ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
Tiêu chuẩn lựa chọn Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) trong đề tài này bao gồm những hồ sơ phụ nữ đã sinh con và con của họ, với điều kiện phải thỏa mãn tất cả các tiêu chí đã đề ra.
- Có kết quả xét nghiệm khẳng định HIV dương tính
Nếu bạn đã sinh con từ ngày 01/01/2011 đến hết ngày 31/12/2018 tại một trong các bệnh viện hoặc trung tâm y tế tham gia nghiên cứu, vui lòng tham khảo danh sách các cơ sở y tế trong phần địa điểm nghiên cứu.
- Hồ sơ trẻ em được sinh ra còn sống từ các bà mẹ thỏa mãn những điều kiện trên
Tiêu chuẩn loại trừ: Các (hồ sơ) của bệnh nhân mất dấu, phát hiện bệnh nhân chuyển dạ nhưng từ chối điều trị.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại 9 cơ sở Sản khoa cung cấp dịch vụ PLTMC tại tỉnh Quảng Ninh, bao gồm: Bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ninh, Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh, Bệnh viện Đa khoa Cẩm Phả, Trung tâm Y tế thành phố Móng Cái, Trung tâm Y tế huyện Tiên Yên, Trung tâm Y tế thị xã Đông Triều, Trung tâm Y tế thị xã Quảng Yên và Trung tâm Y tế huyện Vân Đồn.
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01 năm 2019 đến tháng 12 năm 2019.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang phân tích được thực hiện bằng cách thu thập thông tin từ sổ sách và bệnh án, theo dõi từ khi mẹ biết tình trạng HIV cho đến khi biết tình trạng HIV của con tại các cơ sở dịch vụ và phòng khám ngoại trú nhi.
Cỡ mẫu
Nghiên cứu đã chọn mẫu toàn bộ hồ sơ của phụ nữ mang thai nhiễm HIV đã sinh con tại 9 bệnh viện triển khai điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con tại Quảng Ninh trong giai đoạn từ năm 2011 đến 2018.
Phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu toàn bộ được thực hiện trên hồ sơ bệnh án của mẹ và con tại 9 cơ sở điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con ở Quảng Ninh trong giai đoạn 2011-2018 Trong 8 năm, tổng số hồ sơ bệnh án của các bà mẹ mang thai nhiễm HIV tại tỉnh Quảng Ninh là 615, trong đó có 594 cặp mẹ con, do đó phương pháp lấy mẫu toàn bộ đã được chọn.
Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập thông tin hồi cứu từ bệnh án của các bà mẹ HIV dương tính và con của họ tại các cơ sở Sản khoa có chương trình dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con Dữ liệu về trẻ em được lấy từ các phòng khám ngoại trú Nhi, với thông tin có sẵn trong sổ ghi chép, phiếu chuyển gửi bệnh nhân và bệnh án tại các đơn vị.
Trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu chỉ thu thập thông tin từ các sổ sách, phiếu chuyển gửi và bệnh án đã được ghi chép trước đó.
(Xem bộ công cụ thu thập thông tin tại Phụ lục 2)
Công cụ thu thập thông tin
Số liệu được thu thập bằng cách sử dụng bộ công cụ thu thập thông tin Bộ công cụ thu thập thông tin được thiết kế gồm 3 phần:
- Phần 1: Thông tin về phụ nữ mang thai nhiễm HIV: Thông tin được thu thập từ các cơ sở sản khoa
- Phần 2: Thông tin trẻ phơi nhiễm với HIV: Thông tin được thu thập từ các cơ sở sản khoa và các cơ sở nhi khoa
- Phần 3: Thông tin tình trạng nhiễm HIV của trẻ: Thông tin được thu thập từ các cơ sở nhi khoa
Các phiếu thu thập thông tin được thiết kế chi tiết dựa trên mẫu bệnh án sản khoa và bệnh án chăm sóc điều trị HIV/AIDS Bộ công cụ thu thập số liệu đã được thử nghiệm và chuẩn hóa để bổ sung các biến số cần thiết, đặc biệt cho quá trình theo dõi sau sinh.
