PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang: định lƣợng kết hợp định tính
Nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, trong đó thông tin về kiến thức và thực hành sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) của nông dân được thu thập qua phỏng vấn với bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn và bảng kiểm quan sát trực tiếp.
Nghiên cứu định tính được thực hiện để thu thập thông tin về thực hành sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV), nhằm làm rõ hơn cho kết quả nghiên cứu định lượng Thông tin được thu thập thông qua phỏng vấn sâu với những nông dân có kiến thức và thực hành sử dụng HCBVTV an toàn không đạt Người tham gia được lựa chọn trong quá trình thực hiện nghiên cứu định lượng.
Đối tƣợng nghiên cứu
2.2.1 Đối tƣợng nghiên cứu định lƣợng
Người nông dân xã Lê Hồ, Hoàng Tây, huyện Kim Bảng
Mỗi gia đình chỉ được chọn một người làm nhiệm vụ phun thuốc bảo vệ thực vật (HCBVTV) trong vòng một năm qua Nếu có từ hai người trở lên, ưu tiên sẽ được dành cho người có lần phun gần nhất với thời điểm phỏng vấn, sau đó xét đến số lần phun nhiều hơn và độ tuổi lớn hơn.
- Đồng ý tham gia vào nghiên cứu
Tiêu chí loại trừ: đối tƣợng từ chối tham gia nghiên cứu hoặc không có khả năng trả lời câu hỏi
2.2.2 Đối tƣợng nghiên cứu định tính
Người nông dân xã Lê Hồ, Hoàng Tây, huyện Kim Bảng có phần đánh giá về kiến thức và thực hành về sử dụng HCBVTV không đạt
Đƣợc lựa chọn theo tiêu chuẩn:
- Tham gia vào trả lời phỏng vấn định lƣợng
- Sẵn sàng tiếp tục tham gia vào nghiên cứu định tính.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1/2014 đến tháng 10/2014
Địa điểm nghiên cứu: xã Lê Hồ và Hoàng Tây, huyện Kim Bảng
Cỡ mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu nghiên cứu định lƣợng
Chọn mẫu toàn bộ 323 hộ gia đình theo cỡ mẫu nghiên cứu của dự án bao gồm
130 hộ gia đình tại xã Lê Hồ và 193 hộ gia đình tại xã Hoàng Tây
2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu định tính
Cuộc phỏng vấn sâu đã được thực hiện với 10 nông dân phun thuốc, những người có kiến thức và thực hành sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) không đạt yêu cầu sau khi tiến hành phỏng vấn định lượng Quy trình chọn mẫu nghiên cứu định lượng được áp dụng để đảm bảo tính chính xác và đáng tin cậy của dữ liệu thu thập.
Chọn toàn bộ 323 hộ gia đình tại xã Lê Hồ và Hoàng Tây, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam theo cỡ mẫu và danh sách của dự án FBLI
2.4.4 Quy trình chọn mẫu nghiên cứu định tính
Chọn từ những đối tƣợng tham gia nghiên cứu định lƣợng một số đối tƣợng có kiến thức và thực hành không đạt.
Thu thập số liệu
2.5.1 Thu thập số liệu trong nghiên cứu định lƣợng
Kỹ thuật thu thập số liệu: Phỏng vấn trực tiếp người nông dân được chọn
Công cụ thu thập số liệu:
- Bộ công cụ đƣợc xây dựng qua quá trình tổng quan tài liệu, sau đó đƣợc thử nghiệm và chỉnh sửa trước khi đưa vào thu thập số liệu
- Bảng kiểm quan sát trực tiếp
- Phương tiện ghi chép hình ảnh
Thử nghiệm bộ công cụ:
- Với bộ phiếu phỏng vấn có sẵn bảng kiểm quan sát, điều tra thử phỏng vấn
10 đối tƣợng trực tiếp tham gia vào sử dụng HCBVTV tại xã Lê Hồ và xã Hoàng Tây
Điều chỉnh bộ công cụ nghiên cứu bao gồm việc thay đổi một số phương án lựa chọn cho các câu hỏi và điều chỉnh số lượng câu hỏi cho phù hợp với địa bàn nghiên cứu Cụ thể, bổ sung lựa chọn 5 cho câu A16, lựa chọn 4 cho câu A22, lựa chọn 3 cho câu A29, lựa chọn 4 cho câu A30, lựa chọn 5 cho câu B7, lựa chọn 4 cho câu B12, và lựa chọn 3 cho câu B24.
Cách thức thu thập số liệu:
Nghiên cứu viên cùng với 4 điều tra viên tình nguyện, tất cả đều có trình độ cử nhân y tế công cộng, đã tham gia vào quá trình điều tra.
- Tổ chức tập huấn điều tra viên trước khi đi thu thập số liệu
- Giám sát là nghiên cứu viên chính của nghiên cứu
- Hình thức thu thập số liệu:
Chúng tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp các đối tượng được chọn về kiến thức và thực hành sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) tại hộ gia đình, với thời gian phỏng vấn khoảng 30 phút.
