số người nhận biết dấu hiệu báo trước là tê bì, liệt 1 bên của mặt, 1 bên cơ thể và khó khăn phát âm Số người cho hút thuốc lá và THA là nguy cơ TBMMN lần lượt là 50% và 44% Bên cạnh đó, còn có nhiều yếu tố nguy cơ khác chưa trả lời đúng [46] Nghiên cứu của Nguyễn Duy Bách và cộng sự bệnh viện Đồng Hới cho thấy, TBMMN ở độ tuổi 41 đến
70 chiếm 80,77% [1], [13]
Tiếp cận thông tin về tai biến mạch máu não
Theo các nghiên cứu gần đây, nguồn thông tin về TBMMN là qua lời của bạn bè, các thành viên trong gia đình có người đã bị TBMMN, tiếp đến là phương tiện truyền thông đại chúng với 20% – 30% và nhận thông tin về TBMMN thông qua bác sỹ là 13%
- 20% [29], [31], [42]
Nghiên cứu của Zang Q và cộng sự tìm hiểu tiếp cận thông tin về sức khỏe của NCT
ở đô thị Thành Đô cho thấy kiến thức về sức khỏe được cung cấp bởi CBYT chiếm 38,5%, báo tạp chí với 20,4%, đài phát thanh, truyền hình 12,9% [50]
1.5.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng tai biến mạch máu não
HUPH
Trang 29Tuổi
Nhiều nghiên cứu gần đây đã chỉ ra mối liên quan và kiến thức về đột quỵ Nghiên cứu của Pancioli và cộng sự tại Greater Cincinnati, Ohio cho thấy so với những người ít hơn 75 tuổi và người trên 75 tuổi có ít khả năng liệt kê một cách chính xác ít nhất một dấu hiệu cảnh báo về Đột quỵ tương ứng là 60% so với 47%, p < 0,001 [30] Nghiên cứu của Kothari R et al (1998) tại Mỹ tìm hiểu kiến thức về các dấu hiệu, triệu chứng và các yếu tố nguy cơ TBMMN cho thấy đối tượng ở độ tuổi ≥ 65 tuổi ít có khả năng biết 1 dấu hiệu hoặc triệu chứng của đột quỵ với những người ở độ tuổi < 65 tuôi, tỷ lệ không biết một dấu hiệu hoặc triệu chứng là 47% so với 28%, p= 0,016 [51]
Giới
Chưa có sự thống nhất trong mối liên quan giữa giới tính và kiến thức về TBMMN Theo nghiên cứu của Lynda L.Blades và cộng sự tại Montana – Mỹ, thì nữ giới có kiến thức về dấu hiệu cảnh báo đột quỵ tốt hơn nam giới, phụ nữ có kiến thức về TBMMN cao hơn 2,02 lần (OR= 2,02; 95 % CI: 1,08 – 3,56) so với nam giới [46] Trong khi đó nhóm nghiên cứu của Grenlund và nhóm nghiên cứu của Yoon không tim thấy mối liên quan này [44], [52]
Tiền sử tăng huyết áp, ĐTĐ, hút thuốc
Nhóm nghiên cứu của Schneider và Rowe đều chỉ ra rằng những người có tiền sử THA, ĐTĐ, hút thuốc có kiến thức về yếu tố nguy cơ về đột quỵ cao hơn so với những nhóm còn lại [29], [31] Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan giữa tuổi, giới, nghề nghiệp, loại hình gia đình, tiền sử mắc bệnh mạn tính với kiến thức, hành
vi sức khỏe như nghiên cứu của Zhang Q (2012); Zhiqin Yin và cộng sự (2013); Xiaomei
Wu et al (2013) [50], [55], [57]
Trình độ học vấn
Học vấn có ảnh hưởng đến kiến thức, dấu hiệu cảnh báo đột quỵ, trình độ học vấn cao hơn dường như có ảnh hưởng tích cực đến kiến thức đột quỵ Trong nghiên cứu của Lynda L.Blades và cộng sự, có mối liên quan giữa trình độ học vấn và kiến thức về các dấu hiệu cảnh báo đột quỵ Người có trình độ học vấn trên lớp 12 có kiến thức về dấu hiệu cảnh báo và triệu chứng về TBMMN tốt hơn 1,96 lần (95% CI: 1,08 – 3,56) so với
HUPH
Trang 30người có trình độ học vấn dưới lớp 12 Nghiên cứu của Rowe và cộng sự cũng cho kết quả tương tự [46], [56]
Nghề nghiệp trước đây
Nghiên cứu của Zhiqin và cộng sự (2013), tiến hành phỏng vấn NCT chỉ ra rằng, những người có kinh nghiệm như nhân viên hành chính và kỹ thuật, công nhân lao động nhập cư và người nông dân có kiến thức đạt cao hơn so với những người thất nghiệp, tương ứng là: 2,5: 2,3: 3,9: 2,1 lần [55]
1.6 Một số thông tin về địa bàn nghiên cứu và chương trình phòng chống tăng huyết áp
