1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và một số yếu tố liên quan tại huyện xay tha ny, thủ đô viêng chăn, lào năm 2017

81 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và một số yếu tố liên quan tại huyện Xay Tha Ny, Thủ đô Vương Chăn, Lào năm 2017
Tác giả Titthasone Sounsavath
Người hướng dẫn PGS.TS. Đinh Thị Phương Hòa
Trường học Trường Đại Học Y Tế Công Cộng
Chuyên ngành Y tế cộng đồng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (13)
    • 1.1. Một số kiến thức cơ bản về sữa mẹ và nuôi con bằng sữa mẹ (13)
      • 1.1.1. Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu (13)
      • 1.1.2. Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ (14)
    • 1.2. Kiến thức và thực hànhnuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và một số yếu tố liên quan (17)
      • 1.2.1. Một số nghiên cứu về Kiến thức và thực hành về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu (17)
      • 1.2.2. Một số yếu tố liên quan đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn 11 Yếu tố từ phía trẻ (20)
    • 1.3. Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu: huyện Xay Tha Ny (22)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (25)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (25)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (25)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (25)
    • 2.4. Cỡ mẫu (25)
    • 2.5. Phương pháp chọn mẫu (25)
    • 2.6. Phương pháp thu thập số liệu (26)
      • 2.6.1. Công cu ̣ thu thâ ̣p số liê ̣u (26)
      • 2.6.2. Phương pháp thu thâ ̣p số liê ̣u (26)
    • 2.7. Các biến số (27)
    • 2.8. Các khái niệm, thước đo và tiêu chuẩn đánh giá (27)
      • 2.8.1. Các khái niệm (27)
      • 2.8.2. Tiêu chuẩn đánh giá (27)
    • 2.9. Quản lý và phân tích số liệu (28)
    • 2.10. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu (28)
    • 2.11. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục (28)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (30)
    • 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (30)
    • 3.2. Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn (31)
      • 3.2.1. Tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu (31)
    • 3.3. Kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn (33)
    • 3.4. Xác định một số yếu tố liên quan đến thực hành NCBSMHT (38)
  • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (42)
    • 4.1. Kiến thức và thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu tại địa bàn nghiên cứu (42)
      • 4.1.1. Kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu (42)
      • 4.1.2. Thực hành nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ (44)
    • 4.2. Một số yếu tố liên quan đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu (45)
    • 4.3. Hạn chế của nghiên cứu (47)
  • KẾT LUẬN (48)
    • 1. Kiến thức và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu của bà mẹ có con từ 7-12 tháng tuổi (48)
    • 2. Một số yếu tố liên quan đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu (48)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (50)
  • PHỤ LỤC (52)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Các bà mẹ có con từ 7 -12 tháng tuổi ít nhất 6 tháng trước ngày điều tra và sống tại huyện Xay Tha Ny, Thủ đô ViêngChăn

Tiêu chí loại trừ đối tượng:

- Các bà mẹ không cho con bú

- Các bà mẹ không có khả năng trả lời các câu hỏi do bệnh nặng, các vấn đề tâm thần hoặc thần kinh

- Đối tượng không hợp tác chỉ được xác định khi điều tra viên tới vận động tại hộ gia đình 3 lần không thành công, đối tượng chuyển, tử vong.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: Từ tháng 11/2017 đến tháng 4/2018 Địa điểm: Huyện Xay Tha Ny, Thủ đô Viêng Chăn, Lào.

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

Cỡ mẫu

Cỡ mẫu được tính dựa trên công thức sau:

Trong nghiên cứu này, số lượng bà mẹ cần điều tra được ký hiệu là n Tỷ lệ cho con bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu tại Thủ đô Viêng Chăn, theo khảo sát Quốc gia (Lao Social Indicator Survey (LSIS) 2011-2012), là 30% Độ chính xác tuyệt đối được xác định với d = 0,07 Mức ý nghĩa thống kê được chọn là 95%, tương ứng với α = 0,05.

Z 1-α/2: Giá trị thu được bằng cách tra bảng Z, có α = 0,05; Z = 1,96

Từ các dữ liệu trên, cỡ mẫu tối thiểu được làm tròn là 165, thêm 10% từ chối trả lời làm tròn mẫu là 181.

Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu ngẫu nhiên hai giai đoạn:

Giai đoạn 1: Bốc thăm ngẫu nhiên 6 xã trong tổng số 11 xã trong huyện

Huyện Xay Tha Ny, thuộc Thủ đô Viêng Chăn, bao gồm 11 xã và thị trấn Trong số đó, 6 xã được bốc thăm ngẫu nhiên, bao gồm xã Tha Ngon và xã Bạn Xay, là trung tâm khu đô thị của huyện Ngoài ra, xã Tha Đin Đeng và xã Đông Băng nổi bật với cộng đồng dân tộc Hmong-Dao Xã Khộc Sy Vy Lay và xã Xay Sôm Bun cũng đáng chú ý, với nhiều làng mới và sự đa dạng về dân tộc, khi có nhiều người dân từ miền Bắc và Nam đến sinh sống.

Giai đoạn 2: Dùng phương pháp ngẫu nhiên hệ thống để chọn các bà mẹ trong từng xã

- Lập danh sách các trẻ từ 7 đến 12 tháng tuổi trong từng xã và các bà mẹ có các trẻ tương ứng

- Tính khoảng cách kp7/180=4 (707Tổng số trẻ tương ứng với số bà mẹ của 6 xã)

- Bốc thăm ngẫu nhiên chọn trẻ đầu tiên (x), có số thứ tự từ 1 đến 4

- Trẻ thứ 2 có số thứ tự trong danh sách là x + k, x + 2k x+(n-1)k, chọn tiếp theo cho đến đủ cỡ mẫu là 181.