+ Bảng kiểm kèm theo bộ câu hỏi phỏng vấn để quan sát trực tiếp tại hộ gia đình về bảo quản HCBVTV và dụng cụ phun HCBVTV
Phương tiện ghi chép hình ảnh được sử dụng để ghi lại những hình ảnh quan sát tại hộ gia đình và trên đồng ruộng, nhằm phản ánh cách bảo quản và sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) của người dân.
2.5.2 Thu thập số liệu trong nghiên cứu định tính
Kỹ thuật thu thập số liệu: Phỏng vấn sâu người nông dân được chọn
Công cụ thu thập số liệu:
- Bộ câu hỏi phỏng vấn định tính đƣợc gợi ý sẵn
Cách thức thu thập số liệu:
- Điều tra viên: Nghiên cứu viên chính
- Hình thức thu thập số liệu:
+ Phỏng vấn trực tiếp những đối tƣợng đƣợc lựa chọn có kiến thức và thực hành không đạt tại hộ gia đình trong khoảng thời gian 45 phút
+ Phương tiện ghi âm: dùng để ghi lại toàn bộ cuộc phỏng vấn.
Xử lý số liệu
2.6.1 Xử lý số liệu định lƣợng
Nhập và làm sạch số liệu
Phần mềm nhận liệu Epi Data 3.1 đƣợc sử dụng để nhập số liệu tất cả các phiếu điều tra thu thập đƣợc trong nghiên cứu này
Nhóm nghiên cứu sẽ kiểm tra tính logic và chính xác của bộ số liệu dựa trên cấu trúc của bộ câu hỏi Nếu phát hiện bất kỳ số liệu nào không hợp lý, bản ghi đó sẽ được xem xét lại.
HUPH đƣợc so sánh với bộ câu hỏi gốc để tìm và sửa lỗi sai Bất cứ sự chỉnh sửa số liệu nào cũng sẽ đƣợc ghi nhận lại
Phần mềm SPSS 16.0 đƣợc sử dụng để phân tích số liệu, bao gồm phân tích mô tả và phân tích tương quan thông qua mô hình hồi quy
Trong bài viết này, chúng tôi sẽ phân tích và ước lượng phần trăm cũng như giá trị trung bình của các biến số chính liên quan đến đặc điểm chung và kiến thức, thực hành sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) của người nông dân.
Phân tích hồi quy logistic được áp dụng để xác định mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ và biến phụ thuộc là thực hành đạt sử dụng HCBVTV Đầu tiên, phân tích đơn biến sẽ giúp xác định mối liên quan ban đầu, sau đó các biến số độc lập sẽ được đưa vào mô hình đa biến Kết quả từ mô hình hồi quy đa biến sẽ được xem xét cẩn thận và đối chiếu với các nghiên cứu khác để đảm bảo tính thực tiễn của các phiên giải.
2.6.2 Xử lý số liệu định tính
Kiểm tra và làm sạch số liệu là bước quan trọng, trong đó nội dung các cuộc phỏng vấn sâu được gỡ băng chi tiết, đảm bảo thông tin được ghi chép đầy đủ và chính xác.
Phân tích thông tin: Mỗi cuộc phỏng vấn đƣợc mã hóa theo chủ đề để phục vụ cho việc viết báo cáo về sau này.
Một số tiêu chuẩn đánh giá trong nghiên cứu
Dựa trên nghiên cứu trước đó, chúng tôi đã đánh giá điểm kiến thức và thực hành theo hai tiêu chí “đạt” và “không đạt” Bộ câu hỏi được thiết kế dựa trên quá trình tổng quan tài liệu và tham khảo một số nghiên cứu trước đó Phân loại điểm kiến thức được thực hiện từ câu A7 đến A30.
Điểm kiến thức về sử dụng HCBVTV
- Thang điểm tính từ câu A7 – A30 với tổng điểm = 24
- Tổng điểm kiến thức ≥ 12 điểm : Điểm kiến thức về sử dụng HCBVTV đạt
- Tổng điểm kiến thức < 12 điểm: Điểm kiến thức về sử dụng HCBVTV không đạt Cách phân loại điểm thực hành ( B1 đến B20, B22, B24)
Điểm thực hành sử dụng HCBVTV
- Thang điểm tính từ câu B1 – B20 và B22, B24 với tổng điểm = 22
- Tổng điểm thực hành ≥ 11 điểm: Điểm thực hành về sử dụng HCBVTV đạt
- Tổng điểm thực hành < 11 điểm: Điểm thực hành về sử dụng và HCBVTV không đạt.
