ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm: huyện Đức Hòa, tỉnh Long An
Thời gian: điều tra từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2015.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang có phân tích
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Lấy mẫu toàn bộ 269 đối tượng theo số liệu quản lí đối tượng người NCMT của đồng đẳng viên tại địa phương
2.4.2 Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: phân bố cỡ mẫu
Dựa trên kết quả từ bản đồ điểm nóng hàng năm của nhóm CTV, chúng tôi đã lập danh sách các tụ điểm TCMT tại địa phương, ghi nhận số lượng đối tượng được quản lý và ước tính số lượng tại mỗi tụ điểm.
Bảng 2 1: Kết quả vẽ bản đồ điểm nóng cập nhật năm 2014
STT Địa điểm Số tụ điểm
Số ĐT quản lí Ƣớc tính thấp Ƣớc tính cao
Giai đoạn 2: tiếp cận, thu thập thông tin tại các tụ điểm
Để thu thập thông tin hiệu quả tại các tụ điểm, đội ngũ CTV quản lý sẽ hỗ trợ điều tra viên phỏng vấn tất cả các đối tượng có mặt Nếu số lượng đối tượng phỏng vấn trong ngày không đủ theo ghi nhận, điều tra viên có thể quay lại phỏng vấn lần sau Tuy nhiên, nếu sau ba lần quay lại vẫn không đủ số đối tượng, quá trình phỏng vấn sẽ được ngừng lại.
Phương pháp thu thập số liệu
- Công cụ điều tra: Bảng câu hỏi có cấu trúc được thử nghiệm và điều chỉnh cho phù hợp trước khi tiến hành điều tra
- Kỹ thuật thu thập số liệu: Phỏng vấn trực tiếp, không ghi tên và địa chỉ để giữ bí mật cho đối tượng tham gia nghiên cứu
Quy trình thu thập số liệu bắt đầu với việc ĐTV sử dụng bản đồ điểm nóng và hướng dẫn của người dẫn đường để xác định vị trí gần tụ điểm Để đảm bảo an toàn cho ĐTV và tạo không khí thuận lợi cho buổi phỏng vấn, vị trí này cần phải yên tĩnh và đủ riêng tư, nhằm bảo vệ bí mật cho người được điều tra Trong một số trường hợp, ĐTV có thể xem xét và quyết định đến trực tiếp tụ điểm tùy thuộc vào tình hình thực tế.
Để tiến hành điều tra, ĐTV sẽ yêu cầu tiếp xúc trực tiếp với đối tượng thông qua người dẫn đường ĐTV đánh giá tiêu chuẩn tham gia bằng cách xem xét các tiêu chuẩn chọn mẫu và sự đồng ý tự nguyện của đối tượng Sau khi chào hỏi và giới thiệu mục đích cuộc điều tra, ĐTV sẽ cho đối tượng đọc bản thỏa thuận đồng ý tham gia nghiên cứu và chỉ tiếp tục khi có sự đồng ý ĐTV có trách nhiệm trả lời mọi câu hỏi liên quan đến nghiên cứu, quyền lợi và nghĩa vụ của đối tượng Để đảm bảo tính chính xác và khách quan, trong quá trình phỏng vấn, ĐTV sẽ đọc chậm và rõ ràng các câu hỏi nhiều lựa chọn, không giải thích thêm hay gợi ý về các thuật ngữ trong bộ câu hỏi.
Sau khi hoàn tất phỏng vấn, ĐTV tiến hành kiểm tra lại toàn bộ nội dung trong bộ câu hỏi để đảm bảo tính đầy đủ ĐTV cũng hỏi đối tượng nghiên cứu xem có câu hỏi nào cần làm rõ không Nếu không còn thắc mắc, ĐTV sẽ chi trả tiền bồi dưỡng cho đối tượng tham gia và chào tạm biệt, hẹn gặp lại nếu cần thêm thông tin.
Tất cả cán bộ tham gia điều tra cần phải nắm vững và thực hành thành thạo các kỹ năng cũng như nguyên tắc điều tra, đồng thời phải có nhận thức rõ ràng về quy trình này.