Phương pháp thu thập số liệu

2.6.1 Công cụ thu thâ ̣p số liê ̣u

Bộ câu hỏi được thiết kế dựa trên khung lý thuyết và tham khảo từ bộ câu hỏi điều tra ban đầu của Alive & Thrive, nhằm nghiên cứu thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ Chi tiết về bộ câu hỏi có thể được tìm thấy trong phụ lục 1.

Bộ câu hỏi sẽ được thử nghiệm tại một xã thuộc huyện Xay Tha Ny mà không được chọn tham gia vào điều tra trước khi thu thập số liệu Sau giai đoạn thử nghiệm, bộ câu hỏi sẽ được chỉnh sửa và hoàn thiện.

2.6.2 Phương pháp thu thâ ̣p số liê ̣u

Phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ tại hộ gia đình được thực hiện dựa trên bộ câu hỏi định lượng đã được thiết kế sẵn Tổng cộng có 05 người tham gia điều tra, bao gồm 01 học viên lớp Cao học YTCC 20 và 04 cán bộ y tế tại trạm y tế xã Một học viên thực hiện phỏng vấn tại 02 xã, trong khi 04 cán bộ y tế mỗi người phỏng vấn tại 01 xã Điều tra viên đã đến từng hộ gia đình để giới thiệu về nghiên cứu và xin sự đồng ý tham gia từ các bà mẹ.

Sau đó tiến hành phỏng vấn theo bộ câu hỏi để đối tượng nghiên cứu trả lời

Nếu đối tượng không có mặt khi điều tra viên (ĐTV) đến, ĐTV sẽ quay lại hỏi sau Nếu sau ba lần không gặp được đối tượng, ĐTV sẽ chọn người tiếp theo trong khung mẫu để tham gia nghiên cứu theo hệ số k.

Các biến số

(Chi tiết tại phụ lục 3)

- Thông tin chung và các đặc điểm

- Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn

- Kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn

Các khái niệm, thước đo và tiêu chuẩn đánh giá

Nuôi con bằng sữa mẹ: là cách nuôi dưỡng trong đó trẻ trực tiếp bú sữa mẹ hoặc uống sữa từ vú mẹ vắt ra

Bú sớm là việc cho trẻ bú ngay trong vòng 1 giờ sau khi sinh Bú mẹ hoàn toàn có nghĩa là chỉ cho trẻ bú mẹ mà không bổ sung bất kỳ thức ăn hay đồ uống nào khác, kể cả nước trắng, trừ khi cần thiết phải uống vitamin, khoáng chất hoặc thuốc.

Khuyến nghi của WHO và UNICEF về nuôi dưỡng trẻ: Trẻ cần được bú mẹ sớm trong vòng

Trong giờ đầu sau sinh, trẻ nên được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời Khi trẻ tròn 6 tháng, cần bắt đầu cho trẻ ăn thức ăn bổ sung hợp lý và tiếp tục duy trì việc bú mẹ cho đến 24 tháng tuổi hoặc lâu hơn.

➢ Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức bú sớm

- Kiến thức về bú sớm được đánh giá qua 3 câu hỏi (câu hỏi số 201, 203) Điểm tối đa là 6 điểm

- Mỗi ý trả lời đúng được 1 điểm Câu số 201trả lời đúng là ý số 1, câu số 202 trả lời đúng là ý số 2; câu 203 trả lời đúng là ý số 1,2,3,4

Kiến thức bú sớm được đánh giá là đạt khi mỗi câu hỏi có điểm trả lời tối thiểu là 1 điểm, và tổng điểm kiến thức phải đạt ít nhất 50% so với tổng số điểm trung bình.

➢ Kiến thức về NCBSMHT được đánh giá qua 12 câu hỏi (câu hỏi số 204 đến 215) Điểm tối đa là 29 điểm

Mỗi câu hỏi trong bài kiểm tra đều có giá trị 1 điểm Câu 204 có đáp án đúng là số 3, trong khi câu 205 có các đáp án đúng là 1, 2, 3, 4, 5, 6 Đối với câu 206, các đáp án đúng là 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 Câu 207 có đáp án đúng là số 2, và câu 208 có đáp án đúng là số 1 Câu 209 có các đáp án đúng là 1, 3, 4, 5, 7, trong khi câu 210 có đáp án đúng là số 2 Cuối cùng, câu 211 cũng có đáp án đúng là số 2.

HUPH là ý số 1; câu số 213 trả lời đúng là ý số 1 ; câu số 214 trả lời đúng là ý số 1 ; câu số 215 trả lời đúng là ý số 1

Kiến thức NCBSMHT được coi là đạt yêu cầu khi mỗi câu hỏi có thể trả lời được 1 điểm, và tổng điểm kiến thức phải đạt ít nhất 50% so với tổng số điểm trung bình.

- Kiến thức NCBSMHT của bà mẹ đạt được 50% trên tổng số điểm thực hành được đánh giá là có thực hành đạt về NCBSMHT.

Quản lý và phân tích số liệu

Các số liệu thu thập từ nghiên cứu định lượng sẽ được xử lý thô và nhập vào máy tính hai lần độc lập Sau đó, các số liệu này sẽ được so sánh và sửa chữa lỗi nhập liệu trước khi tiến hành tính toán các thông số của nghiên cứu.