Đạo đức trong nghiên cứu
Tất cả các đối tượng nghiên cứu đều được giải thích rõ ràng về mục đích của nghiên cứu Nghiên cứu cam kết không chứa thông tin hoặc hoạt động nào trái với phong tục và đạo đức của cộng đồng cũng như cá nhân được nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu có quyền từ chối tham gia, và chỉ những người tự nguyện mới được điều tra Kết quả nghiên cứu sẽ được phản hồi về địa phương nhằm nâng cao các hoạt động.
- Tuân thủ quy trình xét duyệt của Hội đồng đạo đức, thông qua quy trình xét duyệt đạo đức của trường Đại học y tế công cộng
Những hạn chế của nghiên cứu, sai số và cách khắc phục
Hạn chế của nghiên cứu
Nghiên cứu chưa tìm hiểu được toàn diện các ảnh hưởng của HCBVTV tới môi trường và sức khỏe con người tại địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu có những hạn chế của một nghiên cứu cắt ngang ở phạm vi 2 xã của
1 huyện , kết quả chƣa đại diện đƣợc cho cả tỉnh
Một hạn chế của nghiên cứu này là việc đánh giá thực hành sử dụng HCBVTV chủ yếu dựa vào bảng hỏi, mà chưa có sự quan sát trực tiếp đối với phần lớn đối tượng.
Các loại sai số có thể có và cách khắc phục
Để hạn chế sai số trong nghiên cứu, chúng tôi đã thiết lập tiêu chí lựa chọn đối tượng rõ ràng và cụ thể, đồng thời thực hiện sàng lọc tất cả các đối tượng trước khi tham gia Ngoài ra, chúng tôi cũng tổ chức tập huấn kỹ lưỡng cho điều tra viên nhằm đảm bảo quá trình sàng lọc diễn ra chính xác.
Sai số thông tin có thể xuất hiện trong quá trình phỏng vấn thu thập dữ liệu Để giảm thiểu sai số này, các điều tra viên sẽ được tập huấn trước khi triển khai nghiên cứu, nhằm đảm bảo họ nắm vững nội dung và kỹ thuật phỏng vấn.
Sai số nhớ lại có thể xảy ra khi hỏi đối tượng về thông tin trong quá khứ, đặc biệt là liên quan đến hành vi sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) trong một khoảng thời gian nhất định.
Trong năm qua, chúng tôi đã nỗ lực giảm thiểu sai số bằng cách tổ chức các buổi tập huấn kỹ lưỡng cho điều tra viên Điều này bao gồm việc hướng dẫn cách đặt câu hỏi để giúp đối tượng nhớ lại thông tin một cách chính xác.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung về đối tƣợng nghiên cứu
3.1.1 Phân bố tuổi theo giới
Kết quả điều tra tại địa bàn nghiên cứu cho thấy, đối tượng đi phun thuốc chủ yếu là người trung niên, với tỷ lệ cao nhất ở độ tuổi 50 – 59 (39,3%) và 40 – 49 (33,8%) Ngoài ra, có 20,1% đối tượng ở độ tuổi 30 – 39, 4% ở độ tuổi ≥ 60, và 2,8% từ 20 – 29 tuổi Đặc biệt, trong hầu hết các nhóm tuổi, đối tượng đi phun thuốc chính trong hộ gia đình là nữ, với tỷ lệ nữ/nam là 3,4.
Biểu đồ 1 Mô tả phân bố tuổi theo giới
Trong nghiên cứu về trình độ học vấn của đối tượng phỏng vấn, 69,7% có trình độ trung học cơ sở, 18,6% có trình độ tiểu học, trong khi đó, tỷ lệ người có trình độ trung học phổ thông là 10,2%, trên trung học phổ thông là 0,3%, và 0,9% không biết chữ.
Biểu đồ 2 Trình độ học vấn của đối tƣợng nghiên cứu
3.1.3 Thâm niên tiếp xúc với HCBVTV
Các ĐTNC đều có ít nhất 1 năm kinh nghiệm tiếp xúc với HCBVTV, đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn Trong số đó, tỷ lệ ĐTNC có thâm niên từ 20 năm trở lên chiếm 63,8%, tiếp theo là nhóm có thâm niên từ 10 đến 19 năm với 22,6%.
9 năm (13%) Chỉ có một tỉ lệ nhỏ (0,6%) ĐTNC có thâm niên < 2 năm chiếm 0,6%
Thâm niên tiếp xúc với Hoá chất bảo vệ thực vật
Biểu đồ 3.Thâm niên tiếp xúc với hóa chất bảo vệ thực vật
3.1.4 Mục đích sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật
Biểu đồ 4 cho thấy HCBVTV chủ yếu được sử dụng để trừ sâu bệnh cho lúa (98,5%), tiếp theo là trừ ốc bươu vàng (98,1%) và trừ sâu bệnh cho rau màu (63,1%) Ngoài ra, HCBVTV còn được áp dụng để diệt cỏ (33,8%), kích thích cây trồng tăng trưởng nhanh (28,5%), trừ sâu bệnh cho cây ăn quả (5,4%) và làm cho quả chóng chín đẹp (1,5%).