HUPH việc giữ bí mật để không làm ảnh hưởng cuộc sống của ĐTNC và gia đình sau khi cuộc điều tra kết thúc
Mỗi địa bàn sẽ có từ 1-2 điều tra viên, tùy thuộc vào số lượng mẫu cần lấy tại tụ điểm Điều tra viên được lựa chọn từ cán bộ của TTYT huyện, yêu cầu có kiến thức về HIV/AIDS, sắp xếp thời gian tham gia nghiên cứu, và có kinh nghiệm từ các cuộc điều tra trước đó Họ cũng phải tham gia lớp tập huấn điều tra do nghiên cứu viên tổ chức và thực hiện điều tra thử tại thực địa.
Trong huyện, sẽ có 4 giám sát viên được phân công giám sát tại 56 tụ điểm Những giám sát viên này được lựa chọn từ các cán bộ y tế tuyến tỉnh, yêu cầu có bằng cấp đại học trở lên và đã tham gia các nghiên cứu khoa học Họ cũng bắt buộc phải tham dự lớp tập huấn điều tra do nghiên cứu viên tổ chức và thực hiện điều tra thử tại thực địa.
Mỗi tụ điểm cần có ít nhất một người dẫn đường, ưu tiên là cộng tác viên của nhóm nam NCMT Người dẫn đường phải sắp xếp thời gian công tác để tham gia nghiên cứu, thông thạo địa bàn điều tra, và thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ hướng dẫn điều tra viên tiếp cận đối tượng Họ cũng cần nhận thức rõ về việc giữ bí mật cho đối tượng nghiên cứu.
- Qui trình giám sát: Do nghiên cứu viên và giám sát viên thực hiện trong thời gian tiến hành điều tra
Mỗi điều tra viên sẽ được giám sát trực tiếp trong kỹ năng phỏng vấn và ghi chép bộ câu hỏi phỏng vấn ít nhất hai lần mỗi ngày Sau khi hoàn thành điều tra, họ sẽ nhận được phản hồi trực tiếp, và vào cuối mỗi ngày sẽ có cuộc họp để tổng hợp phản hồi cho tất cả điều tra viên và giám sát viên.
Sau khi điều tra viên thu thập đủ số mẫu cần thiết tại mỗi tụ điểm, giám sát viên sẽ giám sát mỗi người 2 mẫu, trong khi nghiên cứu viên sẽ giám sát mỗi người 1 mẫu Việc chọn mẫu được thực hiện ngẫu nhiên để đảm bảo không giám sát một đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) hai lần.
Tất cả bảng phỏng vấn thực hiện trong ngày điều tra viên nộp cho nghiên cứu viên quản lý
Xử lý và phân tích số liệu
Sau khi thu thập, các phiếu điều tra được kiểm tra lại xem thông tin đã đầy đủ chưa
Kiểm tra ngẫu nhiên 10% số phiếu được nhập để đảm bảo tính chính xác
Nhập và quản lý số liệu bằng phần mềm Epidata 3.1
Kiểm tra các giá trị mất (missing), các giá trị bất thường và lỗi do mã hoá
Xử lý phân tích bằng phần mềm Stata 10.0
Thống kê mô tả sử dụng tỷ lệ phần trăm và phân bố tần suất để mô tả các biến định tính, trong khi đó, trung bình, trung vị và phương sai được áp dụng để ước tính cho các biến định lượng.
Phép kiểm chi bình phương với mức ý nghĩa 0,05 được áp dụng để xác định các mối liên quan trong thống kê phân tích Mức độ tương quan được ước lượng thông qua tỷ số chênh (OR) và khoảng tin cậy (CI) 0%.
Phân tích đa biến để kiểm soát nhiễu và yếu tố tương tác.