Sử dụng phương pháp thống kê sử dụng trong y sinh học để nhập liệu và phân tích số liệu với phần mềm Epidata 3.1 và SPSS 18.0.

Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

Nghiên cứu chỉ được thực hiện khi được Hội đồng Đạo đức trường Đại học Y tế công cộng (ĐH YTCC) phê duyệt, dựa trên các tiêu chuẩn đạo đức của Bộ Y tế và tiêu chuẩn Quốc tế Đối tượng nghiên cứu cần được giải thích rõ ràng về mục đích và nội dung nghiên cứu trước khi phỏng vấn, và phải có sự đồng ý tham gia, đồng thời có quyền từ chối tham gia phỏng vấn.

Mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu, số liệu điều tra phỏng vấn sẽ được giữ kín

Các số liệu, thông tin thu thập được phục vụ cho mục đích học tập trong nghiên cứu khoa học, không phục vụ cho mục đích khác.

Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục

Trong quá trình thu thập số liệu, nhóm gặp phải một số trường hợp như: bà mẹ và/hoặc trẻ không sống tại Huyện Xay Tha Ny, bà mẹ chuyển chỗ ở trước thời gian điều tra, hoặc từ chối phỏng vấn do lý do sức khỏe Ngoài ra, có thể xảy ra tình huống cán bộ y tế hoặc điều tra viên thu thập số liệu đến nhà bà mẹ ba lần nhưng vẫn không gặp được Để khắc phục những vấn đề này, nhóm đã áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống có sự thay thế, dự kiến tăng cỡ mẫu thêm 10% để đảm bảo tính đại diện của mẫu đã chọn.

Nhóm nghiên cứu tổ chức các buổi tập huấn cho nhóm thu thập số liệu để có thể thống nhất phương pháp/cách phỏng vấn, nội dung phỏng vấn

Trong các câu hỏi phỏng vấn, nhiều câu yêu cầu bà mẹ hoặc người chăm sóc trẻ nhớ lại thông tin về bữa ăn và thời điểm thay đổi chế độ ăn uống của trẻ Do đó, hầu hết các câu hỏi đều tập trung vào ngày hôm qua để giảm thiểu sai số trong quá trình nhớ lại thông tin.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1: Bảng thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (n1)

Phổ thông trung học 42 23,2 Đại học/cao đẳng/trung cấp 27 14,9

Phần lớn các bà mẹ tham gia nghiên cứu có độ tuổi từ 18-35, chiếm 89,5% Trong số đó, 43,6% là nội trợ và 21% làm nông nghiệp Tỷ lệ các bà mẹ hoàn thành phổ thông trung học là 23,2%, trong khi 14,9% có trình độ cao đẳng hoặc đại học Đặc biệt, 24,2% số bà mẹ có từ 3 con trở lên, trong đó 8,8% có từ 5 con trở lên.

Bảng 3.2 Thông tin về trẻ (n1)

Kết quả từ bảng 3.2 cho thấy 66,9% trẻ em trong nghiên cứu thuộc độ tuổi từ 10-12 tháng Trong số đó, tỷ lệ trẻ trai chiếm 56,4%, trong khi trẻ gái chỉ chiếm 43,6% Đặc biệt, có 34,2% trẻ là con thứ 3 trở lên, trong đó 8,8% là con thứ 5 trở lên.

Thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn

3.2.1 Tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu

Có 48,6% số bà mẹ NCBSMHTtrong 6 tháng đầu

Bảng 3.3: Tỷ lệ trẻ cho ăn thêm trước 6 tháng (n)

Tháng Số trẻ được bú mẹ hoàn toàn Tỷ lệ %

Trong số 93 trẻ được khảo sát, 24,2% bắt đầu ăn dặm rất sớm, chỉ trong vòng 2 tháng đầu đời Tỷ lệ trẻ ăn dặm ở thời điểm 4 tháng là 67,1%, trong khi đó, tỷ lệ trẻ ăn dặm trong khoảng từ 5 đến dưới 6 tháng là 31,9%.

Bảng 3.4 Lý do cho trẻ ăn thêm 6 tháng (n)

Lý do Số trẻ Tỷ lệ %

Sợ sữa mẹ không đủ chất 5 2,8

Mẹ phải đi làm việc 19 20,7

Lý do chính cho trẻ ăn thêm là mẹ không đủ sữa (52,2%); trẻ quấy khóc (45,7%) Có 20,7% số trẻ phải ăn thêm vì mẹ phải đi làm

Bảng 3.5 Các loại thức ăn thêm

Kết quả từ bảng 3.5 cho thấy rằng trẻ em tiêu thụ nhiều sữa bột và các loại sữa khác ngoài sữa mẹ, chiếm tỷ lệ 33,7% Đồng thời, có 37,5% trẻ được cho ăn thức ăn đặc, trong đó cơm, xôi, bột, và cháo chiếm 28,7%, còn thịt và trứng chiếm 8,8%.

Các loai thức ăn, nước uống ngoài sữa mẹ n= 181 %

Sữa bột và các loa ̣i sữa khác cho trẻ nhỏ 61 33,7

Kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn

Bảng 3.5: Kiến thức về NCBSMHT

Nội dung n1 % Định nghĩa nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn

Cho trẻ bú sữa mẹ và nước 56 30,9

Cho trẻ bú sữa mẹ và một ít chất lỏng khác 8 4,4

Chỉ cho bú sữa mẹ và không cho ăn uống một thứ gì khác, kể cả nước

Kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ trong địa bàn nghiên cứu là khá cao, với 63,5% bà mẹ trả lời đúng về định nghĩa và 81,8% bà mẹ nắm rõ thời gian khuyến nghị cho việc nuôi con bằng sữa mẹ.