Trừ sâu bệnh cho lúa Trừ ốc bươu vàng Trừ sâu bệnh cho rau màu
Trừ cỏ Kích thích cây trồng tăng trưởng nhanh
Trừ sâu bệnh cho cây ăn quả
Làm cho quả chóng chính đẹp
Mục đích sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật iểu đồ 4.Mục đích sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật
3.1.5 Loại hoá chất bảo vệ thực vật thường được sử dụng
Theo mục đích sử dụng HCBVTV, thuốc trừ sâu là loại được sử dụng nhiều nhất, chiếm 96% Tiếp theo, thuốc trừ bệnh chiếm 85,8%, thuốc diệt ốc bươu vàng chiếm 85,4%, thuốc trừ cỏ chiếm 45,2% và thuốc kích thích tăng trưởng chiếm 39%.
Thuốc trừ sâu Thuốc trừ bệnh Thuốc diệt ốc bươu vàng
Thuốc trừ cỏ Thuốc kích thích tăng trưởng
Kiến thức về sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật
Kiến thức về sử dụng HCBVTV được đánh giá qua các câu hỏi liên quan đến kiến thức cơ bản, cách sử dụng thuốc đúng, xử lý dụng cụ và hóa chất thừa, cũng như phòng ngừa phơi nhiễm Bộ câu hỏi chủ yếu là câu hỏi nhiều lựa chọn nhằm đánh giá chính xác kiến thức của đối tượng Kết quả phỏng vấn cho thấy 40,9% đối tượng có kiến thức đạt về sử dụng HCBVTV, trong khi 59,1% đối tượng có kiến thức về cách sử dụng.
Biểu đồ 6 Đánh giá về kiến thức sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật
Biểu đồ 6 cho thấy tỉ lệ kiến thức đạt của ĐTNC ở xã Lê Hồ (49,2%) cao hơn so với xã Hoàng Tây (35,2%), với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p= 0,012 < 0,05) ĐTNC thuộc xã Lê Hồ có kiến thức đạt cao gấp 1,8 lần so với ĐTNC ở xã Hoàng Tây (OR = 1,8; 95% CI: 1,1 – 2,8).
Kiến thức cơ bản về việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) rất quan trọng, bao gồm hiểu biết về tác hại của HCBVTV đối với sức khỏe con người, các con đường xâm nhập của chúng vào cơ thể, và tác dụng của HCBVTV Ngoài ra, việc thu hoạch sớm hơn thời gian khuyến cáo có thể gây ra những tác hại nghiêm trọng Cũng cần lưu ý rằng một số đối tượng không nên tham gia vào việc phun HCBVTV để đảm bảo an toàn.
3.2.1.1 Kiến thức về tác hại của hóa chất bảo vệ thực vật
Khi được hỏi về tác hại của HCBVTV, 77,4% người tham gia cho biết rằng nó gây nhiễm độc cho con người, tiếp theo là ô nhiễm môi trường (33,7%) Chỉ 20,4% biết rằng HCBVTV có thể gây nhiễm độc cho vật nuôi và 5,6% nhận thức được tác hại làm nhiễm bẩn thực phẩm Tuy nhiên, chỉ có 11,5% người trả lời đúng từ 3 tác hại trở lên, trong đó xã Lê Hồ có kiến thức cao hơn (14,6%) so với xã Hoàng Tây (9,3%) với p = 0,143 > 0,05.
HUPH ảng 5 Kiến thức về tác hại của hóa chất bảo vệ thực vật
Gây nhiễm độc cho người
Gây nhiễm độc cho vật nuôi Ô nhiễm môi trường
Làm nhiễm bẩn thực phẩm
3.2.1.2 Kiến thức về đường xâm nhập của hóa chất bảo vệ thực vật
Hiểu biết về các con đường xâm nhập của hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) vào cơ thể con người là rất quan trọng để nâng cao ý thức phòng ngừa Có ba con đường chính mà HCBVTV có thể xâm nhập: qua đường hô hấp, qua da/mắt và qua đường ăn uống Theo khảo sát, 74,0% đối tượng biết rằng HCBVTV xâm nhập chủ yếu qua đường hô hấp, trong khi chỉ 26,3% biết về con đường xâm nhập qua da/mắt và 13,9% nhận thức được con đường ăn uống Tỷ lệ người biết từ hai con đường xâm nhập trở lên là 21,7%, với xã Lê Hồ là 22,3% và xã Hoàng Tây là 21,7% (p = 0,820 > 0,05).
P Đường xâm nhập của HCBVTV Ăn uống
Biết được ≥ 2 đường xâm nhập của HCBVTV
3.2.1.3 Kiến thức về tác dụng của hóa chất bảo vệ thực vật
Bảng 7 cho thấy rằng kiến thức của các đối tượng về tác dụng của hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) còn hạn chế, với hầu hết các đối tượng không nắm rõ đầy đủ các tác dụng của HCBVTV.