Xã Thanh Tùng nằm ở phía Tây Bắc huyện Thanh Miện Phía Đông giáp Phạm Kha, phía Tây và phía Bắc giáp Bình Xuyên, phía Nam giáp Đoàn Tùng Xã có diện tích
là 418 ha với dân số năm 2014 là 6.364 người Tổng số NCT là 780 người [3]
Chương trình phòng chống THA đã được triển khai đầu tiên tại xã Thanh Tùng huyện Thanh Miện từ năm 2013 với mục tiêu phát hiện sớm bệnh nhân THA để có chiến lược theo dõi và điều trị kịp thời Đối tượng khám sàng lọc THA là người từ 40 trở lên Huyện Thanh Miện với dân số 127.999 người, số người phát hiện THA năm 2010 là 13.083 [2] Thanh Tùng là xã đầu tiên của huyện Thanh Miện được triển khai chương trình phòng chống THA năm 2013 Theo báo cáo quý IV năm 2014 thì trên địa bàn toàn
xã có 2133 người trong độ tuổi trên 40 tuổi, có 275 người THA, trong đó có 210 bệnh nhân THA là NCT Bước đầu triển khải là khám sàng lọc phát hiện sớm bệnh THA ở độ tuổi từ 40 trở lên, tư vấn dùng thuốc, cấp phát thuốc theo chương trình, tư vấn dùng thuốc theo đơn, tư vấn phòng bệnh và yếu tố nguy cơ biến chứng của THA Trong khi đó, TBMMN chỉ nhắc đến là một biến chứng nguy hiểm Theo thống kê bệnh tật và tử vong trên địa bàn xã trong 3 năm gần đây, TBMMN luôn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong
ở NCT Tỷ lệ tử vong do TBMMN có xu hướng gia tăng qua các năm trên địa bàn xã Do vậy, nâng cao hiểu biết về bệnh và những nguy cơ biến chứng là việc làm hết sức cần thiết cho người dân, đặc biệt là NCT
HUPH
Trang 311.7 Khung lý thuyết
“Dựa vào thông tin một số nghiên cứu trong nước và thế giới đã thực hiện liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, cụ thể: Trần Hồng Nhung (2014)[17] Ngô Minh Hà (2002)[10] Nguyễn Kim Vỹ (2007)[24], nghiên cứu của Lynda L.Blades và cộng sự Montana- Mỹ (2005)[46] Nghiên cứu của Asdrubal Falavigna và cộng sự (2007) [27] Khung lý thuyết được trình bày như sau”:
Yêu tố cá nhân
- Tuổi, giới
- Trình độ học vấn
- Nghề nghiệp
- Nghề nghiệp trước đây
Mối quan hệ xã hội
- Cơ cấu gia đình
- Tiền sử THA của gia
- Kiến thức về phòng TBMMN: Cách
phòng TBMMN, kiến thức về chế độ dùng thuốc, chế độ ăn uống, sinh hoạt, luyện tập thể lực…
Thực hành phòng TBMMN của NCT
- Khám khỏe định kỳ: 6 tháng đi khám sức khỏe 1 lần,
- Tuân thủ dùng thuốc: Theo đơn, tự uống…
- Điều trị bệnh THA
- Hành vi sức khỏe: Hút thuốc, sử dụng, rượu bia, hoạt động thể lực…
- Chế độ sinh hoạt…
HUPH
Trang 32CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tương nghiên cứu
Tiêu chuẩn lựa chọn
- Người cao tuổi mắc THA
- Có khả năng độc lập trả lời câu hỏi
- Người đồng ý tham gia nghiên cứu
- Có hộ khẩu thường trú tại xã Thanh Tùng ít nhất từ 6 tháng trở lên
Tiêu chuẩn loại trừ
- Người có tiền sử bị TBMMN do đối tượng này có thể đã được tư vấn, cung cấp
về kiến thức về TBMMN
- Người bệnh THA được chuyển lên tuyến trên điều trị
- Người không có khả năng phỏng vấn như (người khuyết tật câm, điếc, bị tâm thần, mất trí nhớ, những người bị lẫn…)
- Không gặp được đối tượng sau 3 lần tiếp cận
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 11/ 2014 đến tháng 10/ 2015
- Địa điểm: Xã Thanh Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang có phân tích
2.4 Mẫu và cách chọn mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu
Xã Thanh Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương có 780 người cao tuổi (theo
số liệu thống kê NCT năm 2014) Trong số 780 NCT này có 210 NCT bị THA theo số liệu sổ theo dõi bệnh nhân THA của TYT xã Thanh Tùng Vì vậy, cỡ mẫu của nghiên cứu là toàn bộ 210 đối tượng NCT bị THA này
Trong quá trình điều tra có 15 bệnh nhân không tham gia nghiên cứu vì một số trường hợp đã tử vong do TBMMN và tim mạch (4 người tử vong), một số điều trị tuyến
HUPH