Trong một nghiên cứu, 81,8% các bà mẹ cho biết họ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu đời Đặc biệt, 88,4% trong số họ tin rằng việc nuôi con bằng sữa mẹ mang lại lợi ích lớn nhất là bảo vệ trẻ khỏi bệnh tật.

Bảng 3.6: Kiến thức về lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn

Lợi ích đối với trẻ N1 %

Bảo vệ trẻ khỏi bị bệnh 160 88,4

Giúp trẻ tăng trưởng và phát triển tốt hơn 144 79,6

Cung cấp một nguồn dinh dưỡng thiết yếu, đáp ứng tất cả nhu cầu dinh dưỡng của trẻ trong 6 tháng đầu

Dễ tiêu hóa, sử dụng hiệu quả 70 38,7

Cung cấp đủ nước cho trẻ trong 6 tháng 51 28,2

Sạch, luôn sẵn có và ở nhiệt độ tốt 121 66,9

Lợi ích đối với bà mẹ

Trì hoãn có kinh và có thai trở lại 136 75,1

Giúp tống rau thai ra, làm giảm nguy cơ chảy máu 78 43,1

Kích thích co bóp tử cung 95 52,5

Kích thích sản xuất sữa mẹ 121 66,9

Ngăn ngừa căng sữa quá mức 70 38,7

Có lợi ích kinh tế, không mất tiền mua 168 92,8

Tăng cường mối liên kết giữa mẹ và con 157 86,7

Tốt cho sức khỏe bà mẹ (Giảm nguy cơ ung thư vú,…) 134 74,0

Tăng cường dinh dưỡng và trao đổi chất cho bà mẹ 47 26,0

Các bà mẹ nhận thức rõ những lợi ích quan trọng của nuôi con bằng sữa mẹ, với tỷ lệ lên đến 75-88%, bao gồm việc bảo vệ trẻ khỏi bệnh tật, hỗ trợ tăng trưởng và phát triển, cũng như cung cấp dinh dưỡng cần thiết Tuy nhiên, chỉ có 28,2% hiểu rằng sữa mẹ cũng cung cấp đủ nước cho trẻ.

Hầu hết các bà mẹ nhận thức được lợi ích kinh tế của việc nuôi con bằng sữa mẹ (92,8%) và sự tăng cường mối liên kết giữa mẹ và con (86,7%) Tuy nhiên, chỉ có một tỷ lệ nhỏ bà mẹ đề cập đến lợi ích ngăn ngừa căng sữa quá mức (38,7%).

Bảng 3.7: Kiến thức về sữa non

Sữa có ngay sau khi đẻ 133 73,5

Sữa có trong vài ngày đầu sau đẻ 26 14,4

Sữa có trong tuần sau đẻ 3 1,7

Lợi ích của sữa non Đủ dinh dưỡng và phù hợp vơi trẻ mới sinh 159 87,8

Giúp phòng chống dị ứng và nhiễm khuẩn 160 88,4

Tăng thài phân su, giảm mức độ vàng da 79 43,6

Chỉ có 14,4% bà mẹ hiểu rằng sữa non là loại sữa được sản xuất vài ngày sau khi sinh, trong khi 73,5% cho rằng sữa này có ngay sau khi sinh Đáng chú ý, 88,4% các bà mẹ trong nghiên cứu nhận thức được lợi ích của sữa non trong việc phòng chống dị ứng và nhiễm khuẩn cho trẻ, và 87,8% cho rằng sữa non đủ dinh dưỡng và phù hợp với trẻ mới sinh.

Bảng 3.8: Kiến thức về cách giải quyết khi sữa mẹ không đủ cho trẻ Đặc điểm n- 181 %

Cho bú nhiều hơn bình thường 130 71,8

Cho trẻ ăn/uống thêm 56 30,9

Mẹ cần uống thêm nhiều nước hơn 122 67,4

Mẹ cần ăn nhiều hơn 125 69,1

Mẹ cần ăn những thức ăn đặc biệt 66 36,5

Mẹ cần được nghỉ ngơi nhiều hơn 59 32,6

Kết quả từ bảng 3.8 cho thấy 71,8% bà mẹ có kiến thức đúng về việc cho con bú nhiều hơn, trong khi hơn 67% hiểu rằng mẹ cần ăn uống đầy đủ hơn Tuy nhiên, chỉ khoảng 33% bà mẹ nhận thức được tầm quan trọng của việc nghỉ ngơi nhiều hơn.

Bảng 3.9: Kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ trong một số hoàn cảnh đặc biệt Đặc điểm n1 %

Có nên cho trẻ dưới 6 tháng uống thêm nước nếu trời quá nóng

Cho trẻ dưới 6 tháng uống thêm nước tráng miệng sau khi bú

Có nên ngừng nuôi con bằng sữa mẹ nếu mang thai

Nên cho trẻ ăn gì khi trẻ đói và bà mẹ phải đi làm

Sữa me ̣ đã vắt ra 125 69,1

Thời gian tối đa có thể bảo quản sữa mẹ vắt ra ở nhiệt độ thường Ít hơn 3 tiếng 89 49,2

Kết quả từ bảng 3.9 cho thấy khoảng 48,6% bà mẹ có kiến thức đúng về việc không cho trẻ dưới 6 tháng uống thêm nước trong những ngày nóng, nhằm bảo vệ sức khỏe của trẻ sau khi bú.