Diệt trừ sâu bệnh cho thực vật
Biết được ≥ 3 tác dụng của
Tác dụng diệt trừ sâu bệnh cho thực vật được biết đến nhiều nhất với tỷ lệ 78,0%, tiếp theo là tác dụng diệt cỏ (23,8%) và kích thích tăng trưởng (22,0%) Tuy nhiên, chỉ có 5,0% đối tượng biết đến tác dụng làm quả chín nhanh Tỷ lệ đối tượng nhận thức về ba tác dụng của HCBVTV là khá thấp, chỉ đạt 11,5%, trong đó Lê Hồ chiếm 40,5% và Hoàng Tây chiếm 59,5% Sự khác biệt giữa hai xã này không có ý nghĩa thống kê (p = 0,969 > 0,05).
3.2.1.4 Kiến thức về tác hại khi thu hoạch sớm hơn thời gian cách ly
Bảng 8 cho thấy kiến thức của người dân về tác hại của việc phun hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) và thu hoạch nông sản sớm hơn thời gian khuyến cáo Việc thu hoạch nông sản trước thời gian cách ly có thể gây hại cho người thu hoạch và người tiêu dùng Kết quả khảo sát cho thấy 44,0% người dân nhận thức được độc hại đối với người thu hoạch, 55,4% biết đến độc hại đối với người sử dụng, và 5,0% không biết về tác hại khi thu hoạch sớm Tỷ lệ nông dân nhận thức ít nhất một tác hại khi thu hoạch sớm đạt 92%, cho thấy sự quan tâm cao đến vấn đề này.
Lê Hồ chiếm 95,4% và Hoàng Tây chiếm 89,6%
HUPH ảng 8 Kiến thức về tác hại khi thu hoạch sớm
Tác hại khi thu hoạch sớm Độc cho người thu hoạch Độc cho người sử dụng
3.2.1.5 Kiến thức về đối tƣợng không nên đi phun hóa chất bảo vệ thực vật
Bảng 9 cho thấy 56,7% đối tượng nhận thức rằng phụ nữ có thai và đang cho con bú không nên đi phun HCBVTV Ngoài ra, có 39,3%, 27,9% và 3,4% người phun HCBVTV biết rằng người ốm, người già/trẻ em, và người đang say rượu/bia cũng không nên tham gia Tuy nhiên, chỉ có 8,7% đối tượng trả lời đúng từ 3 phương án trở lên Đặc biệt, đối tượng thuộc xã Hoàng Tây có kiến thức tốt hơn về những đối tượng không nên đi phun thuốc (13,0%) so với xã Lê Hồ (2,3%).
= 0,0010,05).
Khi mua HCBVTV, chỉ có 10,5% đối tượng quan sát ý nghĩa màu sắc vạch, trong khi 89,5% không để ý đến thông tin này Trong số những người quan sát, chỉ 9,0% biết vạch màu đỏ rất độc, 1,9% nhận biết vạch màu vàng độc cao, và 1,9% cho rằng vạch màu xanh biển nguy hiểm và vạch màu xanh lá cây cần thận trọng Tỷ lệ người biết từ 3 ý nghĩa màu sắc vạch trở lên chỉ chiếm 0,6%, chủ yếu là những người từng làm công tác HCBVTV Các nông dân phun thuốc thường không biết hoặc hiểu nhầm về vị trí quan sát màu sắc vạch trên bao bì sản phẩm Không có sự khác biệt về kiến thức quan sát màu sắc vạch giữa hai xã Lê Hồ và Hoàng Tây (p = 0,778 > 0,05).
3.2.3 Kiến thức về sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật đúng cách
Kiến thức sử dụng HCBVTV đúng cách được đánh giá qua hiểu biết của người sử dụng về thời điểm và điều kiện thời tiết khi phun, liều lượng pha thuốc, địa điểm pha thuốc và phương pháp hòa tan thuốc.
3.2.3.1 Kiến thức về thời điểm, thời tiết thích hợp đi phun hóa chất bảo vệ thực vật Khi đƣợc hỏi về thời điểm thích hợp trong ngày để đi phun HCBVTV, phần lớn các đối tƣợng (96,3%) có kiến thức đúng về thời gian đi phun thuốc là buổi sáng sớm (55,1%) hay buổi chiều tối (89,8%), chỉ có số ít đối tƣợng có kiến thức đi phun thuốc vào buổi trƣa (0,9%) hoặc bất kể lúc nào (1,9%)
HUPH ảng 11 Kiến thức về thời điểm, thời tiết đi phun hóa chất bảo vệ thực vật
Thời điểm đi phun thuốc
Thời tiết đi phun thuốc
Thời tiết thích hợp để phun HCBVTV được 86,1% đối tượng khảo sát cho rằng là khi trời mát, trong khi 32,8% cho rằng trời lặng gió cũng là điều kiện tốt Chỉ một số ít (0,9%) cho rằng có thể phun khi trời nắng to và 2,2% khi trời gió, trong khi 0,6% cho rằng có thể phun lúc trời mưa Tuy nhiên, có một số ý kiến cho rằng thời tiết lý tưởng là khi trời vừa mát vừa lặng gió, dẫn đến 64,1% đối tượng có kiến thức đúng về thời tiết thích hợp để phun HCBVTV Đặc biệt, đối tượng thuộc xã Lê Hồ có kiến thức tốt hơn (72,3%) so với xã Hoàng Tây (58,5%) với p = 0,011 < 0,05.
