PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện với 255 cặp vợ chồng có phụ nữ trong độ tuổi từ 30 đến 50 tại huyện Thanh Bình Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn với bộ câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn Các cặp vợ chồng được chọn tham gia nghiên cứu đều đang sinh sống tại huyện Thanh Bình, có sức khỏe tốt, đủ năng lực hành vi và đồng ý tham gia trả lời các câu hỏi phỏng vấn.
Các đối tượng sẽ bị loại khỏi nghiên cứu bao gồm những người đã từng mắc bệnh ung thư cổ tử cung, chồng không cư trú tại địa phương trong thời gian điều tra, và những người không đủ khả năng trả lời phỏng vấn hoặc không đáp ứng tiêu chí về sức khỏe và tâm thần.
Thơ ̀ i gian và đi ̣a điểm nghiên cứu
- Thời gian: từ tháng 3 năm 2020 đến tháng 7 năm 2020
- Đi ̣a điểm nghiên cứ u: Tại 3 xã (Tân Bình, An Phong, Phú Lợi) của huyê ̣n Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang có phân tích.
Cỡ mẫu
Trong đề tài này, chúng tôi cho ̣n công thức tính cỡ mẫu ước lượng mô ̣t tỷ lê ̣ trong quầ n thể:
* Cỡ mẫu được tính theo công thức n = Z 2 ( 1 a / 2 ) (1 2 ) d
Chọn mức ý nghĩa α = 0,05 tương ứng với độ tin cậy 95%, với giá trị Z 2 (1 - a / 2) = 1,96; d = 0,07, P = 0,5 Tỷ lệ thực hành tầm soát của ĐTNC là tỷ lệ kỳ vọng của chương trình, do chưa có nghiên cứu nào trên địa bàn Từ đó, tính được cỡ mẫu n = 196 cặp Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn và để khái quát cho toàn huyện, cỡ mẫu được nhân thêm 1,2, dẫn đến n = 196 x 1,2.
1,2 = 235 Để đề phòng mất mẫu chúng tôi ước tính cộng thêm 10% trong cỡ mẫu n Vậy cỡ mẫu nghiên cứu là: n = 255 cặp vợ chồng
Phương pháp chọn mẫu
Chúng tôi đã chọn mẫu cụm phân tầng hai giai đoạn theo 3 vùng sinh thái tại huyện Thanh Bình, bao gồm vùng cù lao, vùng ven và vùng sâu Mỗi vùng được đại diện bởi 1 xã được chọn ngẫu nhiên qua hình thức bắt thăm, dẫn đến việc lựa chọn 3 xã: Tân Bình, An Phong và Phú Lợi Cuối cùng, 255 cặp vợ chồng từ 3 xã này được chọn bằng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên hệ thống.
Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Công cụ thu thập số liệu
Số liệu được thu thập thông qua việc khảo sát các cặp vợ chồng có phụ nữ từ
Đối tượng khảo sát là các cặp vợ chồng trong độ tuổi từ 30 đến 50 Công cụ khảo sát bao gồm hai bộ câu hỏi riêng biệt dành cho chồng và vợ Mỗi cặp vợ chồng sẽ được phỏng vấn bởi hai điều tra viên, mỗi người sẽ phỏng vấn vợ và chồng một cách riêng biệt.
Bộ câu hỏi dành cho người vợ bao gồm các nội dung quan trọng như thông tin chung về ĐTNC, kiến thức về bệnh K CTC, tầm soát K CTC, thực hành khám phụ khoa định kỳ, và niềm tin đối với cán bộ y tế.
Bộ câu hỏi vai trò người chồng được thiết kế nhằm đánh giá kiến thức về tầm soát ung thư cổ tử cung (K CTC) và sự hỗ trợ của chồng đối với vợ trong việc thực hiện tầm soát K CTC.
Bộ câu hỏi được xây dựng và phát triển dựa trên 2 nghiên cứu tương tự của
Lê Khánh Chi (2013) và Trần Thị Lan (2019) đã được sử dụng làm cơ sở để xây dựng biến số và bộ câu hỏi cho nghiên cứu Nghiên cứu này kết hợp với thang đo Likert nhằm phát triển công cụ đo lường vai trò của người chồng trong việc hỗ trợ vợ thực hành kiểm soát K CTC, dựa trên nghiên cứu của Chioma C ASUZU năm 2014.
2.6.2 Chọn điều tra viên, giám sát viên và người dẫn đường Điều tra viên: 6 nhân viên Trạm Y tế xã - Trung tâm Y tế huyê ̣n Thanh Bình Người dẫn đường: 12 cô ̣ng tác viên y tế ta ̣i các xã, huyê ̣n Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp
Giám sát viên: Ho ̣c viên tha ̣c sĩ lớp Y tế công cộng Khóa: K22-3A - Đồng Tháp
Bộ công cụ điều tra đã được hoàn thiện thông qua việc thử nghiệm trước khi thu thập dữ liệu chính thức Trong quá trình này, 15 cặp vợ chồng có vợ từ 30 – 50 tuổi tại 3 xã của huyện Thanh Bình đã được phỏng vấn để phát hiện sai sót và điều chỉnh các nội dung, từ ngữ chưa phù hợp, nhằm đảm bảo tính chính xác và hiệu quả của bộ công cụ.