Trong trường hợp bà mẹ mang thai, chỉ có 35,9% biết rằng vẫn có thể cho con bú Đối với các bà mẹ đi làm xa, có 69,1% nhận thức được rằng cần phải vắt sữa để cho con ăn, trong khi chỉ có 13,8% biết thời gian bảo quản sữa mẹ ở nhiệt độ thường Đặc biệt, 49,2% bà mẹ cho rằng sữa mẹ chỉ có thể để dưới 3 giờ ở nhiệt độ thường.

Biểu đồ 3.2 Kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn

Biều đồ 3.2 cho thấy đa số bà mẹ trong nghiên cứu đều có kiến thức đạt về nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn chiếm 72,9%

Xác định một số yếu tố liên quan đến thực hành NCBSMHT

Bảng 3.10 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành NCBSMHT

OR 95%CI Đạt Không đạt n % N %

Kết quả bảng 3.10 cho thấy không có mối liên quan giữa kiến thức và thực hành NCBSMHT (p>0,05)

Bảng 3.11: Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân của bà mẹ với thực hành

Bảng 3.11 cho thấy tỷ lệ thực hành của bà mẹ người La-tai và Hmong-Dao đạt 49-50%, cao hơn so với bà mẹ người Mon-khome với tỷ lệ 37.5% Tuy nhiên, không có mối liên quan giữa dân tộc, giới tính của trẻ và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của bà mẹ (p>0,05).

Bảng 3.12: Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân của bà mẹ với thực hành

Công nhân 2 20,0 8 80,0 Buôn bán 12 50,0 12 50,0 Nội trợ 41 51,9 38 48,1

THPT 23 54,8 19 45,2 Đại học/cao đẳng/trung cấp

Kết quả từ bảng 3.12 chỉ ra rằng không có mối liên hệ đáng kể nào giữa nhóm tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, và số con hiện có của bà mẹ với thực hành nuôi con bằng sữa mẹ (p>0,05).

Bảng 3.13: Mối liên quan giữa việc tiếp cận thông tin với thực hành NCBSMHT - trong thời gian 6 tháng đầu sau sinh

Kết quả bảng 3.13 cho thấy không có mối liên quan giữa việc tiếp cận thông tin với thực hành NCBSMHT và thực hành NCBSMHT của bà mẹ (p>0,05)

Bảng 3.14: Mối liên quan giữa việc tiếp cận thông tin với thực hành NCBSMHT - qua các phương tiện thông tin đại chúng (Thời gian trước sinh và sau sinh)

Kết quả từ bảng 3.14 chỉ ra rằng không có mối liên hệ đáng kể giữa thời gian trước và sau sinh với quảng cáo sữa cho trẻ nhỏ cũng như thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ (p>0,05).

Nhận được lời khuyên liên quan đến việc cho con bú sữa mẹ (khi mang thai)

Có tham gia sinh hoạt/hội thảo về NCBSM không?

OR 95%CI P Đạt Không đạt n % N %

Thời gian trước sinh và sau sinh, có nhìn thấy/xem bất kỳ quảng cáo nào về sữa cho trẻ nhỏ

Bảng 3.15: Mối liên quan giữa điều kiện làm việc và cấu trúc hộ gia đình với thực hành

Gia đình sống riêng hay sống chung >0,05 Ở riêng 42 44,2 53 55,8

Sống cùng bố mẹ chồng 25 59,5 17 40,5

Sống cùng bố mẹ vợ 21 48,8 22 51,2

Chồng động viên hỗ trợ

Không có mối liên quan giữa điều kiện làm việc và cấu trúc hộ gia đình với thực hành NCBSMHT của bà mẹ, đã cho thấy ở kết quả bảng 3.15

BÀN LUẬN

Kiến thức và thực trạng nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu tại địa bàn nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu là những người trong độ tuổi từ 18-35, chiếm 89,5%, là những bà mẹ đang nuôi con bằng sữa mẹ Đặc điểm này tương đồng với các nghiên cứu về nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) tại Lào và các quốc gia khác Trong số đó, 43,6% các bà mẹ là nội trợ, trong khi 21% làm nông nghiệp, phản ánh tình hình của khu vực ngoại thành thủ đô với trình độ văn hóa cao hơn so với các đối tượng nghiên cứu ở vùng nông thôn.

Tỷ lệ các bà mẹ hoàn thành phổ thông trung học là 23,2%, trong khi 14,9% có trình độ cao đẳng hoặc đại học Nghiên cứu cho thấy, 24,2% các bà mẹ có từ 3 con trở lên, và 8,8% trong số đó có từ 5 con trở lên, điều này khác biệt so với một số quốc gia như Việt Nam, nơi có chính sách 1-2 con.

4.1.1.Kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu

Tỷ lệ các bà mẹ có kiến thức đúng về nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSMHT) đạt 72,9%, cao hơn nhiều so với kết quả nghiên cứu của Đỗ Ngọc Ánh (2014) tại Hòa Bình, Việt Nam là 27,5% Sự khác biệt này có thể được giải thích bởi nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện tại một huyện gần thủ đô, giúp việc tiếp cận thông tin về NCBSM thuận lợi hơn Điều này cũng khẳng định hiệu quả của các hoạt động truyền thông của chương trình NCBSM tại khu vực nghiên cứu.