3.2.3.2 Kiến thức về liều lƣợng pha thuốc, cách hòa tan thuốc
Thực hành về sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật
Thực hành sử dụng HCBVTV được đánh giá qua các câu hỏi về lựa chọn thuốc, cách sử dụng, xử lý dụng cụ và hóa chất thừa, cũng như phòng ngừa phơi nhiễm Bộ câu hỏi chủ yếu là dạng nhiều lựa chọn, nhằm đánh giá chính xác thực hành của ĐTNC Đối tượng được coi là thực hành đúng khi duy trì hành vi đúng 100% trong các lần thực hiện Ngược lại, nếu có sự kết hợp giữa hành vi đúng và sai, đối tượng sẽ bị đánh giá là thực hành không đạt.
Kết quả phỏng vấn cho thấy 38,1% đối tượng có thực hành đạt ở cả hai xã, trong khi 61,9% không đạt Tỉ lệ thực hành đạt ở xã Lê Hồ (48,5%) cao hơn xã Hoàng Tây (31,1%) với p = 0,002 Những đối tượng thuộc xã Lê Hồ có khả năng thực hành đạt cao gấp 2,084 lần so với xã Hoàng Tây (OR = 2,084; 95% CI: 1,316 – 3,300).
Lê Hồ Hoàng Tây Tổng
Thực hành đạt Thực hành không đạt iểu đồ 7 Thực hành sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật
3.3.1 Thực hành lựa chọn đúng thuốc khi mua
Việc chọn lựa thuốc phù hợp và có uy tín là rất quan trọng để đảm bảo an toàn cho người phun thuốc và môi trường, đồng thời mang lại hiệu quả cao cho cây trồng.
Mặc dù việc kiểm tra nhãn mác trên vỏ bao bì khi mua hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) chưa được người nông dân chú trọng, nhưng theo Bảng 19, có 41,2% đối tượng thực hiện việc này Trong số đó, 33,1% chọn thuốc có hướng dẫn bằng tiếng Việt và 31,0% đọc hướng dẫn sử dụng khi mua thuốc Tuy nhiên, chỉ có 11,1% đối tượng quan sát vạch màu trên vỏ bao bì sản phẩm Đặc biệt, những đối tượng thuộc xã Lê Hồ có thực hành tốt hơn so với xã Hoàng Tây, với tỷ lệ thực hành cao hơn ở mỗi câu hỏi.
Lựa chọn thuốc có hướng dẫn bằng tiếng việt
46 (35,4) 61 (31,6) 107 (33,1) 0,479 Đọc hướng dẫn sử dụng khi mua thuốc
Một số nguyên nhân dẫn đến hành vi không quan tâm đến thông tin trên vỏ bao bì sản phẩm HCBVTV có thể được tìm hiểu qua kết quả phỏng vấn sâu với một số đối tượng.
Cô Nguyễn Thị T, 51 tuổi, cho biết rằng cô thường nghe theo hướng dẫn của người bán thuốc, nhưng cũng đôi khi dựa vào chỉ dẫn trên bao bì Cô điều chỉnh liều lượng thuốc từ 1 bình/sào lên 2 bình/sào tùy thuộc vào tình trạng sâu bệnh của lúa, có khi nhiều, có khi ít.
Nhiều nông dân vẫn duy trì thói quen sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, mặc dù thị lực kém khiến họ không thể đọc hướng dẫn Họ thường nhớ số lượng gói thuốc cần dùng cho mỗi bình và thời gian phun thuốc, như chia sẻ của Vũ Thị D, 41 tuổi, từ xã Hoàng Tây.
Cô Hoàng Thị A, 48 tuổi, cho biết rằng cô đã đọc hướng dẫn sử dụng và cách pha thuốc, nhưng không phải lúc nào cũng chú ý đến nơi sản xuất Cô cũng đã xem xét các cảnh báo về mức độ độc hại, tuy nhiên, có những lúc cô quên hoặc không để ý đến thông tin này.
3.3.2 Thực hành sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật đúng cách
3.3.2.1 Thực hành về lựa chọn thời điểm và thời tiết đi phun hóa chất bảo vệ thực vật
Việc thực hành sử dụng HCBVTV đúng cách được đánh giá qua các yếu tố như thời điểm phun, điều kiện thời tiết, liều lượng pha thuốc, địa điểm pha thuốc, cách hòa tan thuốc và hướng di chuyển khi phun.