Các biến số trong nghiên cứu
2.7.1 Định nghĩa các biến số (xem phụ lục 4)
2.7.2 Cách tính điểm về kiến thức, thực hành PC HIV/AIDS
- Nếu câu hỏi chỉ có 1 lựa chọn thì câu trả lời đúng được 1 điểm
- Nếu câu hỏi có nhiều lựa chọn thì một ý đúng cho một điểm, không trả lời hoặc trả lời sai thì cho không điểm
- Nếu tổng điểm đạt từ 60% trở lên /tổng số điểm thì được xếp loại đạt
- Nếu tổng điểm đạt dưới 60% /tổng số điểm thì được xếp loại không đạt
Kiến thức chung đạt khi đạt 3/5 nội dung về kiến thức HIV/AIDS :
1 Kiến thức về đường lây : đạt khi trả lời được 3 đáp án về đường lây : đường máu, đường tình dục và từ mẹ sang con
2 Dự phòng lây nhiễm HIV : đạt khi trả lời dúng cả 5 câu hỏi về các biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV [7] bao gồm :
QHTD chung thủy với một bạn tình không nhiễm HIV làm giảm nguy cơ nhiễm HIV
Sử dụng BCS đúng cách khi QHTD là giảm nguy cơ nhiễm HIV
Một người bề ngoài khỏe mạnh vẫn có nguy cơ nhiễm HIV
Muỗi hay côn trùng cắn đốt có thể truyền HIV
Ăn chung với người nhiễm HIV có nguy cơ nhiễm HIV
3 Nơi tư vấn xét nghiệm HIV : đạt khi chọn ít nhất 2 trong 4 đáp án
Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS Long An
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Long An
Trung tâm Y tế huyện Đức Hòa
Bệnh viện Đa khoa Hậu Nghĩa
4 Kiến thức về STI : đạt khi chọn ít nhất 3 trong 5 đáp án :
Chảy mủ/dịch niệu đạo
Ngứa bộ phận sinh dục
Loét, sùi bộ phận sinh dục
5 Kiến thức về cơ sở điều trị Methadone : đạt khi chọn ít nhất 1 trong 2 đáp án sau :
Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS Long An
Bệnh viện Đa khoa Hậu Nghĩa
Thực hành chung đạt khi đạt 3/5 nội dung về thực hành phòng lây nhiễm HIV
1 Thực hành TCMT an toàn: đạt khi chọn đáp án không sử dụng lại BKT mà người khác đã/vừa sử dụng trong 1 tháng qua
2 Thực hành QHTD an toàn: đạt khi chọn đáp án chỉ có 1 bạn tình và có sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất
3 Xét nhiệm HIV: đạt khi chọn đáp đã từng xét nghiệm HIV và xét nghiệm dưới 6 tháng
4 Xử trí khi mắc STI: đạt khi chọn ít nhất 3 trong 4 đáp án :
Đi khám, chữa tại các cơ sở y tế nhà nước
Đi khám, chữa tại các cơ sở y tế tư nhân
Ngưng không QHTD khi có triệu chứng STI
Dùng BCS khi QHTD trong thời gian có triệu chứng STI
5 Điều trị Methadone: đạt khi chọn đáp án đã từng tham gia điều trị MMT hoặc có ý định tham gia điều trị MMT trong thời gian tới
Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu được thông qua bởi Hội đồng đạo đức của trường Đại học y tế công cộng và được sự cho phép của chính quyền địa phương
Đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ mục đích phỏng vấn và có quyền từ chối tham gia
Điều tra khuyết danh đảm bảo rằng thông tin thu thập được từ đối tượng nghiên cứu sẽ được giữ bí mật và chỉ được sử dụng với sự đồng ý của họ, không tiết lộ cho bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào khác.
Cán bộ nghiên cứu đảm bảo các thông tin thu thập chính xác, trung thực, đầy đủ
Kết quả điều tra chỉ sử dụng vào mục đích nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu sẽ được gửi đến các tổ chức và đơn vị liên quan tại địa phương, nhằm làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch, vận động chính sách và thực hiện các can thiệp hỗ trợ phòng chống HIV/AIDS trong khu vực nghiên cứu.
