ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
Các mũi tiêm do điều dƣỡng các khoa lâm sàng thực hiện cho NB tại TTYT thị xã Sông Cầu
Tiêu chuẩn lựa chọn mũi tiêm bắp và tiêm tĩnh mạch là hai phương pháp tiêm chính được sử dụng phổ biến tại Trung tâm, do các điều dưỡng lâm sàng tại các khoa của TTYT thị xã Sông Cầu thực hiện.
Các mũi tiêm tĩnh mạch đƣợc điều dƣỡng thực hiện trên những NB đã đƣợc đặt kim luồn trước đó
+ Lãnh đạo Trung tâm Y tế thị xã Sông Cầu
+ Trưởng phòng Kế hoạch-Nghiệp vụ
+ Điều dưỡng trưởng các khoa được chọn vào nghiên cứu
+ ĐDV các khoa đƣợc chọn vào nghiên cứu
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2020 đến tháng 12/2021
Nghiên cứu được thực hiện tại bốn khoa của Trung tâm Y tế thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên, bao gồm khoa Nội - Nhi - Nhiễm, khoa Ngoại tổng hợp, khoa Cấp cứu lưu và khoa Y học cổ truyền.
Thiết kế nghiên cứu
Áp dụng thiết kế cắt ngang phân tích kết hợp giữa định lượng và định tính, nghiên cứu thực hiện theo thứ tự định lượng trước và định tính sau Nghiên cứu định lượng được sử dụng để thu thập dữ liệu cho mục tiêu đầu tiên, dựa trên kết quả sơ bộ từ nghiên cứu.
HUPH sẽ tiến hành định lượng và nghiên cứu định tính để giải thích thêm cho một số kết quả định lượng, đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành TAT.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Chúng tôi đã chọn tất cả điều dưỡng lâm sàng tại các khoa Nội, Nhi, Nhiễm, khoa Ngoại tổng hợp, Cấp cứu lưu và khoa Y học cổ truyền để tiến hành thu thập số liệu thực tế.
42 điều dƣỡng tham gia nghiên cứu, 03 điều dƣỡng nghỉ thai sản nên không tham gia nghiên cứu
Bảng 2.1 Số điều dƣỡng tại các khoa lâm sàng tham gia nghiên cứu
TT Khoa lâm sàng Số điều dƣỡng Số ĐDV đạt tiêu chuẩn lựa chọn
- Số lƣợng mũi tiêm cần quan sát Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho một tỷ lệ:
Trong đó : n= số mũi tiêm cần quan sát z= 1,96 là giá trị tương đương với mức ý nghĩa thống kê α=0,05 d= 0,07 (sai số chấp nhận đƣợc) p: Ƣớc lƣợng tỷ lệ mũi TAT
Nghiên cứu này đánh giá thực hành của điều dưỡng trong hai loại tiêm: tiêm bắp và tiêm tĩnh mạch Chúng tôi sử dụng hai giá trị p1 (đối với tiêm bắp) và p2 (đối với tiêm tĩnh mạch) để tính toán cỡ mẫu.
Theo nghiên cứu của Trần Cao Đạt về thực hành TAT của điều dưỡng tại Viện Y Dược học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh năm 2020, tỷ lệ mũi tiêm bắp an toàn là 56,4% (p1 = 0,564) và tỷ lệ mũi tiêm tĩnh mạch an toàn là 51,8% (p2 = 0,518).
Thay vào công thức ta đƣợc n1 = 193 mũi tiêm; n2 = 196 mũi tiêm
Quy trình tiêm bắp yêu cầu cỡ mẫu là 10%, với tổng số mũi tiêm cần thu thập là n1 = 212 Sau khi quan sát 42 điều dưỡng, số mũi tiêm cần quan sát cho mỗi điều dưỡng là 212/42 = 5,04, làm tròn thành 5 Do đó, trung bình mỗi điều dưỡng sẽ quan sát 5 lượt, dẫn đến cỡ mẫu quan sát mũi tiêm bắp là 210 mũi.
Quy trình tiêm tĩnh mạch yêu cầu cỡ mẫu là n2 = 216 mũi tiêm, với 42 điều dưỡng tham gia quan sát Mỗi điều dưỡng cần quan sát khoảng 5 mũi tiêm, được tính bằng cách chia 216 cho 42, làm tròn xuống Do đó, tổng số mũi tiêm được quan sát là 210 mũi.
Bảng 2.Error! Bookmark not defined Số mũi tiêm cần quan sát tại các khoa lâm sàng
TT Khoa lâm sàng Số điều dƣỡng Số mũi tiêm bắp
Số mũi tiêm tĩnh mạch
Thu thập số liệu qua quan sát điều dưỡng thực hiện các mũi tiêm trên bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa Nội-Nhi-Nhiễm, khoa Ngoại tổng hợp, khoa Cấp cứu lưu và khoa Y học cổ truyền.
* Phỏng vấn sâu (PVS): chọn mẫu có chủ đích, tổng số 07 cuộc
- Lãnh đạo phòng KHNV: 01 người
- Đại diện Phòng Điều dưỡng: 01 người
- Điều dưỡng trưởng khoa Nội-Nhi-Nhiễm: 01 người
- Điều dưỡng trưởng khoa Ngoại TH: 01 người
- Điều dưỡng trưởng khoa Cấp cứu lưu: 01 người
- Điều dưỡng trưởng khoa Y học cổ truyền: 01 người
* Thảo luận nhóm (TLN): Thực hiện 02 buổi TLN, mỗi buổi 04 ĐDV của 04 khoa để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành tiêm.
Phương pháp thu thập số liệu
Quan sát và đánh giá thực hành TAT được thực hiện thông qua bảng kiểm (phụ lục 1), được xây dựng dựa trên Hướng dẫn TAT của Bộ Y tế cho các cơ sở KBCB (theo Quyết định 3671/QĐ-BYT ngày 27/9/2012) Bộ Y tế đã phát hành bảng kiểm riêng cho tiêm bắp và tiêm tĩnh mạch, tuy nhiên, các bước thực hiện hầu như giống nhau, chỉ khác nhau ở một số bước cụ thể.
Khi xây dựng bảng kiểm quan sát thực hành TAT cho nghiên cứu, học viên đã kết hợp hai bảng kiểm và đánh dấu riêng các nội dung khác nhau giữa mũi tiêm bắp và mũi tiêm tĩnh mạch Ngoài ra, một số tiêu chí trong Hướng dẫn của Bộ Y tế được viết gộp nhiều ý, do đó học viên đã tách nhỏ các tiêu chí để thuận lợi cho quy trình đánh giá.
Bảng kiểm sử dụng trong nghiên cứu gồm 24 tiêu chí, bao gồm 4 nhóm thực hành:
+ Thực hành chuẩn bị NB (tiêu chí 1 đến tiêu chí 5)
+ Thực hành chuẩn bị dụng cụ và thuốc tiêm (tiêu chí 6 đến tiêu chí 14) + Thực hành thực hiện kỹ thuật tiêm (tiêu chí 15 đến tiêu chí 21)
+ Thực hành xử lý chất thải sau tiêm (tiêu chí 22 đến tiêu chí 24)
Tập huấn điều tra viên (ĐTV) và thử nghiệm bảng kiểm quan sát ĐTV bao gồm nghiên cứu viên chính và bốn điều tra viên, là nhân viên của Phòng Điều dưỡng và Phòng Kế hoạch Những điều tra viên này có kiến thức về thực hành TAT, đã được tập huấn về quan sát và có kinh nghiệm trong việc kiểm tra, giám sát.
Trước khi bắt đầu nghiên cứu chính thức, học viên đã tiến hành quan sát 20 phiếu (chiếm 5% tổng số phiếu) mà không tính vào số liệu chính thức Bộ công cụ quan sát không thay đổi so với thiết kế ban đầu và được sử dụng để thu thập dữ liệu thực tế Quá trình thu thập gặp khó khăn do cần quan sát nhiều lần mỗi điều dưỡng viên mà không để họ biết, vì vậy nhóm đã thay đổi điều dưỡng viên giữa các khoa hàng ngày Thời gian thu thập kéo dài 2 tháng để đủ số phiếu cần thiết Việc thu thập dữ liệu phụ thuộc vào số bệnh nhân thực hiện y lệnh tiêm tĩnh mạch hoặc tiêm bắp, khiến nhóm không thể chủ động Để cải thiện tình hình, nhóm đã phân công các thành viên kiểm tra y lệnh tiêm trong hồ sơ bệnh án và báo lại cho học viên, sau đó phân công thực hiện quan sát Do trung tâm chưa lắp đặt hệ thống camera, việc quan sát phải thực hiện bằng mắt thường, dẫn đến tốn thời gian trong quá trình thu thập dữ liệu.