Thời điểm phun thuốc chủ yếu diễn ra vào buổi chiều tối (82,7%) và buổi sáng sớm (46,4%) do thời tiết dễ chịu, phù hợp cho việc phun trong những ngày nắng nóng Đối tượng ở xã Hoàng Tây thường phun vào chiều mát, trong khi xã Lê Hồ phun cả hai thời điểm Một số ít vẫn phun vào buổi trưa (19,2%) hoặc bất kỳ lúc nào (5,9%) Tỷ lệ đối tượng thực hành đúng thời điểm phun HCBVTV (sáng hoặc chiều) đạt 73,7% ở cả hai xã Một người dân xã Hoàng Tây chia sẻ rằng thời gian phun thuốc phụ thuộc vào công việc gia đình, có khi phải tranh thủ phun vào buổi trưa hoặc phun từ sáng đến quá trưa mới xong.
Thời tiết lý tưởng để phun thuốc theo ý kiến của đối tượng khảo sát là khi trời mát (78,9%) và lặng gió (42,1%) Một số ít vẫn phun thuốc trong điều kiện thời tiết không thuận lợi như trời nắng to (12,4%), gió (18,6%) và mưa (2,2%) Chỉ có 1,2% đối tượng không quan tâm đến thời tiết khi phun thuốc Tỷ lệ đối tượng thực hành đúng về thời tiết khi phun thuốc bảo vệ thực vật chỉ đạt 42,4%, và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai xã.
Dù trời nắng gắt, Lê Văn B, 45 tuổi, vẫn quyết định phun hóa chất bảo vệ thực vật vì sức khỏe của mình cho phép Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lựa chọn thời điểm và điều kiện thời tiết phù hợp để thực hiện công việc này.
Thời tiết đi phun HCBVTV
3.3.2.2 Kiến thức về liều lƣợng pha, địa điểm pha hóa chất bảo vệ thực vật
Kết quả phỏng vấn cho thấy 78,0% đối tượng thực hành pha thuốc theo hướng dẫn trên bao bì, trong khi 60% thực hiện theo chỉ dẫn của người bán hàng Tuy nhiên, chỉ có 32,8% đối tượng thực hành pha thuốc đạt yêu cầu, với 37,7% ở xã Lê Hồ cao hơn 29,5% ở xã Hoàng Tây (p = 0,126 > 0,05) Một số đối tượng pha thuốc đặc hơn (16%), loãng hơn (1,2%), hoặc dựa vào kinh nghiệm cá nhân (5%), cho thấy sự đa dạng trong cách thực hành pha thuốc.
Nguyễn Ngọc N, 40 tuổi, ở Hoàng Tây, cho biết rằng chị vẫn pha thuốc trừ sâu theo thói quen cũ, sử dụng 8 lít nước cho mỗi gói thuốc, giống như cách chị đã làm trước đây Chị phun thuốc với lượng tương tự cho mỗi sào đất, không thay đổi dù thuốc có khác nhau.
Trước khi phun thuốc, người nông dân nên mua thuốc và pha theo đúng hướng dẫn của người bán Việc pha chế thuốc bảo vệ thực vật cần chính xác, vì có nhiều loại thuốc khác nhau và việc trộn lẫn có thể gây nhầm lẫn.
Pha nhƣ chỉ dẫn ở vỏ bao bì Đặc hơn
Loãng hơn Ƣớc lƣợng theo kinh nghiệm
Theo chỉ dẫn của người bán hàng
Thực hành pha thuốc đúng
Pha ở ao hồ, sông ngòi
Tiếp cận truyền thông, thông tin
Theo kết quả phỏng vấn, 72,1% đối tượng không tiếp cận thông tin truyền thông trong vòng 1 tháng trước phỏng vấn, trong khi 25,4% chỉ nghe thông tin từ 1-2 lần và chỉ 2,5% nghe từ 3 lần trở lên Tỷ lệ tiếp cận truyền thông về HCBVTV ≥ 3 lần ở xã Lê Hồ cao hơn xã Hoàng Tây (4,6% so với 1,0%), và tỷ lệ tiếp cận từ 1-2 lần cũng cao hơn (30,7% so với 21,7%) Nghiên cứu được thực hiện vào tháng 4 và tháng 5 năm 2014, đúng thời điểm nông dân hai xã đang trồng lúa vụ Chiêm Xuân và các loại cây khác, cho thấy cần đẩy mạnh các hình thức truyền thông tại địa phương Việc thu thập thông tin kết hợp với tập huấn điều tra viên giúp giảm sai số nhớ lại, nâng cao độ chính xác của dữ liệu.