Dựa trên kết quả thử nghiệm, bộ công cụ thu thập thông tin đã được hoàn chỉnh và nhận ý kiến đóng góp từ các chuyên gia lần thứ hai trước khi chính thức đưa vào sử dụng.
(Xem bộ công cụ thu thập thông tin tại Phụ lục 2)
Các biến số sử dụng trong nghiên cứu
Nhóm biến số liên quan đến thông tin của mẹ bao gồm: tuổi của mẹ, huyện nơi sinh sống hiện tại, số lần sinh, thời điểm xét nghiệm HIV, giai đoạn lâm sàng, số lượng tế bào CD4, tình trạng đã điều trị ARV trước khi mang thai và việc nuôi con.
Nhóm biến số về dịch vụ y tế bao gồm các yếu tố quan trọng như cách sinh, điều trị ARV trước sinh, điều trị trong thời gian mang thai, điều trị khi chuyển dạ, chuyển tiếp mẹ và con, xét nghiệm cho trẻ, điều trị ARV cho trẻ, và điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội cho trẻ.
- Nhóm biến số về thông tin con: Giới, cân nặng, tình trạng nhiễm HIV, kết quả nhiễm HIV lần 1, Kết quả nhiễm HIV lần 2
(Chi tiết tại Phụ lục 1 Bảng biến số)
Phương pháp phân tích số liệu
Bộ công cụ thu thập thông tin được làm sạch và nhập vào máy tính thông qua phần mềm EpiData 3.1, sau đó được phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0 để thực hiện các thông tin mô tả và phân tích thống kê.
Thống kê mô tả, bao gồm tỉ lệ phần trăm và trung bình, được áp dụng để thể hiện các đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu Kiểm định Chi-square được sử dụng để kiểm tra giả thuyết về sự khác biệt giữa các yếu tố liên quan và tình trạng nhiễm HIV ở trẻ em (dạng nhị phân).
Vấn đề đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu đã được hội đồng đạo đức số 154/2019/YTCC-HD3 phê duyệt vào ngày 18/4/2019 của trường Đại học Y tế công cộng, cho phép thực hiện các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học Nghiên cứu cũng nhận được sự chấp thuận từ Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Quảng Ninh, cùng với sự hợp tác của các bệnh viện và khoa phụ sản trong chương trình dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con tại tỉnh Quảng Ninh.
Nghiên cứu hồi cứu không thu thập thông tin trực tiếp từ các bà mẹ và con của họ, do đó không gây ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thần của đối tượng nghiên cứu.
Mỗi bệnh án của đối tượng nghiên cứu sẽ được gán một mã số nghiên cứu duy nhất Dữ liệu chỉ được nhập bằng mã số này, và các tệp dữ liệu sẽ được lưu trữ trên máy tính.
HUPH mã hóa an toàn dữ liệu nghiên cứu hai lần, chỉ cho phép nhóm nghiên cứu truy cập vào số liệu Nghiên cứu này nhạy cảm và có thể ảnh hưởng đến tính trung thực của thông tin thu thập, do đó hồ sơ của đối tượng nghiên cứu có thể đầy đủ hoặc không đầy đủ Tất cả thông tin thu thập chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu và được giữ bí mật, với quyền truy cập chỉ dành cho nghiên cứu viên.
Kết quả nghiên cứu được phản hồi tới lãnh đạo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Quảng Ninh sau khi kết thúc nghiên cứu
QUẢ NGHIÊN CỨU
Mô tả một số yếu tố liên quan đến thực trạng lây truyền HIV từ mẹ sang con
Bảng 3 10 Đặc điểm tuổi và địa chỉ nơi cư trú của phụ nữ mang thai nhiễm HIV
Nội dung N = 594 Tỷ lệ (%) Địa chỉ nơi cư trú
Tỷ lệ phụ nữ mang thai nhiễm HIV (PNMT) được điều trị ngay tại huyện nơi cư trú đạt 96%, trong khi tỷ lệ phải điều trị ở huyện khác chỉ là 2,9% Hệ thống điều trị của Quảng Ninh cũng đã tiếp nhận và điều trị cho 7 PNMT từ ngoài tỉnh, chiếm 1,2%.