Nội dung tập huấn điều tra viên bao gồm những nội dung sau:
Hướng dẫn cho ĐTV nắm rõ phương pháp quan sát quy trình TAT thông qua bảng kiểm đã chuẩn bị trước, bao gồm cách chấm điểm từng bước, xác định vị trí quan sát và cách điền các nội dung vào bảng kiểm.
- Nghiên cứu viên và ĐTV cùng bàn luận và thống nhất các nội dung trong bảng kiểm, kỹ thuật và cách thu thập số liệu
Mỗi ĐTV thực hiện đánh giá thử nghiệm với 10 mũi tiêm và sau đó tổ chức họp để thảo luận về những khó khăn gặp phải trong quá trình thu thập số liệu Mục tiêu là giải quyết các vấn đề và vướng mắc trước khi tiến hành thu thập số liệu chính thức.
* Quan sát thực hành quy trình tiêm
Sử dụng bảng kiểm để đánh giá quy trình tiêm của điều dưỡng là rất quan trọng Đội ngũ điều dưỡng viên (ĐTV) sẽ dựa vào danh sách phân công tiêm thuốc theo từng phòng khoa và tiến hành quan sát thực tế tại các phòng thực hiện.
Thời gian quan sát thực hành tiêm được tổ chức vào buổi sáng từ 8 giờ đến 11 giờ và buổi chiều từ 14 giờ đến 17 giờ Mỗi điều dưỡng sẽ được quan sát thực hiện 10 mũi tiêm, bao gồm 5 mũi tiêm bắp và 5 mũi tiêm tĩnh mạch Đội ngũ quan sát sẽ theo dõi từng bước và ghi chép đầy đủ 24 tiêu chí vào phiếu Các khoa sẽ được luân phiên thay đổi để đảm bảo tính khách quan trong quá trình quan sát.
Nghiên cứu viên có vai trò giám sát và hỗ trợ đội thu thập dữ liệu (ĐTV) trong quá trình thu thập thông tin Họ can thiệp kịp thời khi gặp khó khăn và kiểm tra lại các phiếu để đảm bảo thông tin được điền đầy đủ Nếu phát hiện thiếu sót, nghiên cứu viên sẽ bổ sung ngay tại địa điểm thu thập.
Mỗi điều dưỡng được thực hành sẽ có một mã số nghiên cứu riêng Danh sách các điều dưỡng này sẽ được nghiên cứu viên lập và chuyển đến ĐTV để tiến hành quan sát và thu thập dữ liệu.
Thông tin chung của ĐTNC nghiên cứu viên được thu thập từ danh sách viên chức của phòng Tổ chức hành chính và phòng Kế hoạch nghiệp vụ của đơn vị.
Nghiên cứu định tính nhằm làm rõ các kết quả từ nghiên cứu định lượng, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian xử lý (TAT) và khám phá các giải pháp để nâng cao sự tuân thủ quy trình TAT của các điều dưỡng.
* Thực hiện PVS (Hướng dẫn PVS tại Phụ lục 3,4)
Mỗi cuộc phỏng vấn sâu (PVS) kéo dài từ 30 đến 45 phút, được thực hiện theo nội dung trong bảng phụ lục 2 và 3 Đội ngũ thực hiện sẽ ghi chép lại nội dung và tiến hành ghi âm với sự đồng ý của đối tượng nghiên cứu (ĐTNC).
- Địa điểm: Tại phòng làm việc của Lãnh đạo TTYT, lãnh đạo phòng Điều dưỡng, Điều dưỡng trưởng khoa
- Sau khi PVS, số liệu đƣợc tổng hợp từ nội dung đã ghi chép và ghi âm
* Thực hiện TLN (Hướng dẫn TLN tại Phụ lục 5)
- Chọn chủ đích những điều dƣỡng trong danh sách tham gia nghiên cứu; chia làm 2 nhóm, mỗi nhóm 4 người
Mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài từ 30 đến 45 phút, dựa trên nội dung trong bảng phụ lục 4 Đội ngũ thực hiện sẽ ghi chép và ghi âm nội dung phỏng vấn, với sự đồng ý của đối tượng nghiên cứu.
- Địa điểm: tại phòng giao ban của TTYT.
Biến số và chủ đề nghiên cứu
2.6.1 Biến số nghiên cứu định lượng
- Thông tin chung của đối tƣợng nghiên cứu: tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác
Trước khi tiêm, cần thực hiện các bước chuẩn bị cho bệnh nhân (NB) như rửa tay thường quy và sát khuẩn tay nhanh Đảm bảo thực hiện 5 đúng và thông báo cho NB về các công việc chuẩn bị Hướng dẫn NB tư thế phù hợp và khai thác tiền sử dị ứng của họ Cuối cùng, sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân để đảm bảo an toàn trong quá trình tiêm.
Chuẩn bị dụng cụ là bước quan trọng trong quy trình tiêm chủng, bao gồm việc chuẩn bị hộp chống sốc và thùng đựng chất sắc nhọn theo quy định Cần có bơm KT, kim lấy thuốc vô khuẩn, và bông gạc tẩm cồn đúng tiêu chuẩn Ngoài ra, dung dịch sát khuẩn tay nhanh cũng phải sẵn có trên xe tiêm để đảm bảo an toàn và vệ sinh trong quá trình tiêm.
Thực hành lấy thuốc và kỹ thuật tiêm thuốc bao gồm các bước quan trọng như kiểm tra thuốc, sát khuẩn, và sử dụng gạc vô khuẩn để bẻ ống thuốc Cần xé vỏ bao bơm kiêm tiêm, thay kim và lấy thuốc dưới sự chứng kiến của người bệnh hoặc người nhà Sau khi pha thuốc, cần thay kim tiêm, đuổi khí và cho vào bao đựng bơm kim tiêm vô khuẩn, đồng thời không sử dụng tay để đậy nắp kim tiêm.
Thực hành kỹ thuật tiêm thuốc bao gồm việc xác định đúng vị trí tiêm, sát khuẩn vùng tiêm theo quy định, và thực hiện sát khuẩn tay nhanh hoặc đeo găng tay Cần tiêm với góc độ và độ sâu chính xác, bơm thuốc đúng kỹ thuật, và rút kim một cách an toàn Sau khi tiêm, cần sát khuẩn lại vùng tiêm và giao tiếp, quan sát sắc mặt của người bệnh trong suốt quá trình tiêm.
Thực hành xử lý chất thải sau tiêm rất quan trọng để đảm bảo an toàn Không nên dùng tay để đậy hoặc lắp lại nắp kim tiêm Cần phân loại chất thải sau tiêm đúng quy định để tránh ô nhiễm Cuối cùng, hãy nhớ vệ sinh tay sau khi kết thúc mũi tiêm để bảo vệ sức khỏe.
(Chi tiết bảng biến số nghiên cứu định lượng tại Phụ lục 6)
2.6.2 Chủ đề nghiên cứu định tính
Yếu tố tổ chức và quản lý tiêm TAT bao gồm việc giám sát, đào tạo và tập huấn cho nhân viên Các văn bản và quy định chính sách của đơn vị về TAT cần được thực hiện nghiêm túc Công tác thi đua khen thưởng trong thực hành TAT cũng đóng vai trò quan trọng Tuy nhiên, cần lưu ý đến tình trạng quá tải công việc, vấn đề tuyển dụng và quản lý sự cố y khoa để đảm bảo hiệu quả trong quy trình tiêm chủng.
Yếu tố trang thiết bị trong quy trình TAT bao gồm dụng cụ tiêm, bảng kiểm TAT, phương tiện phòng hộ, và dụng cụ vô khuẩn Việc phân loại và thu gom chất thải cũng rất quan trọng, đặc biệt là trong việc quản lý hộp thuốc cấp cứu phản vệ.
Tiêu chuẩn đánh giá thực hành Tiêm an toàn của điều dƣỡng
Tổng điểm bảng kiểm đánh giá quy trình TAT gồm 24 tiêu chí đƣợc nhóm thành
- Phần thực hành chuẩn bị NB, điểm đạt tối đa là 5 tiêu chí
- Phần thực hành chuẩn bị dụng cụ, thuốc tiêm điểm tối đa đạt 4 tiêu chí
- Phần thực hành lấy thuốc và kỹ thuật tiêm điểm tối đa đạt 12 tiêu chí
- Phần thực hành xử lý chất thải sau tiêm điểm tối đa đạt 3 tiêu chí Đánh giá mũi Tiêm an toàn:
+ Mũi tiêm tĩnh mạch an toàn khi đạt đúng 24/24 tiêu chí
+ Mũi tiêm bắp an toàn khi đạt đúng 24/24 tiêu chí.