HUPH ảng 28 Tiếp cận truyền thông
Xã Lê Hồ Hoàng Tây Tổng
Số lần được nghe truyền thông
Loa phát thanh của xã
Cách sử dụng HCBVTV an toàn
Xử trí khi nhiễm HCBVTV
Nhu cầu về tăng cường truyền thông
Cách sử dụng HCBVTV an toàn
Xử trí khi nhiễm HCBVTV
Tại xã Lê Hồ, nguồn thông tin chủ yếu mà người dân tiếp cận là qua loa phát thanh của xã, chiếm 25,4% Thông tin từ người bán hóa chất bảo vệ thực vật chiếm 14,6%, cán bộ nông nghiệp 10%, và hàng xóm 2,3% Trong số các thông tin về hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV), loại thông tin được tiếp nhận nhiều nhất là về HCBVTV nên dùng trong vụ mùa này, chiếm 27,7%, chủ yếu do loa phát thanh của xã cung cấp.
Gần đến thời điểm phun HCBVTV, nông dân được thông báo về tình hình bệnh tật của cây trồng và loại thuốc cần sử dụng Tuy nhiên, thông tin về cách sử dụng HCBVTV an toàn và xử trí khi bị nhiễm độc vẫn chưa hiệu quả, chỉ chiếm 3,8% và 1,5%.
Tại xã Hoàng Tây, tỉ lệ người dân được nghe truyền thông về HCBVTV ≥ 3 lần/tháng chỉ đạt 1,0%, thấp hơn so với xã Lê Hồ Thông tin chủ yếu được tiếp cận qua loa phát thanh của xã (24,9%) và từ người bán HCBVTV (19,7%), trong khi nguồn thông tin từ cán bộ nông nghiệp chỉ chiếm 9,8% và vai trò của cán bộ y tế gần như chưa được phát huy (0%) Loại thông tin mà người dân tiếp cận nhiều nhất là về HCBVTV nên sử dụng (28,0%), tiếp theo là thông tin về cách sử dụng an toàn (10,4%) và tác hại của HCBVTV (5,2%) Các thông tin về dự phòng phơi nhiễm và xử trí khi bị phơi nhiễm độc HCBVTV cũng có tỉ lệ rất thấp, lần lượt là 3,6% và 1,6%.
Tại hai xã Lê Hồ và Hoàng Tây, 94,8% đối tượng cảm thấy cần tăng cường truyền thông về HCBVTV, trong khi chỉ 5,2% không có nhu cầu Thông tin cần thiết nhất bao gồm loại hóa chất nên dùng trong vụ mùa (61,7%), cách sử dụng HCBVTV an toàn (54,9%), tác hại của HCBVTV (48,2%), dự phòng phơi nhiễm với HCBVTV (35,2%), và xử trí khi bị phơi nhiễm (21,8%) Điều này cho thấy nhận thức của đối tượng về tầm quan trọng của việc phòng ngừa phơi nhiễm với HCBVTV vẫn còn hạn chế.
Một số yếu tố liên quan đến thực hành sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật
Nghiên cứu của chúng tôi không phát hiện mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa các yếu tố như giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn và thời gian tiếp xúc với hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) đối với thực hành sử dụng HCBVTV.
Yếu tố Đạt Không đạt P
Dưới trung học cơ sở
Từ trung học cơ sở trở lên
Thâm niên tiếp xúc với
Chúng tôi tìm thấy mối liên quan giữa kiến thức và thực hành sử dụng
HCBVTV, những đối tƣợng có kiến thức về sử dụng HCBVTV đạt có thực hành đạt
HUPH cao gấp 6,821 lần so với những đối tƣợng có kiến thức này không đạt (OR = 6,8; 95%
Có mối liên quan rõ rệt giữa việc tiếp cận truyền thông và thực hành sử dụng HCBVTV Những đối tượng được tiếp cận truyền thông ít nhất một lần mỗi tháng có tỷ lệ thực hành cao gấp 4,6 lần so với những đối tượng không được tiếp cận truyền thông, với tỷ lệ odds ratio (OR) là 4,7 và khoảng tin cậy 95% (CI: 2,8 – 7,9).
Nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ rõ ràng giữa địa bàn sinh sống và thực hành sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) Cụ thể, những người sống tại xã Lê Hồ có tỷ lệ thực hành HCBVTV cao gấp 2,1 lần so với những người ở xã Hoàng Tây, với tỷ lệ odds ratio (OR) là 2,1 và khoảng tin cậy 95% (CI: 1,3 – 3,3) Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiếp cận truyền thông và kiến thức trong việc nâng cao thực hành sử dụng HCBVTV.
Yếu tố Đạt Không đạt P
(1,316 – 3,300) Hoàng Tây 60 (48,8) 133 (66,5) Để tìm hiểu mối liên quan đa biến giữa các biến độc lập với thực hành sử dụng
Chúng tôi đã sử dụng mô hình hồi quy logistic đa biến để kiểm soát các yếu tố gây nhiễu liên quan đến thực hành sử dụng HCBVTV, đưa vào mô hình các yếu tố có giá trị kiểm định p