Bảng 3 11 Đặc điểm phụ nữ mang thai nhiễm HIV về số lần sinh con
Lần sinh con thứ nhất 268 45,1%
Lần sinh con thứ hai 311 52,4%
Lần sinh con thứ ba 15 2,5%
Về lần sinh con, tỷ lệ PNMT nhiễm HIV sinh con lần đầu là 45,1%, sinh con lần thứ hai là 52,4%, sinh con lần thứ ba là 2,5%
Bảng 3 12 Đặc điểm phụ nữ mang thai nhiễm HIV về tuân thủ điều trị, chuyển tuyến thành công
Tuân thủ điều trị (NS6)(*)
Không tuân thủ điều trị 26 4,9%
(*) Không bao gồm các trường hợp không được điều trị
Trong một nghiên cứu về đánh giá tuân thủ điều trị, 536 bệnh nhân được điều trị ARV và dự phòng LTMC trong thời gian mang thai và chuyển dạ cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị đạt 95,1%, trong khi tỷ lệ không tuân thủ các tiêu chuẩn điều trị là 4,9%.
Sau khi sinh con, tỷ lệ phụ nữ mang thai ghi nhận chuyển tuyến thành công là
98,1%, các trường hợp chuyển tuyến nhưng không có phản hồi phù hợp chiếm 1,9%
Theo cách sinh, Tỷ lệ PNMT nhiễm HIV sinh thường là 78,3%, sinh mổ là 21,7%
Bảng 3 13 Đặc điểm thông tin trẻ theo giới tính, cân nặng khi sinh
Trong số 594 trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV, tỷ lệ trẻ nam là 54,9% và trẻ nữ là 45,1% Về cân nặng khi sinh, 21,9% trẻ có cân nặng dưới 2500 gram, trong khi 78,1% trẻ sinh ra có cân nặng từ 2500 gram trở lên.
Biểu đồ 3 1 Nuôi con trong 6 tháng đầu của Phụ nữ nhiễm HIV sinh con
Trong số 594 trẻ em có mẹ nhiễm HIV, tỷ lệ trẻ được nuôi bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu là 46,1%, trong khi tỷ lệ trẻ được nuôi bằng sữa ăn thay thế là 53,9%.
Nuôi con bằng sữa mẹ Nuôi con bằng sữa ăn thay thế
Bảng 3 14 Dịch vụ điều trị dự phòng, xét nghiệm và chuyển tiến cho trẻ em
Nội dung n = 594 Tỷ lệ (%) Điều trị dự phòng với ARV 591 99,5% Điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội 591 99,5%
Xét nghiệm PCR máu gót chân 583 98,1%
Xét nghiệm kháng thể sau 18 tháng 584 98,3%
Trong số 594 trẻ em sống với HIV từ PNMT, có 99,5% trẻ được điều trị dự phòng bằng ARV và 99,5% trẻ được điều trị dự phòng nhiễm trùng cơ hội.
Trong lĩnh vực xét nghiệm, 98,1% trẻ sinh ra từ bà mẹ nhiễm HIV đã được lấy máu gót chân để thực hiện xét nghiệm PCR trong tháng đầu Bên cạnh đó, 98,3% trẻ sinh sống đã được làm xét nghiệm kháng thể sau 18 tháng Tỷ lệ chuyển tuyến thành công để thực hiện các điều trị dự phòng và xét nghiệm đạt 100%.