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Sau khi thu thập số liệu, các phiếu đƣợc kiểm tra lại lần nữa xem đã đƣợc điền đầy đủ thông tin
Mã hóa và nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1
Xử lý và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0 để phân tích số liệu, bao gồm thống kê mô tả
Dữ liệu định tính sau khi thu thập qua ghi chép và ghi âm sẽ được làm sạch, gỡ băng và tổng hợp theo chủ đề Tiếp theo, tiến hành trích dẫn để phân tích.
HUPH thích thêm cho kết quả của nghiên cứu định lƣợng và minh chứng cho các yếu tố ảnh hưởng tới TAT.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế công cộng phê duyệt theo Quyết định số 309/2021/YTCC-HD3 và nhận được sự đồng ý từ Lãnh đạo TTYT thị xã Sông Cầu Điều dưỡng tham gia nghiên cứu đã được giải thích rõ ràng về mục đích của nghiên cứu Thông tin cá nhân và tên của đối tượng nghiên cứu được mã hóa và bảo mật, và thông tin thu thập chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho các mục đích khác.
Trong quá trình quan sát thực hành tiêm của điều dưỡng, nếu phát hiện sai sót trong quy trình tiêm có thể gây nguy hiểm cho bệnh nhân, người quan sát cần can thiệp để điều chỉnh Đồng thời, cần ghi nhận mũi tiêm đó là không an toàn.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung về đối tƣợng nghiên cứu
Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tƣợng nghiên (nB)
Thông tin chung Số lƣợng Tỷ lệ
Tuổi trung bình 32,62± 4,3 tuổi; Min: 27; Max: 45
Trình độ chuyên môn Đại học 11 26,2
Kết quả nghiên cứu cho thấy 80,9% điều dưỡng tham gia là nữ, với độ tuổi trung bình là 32,62± 4,3 tuổi, trong đó độ tuổi trẻ nhất là 27 và lớn nhất là 45 Phần lớn điều dưỡng có trình độ cao đẳng (66,7%) và thâm niên công tác từ 5 năm trở lên (71,4%) Khoa Nội-Nhi-Nhiễm có số lượng điều dưỡng đông nhất (35,7%), trong khi khoa YHCT có số lượng ít nhất (11,9%).
Bảng 3.2 Thực trạng tập huấn về Tiêm an toàn (nB)
Tập huấn TAT Số lƣợng Tỷ lệ
Số lần đƣợc đào tạo/tập huấn
Tài liệu TAT có sẵn tại Khoa Có 42 100
Hầu hết điều dƣỡng đã từng tham gia tập huấn trong 1 năm vừa qua (85,7%), số lần tập huấn chủ yếu (72,2%) là 1 lần trong năm
Một số điều dưỡng không tham gia đào tạo, tập huấn về TAT tại TTYT do nghỉ sinh, nghỉ phép hoặc bận công việc như trực dưới khoa.
Mỗi năm, chúng tôi tổ chức các lớp tập huấn về TAT cho tất cả điều dưỡng tại các khoa tham gia nhằm nâng cao kiến thức Hầu hết mọi người đều tham gia đầy đủ, chỉ có một số ít vắng mặt do công tác, nghỉ thai sản hoặc nghỉ phép Sự tham gia là bắt buộc đối với những ai có mặt.
Thực hành Tiêm an toàn
Bảng 3.3 Thực hành chuẩn bị người bệnh (nB0)
Thực hành Đạt Không đạt n % n %
1 Rửa tay thường quy/Sát khuẩn tay nhanh 326 77,6 94 22,4
3 Thông báo cho NB về những việc 394 93,8 26 6,2
Thực hành Đạt Không đạt n % n % chuẩn bị làm, hướng dẫn NB tư thế phù hợp
4 Khai thác tiền sử dị ứng 325 77,4 95 22,6
5 Trang bị phương tiện phòng hộ cá nhân phù hợp 415 98,8 5 1,2
Tỷ lệ thực hành chuẩn bị NB chung 260 61,9 160 38,1
Kết quả từ bảng 3.3 cho thấy rằng hầu hết các mũi tiêm được thực hành tốt khi chuẩn bị người bệnh theo các tiêu chí đánh giá Tuy nhiên, tiêu chí “rửa tay thường quy/sát khuẩn tay nhanh” chỉ đạt tỷ lệ thực hành 77,6%, trong khi tiêu chí “khai thác tiền sử” cũng có tỷ lệ đạt thấp là 77,4% Thêm vào đó, thông tin trong bảng chỉ ra rằng đa phần, với 61,9%, số mũi tiêm được đánh giá là thực hành đạt khi chuẩn bị người bệnh.
Bảng 3.4 Thực hành chuẩn bị dụng cụ (nB0)
Thực hành Đạt Không đạt n % n %
1 Hộp chống sốc phản vệ 420 100 0 0
2 Hộp đựng vật thải sắc nhọn 420 100 0 0
3 Bơm kim tiêm, kim lấy thuốc vô khuẩn 394 93,8 26 6,2
4 Bông cồn đúng quy định 359 85,5 61 14,5
Thực hành chuẩn bị dung cụ chung 341 81,2 79 18,8
Kết quả từ bảng 3.4 cho thấy hầu hết các mũi tiêm đều thực hiện tốt việc chuẩn bị dụng cụ chung theo các tiêu chí đánh giá Tuy nhiên, tiêu chí “Bông cồn đúng quy định” có tỷ lệ thực hành thấp nhất, chỉ đạt 85,5% Thông tin trong bảng cũng chỉ ra rằng đa phần các mũi tiêm được đánh giá đạt yêu cầu trong thực hành chuẩn bị dụng cụ chung với tỷ lệ 81,2%.
Thông tin từ PVS và TLN khẳng định rằng việc chuẩn bị dụng cụ trước tiêm là một yếu tố quan trọng, khi có đến 4/5 ý kiến đồng ý với điều này.
HUPH đã chuẩn bị đầy đủ, nhưng một số điều dưỡng đã quên mang theo dung dịch sát khuẩn tay nhanh do chủ quan nghĩ rằng đã có sẵn trong buồng bệnh Điều này dẫn đến việc một số điều dưỡng bỏ qua bước sát khuẩn tay, gây ra sự thiếu sót trong việc chuẩn bị dụng cụ cần thiết.
Chúng em luôn kiểm tra kỹ lưỡng các dụng cụ tiêm trước khi thực hiện tại các buồng bệnh Tất cả các dụng cụ đều được chuẩn bị sẵn trên xe trước khi tiến hành tiêm.
Đa số điều dưỡng đã chuẩn bị dụng cụ tiêm cho bệnh nhân một cách tốt, tuy nhiên thỉnh thoảng vẫn có trường hợp quên, thường gặp ở những người không chú ý đến việc sát khuẩn tay Một số điều dưỡng sử dụng dung dịch sát khuẩn tay nhanh có sẵn tại buồng bệnh để đảm bảo vệ sinh.
Bảng 3.5 Thực hành chuẩn bị thuốc tiêm (nB0)
Thực hành Đạt Không đạt n % n %
1 Kiểm tra ống thuốc, bẻ ống thuốc theo quy định 325 77,4 95 22,6
2 Xé bỏ bao bơm tiêm và thay kim lấy thuốc 420 100 0 0
3 Pha thuốc và lấy thuốc trước sự chứng kiến của NB hoặc người nhà NB 417 99,3 3 0,7
4 Thay kim tiêm và cho bơm tiêm vào vỏ đựng bơm kim tiêm vô khuẩn 415 98,8 5 1,2
5 Không dùng tay đậy nắp kim 365 86,9 55 13,1
Thực hành chuẩn bị thuốc tiêm 281 66,9 139 33,1
Kết quả từ bảng 3.5 cho thấy hầu hết các mũi tiêm được đánh giá có thực hành tốt trong việc chuẩn bị thuốc tiêm theo các tiêu chí đã đề ra Tuy nhiên, thực hành kiểm tra ống thuốc và bẻ ống thuốc theo quy định chỉ đạt tỷ lệ 77,4%, là mức thấp nhất Thêm vào đó, thông tin trong bảng cũng chỉ ra rằng phần lớn các mũi tiêm được đánh giá đạt yêu cầu trong thực hành chuẩn bị thuốc tiêm với tỷ lệ 66,9%.