Tỷ lệ các bà mẹ hiểu đúng về định nghĩa NCBSMHT đạt 63,5%, cao hơn so với nghiên cứu của Bùi Thị Duyên tại Thanh Hóa, Việt Nam (53,5%) [4] Trình độ học vấn và sự đóng góp của truyền thông tại huyện Xay Tha Ny đã góp phần nâng cao kiến thức cho các bà mẹ.

Nghiên cứu này đề cập đến vấn đề phổ biến mà nhiều mẹ gặp phải khi cho rằng mình không đủ sữa để nuôi con Hơn 67% bà mẹ đã nhận thức đúng cách giải quyết, như cho trẻ bú nhiều hơn và tăng cường dinh dưỡng cho bản thân Tuy nhiên, việc áp dụng những kiến thức này vào thực tế gặp nhiều khó khăn do hạn chế về thời gian và nguồn lực.

HUPH đã ghi nhận rằng các bà mẹ thường áp dụng những kiến thức của mình khi đối mặt với các vấn đề trong thời gian cho con bú Đây là một hạn chế mà chúng tôi dự định nghiên cứu trong tương lai để cải thiện tình hình dinh dưỡng cho trẻ trong 6 tháng đầu đời.

Chỉ có hơn 30% bà mẹ nhận thức được tầm quan trọng của việc nghỉ ngơi khi gặp vấn đề về lượng sữa Do đó, cần nhấn mạnh thông điệp này trong các chương trình truyền thông, vì nghỉ ngơi không chỉ thúc đẩy quá trình tiết sữa mà còn giúp tăng cường sức khỏe cho bà mẹ sau những tiêu hao năng lượng trong quá trình sinh nở, chăm sóc con và cho con bú.

Khảo sát kiến thức về sữa non cho thấy chỉ 14,4% bà mẹ hiểu đúng rằng sữa non là loại sữa tiết ra trong vài ngày đầu sau sinh, trong khi 73,5% cho rằng sữa non trong ngày đầu là chấp nhận được Mặc dù vậy, 88% bà mẹ nhận thức rằng sữa non là thức ăn phù hợp và cung cấp chất miễn dịch cho trẻ, tỷ lệ này cao hơn so với nhiều nghiên cứu khác Điều này cho thấy tín hiệu tích cực trong việc khuyến khích bà mẹ cho con bú sớm và không vắt bỏ sữa non Hiểu biết đúng về sữa non không chỉ giúp bà mẹ tự tin cho con bú mà còn là yếu tố quan trọng cho thực hành bú mẹ trong 6 tháng đầu, cung cấp dinh dưỡng lý tưởng cho trẻ sơ sinh và là “liều vắc xin đầu tiên” giúp trẻ chống lại bệnh tật, giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh.

Mặc dù nhiều bà mẹ đã có kiến thức tốt về sữa non, nhưng vẫn còn nhiều lợi ích quan trọng của sữa non chưa được biết đến Chỉ khoảng 44% bà mẹ nhận thức được rằng sữa non giúp phát triển ruột, tăng cường thải phân su và giảm nguy cơ vàng da cho trẻ Đây là thông điệp cần được truyền thông mạnh mẽ, vì vàng da do tăng bilirubin tự do là một bệnh phổ biến ở trẻ sơ sinh Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, trẻ có thể gặp nguy hiểm đến tính mạng hoặc để lại hậu quả nghiêm trọng Việc cho trẻ bú sữa non giúp đào thải bilirubin qua phân su, từ đó giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh.

Nghiên cứu cho thấy hơn 40% bà mẹ vẫn cho rằng cần cho trẻ uống thêm nước khi trời nóng hoặc tráng miệng sau khi bú, điều này cho thấy sự thiếu hiểu biết về dinh dưỡng của sữa mẹ Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng hoàn hảo, cung cấp đủ nước và chất dinh dưỡng cho trẻ trong 6 tháng đầu đời mà không cần bổ sung nước Việc hiểu đúng về lợi ích của sữa mẹ sẽ giúp bà mẹ tự tin hơn trong việc cho con bú hoàn toàn, từ đó nâng cao sức khỏe, thúc đẩy sự phát triển tối ưu và giảm nguy cơ bệnh tật cho trẻ nhỏ.

Hơn 45% bà mẹ tin rằng cần ngừng cho con bú nếu mang thai trong 6 tháng đầu, nhưng đây là quan niệm sai lầm cần được tư vấn cụ thể Nếu mẹ ăn uống đầy đủ và nghỉ ngơi hợp lý, vẫn có thể tiết sữa đủ cho trẻ và hỗ trợ sự phát triển của bào thai Đặc biệt, việc cho con bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu có thể ức chế quá trình rụng trứng, do đó, cho con bú cũng được xem là một biện pháp tránh thai tự nhiên.