* Tổ chức tập huấn ĐTV:
- Đối tượng được tập huấn: Là các ĐTV( 6 cán bộ là nhân viên TYT và TTYT huyện Thanh Bình
- Tài liê ̣u tâ ̣p huấn được xây dựng dựa trên đề cương nghiên cứu
Nội dung tập huấn bao gồm hướng dẫn cách thức thực hiện phỏng vấn và ghi phiếu phỏng vấn, cùng với việc đánh giá các tiêu chuẩn trong ghi phiếu quan sát dựa trên bộ câu hỏi điều tra.
* Tiến hành điều tra tại thực địa:
Xây dựng kế hoạch và hợp tác với Trung tâm Y tế huyện để hỗ trợ điều tra, trong đó lãnh đạo Trung tâm chỉ đạo ba xã địa phương phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện nghiên cứu, đồng thời hỗ trợ nhân sự trong quá trình điều tra.
Sau khi tập huấn, các điều tra viên (ĐTV) đã cùng giám sát viên phỏng vấn 15 mẫu phiếu Tiếp theo, ĐTV tự thực hiện phỏng vấn trực tiếp và độc lập với 2 đối tượng nghiên cứu (vợ và chồng) Mỗi ngày, cán bộ điều tra kiểm tra lại phiếu để đảm bảo thông tin được thu thập đầy đủ Giám sát viên gặp người điều tra để thu và kiểm tra phiếu, nếu phát hiện thông tin thiếu hoặc nghi ngờ, sẽ yêu cầu ĐTV điều tra lại vào ngày hôm sau Người nghiên cứu trực tiếp phỏng vấn 30% tổng số phiếu.
Các biến số nghiên cứu
Chúng tôi thu thập thông tin về phụ nữ, bao gồm các yếu tố như tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập, tình trạng sống chung, tuổi lập gia đình, số con và lịch sử mắc bệnh ung thư cổ tử cung Thông tin này được trình bày trong Phụ lục 1, nhằm mục đích hiểu rõ hơn về kiến thức, niềm tin và thực hành của họ.
Nhóm biến số liên quan đến thực hành sàng lọc ung thư cổ tử cung bao gồm: việc đã từng khám phụ khoa, nhận được tư vấn về khám phụ khoa, đã thực hiện sàng lọc, sàng lọc ung thư cổ tử cung định kỳ, và cơ sở y tế đã đến để thực hiện sàng lọc ung thư cổ tử cung.
Nhóm biến số về hành động hỗ trợ của người chồng trong việc sàng lọc ung thư cổ tử cung của người vợ bao gồm: giúp vợ làm việc nhà, tham gia các hoạt động bên ngoài cùng vợ, tìm kiếm sự hỗ trợ khi vợ gặp khó khăn về sức khỏe tình dục, chủ động thảo luận với vợ để giải quyết các vấn đề sức khỏe, nhắc nhở vợ đi khám sàng lọc, dành thời gian cho công việc nhà, và tìm hiểu về cách phòng ngừa ung thư cổ tử cung cùng các thông tin liên quan.
Sàng lọc ung thư cổ tử cung là một yếu tố quan trọng đối với sức khỏe của phụ nữ, ngay cả những người khỏe mạnh cũng cần thực hiện Phát hiện sớm ung thư cổ tử cung có thể giúp chữa trị hiệu quả, do đó, sự tự tin và niềm tin vào quy trình sàng lọc là rất cần thiết Việc khám sàng lọc không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe mà còn nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc phát hiện sớm bệnh.
Nhóm biến số kiến thức về ung thư cổ tử cung bao gồm nhận thức của phụ nữ về các triệu chứng, nguyên nhân, độ tuổi mắc bệnh và yếu tố nguy cơ Việc phát hiện sớm ung thư cổ tử cung có thể chữa khỏi, và nhiều người đã từng nghe nói về bệnh này Kiến thức về tầm soát ung thư cổ tử cung cũng rất quan trọng, bao gồm lợi ích, độ tuổi và thời gian tầm soát định kỳ, cũng như các cơ sở y tế thực hiện tầm soát và phương pháp tầm soát.
Ca ́c tiêu chuẩn đánh giá
Chấm điểm cho kiến thức, thực hành, dịch vụ y tế và niềm tin về tầm soát K của người phụ nữ được thực hiện bằng cách cho mỗi ý trả lời đúng từ 0,5 đến 2 điểm, trong khi các ý sai hoặc không trả lời được sẽ nhận 0 điểm Do đó, những câu hỏi có nhiều ý sẽ có giá trị điểm cao hơn so với các câu có ít ý.
- Kiến thức về bệnh K CTC và tầ m soát K CTC, điểm tối đa 15 điểm
- Thực hành về tầm soát K CTC, điểm tối đa 10 điểm
- Niềm tin về tầ m soát K CTC, điểm tối đa 35 điểm
HUPH Điểm chấm cụ thể cho các câu hỏi được viết trong Phụ lục 4
Chấm điểm về sự hỗ trợ vợ thực hành tầm soát K CTC của người chồng được thực hiện dựa vào thang điểm Likert, đánh giá 5 mức độ hỗ trợ cho 11 câu hỏi cụ thể Mỗi câu trả lời được tính điểm từ 0 đến 4, với tổng điểm tối đa là 44 điểm (Phụ lục 5).
Phương pháp phân tích số liệu
Kết quả từ phỏng vấn đối tượng nghiên cứu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0, với phân tích số liệu dưới dạng tần số n và tỷ lệ % Mối liên quan giữa kiến thức của vợ và vai trò của người chồng trong tầm soát ung thư CTC được đo bằng tỷ số tỷ lệ hiện mắc (PRR) và kiểm định bằng kiểm định khi bình phương với mức ý nghĩa thống kê p