Kết quả PVS chỉ ra rằng một số điều dưỡng vẫn duy trì thói quen sử dụng tay không để bẻ ống thuốc và đậy nắp kim, dẫn đến thực hành không an toàn và gia tăng nguy cơ tổn thương do vật sắc nhọn.
Một số chị em vẫn sử dụng tay không để bẻ ống thuốc và đậy nắp kim, dẫn đến nguy cơ bị thương Một số trường hợp đã bị mảnh thủy tinh đâm đứt tay gây chảy máu Chúng tôi đã tổ chức tập huấn và thường xuyên nhắc nhở trong các lần kiểm tra.
Bảng 3.6 Thực hành kỹ thuật tiêm tĩnh mạch (n!0)
Thực hành Loại tiêm Đạt Không đạt n % n %
1 Cần đặt gối kê tay và thắt dây ga rô nếu tiêm tĩnh mạch Tiêm tĩnh mạch 209 99,5 1 0,5
2 Sát khuẩn vị trí tiêm từ trong ra ngoài theo hình xoắn ốc đường kính trên 10 cm cho đến khi da sạch (tối thiểu 2 lần)
3 Căng da và đâm kim đúng kỹ thuật:
- Tiêm, truyền tĩnh mạch: kim chếch 30 0 so với mặt da
- Tiêm tĩnh mạch: Rút nhẹ nòng bơm tiêm thấy có máu thì bơm thuốc từ từ
85 Hết thuốc, căng da, rút kim nhanh
6 Cho ngay bơm kim tiêm vào hộp an toàn
Thực hành Loại tiêm Đạt Không đạt n % n %
7 Sát khuẩn lại vị trí tiêm: dùng bông khô đè vùng tiêm phòng chảy máu
8 Quan sát NB trong khi bơm thuốc,
9 Hướng dẫn NB những điều cần thiết
10 Để NB trở lại tƣ thế thích hợp, thuận tiện, và dặn dò, theo dõi NB sau khi tiêm
Thực hành kỹ thuật tiêm tĩnh mạch
Kết quả từ bảng 3.6 cho thấy tỷ lệ thực hành kỹ thuật tiêm tĩnh mạch đạt 67,6%, trong đó thực hành tiêm thuốc đạt mức cao từ 91,4% đến 100% Tuy nhiên, các hoạt động như quan sát bệnh nhân khi tiêm thuốc, hướng dẫn bệnh nhân về những điều cần thiết, giúp bệnh nhân trở lại tư thế thích hợp và dặn dò, theo dõi bệnh nhân sau khi tiêm vẫn còn ở mức thấp.
Kết quả TLN cho biết nguyên nhân điều dƣỡng ít thực hiện tƣ vấn dặn dò
Bệnh nhân thường không nhận được sự tư vấn kỹ lưỡng do nhân viên y tế bận rộn với công việc Họ phải thực hiện tiêm cho nhiều bệnh nhân trong khoa vào buổi sáng và sau đó ghi chép hồ sơ bệnh án, dẫn đến việc không có đủ thời gian để dặn dò và tư vấn cho bệnh nhân một cách chu đáo.
Chúng em rất bận rộn vào buổi sáng khi phải tiêm cho nhiều bệnh nhân Sau khi tiêm xong, chúng em còn phải hoàn thành công việc hành chính, vì vậy thường không có đủ thời gian để tư vấn và dặn dò cho bệnh nhân.
NB cẩn thận sau tiêm được” (TLN_2.1, nữ 36 tuổi)
Bảng 3.7 Thực hành kỹ thuật tiêm bắp (n!0)
Thực hành Loại tiêm Đạt Không đạt
1 Xác định vị trí tiêm Tiêm bắp 210 100 0 0
2 Sát khuẩn vị trí tiêm từ trong ra ngoài theo hình xoắn ốc đường kính trên 10 cm cho đến khi da sạch (tối thiểu 2 lần)
3 Căng da và đâm kim đúng kỹ thuật:
- Tiêm bắp: đâm kim nhanh
- Tiêm bắp: Rút nhẹ nòng bơm tiêm thấy không có máu thì bơm thuốc từ từ tốc độ tiêm bắp 1ml/10 giây
5 Hết thuốc, căng da, rút kim nhanh Tiêm bắp 210 100 0 0
6 Cho ngay bơm kim tiêm vào hộp an toàn Tiêm bắp 210 100 0 0
7 Sát khuẩn lại vị trí tiêm: dùng bông khô đè vùng tiêm phòng chảy máu
8 Quan sát NB trong khi bơm thuốc, Tiêm bắp 131 62,4 79 37,6
9 Hướng dẫn NB những điều cần thiết Tiêm bắp 131 62,4 79 37,6
Thực hành Loại tiêm Đạt Không đạt n % n %
10 Để NB trở lại tƣ thế thích hợp, thuận tiện, và dặn dò, theo dõi NB sau khi tiêm
Thực hành kỹ thuật tiêm bắp
Kết quả từ bảng 3.7 cho thấy tỷ lệ thực hành kỹ thuật tiêm bắp đạt 62,4% Mặc dù hầu hết các thực hành tiêm bắp đều đạt mức cao (91,4-100%), nhưng các hoạt động như quan sát bệnh nhân khi tiêm thuốc, hướng dẫn bệnh nhân về những điều cần thiết, đưa bệnh nhân trở lại tư thế thích hợp và dặn dò, theo dõi bệnh nhân sau khi tiêm vẫn còn ở mức thấp.
Bảng 3.8 Thực hành xử lý chất thải sau tiêm (nB0)
Thực hành Đạt Không đạt n % n %
Dùng tay để đậy hoặc lắp lại nắp kim tiêm 420 100 0 0
Phân loại chất thải đúng 416 99,1 4 0,9
Vệ sinh tay sau khi tiêm 381 90,7 39 9,3
Thực hành xử lý chất thải sau tiêm 381 90,7 39 9,3
Kết quả từ bảng 3.8 cho thấy tỷ lệ thực hành xử lý chất thải sau tiêm đạt 90,7% Trong đó, thực hành đậy hoặc lắp lại nắp kim tiêm đạt tỷ lệ cao nhất là 100%, tiếp theo là phân loại chất thải đúng với tỷ lệ 99,1%, và thực hành vệ sinh tay sau tiêm đạt tỷ lệ thấp nhất là 90,7%.
Kết quả từ Biểu đồ 3.1 cho thấy tỷ lệ thực hành TAT đạt được khá thấp, với chỉ 38,1% (160/420) mũi tiêm (tiêm bắp và tiêm tĩnh mạch) được đánh giá là đạt tiêu chuẩn Hơn một nửa (61,9%) mũi tiêm vẫn không đạt yêu cầu về thực hành TAT.
Các yếu tố ảnh hưởng đến Tiêm an toàn
3.3.1 Yếu tố tổ chức, quản lý tiêm Tiêm an toàn
* Công tác kiểm tra, giám sát
Hiện nay, công tác kiểm tra và giám sát hoạt động TAT tại TTYT thị xã Sông Cầu chưa được thực hiện thường xuyên Lãnh đạo Trung tâm đã giao phòng Điều dưỡng chịu trách nhiệm về việc này, nhưng kết quả từ PVS và TLN cho thấy công tác kiểm tra, giám sát gần như chưa được thực hiện Hằng năm, Sở Y tế tiến hành kiểm tra chất lượng bệnh viện, trong đó cán bộ Sở Y tế sẽ lồng ghép kiểm tra ngẫu nhiên các quy trình kỹ thuật mà nhân viên y tế thực hiện theo quy định.
Công tác kiểm tra giám sát thực hành TAT của điều dưỡng tại các khoa chưa được thực hiện hiệu quả Lãnh đạo đã giao trách nhiệm cho phòng chúng tôi, nhưng do bận rộn, chúng tôi chưa thể thực hiện Vì vậy, chúng tôi đã chuyển giao trách nhiệm cho điều dưỡng trưởng các khoa, họ sẽ chịu trách nhiệm chính trong việc này.
Thực hành TAT đạt Thực hành TAT chƣa đạt
HUPH đôn đốc nhắc nhở nhân viên của mình thực hiện theo đúng quy định” (PVS_3, nữ
Tôi thường không kiểm tra kỹ lưỡng quy trình tiêm của điều dưỡng viên, mà chỉ quan sát kỹ thuật của họ để xem có thành thạo hay không Việc yêu cầu họ thực hiện đầy đủ từng bước trong quy trình là rất khó khăn do họ thường bận rộn.