4.1.2 Thực hành nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ

Tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn (NCBSMHT) trong 6 tháng đầu đạt 48,6%, cao hơn so với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam, như nghiên cứu của Phukhao Hương Păn Nha (26,9%) và KhănThong KEOMUNGKHUN (37,2%) Kết quả này cũng vượt qua tỷ lệ toàn quốc gia giai đoạn 2011-2012 (40%) Sự khác biệt này có thể do bà mẹ hiện nay tiếp cận nhiều thông tin hơn về NCBSMHT, cho thấy chương trình nuôi con bằng sữa mẹ ở Lào đang được triển khai hiệu quả Ngoài ra, tỷ lệ NCBSMHH trong nghiên cứu của Phukhao Hương Păn Nha thấp hơn có thể do đối tượng nghiên cứu là bà mẹ có con từ 0-2 tuổi, không tính số trẻ 0-5 tháng trong tỷ lệ NCBSMHT.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ thực hành nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn (NCBSMHT) cao hơn nhiều so với một số nghiên cứu tại Việt Nam, như của Đỗ Ngọc Ánh (2014) tại Hòa Bình với 27,5% và Nguyễn Thị Thịnh (2014) tại Cao Bằng với 39,6% Đặc biệt, tỷ lệ này còn gấp hơn 2 lần so với kết quả điều tra của Dự án Alive&Thrive năm 2012 tại 11 tỉnh của Việt Nam là 20,2% Sự khác biệt này có thể do quá trình công nghiệp hóa mạnh mẽ tại Việt Nam, cùng với sự cải thiện kinh tế gia đình và sự sẵn có của các sản phẩm thay thế sữa mẹ Tuy nhiên, tỷ lệ thực hành NCBSMHT của chúng tôi tương đương với nghiên cứu tại Ấn Độ, nơi có tỷ lệ 48,3%, cho thấy điều kiện kinh tế, xã hội tại địa bàn nghiên cứu có sự tương đồng Các bà mẹ ở Ấn Độ có thể vẫn nuôi con theo phương pháp tự nhiên, chưa bị ảnh hưởng bởi quá trình công nghiệp hóa Chúng tôi chưa có đủ điều kiện để tìm hiểu về hoạt động của chương trình NCBSM, nhưng kết quả thu được rất đáng chú ý.

Chương trình HUPH đã có tác động tích cực đến thực hành NCBSM, phù hợp với khuyến nghị của WHO và UNICEF trong khu vực nghiên cứu.

Trong số 51,4% bà mẹ không cho trẻ bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, có 24,2% cho ăn rất sớm trong vòng 2 tháng đầu Nhóm này cần được ưu tiên can thiệp vì việc cho ăn sớm không đảm bảo dinh dưỡng và giảm cung cấp yếu tố miễn dịch cho trẻ Việc không cho trẻ bú mẹ hoàn toàn, đặc biệt trong tháng đầu, làm tăng nguy cơ tử vong ở trẻ sơ sinh Cho trẻ sơ sinh bú sớm và bú mẹ hoàn toàn là một trong bốn nhu cầu cơ bản nhất cần được đáp ứng để đảm bảo sự sống còn của trẻ.

Một số yếu tố liên quan đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu

Dựa trên tài liệu tham khảo và các mô hình NCBSM từ một số quốc gia, chúng tôi đã xây dựng khung lý thuyết và phát triển bộ câu hỏi nhằm tìm hiểu mối liên quan giữa các yếu tố về mẹ, con, tiếp cận thông tin và môi trường hỗ trợ đối với thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu tại huyện Xay Tha Ny, thủ đô Viêng Chăn, Lào Tuy nhiên, phân tích dữ liệu thu thập được không cho thấy mối liên quan nào có ý nghĩa thống kê Kết quả này cũng tương đồng với một số nghiên cứu khác trong và ngoài nước.

Nguyên nhân chính của nghiên cứu là cỡ mẫu nhỏ, khiến việc phát hiện sự khác biệt giữa các yếu tố cá nhân và điều kiện kinh tế xã hội trở nên khó khăn Cần tiến hành các nghiên cứu tiếp theo với cỡ mẫu lớn hơn và ở các khu vực có điều kiện kinh tế, xã hội đa dạng để xác định các yếu tố liên quan và can thiệp phù hợp Mặc dù tỷ lệ thực hành NCBSMHT tại địa bàn nghiên cứu cao hơn so với các nước trong khu vực, nhưng vẫn chưa đạt được mục tiêu mong muốn Việc duy trì và cải thiện thực hành NCBSMHT là cần thiết cho sức khỏe và sự sống còn của trẻ em Lào, một quốc gia nghèo cần nguồn dinh dưỡng tự nhiên, an toàn và tốt nhất.

Mặc dù không đủ bằng chứng để khẳng định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, chúng tôi đã phát hiện một số yếu tố liên quan có thể làm cơ sở cho các can thiệp Tỷ lệ thực hành về NCBSMHT trong 6 tháng đầu ở dân tộc Mon-khơme (37,5%) thấp hơn đáng kể so với dân tộc Lao-tai và Hmong-Dao (49,5%) Ngoài ra, những cặp vợ chồng sống cùng với bố mẹ thực hành NCBSMHT tốt hơn so với những cặp sống riêng (54,4% so với 44,4%) Những số liệu này gợi ý rằng chương trình can thiệp tiếp theo nên ưu tiên cho nhóm dân tộc Mon-khơme và xem xét sự tham gia của bố mẹ chồng/vợ trong các hoạt động của chương trình NCBSM.

Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ tại huyện cao đạt 72,9%, nhưng tỷ lệ thực hành đúng chỉ là 48,6%, cho thấy khoảng cách giữa kiến thức và thực hành cần được cải thiện Nghiên cứu gần đây đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng kiến thức vào thực tế, đặc biệt trong chăm sóc sức khỏe Một lý do giải thích cho tỷ lệ thực hành thấp là do bà mẹ không đủ sữa và phải đi làm, không thể cho con bú hoàn toàn Do đó, các can thiệp hỗ trợ bà mẹ vượt qua những rào cản này là rất cần thiết, và nếu có sự hỗ trợ, tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ chắc chắn sẽ được cải thiện.