Mối liên quan giữa lây truyền HIV từ mẹ sang con và một số yếu tố tại 9 cơ sở điều trị dự phòng tại Quảng Ninh giai đoạn 2011-2018
Bảng 3 15 Mối liên quan giữa tình trạng nhiễm HIV của trẻ thời điểm xét nghiệm khẳng định HIV
Thời điểm xét nghiệm khẳng định HIV
Tỷ lệ LTMC trong nhóm trẻ sinh từ PNMT được xét nghiệm khẳng định HIV trước khi mang thai là 2,7% (9/335), trong khi tỷ lệ này ở nhóm xét nghiệm trong khi mang thai là 3,8% (7/183), cao gấp 1,441 lần so với nhóm xét nghiệm trước khi mang thai (OR=1,441; 95%CI=0,528-3,934; p = 0,474) Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p>0,05.
Tỷ lệ LTMC trong nhóm xét nghiệm khẳng định HIV trong giai đoạn chuẩn bị sinh là 13,2% (10/76), cao gấp 5,488 lần so với nhóm đã biết kết quả xét nghiệm HIV khẳng định trước khi mang thai (OR=5,488; 95%CI=2,147-14,030; p =0,001) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p0,05 (OR=1,173; 95%CI:0,433-3,174).
Bảng 3 18 Mối liên quan giữa tình trạng nhiễm HIV của trẻ và điều trị ARV của mẹ trước khi mang thai Điều trị ARV trước khi mang thai
Tỷ lệ trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV không được điều trị ARV trước khi mang thai là 6,3% (20/319), cao gấp 2,999 lần so với nhóm phụ nữ mang thai được điều trị ARV trước đó (OR=2,999 – 95% CI: 1,187-7,578, p=0,015) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p 0,05 (OR = 3,467; 95% CI: 0,875-13,741).
Bảng 3 21 Mối liên quan giữa tình trạng nhiễm HIV của trẻ và địa chỉ nơi cư trú, nhóm tuổi của mẹ
Yếu tố liên quan Nhiễm HIV OR
(+) (-) Địa chỉ nơi cư trú
Tỷ lệ LTMC trong nhóm trẻ sinh từ PNMT điều trị trong huyện là 4,4% (25/545), trong khi tỷ lệ LTMC ở nhóm bệnh nhân huyện khác là 5,9% với tỷ suất chênh 1,362 (0,174-10,687; p=0,542) Đối với nhóm bệnh nhân tỉnh khác, tỷ lệ LTMC là 0% (0/7) và tỷ suất chênh là 1,046 (1,028-1,064; p=0,732) Sự khác biệt về tỷ lệ LTMC theo địa chỉ cư trú không có ý nghĩa thống kê với p>0,05.
Theo nhóm tuổi của phụ nữ mang thai nhiễm HIV, tỷ lệ lây truyền mẹ con (LTMC) trong nhóm trẻ dưới 25 tuổi là 2,9% (3/102) So với nhóm này, tỷ lệ LTMC trong nhóm tuổi 25-53 là 4,1% (15/369), với tỷ suất chênh là 2,296 (0,593-8,889; p=0,353) Đối với nhóm tuổi trên 35, tỷ lệ LTMC là 6,5% (8/123), với tỷ suất chênh tương tự là 2,296 (0,593-8,889; p=0,775).
Sự khác biệt về tỷ lệ LTMC trong các nhóm tuổi không có ý nghĩa thống kê với p>0,05
Bảng 3 22 Mối liên quan giữa tình trạng nhiễm HIV của trẻ và tuổi thai theo tuần trong lần đầu xét nghiệm
Tại lần đầu đến khám, tỷ lệ LTMC ở nhóm trẻ sinh từ PNMT với tuổi thai dưới 14 tuần là 7,0% (13/187), trong khi tỷ lệ này ở nhóm tuổi thai trên 27 tuần chỉ là 3,6% (1/28) Tỷ suất chênh giữa hai nhóm là 0,496 (0,062-3,944; p=0,700), cho thấy sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê.
Tỷ lệ LTMC trong nhóm tuổi thai từ 14-27 tuần là 3,2% (12/379), với tỷ suất chênh là 0,438 (0,196-0,979; p=0,039) Sự khác biệt về tỷ lệ LTMC giữa nhóm tuổi thai này và nhóm tuổi thai dưới 14 tuần có ý nghĩa thống kê với p