Kết quả từ TLN cho thấy việc kiểm tra và giám sát chất lượng hệ thống bệnh viện chỉ diễn ra khoảng hai lần mỗi năm, do cán bộ của Sở Y tế thực hiện Họ tiến hành kiểm tra ngẫu nhiên các quy trình của nhân viên y tế, thường vào nửa đầu và nửa cuối năm Tuy nhiên, một số trung tâm không nhận thấy có ai đến kiểm tra.
Việc chưa thực hiện tự kiểm tra và giám sát thực hành TAT đã dẫn đến tâm lý chủ quan trong đội ngũ điều dưỡng tại các khoa, khiến nhân viên y tế (NVYT) không chú trọng đến việc tuân thủ các quy trình quy định Một nhân viên cho biết: “Vì chúng tôi chưa thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát thực hành TAT nên hầu hết NVYT họ chủ quan không thực hiện đầy đủ quy trình theo quy định Chúng tôi sẽ họp và chấn chỉnh lại, chỉ đạo phòng điều dưỡng và điều dưỡng trưởng tăng cường công tác này hơn nữa.”
Một trong những khó khăn ảnh hưởng đến thực hành TAT của điều dưỡng là việc Trung tâm chưa có hệ thống camera để đảm bảo an ninh và giám sát hoạt động chuyên môn của nhân viên y tế Một ý kiến từ PVS cho rằng: “Nên lắp đặt hệ thống camera tại các khoa phòng để đảm bảo an ninh và giám sát các hoạt động chuyên môn khi cần thiết” (PVS_7, nữ 47 tuổi).
Giám sát giúp điều dưỡng viên nâng cao hiệu quả và ý thức trong việc thực hiện quy trình TAT Một điều dưỡng viên chia sẻ: “Khi có người giám sát, em sẽ làm chậm hơn và chú ý hơn đến các bước trong quy trình TAT của mình” (PVS_5, nữ 45 tuổi).
Vấn đề tổ chức giám sát việc thực hiện TAT tại phòng điều dưỡng và các khoa vẫn còn nhiều thiếu sót, dẫn đến hiệu quả giám sát chưa đạt như mong đợi Thiếu hụt nhân lực cho công tác giám sát là một thách thức lớn, đặc biệt trong bối cảnh quá tải tại các khoa lâm sàng, như khoa cấp cứu và khoa Ngoại tổng hợp Để đảm bảo hiệu quả giám sát TAT, người thực hiện cần phải có kinh nghiệm.
Việc giám sát thời gian đáp ứng (TAT) gặp nhiều khó khăn do mối quan hệ thân thiết giữa các điều dưỡng, dẫn đến việc nhận xét có phần cả nể và ngại va chạm Điều này khiến cho việc thay đổi thói quen sai của điều dưỡng diễn ra rất chậm.
Nhân lực thực hiện việc giám sát thực hiện giám sát TAT đang còn thiếu chỉ có 1 điều dƣỡng giám sát ở tất cả các khoa lâm sàng
Việc bố trí điều dưỡng giám sát TAT hiện tại còn thiếu, chỉ có một điều dưỡng phụ trách cho tất cả các khoa, dẫn đến việc phản hồi các lỗi sai diễn ra chậm và không bao quát hết các khoa.
Nhân lực cho công tác giám sát đang thiếu hụt nghiêm trọng, đặc biệt tại các khoa lâm sàng như khoa cấp cứu và khoa Ngoại TH Để đảm bảo hiệu quả giám sát, người thực hiện cần phải có kinh nghiệm.
* Công tác đào tạo, tập huấn
Kết quả PVS và TLN cho thấy công tác đào tạo hàng năm tại TTYT đã mang lại hiệu quả tích cực, với đa số nhân viên y tế tham gia các lớp tập huấn về TAT Việc tổ chức đầy đủ các lớp tập huấn đã cải thiện thực hành TAT của điều dưỡng tại Trung tâm Qua các buổi tập huấn, điều dưỡng được hệ thống hóa, cập nhật kiến thức và nâng cao kỹ năng, dẫn đến thực hành tốt hơn.
Hằng năm, chúng tôi tổ chức các lớp tập huấn về TAT cho tất cả điều dưỡng trong đơn vị, bắt đầu từ đầu năm Quá trình tập huấn kết hợp lý thuyết và thực hành, giúp điều dưỡng ôn lại kiến thức và nâng cao kỹ năng về TAT.
Sau khi tốt nghiệp cách đây hơn mười năm, chúng tôi đã quên đi nhiều kiến thức Tuy nhiên, nhờ vào phòng Điều dưỡng, hàng năm đều tổ chức các lớp tập huấn, chúng tôi có cơ hội ôn lại và cập nhật kiến thức cần thiết.
HUPH đã tổ chức các lớp tập huấn giúp cải thiện kiến thức và thực hành về TAT của chúng tôi.
BÀN LUẬN
Đặc điểm của đối tƣợng nghiên cứu
Trong nghiên cứu với 42 điều dưỡng tham gia, có đến 80,95% là nữ, phản ánh đúng thực tế tại đơn vị và đặc thù công việc Công việc chăm sóc bệnh nhân đòi hỏi sự nhẹ nhàng, tỷ mỷ và ân cần, do đó, nữ giới thường phù hợp hơn Hiện nay, nữ giới cũng chiếm đa số trong lực lượng y tế Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với nhiều nghiên cứu khác trong nước, như nghiên cứu của Trần Cao Đạt (2020) tại Viện Y dược học dân tộc Thành Phố Hồ Chí Minh với tỷ lệ nữ là 80% và nam là 20%, cũng như nghiên cứu của Danh Thái Lan (2019) tại khoa Nhi bệnh viện.
Tại Bà Rịa, tỷ lệ nữ trong đội ngũ nhân viên y tế chiếm 69,4%, trong khi nam giới chỉ chiếm 30,6% Nghiên cứu của La Thanh Chí Hiếu (2019) tại bệnh viện đa khoa Cần Thơ cũng cho thấy nữ giới chiếm 67% trong số những người tham gia Độ tuổi trung bình của điều dưỡng tham gia nghiên cứu là 32,62± 4,3 tuổi, với độ tuổi nhỏ nhất là 27 và lớn nhất là 45 Đa số điều dưỡng (71,43%) đều trên 30 tuổi, cho thấy họ đã có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn cao, đáp ứng tốt nhu cầu công việc Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của Lã Thị Thanh Lâm (2018) tại bệnh viện Quân y.
354 cho thấy phần lớn (79,5%) đối tƣợng tham gia nghiên cứu độ tuổi trên 30
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Phương (2018) tại Viện pháp y tâm thần Trung ƣơng Biên Hòa cho thấy 75% điều dưỡng có độ tuổi từ 30 trở xuống Tương tự, nghiên cứu của La Thanh Chí Hiếu (2019) tại bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ cũng chỉ ra rằng 74,3% đối tượng tham gia nghiên cứu thuộc độ tuổi này Sự khác biệt về tỷ lệ này phản ánh đặc thù nhân lực và quy trình tuyển dụng của từng cơ sở y tế.
Tại TTYT thị xã Sông Cầu, phần lớn điều dưỡng có trình độ cao đẳng (66,7%), trong khi trình độ đại học chỉ chiếm 26,2% và trung cấp là 7,14% Nghiên cứu của La Thanh Chí Hiếu (2019) tại bệnh viện đa khoa Cần Thơ cho thấy trình độ cao đẳng chiếm 58,2%, trung cấp 40%, và đại học chỉ 1,8% Tương tự, nghiên cứu của Danh Thái Lan (2019) tại TTYT huyện Vĩnh Thuận cho thấy 83,3% điều dưỡng có trình độ trung cấp, 12,8% đại học và 3,9% cao đẳng So với các nghiên cứu trước, trình độ chuyên môn của điều dưỡng tại TTYT Sông Cầu cao hơn, nhờ vào sự quan tâm của ban lãnh đạo trong việc tạo điều kiện cho đội ngũ điều dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn Việc này không chỉ giúp điều dưỡng có thêm kiến thức và kỹ năng mà còn nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân.
Phần lớn điều dưỡng tham gia nghiên cứu có thâm niên công tác từ 5 năm trở lên, với độ tuổi trung bình là 32,6 tuổi, chiếm 71,4% Kinh nghiệm làm việc lâu năm giúp điều dưỡng tích lũy kiến thức và kỹ năng, từ đó nâng cao khả năng đáp ứng công việc và giảm thiểu sai sót Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Lã Thị Thanh Lâm.