Hạn chế của nghiên cứu

Nghiên cứu đã mô tả kiến thức và thực hành NCBSMHT trong 6 tháng đầu của bà mẹ có con từ 7-12 tháng tuổi tại huyện Xay Tha Ny, thủ đô Viêng Chăn, Lào Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế cần được khắc phục.

Nghiên cứu cắt ngang tại một thời điểm với cỡ mẫu nhỏ trong một huyện tương đối đồng nhất không cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê.

Việc không thực hiện được các phỏng vấn sâu hoặc thảo luận nhóm đã hạn chế khả năng bổ sung cho kết quả định lượng và tìm hiểu những phong tục tập quán có thể gây hại cho trẻ Điều này ảnh hưởng đến việc xây dựng cơ sở can thiệp phù hợp.

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Bảng thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (n=181) - Thực trạng nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và một số yếu tố liên quan tại huyện xay tha ny, thủ đô viêng chăn, lào năm 2017
Bảng 3.1 Bảng thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (n=181) (Trang 30)
Bảng 3.2. Thông tin về trẻ (n=181) - Thực trạng nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và một số yếu tố liên quan tại huyện xay tha ny, thủ đô viêng chăn, lào năm 2017
Bảng 3.2. Thông tin về trẻ (n=181) (Trang 31)
Bảng 3.4. Lý do cho trẻ ăn thêm 6 tháng (n=93) - Thực trạng nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và một số yếu tố liên quan tại huyện xay tha ny, thủ đô viêng chăn, lào năm 2017
Bảng 3.4. Lý do cho trẻ ăn thêm 6 tháng (n=93) (Trang 32)
Bảng 3.3: Tỷ lệ trẻ cho ăn thêm trước 6 tháng (n=93) - Thực trạng nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và một số yếu tố liên quan tại huyện xay tha ny, thủ đô viêng chăn, lào năm 2017
Bảng 3.3 Tỷ lệ trẻ cho ăn thêm trước 6 tháng (n=93) (Trang 32)
Bảng 3.5: Kiến thức về NCBSMHT - Thực trạng nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và một số yếu tố liên quan tại huyện xay tha ny, thủ đô viêng chăn, lào năm 2017
Bảng 3.5 Kiến thức về NCBSMHT (Trang 33)
Bảng 3.6: Kiến thức về lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn - Thực trạng nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và một số yếu tố liên quan tại huyện xay tha ny, thủ đô viêng chăn, lào năm 2017
Bảng 3.6 Kiến thức về lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn (Trang 34)
Bảng 3.7: Kiến thức về sữa non - Thực trạng nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và một số yếu tố liên quan tại huyện xay tha ny, thủ đô viêng chăn, lào năm 2017
Bảng 3.7 Kiến thức về sữa non (Trang 35)
Bảng 3.8: Kiến thức về cách giải quyết khi sữa mẹ không đủ cho trẻ - Thực trạng nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và một số yếu tố liên quan tại huyện xay tha ny, thủ đô viêng chăn, lào năm 2017
Bảng 3.8 Kiến thức về cách giải quyết khi sữa mẹ không đủ cho trẻ (Trang 35)
Bảng 3.9: Kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ trong một số hoàn cảnh đặc biệt - Thực trạng nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và một số yếu tố liên quan tại huyện xay tha ny, thủ đô viêng chăn, lào năm 2017
Bảng 3.9 Kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ trong một số hoàn cảnh đặc biệt (Trang 36)
Bảng 3.11: Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân của bà mẹ với thực hành - Thực trạng nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và một số yếu tố liên quan tại huyện xay tha ny, thủ đô viêng chăn, lào năm 2017
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân của bà mẹ với thực hành (Trang 38)
Bảng 3.10.  Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành NCBSMHT - Thực trạng nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và một số yếu tố liên quan tại huyện xay tha ny, thủ đô viêng chăn, lào năm 2017
Bảng 3.10. Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành NCBSMHT (Trang 38)
Bảng 3.12: Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân của bà mẹ với thực hành - Thực trạng nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và một số yếu tố liên quan tại huyện xay tha ny, thủ đô viêng chăn, lào năm 2017
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân của bà mẹ với thực hành (Trang 39)
Bảng 3.13: Mối liên quan giữa việc tiếp cận thông tin với thực hành NCBSMHT - trong - Thực trạng nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và một số yếu tố liên quan tại huyện xay tha ny, thủ đô viêng chăn, lào năm 2017
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa việc tiếp cận thông tin với thực hành NCBSMHT - trong (Trang 40)
Bảng 3.14: Mối liên quan giữa việc tiếp cận thông tin với thực hành NCBSMHT - qua các - Thực trạng nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và một số yếu tố liên quan tại huyện xay tha ny, thủ đô viêng chăn, lào năm 2017
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa việc tiếp cận thông tin với thực hành NCBSMHT - qua các (Trang 40)
Bảng 3.15: Mối liên quan giữa điều kiện làm việc và cấu trúc hộ gia đình với thực hành - Thực trạng nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu và một số yếu tố liên quan tại huyện xay tha ny, thủ đô viêng chăn, lào năm 2017
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa điều kiện làm việc và cấu trúc hộ gia đình với thực hành (Trang 41)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w