KẾT QUẢ
Đặc tính dân số – xã hội nhóm nam NCMT, huyện Đức Hòa năm 2015
Trình độ học vấn Mù chữ và cấp 1 70 26,0
Tình trạng hôn nhân Chưa lập gia đình 97 36,1
Sống chung vợ/người yêu 76 28,2 Đã ly dị/ly thân/góa 96 35,7
Công nhân 49 18,2 Lao động tự do 121 45,0 Thất nghiệp 54 20,1 Nghề nghiệp khác 24 8,9
Thu nhập bình quân 1 tháng Dưới 3 triệu 78 29,0
Trong 269 đối tượng tham gia nghiên cứu có đến 73% đối tượng từ 25 tuổi trở lên, tuổi trung bình là gần 30 tuổi; hầu hết là dân tộc kinh (93,3%); nhóm đối
HUPH cho thấy 48,3% đối tượng có trình độ học vấn cấp 2, trong khi 4,5% chưa từng đi học Hơn 1/3 đối tượng chưa lập gia đình, và 35,7% đã ly dị, ly thân hoặc góa vợ Nghề nghiệp chủ yếu là lao động tự do, chiếm 45,0%, nhưng hơn 20% đang thất nghiệp Đặc biệt, 2,2% thuộc nhóm tri thức, học sinh, sinh viên hoặc cán bộ, công chức, viên chức Về thu nhập, 56,5% có thu nhập từ 3 đến 5 triệu/tháng, trong khi gần 15% có thu nhập trên 5 triệu/tháng.
Kiến thức về HIV/AIDS nhóm nam NCMT, huyện Đức Hòa năm 2015
Ti vi/radio/báo đài 173 64,3
Nhân viên y tế 174 64,7 ĐĐV, TTV 83 30,9 Bạn bè, người thân 82 30,5
Trong 12 tháng qua, tất cả đối tượng nghiên cứu đều nhận được thông tin tuyên truyền về HIV/AIDS, với 64,7% thông tin đến từ nhân viên y tế Tiếp theo, 64,3% nhận thông tin qua tivi, radio và báo đài Các kênh truyền thông khác cũng có tỷ lệ đáng kể, bao gồm tờ rơi, pano, áp phích (46,8%), ĐĐV hay TTV (30,9%) và từ bạn bè, người thân (30,5%).
Biểu đồ 3.1: Kiến thức về đường lây nhiễm HIV nhóm nam NCMT, huyện Đức Hòa năm 2015 (n = 269)
Tỷ lệ người có kiến thức đúng về ba đường lây truyền HIV đạt 90%, trong đó 98,9% nhận thức được lây truyền qua đường máu và tình dục, và 91,1% biết rằng HIV có thể lây từ mẹ sang con Tuy nhiên, vẫn còn một số người hiểu sai về đường lây truyền HIV, với 12,6% tin rằng động vật cắn có thể lây nhiễm và 2,2% nghĩ rằng muỗi hoặc côn trùng đốt có thể truyền virus này.
Bảng 3.3: Kiến thức dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS nhóm nam NCMT, huyện Đức Hòa năm 2015
Kiến thức dự phòng Tần số
269 Giảm nguy cơ nhiễm HIV nếu chung thủy với 1 bạn tình 263 97,8 Giảm nguy cơ nhiễm HIV nếu sử dụng BCS khi QHTD 251 93,3
Người trông khoẻ mạnh có thể đã nhiễm HIV 254 94,4
Có nguy cơ nhiễm HIV nếu muỗi/côn trùng đốt 235 87,4
Có nguy cơ nhiễm HIV nếu ăn chung với người nhiễm HIV 261 97,0
Kiến thức dự phòng cần thiết về HIV (CSDP 21) 206 76,6
120% Đường máu Tình dục mẹ truyền sang con Động vật cắn muỗi đốt Khác Kiến thức về đường lây
Đối tượng tham gia nghiên cứu có kiến thức dự phòng về HIV khá tốt, với 76,6% hiểu rằng quan hệ tình dục chung thủy với một bạn tình và sử dụng bao cao su sẽ giảm nguy cơ nhiễm HIV, đạt tỷ lệ lần lượt là 97,8% và 93,3% Ngoài ra, quan niệm sai lầm về đường lây nhiễm HIV đã giảm đáng kể, cụ thể 94,4% không còn nghĩ rằng người khỏe mạnh bên ngoài không có nguy cơ nhiễm HIV, 87,4% biết rằng muỗi và côn trùng không lây nhiễm HIV, và 97% hiểu rằng ăn uống chung với người nhiễm HIV không làm tăng nguy cơ nhiễm bệnh.