(2018) tại bệnh viện Quân y 354 khi cho thấy (82,1%) điều dƣỡng tham gia nghiên cứu có thâm niên công tác từ 5 năm trở lên (27) Nghiên cứu Phạm Thị Hoài Sinh
(22) cũng cho thấy (55,4%) điều dƣỡng có thâm niên công tác trên 5 năm (25)
Kết quả nghiên cứu cho thấy 85,7% điều dưỡng đã tham gia tập huấn trong vòng 1 năm qua, với 71,4% được tập huấn 1 lần/năm và 28,6% được tập huấn 2 lần/năm Việc tổ chức các lớp tập huấn về TAT hàng năm là cần thiết, giúp điều dưỡng ôn lại kiến thức cơ bản và cập nhật thông tin mới.
HUPH cung cấp kiến thức mới để đáp ứng nhu cầu công việc tại đơn vị Tuy nhiên, 14,3% điều dưỡng chưa tham gia đào tạo về TAT trong năm qua, chủ yếu do nghỉ thai sản, nghỉ phép hoặc tham gia trực Việc không tham gia đào tạo hàng năm có thể dẫn đến việc quên kiến thức, ảnh hưởng đến công việc nếu không tự học hỏi Tại tất cả các khoa, tài liệu TAT đã được bố trí sẵn để điều dưỡng theo dõi và cập nhật kiến thức, giúp hạn chế sự hao hụt kiến thức theo thời gian Nếu không thể tham gia đào tạo, điều dưỡng có thể tự đọc tài liệu tại khoa để bổ sung kiến thức về TAT Kết quả nghiên cứu của La Thanh Chí Hiếu.
Nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ năm 2019 cho thấy 88,3% điều dưỡng đã tham gia tập huấn về TAT trong vòng 1 năm, và 87,7% các khoa phòng có tài liệu liên quan đến TAT Tuy nhiên, nghiên cứu của Lee Hyeong-Il và cộng sự cùng năm cho thấy 50% điều dưỡng được phỏng vấn chưa từng tham gia khóa tập huấn nào về TAT, cho thấy sự thiếu hụt trong quy trình đào tạo liên tục về thực hành tiêm Điều này dẫn đến việc điều dưỡng dễ quên các quy trình thực hành TAT do thiếu đào tạo và tập huấn.
Thực hành Tiêm an toàn tại Trung tâm Y tế thị xã Sông Cầu năm 2021
Trong thực hành chuẩn bị người bệnh của điều dưỡng, kết quả đánh giá cho thấy chỉ có 61,9% mũi tiêm đạt yêu cầu Điều này chỉ ra rằng cần cải thiện quy trình chuẩn bị người bệnh để nâng cao chất lượng chăm sóc.
Bước khai thác tiền sử dị ứng và rửa tay thương quy/sát khuẩn tay nhanh có tỷ lệ thực hành đạt thấp nhất, lần lượt là 77,4% và 77,6% Trong khi đó, các bước còn lại có tỷ lệ thực hành tương đối cao, dao động từ 93,8% đến 99,3% Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu của Danh Thái Lan (2019).
Tại Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang, tỷ lệ thực hành chuẩn bị người bệnh đạt 96,7%, nhưng tỷ lệ rửa tay thường quy/sát khuẩn tay nhanh của điều dưỡng trước khi tiêm chỉ đạt 95,0%, cho thấy thực hành vệ sinh tay còn thấp Việc không thực hiện đúng quy trình vệ sinh tay trước khi tiêm có thể dẫn đến nguy cơ lây nhiễm chéo trong cơ sở y tế Nghiên cứu của Foda NMT và cộng sự (2014) tại Bệnh viện Đại học Alexandria, Ai Cập cho thấy tỷ lệ vệ sinh tay trước khi tiêm chỉ đạt 41%, và việc thực hiện các bước làm sạch da trước khi tiêm chỉ đạt 53% Hơn nữa, việc bỏ qua khai thác tiền sử dị ứng của người bệnh trước khi tiêm có thể gây ra tai biến nghiêm trọng Do đó, cần có giải pháp khắc phục để nâng cao công tác chuẩn bị người bệnh trước khi tiêm, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát và nhắc nhở điều dưỡng thực hiện nghiêm túc quy trình tiêm, truyền.
Kết quả đánh giá thực hành chuẩn bị dụng cụ trước khi tiêm cho thấy phần lớn điều dưỡng thực hiện tốt, với tỷ lệ đạt 100% cho việc chuẩn bị hộp chống sốc và hộp đựng vật sắc nhọn Nghiên cứu của Phạm Thị Hoài Sinh tại TTYT Lộc Ninh, Bình Phước ghi nhận tỷ lệ thực hành đạt 80,4%, trong khi nghiên cứu của Nguyễn Thị Lương (2019) tại bệnh viện Bà Rịa cho thấy tỷ lệ này là 83,7% Tất cả điều dưỡng đều chuẩn bị đầy đủ dụng cụ cần thiết như hộp chống sốc và thùng đựng vật sắc nhọn.
Hộp chống sốc và thùng đựng vật sắc nhọn đều đạt 100%, tuy nhiên, việc chuẩn bị dung dịch sát khuẩn tay nhanh trên xe tiêm vẫn chưa đạt yêu cầu, với 14,5% thực hành chưa đầy đủ Nghiên cứu của Nguyễn Thị Lương (2019) cho thấy 16,3% điều dưỡng không chuẩn bị dung dịch sát khuẩn tay nhanh trước khi tiêm Việc không chuẩn bị này có thể dẫn đến việc không thực hiện vệ sinh tay trong quá trình tiêm, gây nguy cơ lây nhiễm Một số điều dưỡng cho rằng dung dịch sát khuẩn tay nhanh đã có sẵn trong phòng bệnh, nhưng quan điểm này là sai lầm, vì việc tiêm yêu cầu phải đảm bảo vô khuẩn, do đó cần chuẩn bị đầy đủ dụng cụ để quá trình thực hiện không bị gián đoạn.
* Thực hành chuẩn bị thuốc tiêm
Kết quả đánh giá thực hành chuẩn bị thuốc tiêm cho thấy chỉ có 66,9% thực hành đạt yêu cầu, thấp hơn so với nghiên cứu của Danh Thái Lan (2019) tại TTYT huyện Vĩnh Thuận với tỷ lệ 95,6% và nghiên cứu của Nguyễn Thị Lương (2019) tại bệnh viện Bà Rịa với tỷ lệ 75,5% Điều này cho thấy vẫn còn 33,1% thực hành chưa đạt, chủ yếu do 22,6% không kiểm tra ống thuốc đúng cách và 13,1% điều dưỡng sử dụng tay để đậy nắp kim Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Trần Cao Đạt (2020) tại Viện Y dược học dân tộc TP.HCM với 11,9% không đảm bảo trong việc thay kim, và nghiên cứu của La Thanh Chí Hiếu (2019) tại bệnh viện đa khoa Cần Thơ với 13,5% thực hành không đạt.
Việc kiểm tra và bẻ ống thuốc là một nguyên tắc bắt buộc mà điều dưỡng cần thực hiện để đảm bảo chất lượng thuốc và an toàn trong quá trình sử dụng Mặc dù hầu hết điều dưỡng đã thực hiện kiểm tra ống thuốc theo quy định, nhưng một số vẫn sử dụng tay không để bẻ ống, dẫn đến nguy cơ bị thương do vật sắc nhọn Để đảm bảo an toàn, cần sử dụng gạc vô khuẩn khi bẻ ống thuốc Hơn nữa, việc dùng tay để đậy nắp kim cũng tiềm ẩn nguy cơ bị kim đâm vào tay, cho thấy thực hành này không an toàn Nguyên nhân chủ yếu là do thói quen và áp lực công việc, khiến điều dưỡng thực hiện nhanh chóng Do đó, trưởng phòng Điều dưỡng và điều dưỡng trưởng khoa cần giám sát và nhắc nhở để cải thiện thực hành an toàn cho điều dưỡng.
* Thực hành kỹ thuật tiêm thuốc
Kỹ thuật tiêm thuốc bao gồm 7 bước chính trong quy trình TAT, với sự quan sát và đánh giá từng loại đường tiêm như tiêm bắp và tiêm tĩnh mạch Kết quả cho thấy tỷ lệ thực hành kỹ thuật tiêm tĩnh mạch đạt 67,6% và tiêm bắp đạt 62,4% Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Phương (2018) cho thấy tỷ lệ tuân thủ thao tác tiêm đạt 80%, trong khi Trần Cao Đạt (2020) ghi nhận tỷ lệ này là 88,7% Tuy nhiên, các nghiên cứu trước chỉ đánh giá 4 tiêu chí thao tác, trong khi nghiên cứu của chúng tôi dựa trên 7 bước theo Hướng dẫn TAT của Bộ Y tế, do đó cần đánh giá riêng từng đường tiêm.