Trang 33trên (2 người), một số từ chối trả lời nghiên cứu do sức khỏe yếu, không có khả năng trả lời câu hỏi (9 người) Tổng mẫu nghiên cứu là 195 đối tượng
Cách chọn mẫu
Theo danh sách quản lý và điều trị THA tại TYT, có 210 đối tượng thỏa mãn tiêu
chuẩn lựa chọn, được lập thành danh sách mẫu Tiến hành chọn mẫu toàn bộ
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.1 Thu thập số liệu
Bộ câu hỏi phỏng vấn thiết kế sẵn (phụ lục 1)
- Phần 1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
- Phần 2: Kiến thức về bệnh và cách phòng TBMMN
- Phần 3: Thực hành phòng bệnh TBMMN
- Phần 4: Tiếp cận thông tin về TBMMN
2.2.2.Quá trình thu thập số liệu
Thử nghiệm và hoàn thành bộ công cụ nghiên cứu
Trong 10 đối tượng là NCT mắc THA được lựa chọn ngẫu nhiên để thử nghiệm bộ công
cụ, Sau khi thử nghiệm, bộ công cụ được chỉnh sửa nội dung câu hỏi cho phù hợp Sau khi hoàn thiện chỉnh sửa Bộ công cụ được in thành 230 bộ phục vụ cho điều tra và tập huấn
Tuyển điều tra viên
Điều tra viên gồm có 1 Bác sỹ, 1 y sỹ, 3 y tá là những người có chuyên môn và có kinh nghiệm phỏng vấn được chọn làm điều tra viên tiến hành thu thập số liệu (nghiên cứu viên thu thập 125/ tổng số 195 phiếu), Các điều tra viên được tập huấn trước khi tiến
Trang 342.7 Các biến số của nghiên cứu
biến số
Phương pháp thu thập A: Thông tin về đối tượng nghiên cứu
A1 Tuổi
Tuổi của ĐTNC được tính theo dương lịch tại thời điểm nghiên cứu (lấy năm 2015 trừ đi năm sinh)
Trang 35A13 Nội dung tư
vấn
Các nội dung mà cán bộ y tế tư vấn cho người bị THA Danh mục Phỏng vấn
B: Kiến thức về TBMMN Kiến thức về bệnh TBMMN
B1 Biết đến
TBMMN
Là ĐTNC đã từng nghe bất cứ thông tin gì về TBMMN Nhị phân Phỏng vấn
ban ngày hay khác)
Danh mục Phỏng vấn
B4
Biết dấu hiệu
báo trước của
TBMMN
Dấu hiệu báo trước khi xả ra TBMMN như nhìn đôi, liệt nửa mặt, người
Nhị phân Phỏng vấn
HUPH
Trang 36Ông/ bà có biết THA là khi chỉ
số huyết áp là bao nhiêu không? Danh mục Phỏng vấn
B11
Kiến thức về
lượng rượu/
bia
Một ngày NCT có THA uống tối
đa bao nhiêu ly rượu/ bia? Danh mục Phỏng vấn
B12 Tập thể dục Kiến thức về thời gian tập thể
C: Thực hành phòng TBMMN
C1 Thời gian đi Bao lâu ông/ bà đi khám sức Danh mục Phỏng vấn
HUPH
Trang 37Sau khi phát hiện bị THA ông/
bà đã điều trị như thế nào? Danh mục Phỏng vấn
C5 Cách dùng
thuốc hạ HA
Phương pháp dùng thuốc hạ huyết áp của ĐTNC Danh mục Phỏng vấn
cà phê) Trong đó có tính lượng muối trong mì chính 1/3=muối/mì chính, nước mắm…)
Trang 38hoa quả tươi
Hiện tại ĐTNC sử dụng rượu/
bia như thế nào: Để đưa ra kết luận có hạn chế sử dụng rượu / bia hay không Xác định lượng rượu / bia mà ĐTNC sử dụng trong ngày: hạn chế uống rượu
(Nam ≤ 2 ly rượu / ngày, 1 ly
tương đương 45 ml rượu , 120
ml rượu vang, 330 ml bia Nữ ≤
1 ly/ ngày tương đương 45ml)
HUPH
Trang 39kịch phát họ tăng cao trên 200/120 mmHg
Nguồn thông tin về TBMMN
Trang 40Thực hành về phòng tránh biến chứng TBMMN
+ Đối với bệnh nhân THA thông thường: Phần này từ câu C8 – C21, có 14 câu Vậy tổng điểm của phần này là 14 điểm Trả lời đạt 2/3 tổng số điểm, tương đương với số điểm từ 9 điểm trở lên được đánh giá là đạt, nếu < 9 điểm là điểm thực hành không đạt
+ Đối với bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ: Gồm 16 điểm, điểm thực hành phải đạt từ
11 điềm trở lên, nếu < 11 là thực hành không đạt
+ Đối với bệnh nhân mắc bệnh mạn tính khác: Gồm 15 điểm, điểm thực hành đạt
là ≥10 điểm và < 10 điểm là điểm thực hành không đạt
2.9 Phương pháp phân tích số liệu
Toàn bộ phiếu được nhập vào máy tính bằng chương trình EpiData 3.1 sau đó bộ
số liệu được chuyển sang phần mềm SPSS 16.0 để làm sạch, kiểm tra giá trị bất thường
HUPH