Năm 2015, trong một khảo sát tại huyện Đức Hòa, 69,9% nam NCMT cho biết họ biết về các địa điểm xét nghiệm HIV ở tỉnh Long An Tuy nhiên, chỉ 64,9% trong số đó có kiến thức đầy đủ về các địa điểm này Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS Long An là địa điểm được biết đến nhiều nhất với 85,6%, tiếp theo là Bệnh viện Đa khoa huyện Đức Hòa với 46,3% và Trung tâm Y tế huyện với 36,2% Chỉ có 1,6% người tham gia khảo sát biết đến điểm xét nghiệm khác.
Tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Long An, một tỷ lệ đáng kể người dân, lên tới 35,1%, cho rằng trung tâm Y tế dự phòng tỉnh có thực hiện xét nghiệm HIV.
Bảng 3.4: Tiếp cận dịch vụ cung cấp BKT và BCS miễn phí trong 1 tháng của nhóm nam NCMT, huyện Đức Hòa năm 2015
Nhận BKT miễn phí trong tháng
Nguồn cấp BKT miễn phí 229 ĐĐV, TTV 184 80,4 Cán bộ y tế 153 66,8 Bạn cùng tiêm chích 39 17,0 Trung tâm TVXN 79 34,5 Câu lạc bộ, điểm giáo dục 0 0
Nhận BCS miễn phí trong tháng
Nguồn cấp BCS miễn phí 84 ĐĐV, TTV 45 53,6 Cán bộ y tế 36 42,9 Bạn cùng tiêm chích 0 0 Trung tâm TVXN 60 71,4 Câu lạc bộ, điểm giáo dục 0 0
Trong số 269 đối tượng nghiên cứu, 85,1% đã nhận được BKT miễn phí trong tháng qua Kênh phân phát BKT hiệu quả nhất cho người TCMT chủ yếu là từ ĐĐV và TTV, chiếm 80,6%.
HUPH lần lượt từ nhân viên y tế (66,8%), trung tâm TVXN tự nguyện (34,5%), hộp cố định (27,5%) và từ những bạn cùng tiêm chích (17,0%)
Tỷ lệ nhận được bao cao su (BCS) trong nhóm này chỉ đạt 31,2%, chủ yếu đến từ phòng TVXN tự nguyện với 71,4% Các kênh phân phát BCS khác như ĐĐV và TTV đạt 53,6%, trong khi CBYT đạt 42,9%.
Bảng 3.5: Kiến thức về STI của nhóm nam NCMT, huyện Đức Hòa
Biết triệu chứng của STI 269
Triệu chứng của STI 173 bao gồm đau vùng bụng (30 trường hợp, chiếm 17,3%), chảy mủ/dịch niệu đạo (93 trường hợp, 53,8%), tiểu tiện đau, buốt (28 trường hợp, 16,2%), loét, sùi bộ phận sinh dục (120 trường hợp, 69,4%), ngứa bộ phận sinh dục (116 trường hợp, 67,1%) và các triệu chứng khác (6 trường hợp, 3,5%).
Kiến thức về triệu chứng STI 173 Đạt 63 36,4
Khoảng 65% đối tượng nghiên cứu nhận thức được các triệu chứng của STI, nhưng chỉ 36,4% trong số đó có kiến thức đầy đủ về STI Các triệu chứng phổ biến nhất được biết đến bao gồm loét và sùi bộ phận sinh dục (69,4%), ngứa bộ phận sinh dục (67,1%) và chảy mủ/dịch niệu đạo (53,8%).