HUPH cũng cho thấy thực hành kỹ thuật tiêm theo tiêu chí các quy trình khá cao: tiêm bắp đạt 97,2%; thực hành kỹ thuật tiêm tĩnh mạch đạt là 96,7% (44)
Hầu hết các bước thực hiện kỹ thuật tiêm thuốc đạt tỷ lệ cao trên 91% Tuy nhiên, các bước cuối như quan sát bệnh nhân (NB) trong khi bơm thuốc, hướng dẫn NB những điều cần thiết, và dặn dò, theo dõi NB sau khi tiêm chỉ đạt từ 62,4-67,6% Nguyên nhân của tình trạng này là do khối lượng công việc lớn, khiến điều dưỡng phải tiêm cho nhiều NB trong một buổi sáng, dẫn đến việc bỏ qua một số bước và không kịp dặn dò tư vấn cho NB Sự khác biệt trong tỷ lệ thực hành kỹ thuật tiêm giữa các nghiên cứu có thể do kỹ năng thực hành của điều dưỡng ở mỗi đơn vị khác nhau và số bước thực hành được đánh giá cũng khác nhau Nghiên cứu này thực hiện tiêu chí đánh giá và các bước trong quy trình theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
* Thực hành xử lý chất thải sau tiêm
Thực hành xử lý chất thải sau tiêm bao gồm không dùng tay để đậy hoặc lắp lại nắp kim tiêm, phân loại chất thải đúng và vệ sinh tay sau khi tiêm Tỷ lệ thực hành xử lý chất thải sau tiêm đạt 90,7%, cao hơn so với nghiên cứu của Trần Cao Đạt (2020) tại Viện Y dược học dân tộc Thành Phố Hồ Chí Minh với tỷ lệ 93,1% Trong các bước xử lý, việc không dùng tay để đậy nắp kim tiêm đạt tỷ lệ cao nhất (100%), trong khi nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Phương (2018) cho thấy điều dưỡng thực hiện hành vi này đạt 97,3%, cao hơn so với 51,8% của Lã Thị Thanh Lâm (2018) tại bệnh viện Quân y 354 Hành vi dùng tay để đậy nắp kim tiêm đã sử dụng rất nguy hiểm, có thể dẫn đến phơi nhiễm các bệnh lây truyền qua đường máu như HIV, viêm gan B, C.
HUPH cần tuân thủ nghiêm ngặt quy trình tiêm, đặc biệt là trong việc phân loại chất thải, với 99% mũi tiêm được thực hiện đúng nhờ vào công tác đào tạo hiệu quả cho đội ngũ điều dưỡng Việc phân loại chất thải đúng không chỉ giúp kiểm soát nhiễm khuẩn trong cơ sở y tế mà còn giảm thiểu rủi ro cho nhân viên y tế và bệnh nhân Tuy nhiên, tỷ lệ thực hành vệ sinh tay sau tiêm chỉ đạt 90,7%, cho thấy vẫn còn 9,3% mũi tiêm không thực hiện bước này Mặc dù hầu hết điều dưỡng sử dụng găng tay khi tiêm, nhưng việc này không hoàn toàn ngăn chặn vi khuẩn xâm nhập, do đó, việc vệ sinh tay sau tiêm là rất cần thiết để ngăn ngừa lây nhiễm cho cả điều dưỡng và bệnh nhân.
* Thực hành chung Tiêm an toàn
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã quan sát 420 mũi tiêm theo quy trình tiêm bắp và tiêm tĩnh mạch, bao gồm các bước chuẩn bị, thực hành kỹ thuật và xử lý chất thải Việc đánh giá thực hành TAT được thực hiện chung cho cả hai loại tiêm, với tiêu chí đánh giá là 24/24 tiêu chí trong quy trình tiêm Kết quả cho thấy tỷ lệ thực hành TAT tại Trung tâm chỉ đạt 38,1%, trong khi 61,9% mũi tiêm không đạt yêu cầu Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Lã Thị Thanh Lâm (2018) tại bệnh viện Quân y 354, cho thấy tỷ lệ thực hành TAT đạt 37,5%.
Nghiên cứu của Phạm Thị Hoàn Sinh tại TTYT huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước cho thấy tỷ lệ thực hành TAT đạt 33,9% Tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của La Thanh Chí Hiếu (2019) tại bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ với 61,4% và nghiên cứu của Danh Thái Lan (2019) tại TTYT huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang với 56,1% Kết quả này phản ánh sự khác biệt trong thực hành TAT giữa các địa phương và cần được xem xét trong bối cảnh nghiên cứu toàn cầu.
Nghiên cứu của Anwar MM và cộng sự năm 2017 tại Bệnh viện Bà mẹ và trẻ em vùng Quassim, Ả Rập Xê út và Bệnh viện Đại học Beni-Suef, Ai Cập cho thấy thực hành TAT đạt tỷ lệ cao lần lượt là 97,6% và 98% Tương tự, nghiên cứu của Foda NMT và cộng sự năm 2014 tại Bệnh viện Đại học Alexandria cũng đã chỉ ra những kết quả đáng khích lệ trong thực hành này.
Ai cập cho thấy thực hành TAT đạt 43,8% (18)
Tỷ lệ thực hành TAT tại các cơ sở y tế khác nhau trên thế giới và trong nước phụ thuộc vào đặc thù của từng cơ sở, với nhiều yếu tố như cơ chế, chính sách, kiểm tra, giám sát và thi đua khen thưởng ảnh hưởng đến thực hành này Sự khác biệt trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi so với các nghiên cứu khác có thể do cách đánh giá và sắp xếp tiêu chí Kết quả cho thấy tỷ lệ thực hành TAT tại TTYT thị xã Sông Cầu còn thấp so với mức chung, điều này cần được lãnh đạo trung tâm chú ý và tìm giải pháp nâng cao trong thời gian tới Thực hành tiêm là một trong những kỹ thuật quan trọng trong công tác chăm sóc bệnh nhân, cải thiện thực hành TAT sẽ giúp giảm nguy cơ lây nhiễm chéo, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại đơn vị.
Yếu tố ảnh hưởng đến thực hành TAT tại Trung tâm Y tế thị xã Sông Cầu
4.3.1 Yếu tố tổ chức, quản lý Tiêm an toàn
* Công tác kiểm tra, giám sát
Công tác kiểm tra, giám sát đóng vai trò quan trọng trong việc thực hành TAT Khi được thực hiện nghiêm túc, nó mang lại hiệu quả tích cực, giúp hình thành thói quen thực hành tốt Việc kiểm tra, giám sát thường xuyên sẽ nâng cao tỷ lệ thực hành TAT Tuy nhiên, kết quả định tính cho thấy hiện nay công tác này vẫn còn nhiều hạn chế.
HUPH chưa thực hiện kiểm tra, giám sát về thực hành TAT tại đơn vị, dẫn đến tình trạng tỷ lệ TAT thấp Phòng Điều dưỡng chịu trách nhiệm nhưng thiếu nhân lực và thời gian, khiến việc kiểm tra không thường xuyên Kiểm tra ngẫu nhiên từ Sở Y tế không mang lại hiệu quả, làm cho điều dưỡng có tâm lý chủ quan và hình thành thói quen không tốt trong quy trình thực hành Việc không thực hiện đầy đủ các bước có thể dẫn đến sự cố trong tiêm, truyền Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy thiếu kiểm tra, giám sát là nguyên nhân chính ảnh hưởng tiêu cực đến thực hành TAT của điều dưỡng.
Công tác kiểm tra, giám sát đang ảnh hưởng tiêu cực đến thực hành TAT tại đơn vị, do đó Trung tâm cần chú trọng và tìm giải pháp tăng cường công tác này Việc bổ sung nhân lực cho Phòng Điều dưỡng và lắp đặt hệ thống camera để theo dõi các hoạt động chuyên môn sẽ giúp tiết kiệm thời gian và nhân lực, từ đó nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát Cần hiểu đúng và đủ về hoạt động giám sát, đánh giá tuân thủ quy trình để nâng cao sự tuân thủ của NCYT trong quá trình thực hiện.