Bảng 3.6: Kiến thức về cơ sở điều trị Methadone nhóm nam NCMT, huyện Đức Hòa năm 2015
Biết đến chương trình điều trị
Cơ sở điều trị methadone 192
TT PC HIV/AIDS Long An 110 57,3
Bệnh viện đa khoa tỉnh 61 32,0 Bệnh viện đa khoa huyện 165 85,9 Phòng khám khu vực huyện 0 0
Kiến thức về cơ sở điều trị
Trong nghiên cứu với 269 đối tượng, 71,4% đã biết đến chương trình điều trị MMT, với tỷ lệ kiến thức về cơ sở điều trị MMT đạt 90,6% Hai cơ sở được biết đến nhiều nhất là Bệnh viện Đa khoa huyện Đức Hòa (85,9%) và Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS Long An (57,3%) Tuy nhiên, vẫn còn một tỷ lệ đáng kể đối tượng có kiến thức sai lệch về các cơ sở chưa triển khai điều trị MMT, như Bệnh viện Đa khoa tỉnh Long An (32,0%), Trung tâm Y tế dự phòng Long An (18,8%) và Trung tâm Y tế huyện (16,2%).
Biểu đồ 3.3: Kiến thức về HIV/AIDS của nam NCMT, huyện Đức Hòa năm
Vào năm 2015, tỷ lệ nam giới NCMT tại huyện Đức Hòa có kiến thức chung về dự phòng lây nhiễm HIV đạt 67,7%, cho thấy sự tiến bộ đáng khích lệ trong các hoạt động truyền thông giảm tác hại và phòng chống HIV/AIDS tại địa phương.
Thực hành phòng lây nhiễm HIV của nhóm nam NCMT, huyện Đức Hòa năm 2015
Bảng 3.7: Đặc tính sử dụng lại BKT của nhóm nam NCMT tại huyện Đức Hòa năm 2015
Sử dụng lại BKT lần đầu TC
Lí do sử dụng lại BKT lần đầu TC
12 Không đủ tiền chích một mình 3 25,0 Không thể tự chích cho bản thân 9 75,0
Sử dụng lại BKT trong
Tần suất sử dụng lại
Sử dụng lại BKT lần tiêm chích gần nhất
Lí do sử dụng lại BKT lần tiêm chích gần nhất
6 Bạn chích muốn dùng chung 1 16,7 Không đủ tiền chích 1 mình 3 50,0
Tỷ lệ đối tượng sử dụng lại bơm kim tiêm (BKT) trong lần đầu tiêm chích là 4,5%, chủ yếu do không thể tự chích cho bản thân (75%) và không đủ tiền để chích một mình Trong vòng 1 tháng gần đây, tỷ lệ sử dụng lại BKT đã tăng lên 5,2%, với phần lớn người sử dụng lại thỉnh thoảng (50%) và hiếm khi (42,9%) Mặc dù tỷ lệ này trong lần tiêm chích gần nhất đã giảm xuống còn 2,2%, nhưng vẫn còn cao, với lý do chính là không đủ tiền để chích một mình (50%) và không đủ BKT (33,3%).
Bảng 3.8: Đặc tính liên quan đến hành vi TCMT của nhóm nam NCMT
Tần suất TCMT/ngày trong 1 tháng qua
Từ 1 lần/ngày trở lên 142 54,6
Bạn bè, người thân trong gia đình, sử dụng ma túy
Theo các đặc tính liên quan đến hành vi tiêu cực của nam giới trong nghiên cứu, 59% đối tượng đã có thời gian tiêu cực từ 5 năm trở lên Trong tháng qua, tần suất tiêu cực của nhóm này là 54,6% với mức độ 1 lần mỗi ngày, trong khi 45,4% có tần suất ít hơn 1 lần mỗi ngày Đặc biệt, 84% đối tượng cho biết có bạn bè hoặc người thân trong gia đình đã từng sử dụng ma túy.
Biểu đồ 3.4: Thực hành QHTD an toàn của nhóm nam NCMT (n 3)
Trong nghiên cứu, có 31,5% đối tượng thực hiện các biện pháp quan hệ tình dục an toàn, bao gồm việc thực hiện cả hai hành vi quan hệ tình dục với một bạn tình trong vòng 12 tháng qua và sử dụng bao cao su trong lần quan hệ tình dục gần nhất.
Bảng 3.9: Tần suất sử dụng BCS khi QHTD với các bạn tình trong 12 tháng qua của nhóm nam NCMT
Tần suất sử dụng BCS
Tất cả các lần 6 3,4 27 51,9 0 0 Đa số 21 11,9 25 48,1 1 3,6
Theo khảo sát, 68,8% người tiêm chích có quan hệ tình dục chủ yếu với vợ hoặc người yêu, trong khi 20,3% có quan hệ với gái mại dâm (GMD) và 10,9% với bạn tình bất chợt Về tần suất sử dụng bao cao su (BCS), 56,8% chỉ thỉnh thoảng sử dụng BCS với vợ hoặc người yêu, và 27,8% không bao giờ sử dụng Chỉ 3,4% sử dụng BCS trong tất cả các lần quan hệ Đối với bạn tình là GMD, 51,9% luôn sử dụng BCS, trong khi phần còn lại sử dụng BCS trong đa số các lần quan hệ Đáng chú ý, 64,3% không bao giờ sử dụng BCS với bạn tình bất chợt, 32,1% chỉ thỉnh thoảng sử dụng, và chỉ 3,6% sử dụng BCS trong đa số các lần quan hệ với bạn tình bất chợt.
Bảng 3.10: Hành vi QHTD và sử dụng BCS của nhóm nam NCMT
Tuổi QHTD lần đầu tiên 141
Số lượng đối tượng bạn tình trong
Dùng ma túy, rượu bia lần QHTD gần nhất
Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có quan hệ tình dục lần đầu từ 18 tuổi trở lên đạt 70,2% Trong vòng 12 tháng trước khi nghiên cứu, gần 60% đối tượng chỉ có quan hệ tình dục với một bạn tình duy nhất Đáng chú ý, chỉ có 3,7% đối tượng sử dụng ma túy, rượu, bia trong lần quan hệ tình dục gần nhất.
Bảng 3.11: Thực hành xử trí khi mắc STI của nhóm nam NCMT
Có triệu chứng của STI trong 12 tháng 269
Khi mắc STI, người bệnh nên đi khám và chữa trị tại các cơ sở y tế nhà nước hoặc tư nhân Tỷ lệ người chọn khám tại cơ sở y tế nhà nước là 37,5%, trong khi đó, 75% người bệnh lựa chọn các cơ sở y tế tư nhân Ngoài ra, 50% người bệnh cũng đến nhà thuốc để mua thuốc điều trị.
Dùng bao cao su để QHT 2 25,0
Không làm gì cả 1 12,5 Nói cho bạn tình biết triệu chứng của STI 1 12,5 Đi khám, chữa tại các thầy lang 0 0
Thực hành xử trí STI 8 Đạt 5 62,5
Chỉ có 3% đối tượng có triệu chứng STI trong 12 tháng qua, trong đó 62,5% đã xử trí đúng cách khi mắc STI Đối với những người có triệu chứng, 75,0% tìm đến các cơ sở y tế tư nhân để điều trị Ngoài ra, 50,0% lựa chọn tự điều trị bằng cách mua thuốc tại nhà thuốc hoặc ngưng quan hệ tình dục Chỉ có 37,5% người bệnh quyết định khám và chữa bệnh tại các cơ sở y tế nhà nước.