* Công tác đào tạo, tập huấn
Công tác đào tạo và tập huấn tại trung tâm đã được chú trọng, với việc điều dưỡng trưởng tham gia các lớp tập huấn hàng năm do tuyến tỉnh tổ chức Những nhân viên y tế tham gia đào tạo có trách nhiệm truyền đạt lại kiến thức cho điều dưỡng tại các khoa Việc tổ chức định kỳ các lớp tập huấn giúp điều dưỡng cập nhật kiến thức mới và củng cố kỹ năng thực hành Nghiên cứu cho thấy các buổi tập huấn kết hợp lý thuyết và thực hành, nâng cao cả kiến thức lẫn kỹ năng cho điều dưỡng Trung tâm cũng trang bị tài liệu liên quan đến thực hành TAT tại các khoa lâm sàng để hỗ trợ điều dưỡng Hàng năm, trung tâm tuyển dụng điều dưỡng trẻ mới ra trường, và những điều dưỡng có kinh nghiệm được phân công kèm cặp để nâng cao kỹ năng cho đội ngũ mới Điều này không chỉ hỗ trợ chuyên môn mà còn giúp điều dưỡng mới tự tin hơn trong công việc Đào tạo liên tục đã chứng minh ảnh hưởng tích cực đến thực hành TAT, với nghiên cứu cho thấy nhóm được đào tạo liên tục có tỷ lệ thực hành đúng cao gấp đôi so với nhóm không được đào tạo.
Công tác đào tạo và tập huấn đã được chú trọng, nhưng để nâng cao hiệu quả và tạo ảnh hưởng tích cực, cần bổ sung thêm các hoạt động khác Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy đơn vị vẫn chưa tổ chức các cuộc thi kiến thức.
Việc tổ chức các cuộc thi kiến thức và tay nghề hàng năm là cần thiết để nâng cao động lực học tập của điều dưỡng Kết quả từ các cuộc thi sẽ phản ánh chính xác thực trạng về kiến thức và kỹ năng của họ, đồng thời tạo áp lực để điều dưỡng tự giác học hỏi và cập nhật kiến thức Do đó, trung tâm cần sớm triển khai các cuộc thi này nhằm cải thiện thực hành TAT của điều dưỡng.
Bộ Y tế đã ban hành quyết định số 3671/QĐ-BYT vào ngày 27 tháng 9 năm 2012, hướng dẫn về kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK), quy định chi tiết về thực hành tiêm, truyền (TAT) và các giải pháp, dụng cụ cần thiết Văn bản này là cơ sở cho các cơ sở y tế thực hiện các hoạt động liên quan đến TAT Trung tâm đã chỉ đạo các khoa, phòng cập nhật nội dung và xây dựng quy trình tiêm, truyền theo hướng dẫn, tạo thuận lợi cho điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy trung tâm còn thiếu các văn bản quy định về kiểm tra, giám sát và tuân thủ thực hành TAT, dẫn đến việc thực hành TAT còn hạn chế.
Kết quả từ PVS và TLN cho thấy rằng các văn bản hướng dẫn thực hiện TAT của TTYT hiện chưa đầy đủ, và các chính sách khuyến khích cá nhân, tập thể cũng chưa được triển khai Để phát triển phong trào thi đua sâu rộng và bền vững, TTYT cần tích hợp các nội dung này vào kế hoạch và phương hướng thực hiện hàng năm, từ đó tạo cơ sở vững chắc cho việc thực hiện phong trào thi đua thực hành TAT trong thực tế.
HUPH đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển chuyên môn và nâng cao chất lượng điều trị Tại các cơ sở y tế khác, việc ban hành các văn bản và chính sách khuyến khích cá nhân tham gia thực hành TAT được tạo điều kiện thuận lợi, bao gồm thời gian để ôn tập và thi tay nghề hàng năm Nghiên cứu của Lee Hyeong-Il và cộng sự năm
Năm 2019 đã chỉ ra rằng cần thiết phải tăng cường chú trọng vào việc xây dựng và thực hiện các chính sách nhằm nâng cao sự an toàn cho người bệnh Đây là một nhiệm vụ quan trọng cần được quan tâm để hoàn thiện việc áp dụng TAT trong thực tế chăm sóc người bệnh.
* Công tác thi đua, khen thưởng và xử phạt vi phạm thực hành Tiêm an toàn
Công tác thi đua khen thưởng là yếu tố then chốt trong việc thực hành TAT tại các cơ sở y tế Sự phát động phong trào thực hành tốt sẽ khuyến khích điều dưỡng tham gia tích cực, từ đó nâng cao chất lượng thực hành TAT Kể từ năm 2001, Bộ Y tế và Hội Điều dưỡng Việt Nam đã triển khai phong trào TAT trên toàn quốc, được hầu hết các cơ sở y tế hưởng ứng Tuy nhiên, tại Trung tâm, phong trào này đã giảm sút theo thời gian, dẫn đến sự giảm nhiệt tình của điều dưỡng trong việc thực hành TAT Hiện tại, TTYT chưa có cơ chế khen thưởng cho những điều dưỡng thực hành tốt và cũng thiếu quy định xử phạt đối với các vi phạm, điều này làm giảm động lực cho điều dưỡng Nhiều nghiên cứu cho thấy công tác thi đua, khen thưởng và xử phạt về thực hành TAT chưa được coi trọng, các cơ sở y tế chủ yếu tập trung vào công tác thu dung điều trị mà bỏ qua việc phát động phong trào thi đua và khen thưởng cho nhân viên y tế.
Công tác thi đua khen thưởng và xử phạt về thực hành TAT tại TTYT thị xã Sông Cầu hiện đang gặp nhiều hạn chế, ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện TAT Để cải thiện tình hình, đơn vị cần xây dựng quy định rõ ràng, khen thưởng những cá nhân thực hiện tốt và xử phạt những trường hợp vi phạm Các quy định này cần được đưa vào quy chế để đảm bảo tính hiệu quả và công bằng trong công tác thi đua.
HUPH là một trong những tiêu chí của thi đua, tiêu chí đánh giá, phân loại viên chức cuối năm thì thựa hành TAT mới đạt hiệu quả cao
Trong những năm gần đây, TTYT thị xã Sông Cầu luôn trong tình trạng quá tải do lượng bệnh nhân tăng lên hàng năm Điều này đã dẫn đến việc các điều dưỡng không có đủ thời gian để thực hiện đầy đủ các bước trong quy trình TAT Nhiều điều dưỡng buộc phải làm tắt hoặc qua loa để kịp thời chăm sóc cho những bệnh nhân khác Tình trạng quá tải này đặc biệt nghiêm trọng ở các khoa như khoa Cấp cứu lưu và khoa Ngoại tổng hợp.
Tại các khoa có số lượng bệnh nhân (NB) đông, điều dưỡng gặp nhiều khó khăn trong công việc, dẫn đến tỷ lệ thực hành TAT của họ thấp nhất so với các khoa khác Thực tế cho thấy, mỗi điều dưỡng phải chăm sóc từ 20-30 bệnh nhân, điều này không phù hợp với tiêu chuẩn điều dưỡng hiện hành.
Tại Việt Nam, mỗi điều dưỡng thường chăm sóc từ 5 đến 8 bệnh nhân, trong khi ở các quốc gia tiên tiến như Mỹ, tỷ lệ này là khoảng 4 bệnh nhân cho mỗi điều dưỡng.
Hạn chế nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện tại một thời điểm cụ thể, do đó, kết quả có thể chưa phản ánh đầy đủ thực trạng TAT của điều dưỡng tại đơn vị.
Do hạn chế về nguồn lực, nghiên cứu này chưa đánh giá được kiến thức của điều dưỡng về TAT, mặc dù yếu tố kiến thức có thể ảnh hưởng quan trọng đến thực hành TAT Các nghiên cứu trong tương lai có thể khắc phục được hạn chế này.
Phương pháp quan sát trực tiếp gặp hạn chế do Trung tâm chưa trang bị hệ thống camera, khiến việc thu thập số liệu phải dựa vào quan sát bằng mắt thường Số lần quan sát trên mỗi điều dưỡng khá nhiều, điều này gây khó khăn trong quá trình thu thập dữ liệu.
Để đảm bảo kết quả nghiên cứu phản ánh chính xác thực trạng thực hành TAT tại đơn vị, chúng tôi đã chọn 4 điều tra viên được đào tạo kỹ lưỡng về phương pháp thu thập số liệu Việc này giúp họ có thể thay đổi cho nhau trong quá trình quan sát Thời gian quan sát được bố trí kéo dài trong 2 tháng nhằm giảm thiểu sự chú ý của điều dưỡng khi thực hiện TAT tại các khoa.