Bảng 3.12: Thực hành xét nghiệm HIV của nhóm nam NCMT
Tỷ lệ (%) Đã từng xét nghiệm 188
Lần xét nghiệm gần nhất
Hình thức tiếp cận xét nghiệm
Tự nguyện 107 76,4 Được đề nghị 33 23,6
Lí do không tiếp cận chương trình TVXN 27
Không đảm bảo bí mật 11 40,7
Sợ lộ tình trạng nhiễm 7 25,5
Sợ lộ tình trạng nghiện 12 44,3
Sợ bị kì thị 24 88,9 Không cần thiết 12 44,3
Sợ biết kết quả xét nghiệm 9 33,3
Thực hành TVXN HIV 269 Đạt 106 39,4
Tỷ lệ người thực hiện xét nghiệm HIV đạt 39,4%, trong đó gần 75% đã từng xét nghiệm tại các cơ sở và hơn 75% có lần xét nghiệm gần nhất dưới 6 tháng Đáng chú ý, 76,4% trong số những người đã xét nghiệm là do tự nguyện Tuy nhiên, vẫn còn một tỷ lệ cao những người chưa đi xét nghiệm không có ý định kiểm tra tình trạng nhiễm, với 88,9% lo sợ bị kỳ thị từ người khác Các lý do khác ít phổ biến hơn bao gồm cảm thấy xét nghiệm không cần thiết (44,3%), sợ lộ tình trạng nghiện (44,3%), và đặc biệt là 40,7% không tin tưởng vào tính bí mật của dịch vụ tư vấn xét nghiệm HIV tại địa phương.
Bảng 3.13: Thực hành điều trị MMT của nhóm nam NCMT
Biết đến chương trình điều trị MMT
Có ý định tham gia điều trị MMT
Thực hành điều trị MMT 269 Đạt 175 65,1
Theo điều tra, 65,1% nam NCMT thực hành điều trị MMT đạt tiêu chuẩn, với khoảng 50% đối tượng đã và đang tham gia điều trị Đáng chú ý, tỷ lệ những người chưa tham gia nhưng có ý định tham gia trong thời gian tới lên đến 82,7%.
Biểu đồ 3.5: Lí do không điều trị MMT của nhóm nam NCMT (n)
Có nhiều lý do khiến người dân không tham gia hoặc không có ý định tìm đến dịch vụ điều trị MMT tại địa phương Đáng chú ý, 88,2% lo ngại về việc lộ tình trạng nghiện của bản thân, trong khi 76,5% ngại bị kỳ thị từ những người xung quanh Ngoài ra, 35,3% cho rằng điểm điều trị không đảm bảo tính bí mật, 29,4% chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc điều trị và cảm thấy không cần thiết phải tham gia, và 23,5% cho rằng điểm điều trị quá xa.
Biểu đồ 3.6: Thực hành chung của nhóm nam NCMT (n&9)
Trong 269 đối tượng tham gia nghiên cứu có 50,2% đối tượng có thực hành phòng lây nhiễm HIV là đạt
Không cần thiết Ngại kỳ thị
Sợ lộ tình trạng nghiện của bản … Điểm uống thuốc xa Không đảm bảo bí mật
Các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành phòng lây nhiễm HIV/AIDS
Bảng 3.14: Mối liên quan giữa kiến thức chung về phòng lây nhiễm HIV/AIDS và các đặc điểm nhân khẩu – xã hội của nhóm nam NCMT Đặc tính n
Chưa lập gia đình* 72,2 Sống chung vợ/người yêu 50,0 0,39 (0,20 – 0,74) 0,002 Đã ly dị/ly thân/góa 77,1 1,30 (0,67 – 2,49) 0,433
Nghề ngiệp khác 72,7 2,67 (0,51 – 13,73) 0,222 Thất nghiệp 50,0 1,03 (0,18 – 5,48) 0,933
Thu nhập bình quân 1 tháng 269
Nhóm đối tượng nghiên cứu là những người có học vấn từ cấp 2 trở lên, chưa lập gia đình và có thu nhập từ 3 triệu đồng trở lên Những người này có kiến thức chung về HIV/AIDS cao hơn một cách có ý nghĩa thống kê (p0,05).
Bảng 3.15: Mối liên quan giữa thực hành chung về phòng lây nhiễm HIV/AIDS và các đặc điểm nhân khẩu – xã hội của nhóm nam NCMT Đặc tính n
Chưa lập gia đình* 44,3 Sống chung vợ/người yêu 72,4 3,29 (1,68 – 6,44)